Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Mỹ Thuật Phật giáo’

Nhấp chuột trên tựa để xem:

Tượng Phật bằng đồng cổ nhất Việt Nam là tượng Chăm?

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Ấn tượng mỹ thuật Phật giáo trên gốm sứ 3 miền

Festival nghề truyền thống lần 4 (2009) với chủ đề “Nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, lễ hội năm nay vinh danh 3 nghề: Gốm sứ, sơn mài và pháp lam, gắn liền với sự kiện 110 năm cầu Trường Tiền và chợ do thành phố Huế tổ chức quả đã có mổ sự bứt phá khá mãnh liệt.Trước hết phải ghi nhận một điều là khác với những Festival trước, không gian thường tổ chức trong khuôn viên khép kín của trường Hai Bà Trưng. Năm nay, lần đầu tiên sau 4 lần tổ chức không gian được mở rộng trên hầu khắp các trọng điểm của thành phố Huế mà điểm nhấn là đôi bờ sông Hương thơ mộng trên phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, Ban Tổ chức đã dựng lên 11 ngôi nhà rường Huế để trưng bày sản phẩm, giới thiệu kỹ thuật và các công đoạn, quy trình sản xuất của hơn 150 nghệ nhân đến từ 15 làng nghề truyền thống nổi tiếng cả nước. Phía Bắc sông Hương, trên công viên Thương Bạc có sự xuất hiện “hội chợ triển lãm nghề truyền thống Việt Nam” quy tụ nhiều ngành nghề truyền thống khắp cả nước.
festival_01.JPG
Bộ tượng Bồ Tát Di Lặc
festival_02.JPG
Bộ tượng Quán Âm – Di Đà
festival_03.JPG
Quán Âm Chăm
festival_04.JPG
Bồ tát Giám Trai
Như đánh giá chung của các nhà nghiên cứu và sưu tầm cổ vật “gốm sứ và pháp lam” cũng như các nghệ nhân các làng nghề thì Festival nghề truyền thống Huế 2009 là cuộc hội ngộ của gốm Việt lớn nhất từ trước tới nay. Lần đầu tiên, hơn 30 nhà sưu tập cổ vật ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, TP.Hồ Chí Minh đại diện cho 3 dòng gốm sứ Việt hội tụ tại Huế với cuộc trưng bày “Dặm dài đất nước qua các cổ vật”.
Có hơn 600 hiện vật từ các dòng gốm: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên, với sự tham gia của nhà sưu tập danh tiếng như Trần Đình Sơn (TP. HCM), Hồ Tấn Phan (Huế) cùng Đoàn Anh Tuấn và các nhà sưu tầm cổ vật của Trung tâm UNESCO nghiên cứu bảo tồn cổ vật VN với những cổ vật từ văn hoá Đông Sơn đến thế kỷ (TK) 18. Mỗi một cổ vật đều chứa đựng hàng chục câu chuyện kể của lịch sử đất nước và các nhà sưu tầm khác đến từ Hội An (Quảng Nam)…
festival_05.JPG
Quán Âm tịnh thủy
festival_06.JPG
Quán Âm tỉnh tọa
festival_07.JPG
Phù điêu Bồ tát Quán Thế Âm
festival_08.JPG
Những chiếc đèn thờ xưa
Và đúng như chủ đề tôn vinh 3 nghề chính là gốm sứ, sơn mài và pháp lam. Sự “hội tụ” của gốm sứ là nổi trội hơn cả. Thưởng ngoạn các phòng triển lãm gốm sứ và pháp lam từ “Dòng sông kể chuyện” đến “dặm dài đất nước” mọi người đều nhận xét một điều rất thực dụng “quá no”. Nhưng với nững ai quan tâm đến từng mãng đề tài thì vừa đủ. Và theo chúng tôi riêng mãn đề tài mỹ thuật Phật giáo không thôi cũng phải “cảm ơn Ban Tổ chức” lắm rồi.
Những đề tài mỹ thuật Phật giáo như tượng Phật, Bồ tát, những pháp bảo và linh thú Phật giáo cho đến những hoa văn hoa sen, lá đề trên đồ gốm sứ của 3 miền hội tụ về thật là phong phú và đa dạng. Nhiều pho tượng Phật rất lạ có niên đại vào thời Lý-Trần rất đặc biệt. Được sự quan tâm của nhiều nhà sưu tầm và nghiên cứu hên hết là bộ tượng Phật Di Lặc với hai kiểu dáng và hai tính cách khác nhau, một theo truyền thống Trung Hoa và một theo truyền thống Nam truyền.
Và khi đang trong mùa an cư, chư tôn đức khách mời đặc biệt dự khai mạc lại được dịp chiêm ngưỡng pho tượng bồ tát Giám Trai của các nhà sưu tập đến từ (TP.HCM) trưng bày ngay ngắn chính giữa phòng triển lãm. Mặc dầu pho tượng mất đi một chi tiết là chiếc búa trên tay của Ngài chưa sưu tầm lại được nhưng qua nét mặt, thế ngồi và màu men và chất men đã khiến nhiều người xúc động.
Các pho tượng Bồ tát Quán Thế Âm với sự đa dạng trong kiểu dáng cho đến màu sắc và chất liệu gốm men lam mang đặc trưng của tưng vùng miền trong các giai niên đại lịch sử tôn giáo và chính trị khác nhau cũng được rất nhiều người chú ý, chiêm ngưỡng.
Ngoài các tượng Phật và Bồ tát ra các phòng triển lãm cổ vật gốm sứ con trưng bày nhiều pháp bảo khác như lư hương, lư trầm, bình hoa bằng gốm sứ và cả pháp lam nữa. Trong các thể lọai này, có nhiều cổ vật được cho là lần đầu tiên ra mắt công chúng. Đặc biệt là bộ đồ thờ và gia dụng bằng pháp lam thời Minh Mạng Thiệu Trị, Tự Đức của nhà sưu tầm Trần Đình Sơn đến từ (TP.HCM) đã được nhiều người dân và giới nghiên cứu đặc biệt chú ý bởi không những nó là cổ vật quý hiếm mà còn bởi tính “độc bản” của nó.
festival_10.JPG
Một chiếc lư hương
festival_11.JPG
Một quả bồng hoa sen
festival_12.JPG
Bộ đồ thờ bằng pháp lam của NST. Trần Đình Sơn
festival_13.JPG
Một hoa văn lá đề
Nhiều cổ vật mang đề tài mỹ thuật Phật giáo khác như các hoa văn họa tiết hoa sen lá đề bằng gốm sứ và đất nung theo 3 phong cách 3 miền Bắc-Trung-Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng rất phong phú và đa dạng. Những con rồng, con nghê và con chim thiêng (Đại bàn kim sí điểu) mà nhiều người cho rằng đây là lần đầu tiên họ mới thấy được.
Đúng là một dịp người Huế và du khách đến từ các vùng miên khác nhau trên khắp đất nước và cả du khách nước ngoài nữa đã có dịp “no nê”, “mãn nhãn” và được lắng nghe “Dòng sông kể chuyện” và thăm lại truyền thống gốm sứ Việt theo “Dặm dài đất nước” mấy trăm năm các triều đại Lý-Trần-Lê-Nguyễn với hàng trăm hiện vật cổ quý hiếm của dân tộc lần đầu tiên được trình làng…Bài, ảnh Trí Năng – Nguồn từ nigioingaynay.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Con rồng Việt Nam qua tác phẩm điêu khắc nghệ thuật “Ông Rồng”

Nhân dân Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình xây ngôi miếu trong khu đền thờ Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh, đặt rồng đá khai quật từ lòng đất lên bệ thờ, quanh năm hương khói, tôn vinh là “ông Rồng”

Một ngày cuối năm 1992, cụ Phan Đình Phô (mất 1993 hưởng thọ 78 tuổi) người Bảo Tháp dọn gạch vỡ, đá quanh đền, thấy một hòn đá dưới gốc cây bàng trước cổng đền nhô lên, liền lấy xà beng đào bới. Lạ thay, cụ Phô đào bới hồi lâu, mở rộng miệng hố thấy lộ ra khối đá lớn được đẽo, chạm đường nét tinh sảo, cụ lấy làm mừng, cố sức khoét sâu, mở rộng miệng hố thì thấy lộ nguyên hình đầu rồng. “Tiếng lành đồn xa”, bà con trong xóm kéo đến giúp sức và báo hiện tượng lạ với ủy ban nhân dân xã Đông Cứu. Trai tráng lực lưỡng nườm nượp kéo đến hợp sức, người dùng đòn tre khiêng, người dùng xà beng, thanh gỗ làm đòn bẩy, chẳng mấy chống rồng đá ước chừng 3 tấn được chuyển lên sân đền.

Rồng đá được đẽo, chạm miêu tả đầu, hai chân trước và một phần thân. Từ mặt đất lên đỉnh sọ rồng cao 0,76 mét, chiều ngang từ phải sang trái rộng 1,12 mét; chiều dọc từ trước ra sau dài 0,96 mét (xin lưu ý: số đo chia hết cho 8). Rồng được chạm vẩy; tai phải đặc, tai trái rỗng, hai chân trước gân guốc, mỗi chân xoè rộng 5 ngón nắm chặt hai khúc thân kéo vào trước ngực; đầu gục xuống, mắt trợn tròn, miệng há rộng để lộ hàm răng lởm chởm ngoạm khúc thân, quằn quại. Về tầm cỡ rồng đá, ông Lê Viết Nga – Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh khẳng định: “Rồng đá to nhất khu vực Đông Nam á”. Về thời điểm lịch sử và ý tưởng của nhà Điêu khắc gửi gắm qua tác phẩm này, có nhiều giả thiết khác nhau. Song về thời điểm lịch sử qua hình tượng rồng Việt Nam, sách đã từng chép như sau: Rồng thời Lý “Mào, mũi và bờm là những thành phần cơ thể được cấu tạo rất sinh động, bằng những nét độc đáo và được mang theo một ý thức nhất định: Mào thoát ra từ môi đến đường sống quyện với răng nanh, xoắn xuýt, rung rinh bốc lên như ngọn lửa; bờm ở sau gáy cuồn cuộn bốc lên nhiều đợt từ cổ họng, cùng với túm râu ở hàm dưới đều uốn lượn nhịp nhàng như làn sóng và bay lướt tựa lá cờ đuôi nheo được gió, mũi cấu tạo bằng những đường cong xếp chồng nhau phập phồng gây ra ấn tượng về nguồn nước…”. Rồng Thời Trần “Thành phần cấu tạo của đầu rồng không chặt chẽ như trước: Văn dạng xoắn ốc đôi không thể vắng ở bất cứ con rồng nào thời Lý, thì nay mất dần, bờm và râu kém nhịp nhàng, mào không linh lợi, dần mọc thêm cái tai và cặp sừng cùng kiểu với cái mũi biến dạng đều thuộc về loại thú bốn chân”. Rồng thời Lê “Đầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, tai thú, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón”. Rồng đời Cảnh Hưng (1740-1786) “Thể hiện yếu ớt, mảnh khảnh, đi vào công thức cân đối khô khan kết hợp với chạm nông, nên hình bẹt và cứng, lại bị biến dạng rắc rối. Râu rồng thường bố trí đều đặn, đuôi cong xoắn lại hình xoáy ốc”. Rồng nhà Nguyễn “Gượng gạo, ngơ ngác, chắp vá, vụn vặt, cố làm ra vẻ nghiêm chỉnh mà không đường hoàng được, bộ mặt trở thành gớm ghiếc, đe dọa… thường xuất hiện với phượng, lân, rùa để hợp thành bộ “Tứ linh” (Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo, Chu Quang Chứ – NXB Mỹ thuật 2001, trang 307, 309, 310, 314, 315). Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển con rồng có một tính cách riêng, phù hợp yêu cầu thời điểm lịch sử xã hội. Nó chính là thứ ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình, giúp chúng ta nhận biết tương đối chính xác thời khắc ra đời của các công trình kiến trúc, điêu khắc, và hội họa được sáng tạo không ghi niên hiệu.

Con rồng trong dân gian gắn với cội nguồn nòi giống “Con rồng cháu tiên”. Về nguồn gốc người Việt sách chép rằng “Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con trai của Kim Dương Vương. Vua lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh ra trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: Ta là giống rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về miền Nam (có bản chép về Nam Hải). Phong con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi vua (Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập I – NXB Văn học, trang 63). Mặt khác, rồng còn hàm chứa ý nghĩa của sự phồn thực, những mong mưa thuận gió hoà, rồng phun nước tưới cho cây trồng tốt tươi, bởi cư dân nông nghiệp. ý nghĩa xã hội của con rồng trong dân gian dần mờ nhạt, khi mà ý thức hệ nho giáo phong kiến nhà Lê giữ địa vị độc tôn thì vua chúa lấy con rồng làm biểu tượng uy nghiêm của ngôi báu, điều này được các sách chép, như sau “Con rồng truyền thống Việt Nam bị ức chế, phải tiếp nhận nhiều chi tiết ở rồng Trung Quốc và lộ rõ tính tượng trưng cho uy quyền nhà vua” (Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ Thuật Phật giáo, Chu Quang Chứ – NXB Mỹ Thuật, trang 309). “Từ đời Hán Cao Tổ, con rồng 5 móng là biểu tượng cho uy quyền nhà vua – thiên tử. Hình tượng rồng có ở trên áo bào, ngai vàng và các vật khác. Hoàng tử, con trai trưởng kế vị ngai vàng cũng được sử dụng hình tượng rồng 5 móng” (Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ, Tiến sĩ Nguyễn Văn Cung – NXB Văn hóa Thông tin, trang 216).

Quá trình miêu tả và phân tích trên, cho phép chúng ta nhận định rồng đá được đẽo chạm vào thời Lê. Nhà Điêu khắc tài hoa đã gửi gắm ý tưởng sâu sắc qua rồng đá khái quát hình tượng vua Lý Nhân Tông đớn đau, quằn quại tự giầy vò cõi lòng sâu thẳm về sự đã rồi, bởi vua chỉ bằng một tai nghe lời đường mật của kẻ xiểm nịnh lỡ đầy đọa thầy học của mình, dập vùi hiền tài của đất nước (Trạng nguyên Lê Văn Thịnh hầu Lý Nhân Tông học thuở nhỏ, khi xảy ra nghi án hồ Dâm Đàm, ông ở cương vị Thái Sư, bị Lý Nhân Tông bắt đi đầy ở trại Thao Giang). ý tưởng và giá trị nghệ thuật của rồng đá của nhà Điêu khắc xem như lời nhắn gửi các bậc vua chúa, quan lại và người đời, khi giải quyết bất kỳ công việc lớn, nhỏ đều phải thận trọng nghe bằng hai tai, phải xuất phát từ thực tế khách quan, công tâm, sao cho thấu tình, đạt lý.

“Ông Rồng” – tác phẩm nghệ thuật Điêu khắc độc đáo, một chứng tích lịch sử, một thông điệp gửi người đời để thấy mù sương Dâm Đàm tan biến, thấu hiểu Lê Văn Thịnh trung thần oan nghiệt.


Nguyễn Thượng Luyến – Hội Mỹ Thuật Việt Nam

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »