Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Lý’

Một số đồ gốm và sành tiêu biểu thời Lý Trần

(Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14)

Đây là thời kỳ xây nền tự chủ sau ngàn năm Bắc thuộc. Với ý thức tự cường dân tộc sau các chiến thắng lẫy lừng chống quân Nam Hán, quân Tống, quân Nguyên Mông nền văn hoá dân tộc được phục hưng mạnh mẽ với nền văn minh Đại Việt với đỉnh cao thời Lý Trần.

Thời này đồ gốm cực kỳ phát triển với nhiều dòng gốm khác nhau. Tiêu biểu là các dòng gốm men ngọc, gốm men nâu, gốm men trắng hoa nâu, gốm một màu men trắng, gốm men lục. Đây cũng là thời kỳ xuất hiện nhiều loại gốm xây dựng như các loại gạch lát hoa, ngói mũi hài, các tượng đất nung hình rồng, phượng, lá đề, uyên ương, mô hình tháp màu đỏ rất đặc trưng.

Đáng chú ý là đồ gốm thời này chống dính bằng phương pháp con kê, kiểu dáng và hoa văn trang trí thường gắn liền với các biểu tượng Phật giáo, như hình gương sen, cánh sen, hoa cúc dây, v.v.

Thời kỳ này đồ sành cũng khá phát triển với các loại vò,chum,liễn trang tri hình hoa cúc, tôm, cá, hươu nai ở vai.

Docoviet

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Advertisements

Read Full Post »

Hình tượng hoa sen trên gốm sứ hoàng thành Thăng Long

Hoa sen là loài hoa được nhiều nước trên thế giới tôn thờ từ rất sớm. Đối với người Ấn Độ hoa sen là tượng trưng cho quyền lực sáng tạo của thiên nhiên, của Lửa và Nước. Còn đối với người Ai Cập, hoa sen là tượng trưng của Orisis và Horus là các thần Thái dương và Hỏa ty.

Thạp gốm thời Trần

Thạp gốm thời Trần

Trong nghệ thuật Lưỡng Hà và Ai Cập, hoa sen biểu trưng cho vũ trụ. Nhưng vượt lên tất cả các tôn giáo khác, hoa sen có ý nghĩa lớn lao đối với đạo Phật. Bởi hoa sen có những đức tính cao quý, gần gũi với triết lý của đạo Phật. Cây hoa sen mọc ở dưới ao hồ “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Trong giới Phật giáo, Phật được ví như hoa sen, ở giữa thế giới trần tục mà vẫn giữ tròn đạo tính. Hễ nơi nào có cây sen mọc thì làm cho nước đục nơi đó lắng lại thành trong. Nó cũng giống như người tu hành, không những giữ tròn đạo tính mà còn cảm hóa được chúng sinh.

Mùa thu năm 1010, sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng là dời đô từ kinh đô Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long. Đây là thời kỳ mà Phật giáo phát triển mạnh, được coi là quốc giáo, nên hình tượng hoa sen được ứng dụng rất nhiều. Người ta làm các đài hoa sen, các bệ tượng Phật hình hoa sen tại các chùa tháp. Đặc biệt là tại thành Thăng Long, kiến trúc chùa Một Cột mô phỏng nội đóa sen khổng lồ. Trong nghệ thuật trang trí, hoa văn hoa sen cũng được ứng dụng nhiều trong các đồ án. Từ những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa tháp, diềm bệ tượng và các đồ gốm sứ… Tất cả các đồ án trang trí cũng như nghệ thuật tạo hình này trong di sản nghệ thuật Phật giáo thời Lý Trần đều được tìm thấy trên rất nhiều di vật tìm thấy tại khu di chỉ khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long.

Mảnh bệ tháp sứ trắng thời Lý (tìm thấy ở hố B16) tuy chỉ còn lại hình 3 tiên nữ đang trong tư thế múa và giơ hai tay nâng cao đài sen cũng đủ làm người xem cảm phục trước sự tinh tế trong nghệ thuật tạo hình và kỹ thuật tạo tác gốm của cha ông. Diềm văn cánh hoa sen đắp nổi được giản lược trong bố cục đứng, đầu cánh sen tròn khỏe gợn cong lên ở chóp, hoàn toàn gợi thực nhưng cũng hoàn toàn cách điệu theo một tỷ lệ vàng trên hầu khắp các đài sen, bệ sen. Lớp men trắng sữa rạn trên bề mặt vẫn còn độ trong và óng mượt, chứng tỏ kỹ thuật tạo tác gốm thời Lý đã đạt tới một trình độ cao, không thua kém gốm Tống Trung Quốc cùng thời.

Chậu gốm thời Lý

Chậu gốm thời Lý

Một di vật gốm độc đáo khác có trang trí hoa sen mà các nhà khảo cổ học khẳng định là chỉ duy nhất tìm thấy trong Hoàng thành Thăng Long, đó là chậu men trắng thời Lý. Chiếc chậu có đường kính khoảng 45 cm được gắn liền với một vành chân đế có trang trí hoa sen (xem ảnh). Đối lập với khối chậu to và đặc phía trên, vành chân đế với băng hoa sen trang trí được trổ thủng tạo vẻ mềm mại, thanh thoát, khiến cả khối chậu và đế trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Đồ án hoa sen này được cách điệu thành hoa dây. Bố cục của đồ án này xuất phát từ sợi dây được uốn lượn thành sóng hình sin và giữa các quãng trống của các bước sóng hình sin người nghệ nhân lại khéo léo thể hiện một bông hoa sen hay nụ sen cách điệu. Việc trổ thủng dải hoa sen cách điệu này cho thấy tính sáng tạo và óc thẩm mỹ rất cao của các nghệ nhân thời Lý. Điều đặc biệt là với kích thước khá lớn như vậy, nhưng chiếc chậu vẫn còn nguyên vẹn khi các nhà khảo cổ lấy lên từ lòng đất sau hàng bao thế kỷ.

Đồ án trang trí hoa sen trên gốm men ngọc rất đặc trưng của thời Lý cũng được tìm thấy với số lượng lớn tại di chỉ Hoàng thành Thăng Long. Nhóm bát đĩa khắc chìm hoa sen mang phong cách Việt đặc trưng: Nghệ nhân khắc chìm hình hoa sen lên xương đất sau đó tráng men và đem nung. Đây là loại gốm có chất lượng cao, men phổ biến có màu xanh ngọc sắc đậm, xương gốm trắng, mịn.

Mảnh đài sen men vàng thời Lý là phát hiện rất mới mẻ và dường như loại gốm này mới chỉ được tìm thấy trong khu vực Hoàng thành Thăng Long. Tiến sĩ Bùi Minh Trí, người trực tiếp phụ trách và nghiên cứu phần gốm sứ khai quật được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long cho biết: “Trước đây nhiều nhà khoa học nghĩ rằng gốm men vàng chỉ có ở thời Lê, sau là thời Nguyễn. Loại men đó thường thấy trên các vật liệu kiến trúc như ngói hoàng lưu ly lợp trên mái các cung điện dành cho vua như điện Thái Hòa (Huế). Nhưng cuộc khai quật ở Hoàng thành Thăng Long đã tìm thấy loại gốm men vàng là đồ ngự dụng được tạo dáng rất đẹp với hoa văn tinh xảo”.

Bút pháp bay bổng, mảng và nét được đơn giản hóa đến cao độ, sự thay đổi sắc độ của màu nâu và men ngà đã tạo thành một phong cách riêng mà nay chúng ta thường gọi là gốm sành xốp hoa nâu thời Lý-Trần. Đây là một loại gốm được đánh giá cao về nghệ thuật tạo dáng cũng như về nghệ thuật trang trí: Nó mang đậm chất Việt Nam và có nhiều nét độc đáo so với các loại gốm cổ khác trên thế giới. Gốm hoa nâu trong Hoàng thành được tìm thấy khá nhiều. Đó là các loại vò, chậu, thạp trang trí hoa sen, dây lá. Trên chiếc thạp gốm hoa nâu thời Trần (trong ảnh) có đường kính 40 cm cao 65 cm, nét bút của nghệ nhân hoàn toàn phóng khoáng, bay bổng. Chính vì không gò bó theo một khuôn mẫu đăng đối nào như trên các đồ án trang trí hoa sen thời Lý, nên những bông sen ở đây trông rất sinh động. Nét vẽ khi thì nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao, lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Trên một mảnh vỡ khác của gốm hoa nâu, dường như ai cũng phải thốt lên trầm trồ khi nhìn thấy họa tiết hoa sen dây theo kỹ thuật “nền tô men nâu, hoa văn men trắng” với đường nét chạm – khắc uốn lượn mềm mại, tinh xảo, bộc lộ vẻ đẹp sang trọng, quý phái.

Hoa văn trên đồ gốm sứ Hoàng thành Thăng Long vô cùng phong phú đa dạng. Trong đó hoa văn hoa sen được thực hiện nổi bật như biểu tượng của sự thanh cao. Theo dòng chảy lịch sử, hoa văn của mỗi thời kỳ cùng với kỹ thuật tạo tác gốm riêng đã làm nên vẻ đẹp độc đáo của gốm sứ Việt Nam.

Nguyễn Thu Thủy (HNM)


MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hình tượng rồng trong các triều đại Lý,Trần, Lê, Nguyễn

Là biểu tượng của sự cao quý, của sức sống vĩnh hằng và sức mạnh vũ trụ nên hình tượng rồng được sử dụng nhiều trong kiến trúc cung đình, đình chùa, trang phục vua chúa. Hình tượng con rồng cũng thay đổi theo dòng lịch sử qua các triều đại. Việc xác định phong cách thể hiện con rồng qua các thời kỳ sẽ là một căn cứ để xác định niên đại công trình kiến trúc nào đó.
Hình tượng rồng thời Lý

rong-thoily

Trên các hiện vật điêu khắc đá và gốm còn truyền cho đến nay, các nhà khoa họcchỉ thấy rồng tạc dưới dạng phù điêu, không thấy chạm chìm và chạm tròn. Đó là nhưng con rồng thân tròn lẳng, khá dài và không có vẩy, uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, rất nhẹ nhàng và thanh thoát. Các nhà nghiên cứu gọi đây là rồng hình giun hay hình dây và điều đập vào mắt mọi người là nó mang hình dạng của một con rắn.
Rồng thời Lý thường ngẩng đầu lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối. Một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên, có trường hợp răng nanh rất dài, uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc với vòi lên bao lấy viên ngọc.
Thân rồng dài, dọc sống lưng có một hàng vảy thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Bụng là đốt ngắn như bụng rắn, có bốn chân, mỗi chân có ba ngón phiá trước, không có ngón chân sau. Vị trí của chân bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau bao giờ cũng ở gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân đều có khủy phía sau và có móng giống chân loài chim.

Hình tượng rồng thời Trần

rongthoitran

Từ nửa cuối thế kỷ XIV, con rồng đã rời khỏi kiến trúc cung đình để có mặt trong các kiến trúc dân dã, không những chỉ có trên điêu khắc đá và gốm, mà còn xuất hiện trên điêu khắc gỗ ở chùa. Rồng cũng không chỉ có ở các vị trí trang nghiêm mà rồng còn có mặt ở các bậc thềm (như ở chùa Phổ Minh).

Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý, với các đường cong tròn nối nhau, các khúc trước lớn, các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đuôi rắn. Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau như rồng thời Lý. Có khi vảy lưng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi khi từng chiếc vẩy được chia thành hai tầng. Chân rồng thường ngắn hơn, những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng trống trên bức phù điêu. Và có sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay

Đầu rồng không có nhiều phức tạp như rồng thời Lý. Rồng vẫn có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng không uốn nhiều khúc. Chiếc răng nanh phía trước khá lớn, vắt qua sóng vòi. Miệng rồng há to nhưng nhiều khi không đớp quả cầu.

Rồng thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát, mạnh mẽ. Thân rồng thường mập chắc, tư thế vươn về phía trước. Cách thể hiện rồng không chịu những quy định khắc khe như thời Lý.

Hình ảnh rồng chầu mặt trời sớm nhất là trong lòng tháp Phổ Minh ( Nam Định) có niên đại khoảng 1305 -1310. Đôi rồng ở đây được bố trí trong một ô tròn, chạy ngược chiều kim đồng hồ, đầu ngoái lại chầu một vòng tròn nhỏ ở giữa. Thể hiện mặt trời dưới dạng một vòng tròn đơn giản.


Hình tượng rồng thời Lê

rongthoile1

Đến thời Lê, rồng có sự thay đổi hẳn, rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Mép trên của miệng rồng vẫn kéo dài nhưng được vuốt gần như thẳng ra, bao quanh có một hàng vải răng cưa kết lại như hình chiếc lá. Răng nanh cũng được kéo dài lên phía trên và uốn xoăn thừng ở gốc. Lông mày vẫn giữ hình dáng biểu tượng ômêga, nhưng được kéo dài ra và đuôi vuốt chếch lên phía sau. Trên lông mày và chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại. Rồng có râu ngắn và một chân trước thường đưa lên đỡ râu, tư thế thướng thấy ở các con rồng đời sau. Cổ rồng thường nhỏ hơn thân, một hiện tượng ít thấy ở những con rồng trước đó. Như vậy rồng mang dạng thú xuất hiện cuối đời Trần đã thấy phổ biến ở đời Lê Sơ nhưng vẫn còn mang dáng dấp truyền thống của loài rắn.
Hình tượng rồng thời Nguyễn
rongthoinguyen

Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
Ngày nay, hình tượng rồng tuy không còn mang tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật… Dù ở bất cứ thời điểm nào, rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.

Theo Non nước Việt Nam

Các bài đã đăng :

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »