Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Mạnh Thần’

DANH MỤC TỔNG HỢP

QUYỂN MỘT: TRÀ THƯ

1/-TRÀ : HUYỀN THOẠI VÀ LỊCH SỬ

2/-TRUY LẠI CỘI NGUỒN NỀN VĂN HÓA TRÀ

3/-TRÀ THƯ

4/-DANH TRÀ

5/-THÚ CHƠI TRÀ

-GIAI THOẠI VÀ TẢN MẠN CHUYỆN TRÀ

QUYỂN HAI : TRÀ ĐẠO

1/-CHÉN TRÀ NHÂN LOẠI

2/-CÁC TRƯỜNG PHÁI TRÀ

3/-MỐI LIÊN KẾT GIỮA THIỀN VỚI TRÀ

4/- TRÀ THẤT

5/-THƯỞNG GIÁM NGHỆ THUẬT

6/-HOA

7/-TRÀ SƯ

8/-PHỤ LỤC TIỂU SỬ OKAKURA KUKAZO

QUYỂN BA : TRÀ PHONG

1/TRÀ NGHI NHẬT BẢN

*TIỂU PHẨM : BỘ ẤM ( TRÀ ) CŨ

*VĂN HÓA TRÀ TÂN CƯƠNG

*TRÀO LƯU LÀM GIẢ ẤM TỬ SA NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 20

*TÌM HIỂU 3 HIỆU ẤM TRÀ THẾ ĐỨC , LƯU BỘI VÀ MẠNH THẦN

*TIỂU PHẨM BỘ ẤM TRÀ CŨ

*HÌNH ẢNH MỘT SỐ KỆ TRƯNG BÀY BỘ SƯU TẬP ẤM TRÀ

*CATALOGUE ẤM TRÀ NGHI HƯNG(YIXING) DÀNH CHO GIỚI SƯU TẬP

*CATALOGUE ẤM TRÀ NGHI HƯNG DÀNH CHO GIỚI SƯU TẬP(1)

*NHỮNG TÁC PHẨM GỐM NGHỆ THUẬT ẤM TRÀ TẠI TEAPOT  EXHIBITION

  NCECA 2009

*DỤNG CỤ UỐNG TRÀ –CÁCH DÙNG ẤM , CÁCH PHA TRÀ

*ĐẶC ĐIỂM ẤM NGHI HƯNG VÀ CÁCH CHỌN ẤM TRÀ TỬ SA

*TRÀ TẦU

*NÉT ĐẸP CỦA CHÉN TRÀ VIỆT CỔ

*NGHỆ THUẬT UỐNG TRÀ HUẾ

*VĂN HÓA ẨM TRÀ

*CÁCH THỨC UỐNG VÀ PHA TRÀ XANH NHẬT BẢN

*TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN

*CÓ HAY KHÔNG “VIỆT TRÀ ĐẠO”

*PHONG TỤC UỐNG TRÀ HÀN QUỐC

*CÓ MỘT TRÀ ĐẠO VIỆT

*NGHỆ THUẬT UỐNG TRÀ CỦA TRUNG HOA

*ĐÔI NÉT VỀ TRÀ

*ẤM TRÀ TỬ SA –NGHI HƯNG , GIANG TÔ

*CÂY CHÈ TRONG THƯ TỊCH CỔ  VN

*CHÉN TRÀ THỜI TỐNG

Read Full Post »

Trào lưu làm giả ấm Tử Sa những năm đầu thế kỳ 20
Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến, thời đại mới manh nha và cũng là thời kỳ đặc biệt của ngành làm ấm trà Tử Sa. Vào những năm Dân quốc đầu tiên ở Trung Quốc, rộ lên phong trào sưu tập đồ sứ cổ, người từ bốn phương tranh nhau mua vét, thủ giữ làm của riêng, đặc biệt là những ấm trà Tử Sa do các nghệ nhân tên tuổi ở vào hai triều Minh – Thanh chế tác. Nguồn hàng từ giới buôn bán cổ ngoạn ngày càng hiếm hoi, phát sinh việc làm giả ấm Tử Sa tràn lan đến không còn kiểm chứng nổi. 

P12-13-457-2

Ấm của Thời Đại Bân, đời Minh

Tại các thành phố mà ngành thương nghiệp phát triển mạnh lúc bấy giờ như Thượng Hải, Hàng Châu và Thiên Tân, xuất hiện rất nhiều cửa hàng kinh doanh ấm Tử Sa, họ lùng kiếm thuê mướn các nghệ nhân tay nghề xuất sắc của Nghi Hưng chế tạo, sản xuất ấm Tử Sa chất lượng cao cho thương hiệu của mình. Những sản phẩm này làm ra để bán cho những người sành uống trà, vì lúc đó việc giao thương rộng mở, phổ biến nhiều loại trà ngon nổi tiếng và đắt tiền. Chính vào thời điểm này, loại ấm Zhuni dáng nhỏ rất được ưa chuộng, vì hương trà không bị phân tán, mùi vị đậm đặc, lại ít hao trà.

Thượng Hải là nơi quy tụ ngành thương nghiệp và các xí nghiệp tư bản thời kỳ đầu ở Trung Quốc, cũng là nơi hội tụ giới chính trị, doanh nhân và văn nghệ sĩ – những người chẳng những sành uống trà, mà còn đề cao việc uống trà như một nghệ thuật. Những nhà buôn Tử Sa phát hiện ra rằng, làm nhái kiểu ấm của các nghệ nhân tên tuổi thời trước sẽ thu nguồn lợi lớn hơn rất nhiều, và Thượng Hải phồn hoa chính là mảnh đất màu mỡ cho thị trường ấm giả cổ, từ hoạt động nhỏ lẻ dần trở nên qui mô vào những năm 1920-1930.

 

P12-13-457-3

Ấm của Từ Hữu Tuyền (Minh)

Hiện nay, loại ấm Tử Sa giả cổ này có thể bắt gặp tại nhiều nơi ở Trung Quốc, một số được các nhà sưu tập bí mật cất giữ, một số khác thậm chí được xem như tác phẩm thật trưng bày trong các nhà bảo tàng, giám định sự thật giả của chúng là một việc vô cùng khó khăn. Một tiết lộ từ trong giới cho biết, hầu hết các nghệ nhân Tử Sa hàng đầu của Nghi Hưng đều có tham gia làm ấm giả cổ tại Thượng Hải và nhiều thành phố khác. Các nghệ nhân này vì sinh kế mà mô phỏng tác phẩm đời trước, nhưng họ không phải là người được lợi nhất, thu nhập chỉ dựa vào lương tháng cố định, thậm chí họ cũng không biết giá bán sản phẩm do mình làm ra. Xét về chuyên môn, họ chỉ được cái lợi là cơ hội thử thách tay nghề, được tiếp cận học hỏi những tác phẩm ưu tú của thời xưa. Nghệ nhân Cố Cảnh Chu (1915-1996) là bậc Đại sư Tử sa ở Nghi Hưng, mặc dù không muốn nhắc lại chuyện cũ, nhưng ông thừa nhận việc mô phỏng, làm giả tác phẩm của Trần Minh Viễn và Thiệu Đại Hanh đã giúp tay nghề, kỹ thuật tạo ấm của mình được nâng cao rất nhiều.

P12-13-457-4

Ấm của Huệ Mạnh Thần (đời Minh)

P12-13-457-5

 

Ấm Hụê Mạnh Thần (đời Thanh – Hụê Mạnh Thần sống qua hai triều đại Minh, Thanh)

Ngoài Cố Cảnh Chu, đội ngũ những  người tham gia làm ấm giả cổ là cả một danh sách dài, gồm những tên tuổi lớn của Nghi Hưng, trong đó đặc biệt nổi cộm gia đình của nghệ nhân Tưởng Dung (1919-2008) từng ba đời làm ấm giả cổ: Ông nội của bà Tưởng Dung là Tưởng Tường Nguyên (1868-1941) từng làm ấm giả cổ của Trần Minh Viễn đời Thanh, theo đặt hàng của khách mà không có nguyên mẫu, ông đã tự mình thiết kế các kiểu ấm “Tứ Phương Kiều Đỉnh”, “Lục Phương Xuyết Cầu” và “Tứ Phương Nga Đản Hồ” rồi khắc dấu lạc khoản bằng hai chữ triện “Minh Viễn”. Tới đời con ông là Tưởng Ngạn Đình (1894-1943) còn đi xa hơn cha mình, khi nhận làm ấm giả cổ ký lạc khoản Thời Đại Bân, Từ Hữu Tuyền (đời Minh), Trần Minh Viễn (Thanh) cho hai nhà kinh doanh cổ ngoạn Thang Lâm Trạch và Lang Ngọc Thư (Lang Thị Nghệ Uyển) ở Thượng Hải. Nữ nghệ nhân Tưởng Dung kêu Tưởng Ngạn Đình bằng bác, năm 1940 vì kinh tế khó khăn, bà theo người bác đến Thượng Hải làm ấm Tử Sa giả cổ, sở trường các loại “Ấm Hoa”, các loại dụng cụ văn phòng tứ bảo mô phỏng hình dáng động thực vật và chỉ đóng dấu triện giả “Trần Minh Viễn”.

 

P12-13-457-1

Ấm Trần Minh Viễn (đời Thanh)

Các nghệ nhân Bùi Thạch Dân (1892-1979), Vương Dần Xuân (1897-1977), Trần Quang Minh, Diệp Đắc Hỷ, Giang Án Khanh… của Nghi Hưng đều có dự phần làm ấm Tử Sa giả cổ tại Thượng Hải những năm đầu thế kỷ 20.

Các chuyên gia Tử Sa khẳng định, ấm Tử Sa là loại vật dụng sử dụng hàng ngày, dễ vỡ, vì vậy trải qua thời gian, chiến tranh, nạn chảy máu cổ vật… tác phẩm thật của người xưa không còn nhiều, những chiếc ấm được cho là làm ra từ khoảng giữa đời Thanh trở về trước mà chúng ta nhìn thấy hiện nay, đều là sản phẩm của thời kỳ đặc biệt này.

Trên đây chỉ mới nói một phần của góc khuất việc làm giả ấm Tử Sa phục vụ giới sưu tầm cổ ngoạn, những tay chơi có máu mặt, trong khi thị trường buôn bán ấm Tử Sa trong dân gian thì không biết đường đâu mà lần.

Riêng tại thị trường Việt Nam, việc buôn bán đồ sứ và ấm Tử Sa giả cổ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũng không kém phần náo nhiệt, hấp dẫn nhiều thương nhân người Việt và người Hoa dự phần. Do ảnh hưởng đồ sứ ký kiểu của hai triều Lê – Nguyễn, những bộ đồ trà xinh xắn vẽ men lam tuyệt vời, nhiều gia đình giàu có hoặc các chành, vựa đã đặt các nhà buôn đường dài làm những bộ đồ trà, trong đó có ấm Tử Sa (thường gọi là Chu sa). Cũng như mặt hàng đồ sứ, người đặt hàng chỉ cần đưa hàng mẫu (gọi là kiểu) và thỏa thuận giá cả là ít lâu sau sẽ nhận được hàng, thời đó các loại trà ngon rất đắt tiền, loại ấm Chu sa dáng nhỏ dành cho độc ẩm được dùng phổ biến, vì thế ấm Mạnh Thần, Thế Đức và Lưu Bội trở thành mặt hàng bán chạy, đến độ các nhà buôn không chờ khách đặt hàng, tự đặt lò làm các kiểu ấm trên đem sang bán.

 

P12-13-457-8

Lạc khoản “Thế Đức Đường” trên đồ sứ (đồ kiểu) đầu thế kỷ 20

Hiện nay chúng ta có thể tìm thấy ở các cửa hàng bán đồ xưa (như phố Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM) loại ấm Tử Sa, hình trái quýt lột vỏ để lộ các múi, cùng kiểu dáng và kích cỡ nhưng dưới đáy ấm khi khắc hiệu Thế Đức, lúc lại là Mạnh Thần, điều đó cho thấy sản phẩm chỉ do một lò làm ra, thậm chí loại cao cấp hơn như ấm Mạnh Thần hiệu đề 6 chữ “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, hoặc ấm có khắc dấu triện Lưu Bội cũng là sản phẩm giả cổ những năm đầu thế kỷ 20.

P12-13-457-16

Ấm Chu sa Lưu Bội (thế kỷ 20)

Lời thật mất lòng, người sưu tầm ai cũng hy vọng món mình kiếm được là hàng “xịn”, chánh hiệu. Nói vậy thì trên thế gian này không có chiếc ấm Tử Sa nào là hàng thật? Không phải vậy, là có đấy, nhưng chưa đến lượt bạn và tôi làm chủ. Thật ra thì việc có được những chiếc ấm làm vào đầu thế kỷ 20, xem như bạn cũng đã trúng số (tuy không phải độc đắc) vì có món đồ trăm tuổi, có thể yên tâm sử dụng, vì ít ra nó chỉ giả ở tên hiệu, tác giả; còn lại thì chất liệu, tay nghề nghệ nhân là thật. Nếu bạn biết rằng những chiếc ấm Tử Sa mới làm những năm gần đây, nhìn bề ngoài tinh xảo, hào nhoáng, nhưng không đáng gọi là Tử Sa, vì kể từ 1.5.2007, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên đất Tử Sa, chính phủ Trung Quốc cấm khai thác khoáng sản đất Tử Sa trong khu vực Nghi Hưng, trên thị trường thiếu hụt nguyên liệu nghiêm trọng, hiện nay không ít tác phẩm nghệ thuật Tử Sa có màu sắc rất đẹp mắt, nhưng đều được làm bằng loại đất sét thường, pha thêm nguyên liệu công nghiệp (bột thủy tinh và chất sắt) và phẩm màu.

 

P12-13-457-13

Ấm Lưu Bội sản xuất năm 2006 tại Sơn Đông

Phong trào chơi ấm Tử Sa tại Việt Nam chỉ mới rộ lên những năm gần đây, bắt nguồn từ những chuyến đi du lịch Tô Châu – Hàng Châu – Thượng Hải và Bắc Kinh. Những lần tham quan các cơ sở sản xuất ấm Tử Sa ở Tô Châu và Vô Tích (V.N chưa có tour đi Nghi Hưng) khiến du khách mở rộng tầm mắt, nghe biết nhiều giai thoại, sinh hiếu kỳ rồi yêu thích. Thêm các nhà buôn đồ gốm sứ Giang Tây, còn mang theo bán cả ấm Tử Sa giả cổ, tại Hà Nội có nhiều cửa hàng bán ấm Tử Sa và tại TP.HCM, một cửa hàng nằm trên đường Nhật Tảo mỗi tháng còn nhập về cả kiện hàng mới, bán cho người uống trà và cả giới sưu tầm.

 

P12-13-457-14

Ấm Mạnh Thần sản xuất năm 2007

Đối với một chiếc ấm Tử Sa đang cầm trên tay, nếu bạn cho nó là cổ, đem hỏi người khác thì khó có người dám định tuổi, vì con dấu lạc khoản không nói lên điều gì. Vậy thì bạn hãy căn cứ vào một số điểm sau đây để tự mình đánh giá sản phẩm:

1. Căn cứ vào đặc điểm phong cách thời đại, niên đại

Phong cách nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc giám định sản phẩm. Phong cách của một sản phẩm không thể nào vượt quá thời đại sản sinh ra nó, tác phẩm của nghệ nhân cũng không thể thoát ly khỏi thời đại mà nghệ nhân đó sinh sống. Bằng kinh nghiệm và kiến thức, người chơi có thể xem xét về đặc điểm công nghệ, nguyên liệu, công cụ chế tác và cách thức trang trí để thẩm định. Những sản phẩm không cùng thời đại thì sẽ có đặc điểm thời đại khác nhau, nghệ nhân không cùng thời đại thì đặc điểm công nghệ và tay nghề thủ công sẽ làm ra những sản phẩm khác nhau.

2. Nguyên liệu Tử sa từ hạt thô sang nhuyễn mịn

Đất Tử sa dùng làm ấm ban đầu là hạt to, thô chuyển dần sang nhỏ mịn, nguyên nhân là do sự khác biệt về công cụ làm ra nó. Thời kỳ đầu (đời Minh) nghệ nhân dùng chày giã đất, đến giữa đời Thanh chuyển sang xay bằng cối đá và cuối cùng là dùng máy xay chạy điện, vì vậy thân ấm Tử Sa từ giữa đời Thanh trở về trước da có hạt như da trái bưởi, nhìn kỹ các hạt đất kết dính không đều nhau, càng về sau càng nhuyễn dần, cho đến trơn bóng như hiện nay.

3. Vết nối bên trong thân ấm

Vào thời kỳ đầu (đời Minh), việc chế tạo ấm Tử Sa bắt chước hoàn toàn theo công nghệ chế tạo gốm sứ, thân ấm làm 2 phần ghép nối lại với nhau trước khi cho vào lò nung. Dùng tay sờ có thể phát hiện vết nối này.

4. Khoét lỗ gắn vòi và quai

Ấm Tử Sa làm vào đời Minh đều có dấu dao khoét vào thân ấm để gắn vòi và quai, sau đó được chà láng lại, nhìn kỹ vẫn phát hiện dấu sần sùi.

5. Dính men và tì vết

Trước đời Minh Vạn Lịch, ấm Tử Sa được cho vào lò nung chung với đồ gốm, vì vậy trên da ấm thường có lốm đốm vết men gốm bay dính.

6. Lỗ vòi

Vào đời Minh đến giữa đời Thanh, lỗ chảy của vòi luôn là lỗ đơn, sau đó mới chuyển dần sang nhiều lỗ, nhưng đều là số lẻ: 3 lỗ, 5 lỗ, 7 lỗ và 9 lỗ. Đến thập niên 1970,do ảnh hưởng loại ấm trà của Nhật Bản, ấm Tử Sa mới xuất hiện bán cầu nhiều lỗ để ngăn trà làm nghẹt vòi.

Ngoài 6 điểm cơ bản trên, còn một yếu tố thẩm định rất quan trọng, là xét về phong cách ghi niên hiệu, thư pháp, vẽ tranh, nhưng phần này rất dài, sẽ viết trong một bài khác.

 

P12-13-457-7

Lạc khoản các lò khắc trên ấm Tử Sa những năm đầu thế kỷ 20: Xuân Thủy Đường, Thế Đức Đường, Thịnh Đức Đường, Thanh Đức Đường. Ngoài ra còn nhiều “Đường” khác, như: Tuyên Đức Đường, Chân Đức Đường…

Trước một môn chơi còn mới mẻ và nhiêu khê như vậy thật không khỏi khiến mọi người nản lòng, nhưng hiện nay vẫn có nhiều người sưu tầm ấm Tử Sa. Chơi là để ngắm nhìn vui mắt, có đề tài trao đổi với bạn bè và nhất là tạo cơ hội cho mình nghiên cứu, học hỏi thêm.

Xung quanh chiếc ấm “Thụ Anh” của Cung Xuân (đời Minh)

 

P12-13-457-17

Ấm “Thụ Anh” của Cung Xuân

 

Năm 1928, Ông Trữ Nam Cường, một danh sĩ Nghi Hưng mua được chiếc ấm Tử Sa dáng vẻ rất cổ xưa tại Thọ Châu. Màu sắc của chiếc ấm cũ kỹ, thân ấm bầu tròn không theo qui tắc, bế mặt lồi lõm trông như vỏ cây khô, đầy những nếp nhăn, dưới quai ấm khắc hai chữ “Cung Xuân”, dưới nắp ấm hình cuống dưa có dấu ấn đề “Ngọc Lân”. Trữ Nam Cường mừng rỡ tột độ, sau khi tìm hiểu, nhờ thẩm định và chứng minh tưởng rằng chiếc ấm này là nguyên tác của Cung Xuân (Minh), nắp ấm bị bể được Huỳnh Ngọc Lân (Thanh) phối sau.

Chuyện này khi được công bố đã gây chấn động giới chơi cổ ngoạn vào thời đó. Hoạ sĩ nổi tiếng Huỳnh Binh Hồng khi thưởng thức chiếc ấm này đã chỉ ra rằng: “Chiếc ấm làm dựa theo hình dáng bướu cây ngân hạnh, nhưng Huỳnh Ngọc Lân đã phối nhằm chiếc nắp hình cuống dưa”.

 

P12-13-457-18

Chiếc ấm giả Cung Xuân của Huỳnh Ngọc Lân làm vào đời Thanh

Thế là Trữ Nam Cường nhờ danh thủ Tử Sa nổi tiếng của Nghi Hưng lúc bấy giờ là Bùi Thạch Dân phối một chiếc nắp khác hình bướu cây và khắc chữ trên đường viền nắp ấm: “Người làm ấm Cung Xuân, người phối nắp nhầm Huỳnh Ngọc Lân, 500 năm sau Huỳnh Binh Hồng phát hiện, người làm cái nắp mới là Thạch Dân, người đề chữ là Trĩ Quân”. “Trĩ Quân” là ông Phan Trĩ Lượng (1881-1942), một thư họa gia cận đại nổi tiếng của Nghi Hưng.

Gần trăm năm nay, sự thật giả của chiếc ấm Cung Xuân này luôn là đề tài tranh luận từ Á sang Âu, tuy rằng hiện nay giới Tử Sa đều công nhận chiếc ấm là tác phẩm hợp tác của học giả Ngô Đại Trừng cuối đời nhà Thanh và nghệ nhân Tử sa Huỳnh Ngọc Lân, nhưng vẫn có người còn tỏ ý nghi ngờ, cho thấy sức ảnh hưởng của nó lớn biết bao.

SONG MỘC

(Tài liệu tham khảo: Tử Sa hồ toàn thư – Hàn Kỳ Lâu NXB Hoa Linh Bắc Kinh, Giám định Tử Sa sưu tập và thị trường – Trần Tụng ThưNXB Mỹ Thuật Sơn Đông, Trung Quốc cổ đại trà cụ – Diêu Quốc Khôn , Hồ Tiểu QuânNXB Văn Hóa Thượng Hải)

Đăng lại từ báo Đất Mũi Cuối tuần

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Tìm hiểu 3 hiệu ấm trà Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

P12-13-456-1

P12-13-456-2

Ấm Mạnh Thần

Đầu tiên cần xác định, đây không phải là thành ngữ điển tích của người Trung Hoa, mà là câu thiệu bằng thơ lục bát cho dễ nhớ của các cụ ta (V.N) ngày xưa, vì vậy “vai vế” thứ nhất, thứ nhì, thứ ba trong câu chỉ là tượng trưng, xếp theo vần điệu cho dễ nhớ chứ không phải thứ hạng.

Lịch sử và xuất xứ của 3 loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

A. Ấm Mạnh Thần

Trong 3 hiệu Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần, ấm Mạnh Thần có niên đại lâu đời nhất, tác giả là Huệ Mạnh Thần ở Kinh Khê, Nghi Hưng, Giang Tô, không rõ năm sinh năm mất. Đại khái thời của ông là vào buổi cuối Minh đầu Thanh, khoảng từ đời Thiên Khải (1621-1627) vị vua áp chót của nhà Minh tới đời Khang Hy (1662-1722) nhà Thanh. Hiện nay tại Thính Tuyền Sơn Quán ở Trung Quốc còn giữ một ấm trà làm bằng đất sét trắng, lạc khoản (tên hiệu, niên hiệu đề dưới trôn đồ gốm sứ) ghi 11 chữ “Thiên Khải Đinh Mão niên Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, từ đó phần nào làm sáng tỏ đối với họ tên, nguyên quán và thời đại sinh sống của ông.

P12-13-456-3

Ấm Tử Sa Mạnh Thần “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”

Hai chữ Kinh Khê trong lạc khoản là chỉ nguyên quán, nguồn gốc như sau: Nghi Hưng thời xưa gọi là Kinh Ấp, đến năm Ung Chính thứ 3 đời Thanh, tách làm hai huyện Nghi Hưng và Kinh Khê, năm 1912 thời Dân quốc đã nhập hai huyện làm một huyện Nghi Hưng, Kinh Khê trở thành thị trấn. Năm 1983 Nghi Hưng thuộc thành phố Vô Tích, năm 1988 xóa bỏ huyện Nghi Hưng, thành lập thành phố Nghi Hưng (thành phố cấp huyện) đến nay.

Tay nghề làm ấm Tử Sa của Huệ Mạnh Thần rất xuất chúng, mang đậm phong cách riêng, tác phẩm của ông ấm nhỏ nhiều, ấm cỡ trung bình ít, ấm lớn hiếm nhất. Ấm lớn thì kiểu dáng đơn giãn mộc mạc, loại ấm nhỏ lại cực kỳ tinh xảo, tạo hình của ấm có dáng tròn, dáng dẹt, có thân cao, bụng tròn, hình trái lê hay trái quýt…

Mỗi chiếc ấm Tử Sa do Huệ Mạnh Thần làm ra đều là một tác phẩm nghệ thuật, hình dáng thanh bai cân đối, đường nét uyển chuyển, thân ấm sáng bóng, cốt mỏng tinh xảo, nhất là phần vòi, dù dài hay ngắn đều rất chắc chắn, rót trà nước chảy thông, không nghẽn không đọng giọt. Những chiếc ấm nhỏ xinh xắn của ông rất thích hợp trào lưu uống trà kungfu lúc bấy giờ, còn loại ấm hình trái lê thì được xuất khẩu sang nhiều nước châu Âu, có ảnh hưởng rất lớn đối với công nghệ làm ấm sứ thời kỳ đầu của châu Âu vào thế kỷ 17.

P12-13-456-4

Ấm Mạnh Thần dáng trái lê xuất khẩu sang châu Âu thế kỷ 17

Ngoài việc coi trọng sự tiện lợi cho người sử dụng và đề cao nét chất phác giản dị của thân ấm, ông còn đặc biệt quan tâm việc khắc chữ, viết thư pháp trên ấm. Những chiếc ấm do chính tay Huệ Mạnh Thần làm ra thường đề: “Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, “Văn Hạnh quán Mạnh Thần chế”, “Huệ Mạnh Thần chế” hoặc “Mạnh Thần chế”. Có một số ấm trên thân có đề năm chế tác hoặc những câu thư pháp nhiều hơn 10 chữ, nội dung mang ý nghĩa tốt lành. Thời kỳ đầu ấm của ông khắc chữ bằng dao tre, về sau mới kết hợp in bằng con dấu làm sẵn. Theo các nhà sưu tầm ấm Tử Sa có kinh nghiệm, sản phẩm tuyệt hảo nhất của Huệ Mạnh Thần là những chiếc ấm có đóng dấu “Vĩnh Lâm” phía trong nắp.

B. Ấm Thế Đức

Ấm Thế Đức còn gọi là ấm Tích Bao, là loại ấm trà xuất hiện vào những năm Gia Khánh và Đạo Quang đời Thanh (1796-1850), do những danh gia chế tạo ấm, sau đó được các văn nhân vẽ tranh, viết thư pháp, đề thơ. Ấm làm bằng đất Tử sa, thân bọc thiếc. Núm nắp, quai, vòi được tô điểm bằng cách khảm ngọc, chạm trỗ tinh vi, rất được giới văn nhân tao nhã yêu thích.

P12-13-456-6

Ấm Tích Bao

Chu Kiên (1772-1830) tự Thạch Mai, hiệu Thạch My, quê ở Thiệu Hưng, Chiết Giang, có sở trường giám định và am hiểu kỹ thuật vẽ tranh trên gốm sứ. Thời đó đang thịnh hành dùng hai loại ấm Tử Sa và Tích Bao để uống trà, Chu Kiên chính là người hợp nhất hai loại ấm này, ông mua những ấm trà của Dương Bành Niên về khảm ngọc lên quai, vòi, nắp và thân ấm, làm thành ấm “Tử Sa Tích Bao”. Ngoài Chu Kiên, thời đó có nhiều nghệ nhân Tử Sa khác cũng chế tác ấm Tích Bao cung cấp cho thị trường đang rất “nóng”, đặc biệt là Dương Bành Niên, hiện nay nhiều nhà sưu tập còn cất giữ những chiếc ấm Tích Bao rất quý của ông.

P12-13-456-8

Ấm Tích Bao của Dương Bành Niên

P12-13-456-9

Ấm Tích Bao của Chu Kiên hiệu đề “Thế Đức Đường”

Ảnh trên là chiếc ấm Tích Bao cao 10,5cm, dạng hình học, nắp bằng, vòi thẳng, cốt làm bằng đất tử sa, bên ngoài bọc thiếc, vòi, quai, núm nắp ấm đều có khảm ngọc. Trên lớp thiếc bọc ngoài thân ấm một bên vẽ tranh sơn thủy, nhà cửa, cây cối, ghềnh đá, núi non chập trùng. Một bên có khắc chữ và dấu ấn, trải qua hàng trăm năm lớp thiếc bọc ấm bị ăn mòn, chỉ còn đọc được bốn chữ không liền mạch và không đủ câu: “Thạch Mai…Tuyền Hỏa…”, dưới đáy ấm có dấu lạc khoản hình vuông, khắc chữ “Thế Đức Đường”. Có thể khẳng định đây là chiếc ấm Tích Bao của Chu Kiên, làm cho Thế Đức Đường vào những năm Đạo Quang nhà Thanh.

P12-13-456-5

Ấm Tích Bao

the_duc_lac_khoan

the_duc_lac_khoan

Cái tên Thế Đức Đường bao hàm ý nghĩa đời đời công nhận đức hạnh của tổ tiên và gia tộc họ Tào ở thị trấn cổ Tô Châu, tòa nhà lớn này xây dựng vào đời Đạo Quang, hai mặt trước sau có 5 cổng lớn, tổng cộng 69 phòng ốc. Năm Quang Tự 32 đời Thanh (1906), tòa nhà được cải tạo, xây dựng lại, những bức tường bao quanh tòa nhà trở thành 6 cửa hiệu mặt tiền, phía trước là cửa hàng buôn bán sầm uất, phía sau là phố phường nhộn nhịp, bán đủ loại mặt hàng, nổi tiếng gần xa với sản phẩm rượu Bản Thiệu (Thiệu Hưng) và nước tương Bạch Nguyên. Về sau con cháu họ Tào tiếp tục phát triển ngành nghề kinh doanh, trong đó có cả mặt hàng gốm sứ, ấm Tử Sa, ấm Tích Bao… tuy không tự mình làm ra sản phẩm, nhưng họ đặt lò sản xuất rồi bao tiêu, vì vậy mà sản phẩm đề hiệu “Thế Đức” hay “Thế Đức Đường”.

P12-13-456-10

Ấm Tích Bao (chữ “tích” nghĩa tiếng Việt là “thiếc”)

Vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 loại ấm Tích Bao này được làm giả và xuất khẩu rất nhiều sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tới đây, chúng ta có một phát hiện thú vị: Tên gọi của loại ấm này là “Tích Bao hồ”, dịch sang tiếng Việt là “bình Tích Bao” (1), điều này giải thích vì sao người Việt, đặc biệt ở Nam bộ, gọi chung các loại ấm trà bằng cái tên rất phổ biến: “bình tích”, “ấm tích”.

C. Ấm Lưu Bội

3c

3b

Lạc khoản “Thiệu Cảnh Nam chế”

Thiệu Cảnh Nam (1796-1874) là một danh gia chế tác ấm Tử Sa dưới triều Đạo Quang, hiệu Lưu Bội chủ nhân, cùng thời với các nghệ nhân Tử Sa tên tuổi: Thiệu Đại Hanh, Huỳnh Ngọc Lân, Phùng Thể Hà, Thiệu Nhị Tuyền, Du Quốc Lượng…ông nổi tiếng làm ra chiếc ấm nhỏ gọi là Zhuni (Chu nê – bùn đỏ).

P12-13-456-11

Ấm Zhuni Lưu Bội, dưới đáy khắc chữ “Thiệu Cảnh Nam ấn”

Chiếc ấm Zhuni trong ảnh trên thân cao 6,8cm, chiều ngang đo từ quai đến miệng bình 12,2cm, đáy bằng phẳng, thân tròn. Nắp ấm hơi lồi, núm tròn, tương ứng với nắp và thân ấm. Vòi ấm hơi cong và hướng nhẹ lên trên, quai ấm có hình dáng như vành tai, nhằm tạo hiệu quả hài hòa về mặt thị giác cho người dùng, điều này chứng tỏ người làm ra chiếc ấm có ý tưởng sáng tạo rất tinh tế. Trên thân ấm, tác giả dùng dao tre khắc hai câu thơ “Hồ trung nhật nguyệt trường/ Sơn dung vô y dạng”, ý nói “Việc thưởng trà có thể quên cả thời gian”, bên cạnh ký Lưu Bội, dưới đáy ấm có khắc dấu “Thiệu Cảnh Nam ấn” bằng thể chữ Lệ thư.

P12-13-456-12

Ấm Lưu Bội

P12-13-456-13

Ấm Lưu Bội (giả cổ) làm riêng cho thị trường Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20

Từ tay nghề đến tạo hình chiếc ấm, hay cách tô điểm trên thân ấm, cho thấy đây là một chế phẩm thượng hạng. Ngoài ấm Zhuni, Thiệu Cảnh Nam còn làm một loại ấm tương tự, nhưng trên nắp ấm có thêm một đường viền tinh xảo, thân ấm cũng dùng dao tre khắc hai câu thơ “Kim ba sơ phiếm thể/ Ngọc vũ sạ sinh huy” (Mặt trăng vừa ló dạng, bầu trời liền ngời sáng), ký Lưu Bội, đáy ấm khắc dấu triện “Thiệu Cảnh Nam”. Cách thức tạo ấm và kiểu thư pháp của hai loại ấm này chính là phong cách đặc trưng của tác giả, có thể dùng làm căn cứ khi giám định ấm Lưu Bội thật và giả.

______

(1) “Tích Bao hồ” dịch sát nghĩa là “bình bọc thiếc”, Tích Bao là tiếng Hán Việt, cũng như người Việt gọi ấm Tử Sa chứ không gọi “ấm Cát tím”.

SONG MỘC

Đăng lại từ báo Đất Mũi Cuối tuần

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 



Read Full Post »

Những chiếc ấm đất

Bóng nắng gần tới đỉnh đầu. Sư cụ chùa Đồi Mai thủng thẳng trở về trai phòng. Nhà sư già gỡ chiếc nón tu lờ, sắp ngồi vào thụ trai thì có tiếng con trẻ gọi ở ngoài cổng chùa. Một chú tiểu lễ phép bước lên tam cấp:

– Bạch cụ, có người con trai cụ Sáu xin vào.

– Vậy chú vẫn đóng cửa chùa đó à? Chú ra mở mau không có người ta phải đứng nắng lâu. Cổng nhà chùa bao giờ cũng nên để ngỏ. Từ giờ chú nên nhớ: sáng sớm tụng kinh nhật tụng và thỉnh chuông xong là phải mở rộng cửa chùa và tối đến, lúc nào học xong kệ thì mới đóng. Kẻo nữa khách thập phương họ kêu đấy.

Tiểu ra được một lát thì một người con trai trạc mười bảy tuổi xúng xính trong chiếc áo dài thâm, chân xéo lấm, tay bưng cái khay tiến vào tăng xá, vái sư cụ:

– Bạch cụ, thầy con cho con mang xuống biếu cụ bình trà đầu xuân. Và xin phép cụ cho ra giếng chùa nhà gánh một gánh nước.

Nhà sư già đã quen với những việc biếu và xin mượn này ở dưới cụ Sáu, khẽ cất tiếng cười. Trên khuôn mặt khô xác, nụ cười không có gì là ấm áp thiết tha. Nó chỉ đủ là hiền lành thôi.

– Thế cháu đựng nước bằng cái gì?

– Dạ có người nhà quẩy nồi và gánh đi theo còn chờ ở ngoài.

– Ai di đà phật? Nắng này mà đi từ làng trên xuống tận đây lấy nước, cụ Sáu nhà có công quá. Cháu ngồi nghỉ chân đã. Để già bảo chú tiểu đưa tên bộc ra giếng. Cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi; sẵn oản chuối vừa hạ xuống, già ép cháu thụ một ít lộc Phật.

– Bạch cụ, cháu ăn mặn ở nhà vẫn còn lửng dạ.

Sư cụ chùa Đồi Mai không nài thêm và vẫn chỉ cười rất thuần hậu.

– Cháu có biết cụ Sáu nhà đến xin nước ở chùa đây đã mấy năm nay rồi không? Gần mười năm. Uống trà tàu như thầy cháu thì cũng có một. Cứ nước giếng chùa đây mới chịu pha trà. Lắm lúc già tự hỏi về cái tiền thân của thầy cháu xem là như thế nào. Nghĩ đến cái nhân duyên của thầy cháu với nhà chùa đây, thực cũng là bền và kỳ lắm cháu ạ.

Thoáng thấy tên lão bộc đã quảy xong gánh nước đang ngơ ngác tìm mình và làm ướt cả khoảng giữa sân chùa lát toàn đá tảng xanh, người con cụ Sáu, với cái từ tốn của một thư sinh ngồi hầu chuyện bực phụ chấp đã xuất gia, liền vội vàng đứng dậy xin phép về.

– Bạch cụ, cháu vội phải về, vì ở nhà hôm nay có khách uống trà. Có lẽ thầy cháu ở nhà đang chờ nước về.

Nhà sư già cũng vội theo bọn xin nước ra tới thềm ngoài. Sư cụ rút trong tay áo vải rộng ra một chiếc quạt thước, xòe rộng hết cả nan quạt, nghiêng che đầu cho đỡ nắng và bảo chú tiểu:

– Chú chạy mau ra vườn, bẻ mấy cành lá đào.

Rồi cụ giữ con cụ Sáu lại:

– ấy, ấy, thong thả một chút. Thả mấy cành đào có lá vào nồi nước, lúc gánh đi đường xa nó đỡ sóng ra ngoài và về đến nhà, nước vẫn mát.

Bọn xin nước vái chào nhà sư. Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và thẫm màu. Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát. Ví buổi trưa hè này là một đêm bóng trăng dãi, và ví cổng chùa Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần.

ánh nắng già dặn buổi trưa nung đốt mặt cánh đồng dưới chân đồi, làm rung rinh lớp không khí bốc từ mặt đất. Giống như vệt khói nhờ, nắng vờn qua những màu xanh bóng loáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm. Đứng trong cổng chùa từ bề cao nhìn xuống cái thấp dưới chân mình, nhà sư già nheo nheo cặp mắt, nhìn cái nắng sáng lòa. Bọn người xin nước chỉ còn là mấy cái chấm đen, mỗi chuyển động lại làm tung lại phía sau mình một chùm cát bụi mờ mờ. Gió nồm thổi mạnh, nhiều cơn, đã đem cả mảnh bụi trần kia vào lọt cổng ngôi chùa cao ráo. Nhà sư nghĩ đến cụ Sáu, thở dài tỏ ý tiếc cho một kiếp chúng sinh còn vướng mãi vòng nghiệp chướng.

Cụ Sáu vốn đi lại với chùa đây kể ra đã lâu. Từ trước cái hồi nhà sư già tới trụ trì. Mấy pho tượng Phật Tam thế bằng gỗ mít đặt ở trên bệ và mấy pho Kinh in giấy đại thừa là của cụ Sáu cúng đấy. Cái chuông treo ở trên nhà phương trượng cũng là của ông cụ Sáu cúng vào hồi trùng tu lại chùa. Và mỗi lần nhà chùa lập phả khuyến thì ông cụ Sáu đứng đầu sổ. Chùa Đồi Mai ở xa làng mạc biệt lập trên một khu đồi nên cũng ít bị phiền nhiễu bởi đám tạp khách. Thỉnh thoảng trong bọn khách đến chơi, ông cụ Sáu được sư cụ biệt đãi nhất. Tháng một lần, nhà sư già lại giữ ông cụ Sáu lại ăn một bữa cơm chay và lần nào từ biệt, nhà sư cũng chân thành tặng khách một rò lan Chu Mặc. Thường thường mỗi lần gặp gỡ, thể nào hai ông già cũng kéo nhau ra cái giếng nước mà chuyện vãn rất lâu. Nhà sư ít nhời, trầm tĩnh ngắm bóng cụ Sáu trong lòng đáy giếng sâu. Cái bóng nhà sư già ít khi được đậu hình cho lâu trên phiến gương nước giếng mát lạnh: chốc chốc một vài giọt nước ngọt lại rời mạch đá tổ ong, thánh thót rớt xuống, tiếng kêu bì bõm. Ông cụ Sáu tỳ tay vào thành giếng nhờn mịn rêu xanh, chỉ ngón tay xuống lòng giếng sâu thẳm gần hai con sào mà nói: “Chùa nhà ta có cái giếng này quý lắm. Nước rất ngọt. Có lẽ tôi nghiện trà tàu vì nước giếng chùa nhà đây. Tôi sở dĩ không nghĩ đến việc đi đâu xa được, cũng là vì không đem theo được nước giếng này đi để pha trà. Bạch sư cụ, sư cụ nhớ hộ tôi câu thề này: “Là giếng chùa nhà mà cạn thì tôi sẽ lập tức cho không người nào muốn xin bộ đồ trà rất quý của tôi. Chỉ có nước giếng đây là pha trà không bao giờ lạc mất hương vị. Mà bạch cụ, chúng tôi không hiểu tại sao ngọn đồi này cao mà thủy lại tụ. Địa thế chùa này, xem ra còn dụng võ được…”. Chừng như sợ cụ Sáu bàn rộng tới những chuyện không nên trao đổi với kẻ tu hành đã lánh khỏi việc của đời sống rồi, sư cụ vội nói lảng sang chuyện mấy cây mít nhà chùa năm nay sai quả lắm. Rồi kéo cụ Sáu vào trai phòng dùng một tuần nước. Theo một ước lệ rất đáng yêu đặt ra từ ngày mới làm quen với nhau, đã mươi năm nay, bao giờ uống nước trà của nhà chùa, ông cụ Sáu cũng được cái vinh dự pha trà và chuyên trà thay nhà chùa.

Dạo này, chắc ông cụ Sáu bận việc nhiều nên đã mấy tuần trăng rồi mà không thấy vãn cảnh chùa uống nước thăm hoa, để cho sư cụ cứ nhìn mấy chậu Mặc lan rò trổ hoa mà tặc lưỡi. Cùng bất đắc dĩ phải ngắt cắm vào lọ con vậy. Dạo này cụ Sáu chỉ cho người nhà xuống xin nước giếng thôi. Và trưa hôm nay lúc lặng ngắm hai thầy trò người con ông cụ Sáu đem nước ra khỏi chùa, lúc trở vào, nhà sư già thở dài cùng sư bác chờ đấy: “Ông cụ Sáu này, nếu không đam mê cái phong vị trà tàu, đam mê đến nhiều khi lầm lỗi, nếu ông ta bỏ được thì cũng thành một ông sư tại gia. Danh và lợi, ông ta không màng. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, ông ta thực đã coi cái phú quý nhỡn tiền không bằng một ấm trà tàu. Nhưng một ngày kia, nếu không có trà tàu mà uống nữa thì cái ông cụ Sáu này sẽ còn khổ đến bực nào. Phật dạy rằng hễ muốn là khổ. Biết đâu trong bốn đại dương nước mắt chúng sinh của thế giới ba nghìn, sau đây lại chẳng có một phần to nước mắt của một ông già năng lên chùa nhà xin nước ngọt về để uống trà tàu. Mô Phật!”.

Ông cụ Sáu, hôm nay lấy làm thích cái người khách lạ đó lắm. Người khách lạ vừa kể cho chủ nhân nghe một câu chuyện cổ tích. Lê trôn chén vào lợi chiếc đĩa cổ vài ba lần, người khách kể:

“Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn “uống trà tàu với!”. Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà: “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm”. Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không để ý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu”.

Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:

– Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.

– Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.

– Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.

Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:

– Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. “Thứ nhất Thế Đức gan gà; – thứ nhì Lưu Bội; – thứ ba Mạnh Thần”. Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.

Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:

– Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.

– Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?

– Lại “ngư nhãn, giải nhãn” chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa.

Chủ khách cả cười, uống thêm mỗi người hai chén nữa. Cụ Sáu tiễn khách ra cổng với một câu:

– Thỉnh thoảng có đi qua tệ ấp, xin mời ông khách ghé thăm tôi như một người bạn cũ. Mỗi lần gặp nhau, ta lại uống vài tuần nước. Hà, hà.

Năm ấy nước sông Nhĩ Hà lên to. Thảo nào mấy nghìn gốc nhãn trồng trên mặt đê quanh vùng, vụ đó sai quả lạ. Cái đê kiên cố đã vỡ. Nhưng vốn ở cuối dòng nước chảy xiết, nhà cửa cụ Sáu chưa đến nỗi bị cuốn phăng đi. Lúc nước rút, ở cái cổng gạch nguyên vẹn, hai mảnh giấy hồng điều đôi câu đối dán cửa vẫn còn lành lặn và nét chữ vẫn rõ ràng:

Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu

Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất, gọi hề đồng pha nước trước hiên mai*.

Năm sau, quãng đê hàn khẩu, chừng hàn không kỹ, lại vỡ luôn một lần nữa. Cái cổng gạch nhà cụ Sáu vẫn trơ trơ như cũ. Nhưng lần này thì đôi câu đối giấy hồng điều, gió mưa đã làm bợt màu phẩm mực, ngấn nước phù sa đã phủ kín dòng chữ bằng những vạch bùn ngang dày dặn.

Ông khách năm nọ – cái người kể câu chuyện ăn mày sành uống trà tàu – đi làm ăn xa đã mấy năm, nhân về qua vùng đấy, nhớ nhời dặn của cụ Sáu, đã tìm tới để uống lại với ông già một ấm trà tàu nữa. Nhưng người khách hỏi nhà ông đến, người khách đã bùi ngùi thấy người ta bảo cho biết rằng nhà cụ Sáu đã bán rồi. Thấy hỏi thăm tha thiết, người vùng ấy mách thêm cho ông khách: “Có muốn tìm cố Sáu thì ông cứ xuống Chợ Huyện. Cứ đón đúng những phiên chợ xép vào ngày tám thì thế nào cũng gặp. Chúng tôi chỉ biết có thế thôi”.

Phải, bây giờ ông cụ Sáu sa sút lắm rồi. Bây giờ ông cụ lo lấy bữa cơm cũng khó, chứ đừng nói đến chuyện uống trà. Thỉnh thoảng có xin được người nào quen một vài ấm, cụ lấy làm quý lắm: gói giấy giắt kỹ trong mình, đợi lúc nào vắng vẻ một mình mới đem ra pha uống. Vẫn còn quen cái thói phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp mùa hoa nở, cụ lại còn cố bứt lấy ít nhị đem ướp luôn vào gói trà giắt trong mình, nếu đấy là trà mạn cũ.

Những buổi có phiên chợ, cụ Sáu ngồi ghé vào nhờ gian hàng tấm của người cùng làng, bày ra trên mặt đất có đến một chục chiếc ấm mà ngày trước, giá có giồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy, chửa chắc cụ đã bán cho một chiếc. Có một điều mà ai cũng lấy làm lạ, là cụ bán lũ ấm đất làm hai lớp. Mấy kỳ đầu, cụ bán toàn thân ấm và bán rất rẻ. Còn nắp ấm cụ để dành lại. Có lần vui miệng, cụ ghé sát vào tai người bà con: “Có thế mới được giá. Có cái thân ấm rồi, chẳng nhẽ không mua cái nắp vừa vặn sao? Bán thân ấm rẻ, rồi đến lúc bán nắp ấm, mới là lúc nên bán giá đắt. Đó mới là cao kiến”.

Cụ Sáu cười hề hề, rồi vội quay ra nói chuyện với bạn hàng đang mân mê những cái thân ấm đất đủ màu, cái thì dáng giỏ dâu, cái thì múi na, hình quả vả, quả sung, quả hồng. Cụ đang bảo một ông khách:

– Thế nào tôi cũng tìm được nắp cho ông. Cứ phiên sau lại đây thế nào cũng có nắp. Không, đúng ấm tàu đấy mà. Nếu không tin ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm tàu.

Rút từ tập truyện ngắn Vang bóng một thời,

Nxb Mai Lĩnh, Hà Nội, 1940

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Ấm trà Tử sa – Nghi Hưng

 

Uống trà là một tập quán trong sinh hoạt dân gian đã có lâu đời ở nước ta. Tùy điều kiện làm việc, khí hậu từng vùng miền mà mỗi nơi có cách uống trà và sử dụng bộ đồ trà khác nhau đôi chút. Trong bài viết này, chủ yếu chúng tôi muốn giúp bạn đọc tìm hiểu loại ấm Tử sa đang được các nhà buôn đường dài Trung Quốc (TQ) mang sang bày bán cùng với mặt hàng gốm sứ, ngày một nhiều tại các chợ, siêu thị.
trà cụ -1

Nghề chơi lắm công phu

Là người sành uống trà, chắc ai cũng từng nghe nói:

Thứ nhứt Thế Đức gan gà
Thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần

Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần là 3 loại ấm trà làm bằng đất tử sa, mà ngày nay ai còn giữ được, thì họ chính là chủ nhân của những cổ vật trân ngoạn vô giá. Cũng trong vòng hai ba năm trở lại đây, cùng với mặt hàng gốm sứ, các thương nhân TQ còn đem sang thị trường VN rất nhiều ấm, chén, bộ đồ trà và vật dụng làm bằng đất tử sa, bắt đầu xuất hiện những nhà buôn bán nhỏ và giới chơi ấm Tử sa (sưu tập).
Tu_sa_-_295_-_2
Chủng loại ấm Tử sa bày bán tại thị trường VN đa dạng, phong phú, có nhiều món tinh xảo, bắt mắt, nhưng chưa thấy xuất hiện những chiếc ấm xuất sắc, tiêu biểu của mặt hàng gốm Tử sa (kể cả những chiếc ấm được người bán cất gói rất “bí mật”, nói là chỉ dành cho khách quen, sành điệu!). Về chất lượng và giá cả thì thượng vàng hạ cám, giá nào cũng có. Từ chiếc ấm làm bằng tay nghề vụng về, lộ hẳn chất đất chưa được tinh luyện giá chỉ 20- 50.000VNĐ, tới những chiếc bày trong lồng kính có khắc chạm hình và bài thơ, kèm dấu triện, niêm giá bằng đồng nhân dân tệ, quy đổi ra tiền VN ngót nghét hàng chục triệu đồng. Nhìn chung, mặt hàng ấm Tử sa được các thương lái đưa vào thị trường VN, phổ biến có 3 loại:

1. Loại ấm rẻ tiền đã nói ở trên, hay những “bộ đồ trà” với đủ bộ sậu: Khay, ấm, dĩa, tách và dụng cụ pha trà nhưng giá bán chỉ từ hai, ba trăm ngàn đồng/bộ (nên nhớ, người sành chơi ấm Tử sa chỉ cốt coi trọng chiếc ấm, ít ai uống trà bằng tách Tử sa, vì không nhìn thấy màu sắc của trà).

2. Loại ấm thông dụng, có thể pha trà uống hàng ngày, dùng cho một,hai hoặc ba người trở lên. Giá từ 200.000 đến 800.000 VNĐ/ấm.

3. Loại ấm giả cổ, dành cho người sưu tập,giá khoảng 2-300 ngàn VNĐ. Loại này thường nhái kiểu dáng ấm xưa, hay làm giả sản phẩm nổi tiếng của các danh gia đương thời trong lĩnh vực chế tạo gốm tử sa, với đầy đủ dấu triện ở đáy, nắp và quai ấm. Trước khi đem bán, các ấm này thường được chôn dưới đất một thời gian, hoặc ngâm trong cặn nhớt, mực tàu, cho cũ đi, để làm ra vẻ cổ.

Tu_sa_-_295_-_3
Ấm giả cổ

Ngoài 3 loại kể trên, những chiếc ấm Tử sa tiền triệu trở lên đòi hỏi người chơi phải có kiến thức nhất định, mới có thể phân biệt chơn giả, tốt xấu. Cũng cần biết rằng, tại TQ sau Cách mạng văn hóa, công nghệ chế tạo gốm tử sa được nhà nước chủ trương phục hồi, ngoài việc nổi lên những tay nghề bậc thầy làm ra chiếc ấm tinh tế, hoàn hảo, chẳng những không thua sút các danh gia thời xưa, mà tài năng của họ còn được khoa học, kỹ thuật hiện đại hỗ trợ, đã cho ra đời những chiếc ấm mới hoặc giả cổ tinh diệu đến mức…thần kinh qủy sợ. Ngay từ những ngày đầu ấm Tử sa thịnh hành trở lại, tại TP.Thượng Hải đã xuất hiện hàng nhái, hàng giả. Năm 1979 ấm Tử sa Nghi Hưng được Công ty Trân Bảo  nhập vào Đài Loan, thì năm 1980 ở đây cũng có hàng giả. Lúc đầu, do kỹ thuật làm giả chưa tinh vi nên dễ nhận biết, hiện nay muốn phân biệt ấm Tử sa thật-giả, có người nói phải nhờ đến chuyên gia giám định đồ cổ mới đảm bảo chính xác! Đối với những người chuyên sưu tập, do am hiểu về lịch sử cũng như quá trình chế tạo ấm Tử sa, kết hợp với quan sát cốt gốm, cách tạo hình và họa tiết trên ấm, nên chỉ cần “nhìn bằng mắt, cảm thụ bằng tay”, họ có thể phân biệt được hàng thật, hàng giả.

Tu_sa_-_295_-_4
Ấm mua ở phố Thành Hoàng (Thượng Hải) niêm giá 650 tệ (1.300.000 VNĐ) nhưng mua chỉ 180 tệ (360.000 VNĐ)

Tu_sa_-_295_-_7
Mua tại lò Tử Sa Tô Châu, 300 tệ (600.000 VNĐ)


Ấm Tử sa Đài Loan của nghệ nhân Lâm Quốc Thuận. Mua ở Đài Bắc, 50USD

Tu_sa_-_295_-_8

Nguồn gốc ấm Tử sa Nghi Hưng

Thành phố Nghi Hưng, xưa là huyện Nghi Hưng thuộc tỉnh Giang Tô, nằm trên bờ hồ Tam Giác Châu chảy ra Trường giang, vị trí cách bờ Tây Thái Hồ (Vô Tích) 64km, giáp ranh tỉnh An Huy. Kỹ thuật gốm sứ Nghi Hưng có bề dày lịch sử hơn 5.000 năm, tương truyền Phạm Lãi và Tây Thi sau khi giúp Câu Tiễn diệt nước Ngô, đã cùng nhau đến Nghi Hưng sống cuộc đời ẩn dật, lấy nghề nặn gốm làm thú tiêu khiển. Gốm Nghi Hưng được định hình từ đời Tống-Nguyên, đến đời Minh-Thanh mới phát triển hưng thịnh, trong đó gốm tử sa với những tính năng công dụng, phong cách nghệ thuật độc đáo được xem là “bông hoa của kinh đô gốm” đã tỏa hương sắc bay ra thế giới.

trà cụ -2

Về việc phát hiện ra gốm tử sa, truyền thuyết kể rằng: Vào thời xa xưa, có một thầy tu cứ mỗi lần đi qua thôn Thục Sơn- Nghi Hưng thì cất tiếng rao to “Mại phú quý thổ, mại phú quý thổ!” ( Bán đất giàu sang đây), những người dân địa phương hiếu kỳ chỉ nhìn ông rồi bỏ đi. Thầy tu thấy mọi người dững dưng, không ai phản ứng gì, càng ra sức rao “Quý bất dục mãi, mãi phú như hà ?” ( Không muốn mua quý, thì làm sao giàu được). Rồi dẫn mấy người trong thôn đến nơi mà ông gọi là “Phú quý thổ”, nằm trong hai ngọn núi Thanh Long và Hoàng Long (trấn Đinh Thục). Tại đây, người ta đào thấy đất sét có 5 màu: đỏ, vàng, xanh lục, xanh lam và tím, dùng chế tạo gốm rất tốt.

trà cụ -3

Tử sa là loại gốm tự nhiên có chất đất nhỏ mịn, hàm lượng chất sắt cao, tính kết dính dễ tạo hình, nhất là khi dùng chế tác vật dụng nhỏ, tinh xảo như ấm trà. Người xưa đã tổng kết 5 ưu điểm của ấm Tử sa:

1. Dùng để pha trà không mất đi nguyên vị của trà, ”Sắc,hương,vị giai uẩn” (giai uẩn có nghĩa là tiềm tàng). Văn Chấn Hanh đời Minh bình luận trong tập Trường vật chí : “Ấm Tử sa dùng pha trà tốt nhất, đậy nắp vẫn ngữi thấy mùi thơm, giữ nóng lâu”.

2. Thành ấm có nhiều lỗ thông khí kép nhỏ li ti (còn gọi là khí khổng), dùng lâu ngày có thể hấp thu mùi vị trà, chỉ cần chế nước sôi vào là có hương vị trà.

3. Nước trà pha trong ấm để quên mấy ngày không bị thiu, mốc hay biến chất.

4. Ấm sử dụng càng lâu càng phát màu, Ngô Kiến đời Thanh nói: “Ấm Tử sa dùng hàng ngày, năng lau chùi sẽ sáng bóng như gương”.

5. Ấm Tử sa có đặc điểm chịu được sự biến động nhiệt độ nóng lạnh tức thời mà không bị rạn nứt, lại truyền nhiệt chậm, lỡ tay cầm vào ấm không bị phỏng.


trà cụ -4

Ấm “Bách nhi đồ”, khắc chạm hình 100 đứa trẻ

Theo tài liệu khảo cổ, năm 1976 khi khai quật vùng núi Dương Tiện thuộc huyện Nghi Hưng, các nhà khảo cổ đã phát hiện di chỉ lò gốm Tử sa có từ đời Tống (960-1297), tuy vậy, phải đến đời Minh nghệ thuật chế tạo các vật dụng tinh xảo, trong đó có ấm trà mới thịnh hành. Theo sách Dương Tiện mính hồ lục của tác giả Châu Cao Khởi ghi chép, thì Cung Xuân là người đầu tiên đưa ấm Tử sa từ một sản phẩm thủ công thô sơ trở thành tác phẩm nghệ thuật sáng tạo nổi tiếng vào thời Gia Tĩnh và Chính Đức (triều Minh). Tương truyền, Cung Xuân là gia đồng theo hầu chủ nhân Ngô Di Sơn đang trọ học ở chùa Kim Sa (Nghi Hưng). Trong chùa có vị sư già làm ấm trà rất khéo, Cung Xuân đã lén học nghề ông ta. Có lần, Ngô Di Sơn nhìn thấy những ấm trà do Cung Xuân làm ra, tuy mộc mạc chất phát nhưng dáng vẻ trang nhã vô cùng, liền bảo làm thêm mấy chiếc, rồi mời những bậc thức giả đến thưởng ngoạn, mọi người đều hết lời khen ngợi, tán thưởng. Từ đó ấm Cung Xuân có tiếng và mấy năm sau thì thành danh, người đương thời tranh nhau mua, đến nỗi trong giới sưu tầm cổ ngoạn có câu: ”Ấm Cung Xuân quý hơn vàng ngọc”.

trà cụ -5

Nghệ thuật tạo hình ấm Tử sa

Hình dạng ấm Tử sa có thể gói gọn trong bốn chữ “Thiên hình vạn trạng”, nhưng tựu trung các sản phẩm làm ra dựa trên 3 cách tạo hình căn bản:

1.Tạo hình ấm Tử sa dạng hình học – Áp dụng các đường nét hình học để làm ra sản phẩm, trang trí trên thân ấm, bao gồm 2 phương pháp tạo hình chính:

Tu_sa_-_295_-_13
A-    Tạo hình ấm tròn: Hình dáng ấm Tử sa dạng tròn chủ yếu do các đường cong có định hướng và độ cong khác nhau tạo thành, đặc biệt coi trọng 5 yếu tố:  tròn đầy, chặt chẽ, hài hòa, vững chãi và uyển chuyển. “Tròn, vững, cân, chính” là qui tắc bắt buộc nghệ nhân làm ấm phải tuân thủ. Thân ấm, miệng ấm, nắp, đáy, vòi, vai, eo phải cân xứng, liền lạc. Trong cương có nhu, dày mà không nặng, chắc chắn mà không thô kệch, có da có thịt.(Ảnh: ấm Huệ Mạnh Thần, đời Minh)

Tu_sa_-_295_-_14

B- Tạo hình ấm vuông: Ấm vuông còn gọi là ấm Phương chung, chủ yếu do các đường thẳng có độ dài, ngắn khác nhau tạo thành. Tuy gọi là ấm vuông, nhưng có thể là hình khối 4,6 hoặc 8 cạnh. Cấu trúc đường nét liền lạc, góc cạnh rõ ràng, tạo cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng. Đường thẳng đứng và đường ngang là chủ đạo; nét cong, uốn góc là phụ; trục và đường chân trời phải cân đối, chính xác. Núm và nắp ấm tương ứng với thân, 3 chỗ cong của vòi ấm và tay cầm tương ứng trước sau, tạo sự gần gũi,dễ nhìn.(Ảnh: ấm Mạn Sinh, đời Thanh)

Tu_sa_-_295_-_15
2- Tạo hình ấm Tử sa dạng tự nhiên: Các nghệ nhân đã vận dụng trí tưởng tượng, thông qua thủ pháp nghệ thuật biến hóa hình ảnh, sự vật trong đời sống thành hình thể vật dụng. Hoặc trên miệng ấm, quai, nắp, núm và các phần dễ thấy trên thân ấm được điêu khắc, trang trí, viết thư pháp, vẽ tranh, chạm lộng… những hình ảnh tinh tế, hiện thực hay cách điệu. Sinh ra từ tự nhiên mà vượt trội tự nhiên là tiêu chí sáng tạo của những nghệ nhân theo trường phái này.(Ảnh: ấm vô khoản – không đề hiệu, đời Thanh)

Tu_sa_-_295_-_16
3- Tạo hình ấm Tử sa dạng hoa văn đắp nổi: Trên dưới đối xứng, thân hòa với nắp, hình thể cân đối, hoa văn rõ nét. Chọn góc nhìn trực diện từ trên xuống, thân ấm và hoa văn hòa hợp, sắp xếp tỉ mỉ, có độ nong sâu, phân rõ tối sáng.(Ảnh: ấm Dương Phụng Niên, đời Thanh)

Hiện nay, do mức độ cung cầu đã thấy xuất hiện loại ấm Tử sa kết hợp 2 hoặc cả 3 cách tạo hình nói trên. Bằng tài hoa và sự sáng tạo không có điểm dừng, nhiều nghệ nhân đã bước vào cảnh giới vô vi với những chiếc ấm Tử sa “không vuông không tròn”, hoặc “vuông không chỉ một kiểu, tròn không chỉ một dáng”.

SONG MỘC

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ




Read Full Post »