Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘lăng tẩm’

*KIẾN TRÚC

-KINH THÀNH HUẾ:

-Gồm 3 phần :Phòng Thành , Hoàng Thành và tử cấm thành .Kinh thành xây dựng trong 30 năm (1803-1832)thành có 10 cửa chính để ra vào .

-Kinh thành nằm bên bờ sông Hương là một quần thể kiến trúc rộng lớn và đẹp nhất nước ta thời đó .

-năm 1802 vua Gia Long , khởi công xây dựng Hoàng Thành và Tử Cấm Thành .năm 1805 mới bắt đầu xây dựng kinh thành , quy mô diện tích rất lớn 520ha chu vi 10km .Đặc biệt vận dụng kiểu kiến trúc phòng ngự Vauban của Pháp . Phòng thành Huế tạo những đường dích dắc , gốm các hệ thống :lũy , pháo đài ,giác bảo , đoạn thành nối hai pháo đài ,tường bắn , phản pháo , phòng lô , hào, thành giai…Đây là một loại thành lũy được áp dụng ở nhiều địa phương nước Pháp và các nước lân cận . Khi xây dựng kinh thành ,8 làng phải dời đi và hai đoạn nhánh sông Hương là Bạch yến và Kim Long đã bị lấp .Vòng thành có 10 cửa lớn đường bộ ,hai đường thủy và kỳ đài , thành cao 6,6m, rộng 21m xây gạch bên ngoài kiên cố , có dãy hào sâu gọi là Hộ thành Hà .Trong kinh thành còn có những công trình kiến trúc :Lục Bộ , Nha Viện ,Quốc Tử Giám ,Quốc Sử quán .Quần thể kiến trúc Hồ Tịnh tâm ,Khâm Thiên Giám ,Trấn Bình Đài , Tàng Thơ lâu ,Kỳ Đài …


Khởi công xây dựng năm 1805 , kinh thành Huế được quy hoạch bên bờ bắc sông Hương , xoay mặt về hướng nam , với diện tích mặt bắng 520ha có 10 cửa chính gồm :

-Cửa chính bắc (còn gọi là cửa hậu,nằm ở mặt sau kinh thành ).

-Cửa tây bắc (còn gọi cửa An Hòa ,tên làng ở đây).

-Cửa Chính Tây

-Cửa tây Nam9cu7a3 hậu ,bên phải kinh thành )

-Cửa chính nam(còn gọi cửa nhà Đồ ,do gần đó có Võ Khố ,nhà để đồ binh khí , lập thời Gia Long )

-Cửa Quảng Đức

-Cửa Thể Nhơn(tức cửa ngăn , do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua ra bến sông .

-Cửa Đông nam (còn gọi là cửa thượng tứ , do có Viện thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa )

-Cửa Chính Đông (Túc cửa Đông Ba ,tên khu vực dân cư này )

-Cửa Đông bắc ( còn có tên cửa Kẻ trài )

Ngoài ra kinh thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài ( thành phụ ở góc đông bắc của kinh thành , còn gọi là thành Mang Cá ) có tên gọi là Trấn Bình Môn.

Hai cửa bằng đường thủy thông kinh thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là đơng thành thủy quan

Và tây thành thủy quan.


Hoàng Thành

Toàn cảnh Hoàng thành thành gần như hình vuông ,mỗi cạnh 606m . Trong đồ án hơi lệch về phía nam kinh thành , có một cửa chính ngọ Môn (nam)Hòa Bình (bắc)Hiển Nhơn(đông )và Chương Đức (tây ).Theo trục dũng đạo ,từ cửa Ngọ Môn vào điện Thái Hòa là nơi thiết đại triều và tiếp sứ thần ,có nhiều cầu , hồ liên tục và những phương ngôn bằng đồng nguy nga tráng lệ . khu vực thờ cúng tổ tiên có :triệu Miếu , Thái Miếu , Hưng Miếu , Thế miếu ,điện Phụng Tiên ,cửu đỉnh và các cung Diên Thọ (các bà mẹ vua ở).Cung Trường sanh (các bà nội vua ở )các kho tang , vườn Thượng uyển …Ngọ Môn và Hiển lâm Các là hai công trình kiến trúc đồ sộ ,độc đáo tuyệt mỹ của kiến trúc truyền thống Huế.



Ở trong long kinh Tthanh2 , hoàng thành và tử cấm thành được gọi chung là Đại nội.hoàng Thành dùng để bảo vệ các cơ quan lễ nghi , chính trị quan trọng nhất của triều đình và các điện thờ .Tử cấm Thành bảo vệ nơi làm việc ,ăn ở , sinh hoạt hang ngày cùa nhà vua và gia đình .

Được xây dựng từ năm 1804-1883 , Đại Nội có mặt băng xây dựng theo hình gần vuông , mặt trươc và măt4 sau dài 622m, mặt trái và phải 604m . Thành xung quanh xâybằng gạch (cao 4,16m,dày 1,04m)bên ngoài có hệ thống hộ thành hào gọi là :Kim Thủy Hồ , để bảo vệ thành .mỗi mât trổ 1 cửa để ra vào , Ngọ môn (trước )Hòa Bình (sau )Hiển Nhơn (trái )Chương Đức (phải ).Cửa chính của ngọ môn chỉ dành cho vua đi .

Với hơn 100 công trình kiến trúc đẹp , mặt bằng Đại nội chia thành nhiều khu vực khác nhau :

-Từ Ngị môn đến Điện Thái Hòa làm nơi cử hành các lể lớn của triều đình .

-Triệu Miếu , Thái Miếu , hưng Miếu ,thế miếu và điện Phụng tiên là nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn .

-cung diên Thọ và cung trường Sanh là nơi ở của Hoàng Thái hậu và Thái Hoàng Thái hậu .

-Phủ nội vụ là nhà kho tàng trữ đồ quý ,xưởng chế tạo đổ dùng hoàng Gia .

-Vườn Cơ Hạ và Điện Khâm văn là nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa .


Thế miếu được xây dựng trên mặt bằng 1500m2 , thờ các vị vua Nguyễn .Phía trước thế miếu còn nhiều công trình nghệ thuật khác : Cửu Đỉnh , hiển lâm các …

Xây dựng một lần với Thế Miếu từ 1821-1822(thời Vua Minh Mạng). Hiển lâm các xây dựng ngay trước Thế miếu , trên khối nền cao hình chữ nhật từ dưới bước lên mặt nền trước sau có 9 bậc .Hiển lâm Các được kiến trúc bằng gỗ theo hình thức cao tầng , chức năng chính được xem như đài kỷ niệm ghi nhớ công lao các vua triều Nguyễn thờ ở Thế Miếu và các đại thần có công thờ hai bên tả Tùng Tự và Hữu Tùng Tự .

Hiển lâm Các là công trình kiến trúc có giá trị về cả kỹ thuật lẫn thẩm mỹ , kiến trúc thanh tú hài hòa với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp .


CỬU ĐỈNH

Cửu Đỉnh đặt tại sân Thế Miếu ,là sản phẩm độc đáo , tinh xảo , được bộ cung đúc tại Huế cuối năm 1835 đầu 1837 . cửu Đỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn mãi mãi của triều đình nhà Nguyễn và sự giàu đẹp của đất nước .Điều đó được thể hiện rất rõ ràng trong việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc và các hoa văn chạm nổi trên cửu đỉnh .Mỗi cửu đỉnh có khắc một tên riêng bằng chữ hán , lấy từ miếu hiệu (tên để thờ cúng )của một vị vua nhà Nguyễn .và cái đỉnh đó được xem là biểu tưỡng của vị vua đó .

-Cao Đỉnh (vua Gia Long )ở vị trí chính giữa ,Đỉnh hai bên trái phải lần lượt là : nhân Đỉnh ( Vua Minh Mạng ), Chương Đỉnh (Vua Thiệu Trị ), Anh Đỉnh (Vua Tự Đức ), Nghị Đỉnh ( Vua Kiến Phúc ), Thuần Đình (Vua Đồng Khánh ), Tuyên Đỉnh (Vua Khải Định ), Huyền Đỉnh ( chưa tượng trưng cho ông vua nào cả , mặc dù triều Nguyễn cón có 6 vị vua khác ).



Cung Diên Thọ là một hệ thống kiến trúc cung điện quy mô nhất còn lại tại cố đô . Cung Diên Thọ gồm có hơn 10 tòa nhà được bố trí trong khuôn viên tường thành bao bọc hình chữ nhật rộng khoảng 100m, dài gần 150m . Tòa nhà chính nằm giữa dành làm nơi mẹ vua nghỉ và tiếp khách . Ở đây chỉ cón cung Diên Thọ , Điện Thọ Ninh ,Tạ Trường Du , Am Phước Thọ và lầu Tịnh Minh .Cung diên Thọ được xây từ năm 1804 và qua nhiều đổi tên .


Tử cấm Thành

Có mặt bằng cũng gần vuông , cao 3,7m, mặt trước và sau dài 324m, mặt trái và phải dài 290m .Quanh thành trổ 10 cửa .Đại cung môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua ra vào , hiện nay đã hư hại hoàn toàn .Bức hình phóng to rộng dăng ngang sau lưng Điện cần Chánh (nơi vua làm việc hang ngày )là dấu hiệu cho biết thế giới sau nó chỉ dành riêng cho vua và gia đình .Trong đó có hang trăm cung nữ hang chục Thái giám thường trú để phục vụ hoàng gia . Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc vàng son lộng lẫy bao gồm :Điện càn Thành ( nơi vua ở ), điện Khôn Thái ( nơi vợ chính vua ở ), Duyệt Thị Đường (nhà hát ), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua ), Thái Bình Lâu( nơi vua đọc sách ) ,điện Quang Minh (nơi ở các hoàng tử ),điện Trinh Minh (nơi các hoàng hậu ở ), điện Kiến Trung , vườn cẩm Uyển…

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Advertisements

Read Full Post »

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt nam , bắt đầu khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và chấm dứt khi vua Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 , tổng cộng là 143 năm . triều đại nhà Nguyễn được ghi nhớ với các giai đoạn chính :

Giai đoạn độc lập (1802-1858)

Giai đoạn bị người Pháp xâm lăng và đô hộ (1858-1945)

Từ thời Gia long có quốc hiệu Việt Nam , ban đầu Gia Long cho đổi quốc hiệu Đại Việt sang Nam Việt nhưng về sau ,vì vua Gia khánh nhà Thanh sợ lầm với nước nam Việtcua3 nhà Triêu mà lãnh thổ bao gồm cả Lưỡng Quảng nên đổi tên thành Việt Nam .

Triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử Việt nam một di sản văn hóa khổng lồ . riêng số sách do triều Nguyễn viết ra trong 2/3 thế kỷ XIX còn nhiều hơn cả 300 năm trước đó gộp lại .

Các vua nhà Nguyễn

-Vua Gia Long sinh năm 1762 mất năm 1819 , là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân , lên ngôi năm 1802 , có 13 con trai và 18 con gái . vua Gia Long cũng là người đặt tên nước là Việt Nam .

-Vua Minh mạng sinh năm 1791 , mất năm 1840 , là con trai thứ tư của vua Gia Long , lên ngôi năm 1820( ngày 1 tháng giêng âm lịch )vì người anh cả là hoàng tử Cảnh lúc đó đã chết ( các anh thứ hai , thứ ba chết lúc còn nhỏ ) có 78 con trai và 64 con gái

-Vua Thiệu Trị sinh năm 1807 , mất năm 1847 , là con trai lớn của vua Minh Mạng , lên ngôi năm 1841 ( ngày 1 tháng giêng âm lịch )có 29 con trai và 35 con gái .

-Vua Tự Đức sinh năm 1829 , mất năm 1883 , là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị , lên ngôi năm 1847 , vì không có con nên nuôi ba người cháu , cả ba đều lên làm vua :Dục Đức , Đồng Khánh , Kiến Phúc .

-Vua Dục Đức sinh năm 1852 , mất năm 1883 , là con trai trưởng ( con nuôi ) của vua Tự Đức .lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883 nhưng ba ngày sau bị Nguyễn văn Tường và tôn Thất Thuyết truất phế rồi giết chết , có 11con trai va 8 con gái . Dục Đức vì ở trên ngôi có 3 ngày , không có thời gian chọn niên hiệu , Dục Đức là tên dinh thự của vua này . Miếu hiệu và thụy hiệu về sau mới được tôn vinh .

-Vua Hiệp Hòa sinh năm 1847 , mất năm 1883 , là con trai thứ 29 của vua Thiệu trị ( tức là em của vua Tự Đức ). Lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883 nhưng 4 tháng sau bị Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết chết , không có con .

-Vua kiến Phúc sinh năm 1869 , mất năm 1884 , là con trai thứ ba ( con nươi ) của vua Tự Đức . lên ngôi ngày 2 tháng 2 năm 1883 nhưng 8 tháng sau thì bị bệnh rồi chết , mọi việc đe7u2 được lo bởi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết , không có con .

-Vua hàm Nghi sinh năm 1872 ,mất năm 1943 ,là cháu gọi vua Tự Đức là chú . Lên ngôi năm 1884 nhưng bị Pháp truất phế 1 năm sau đó vì mưu lược chống họ , có 1 con trai và 2 con gái . sau khi bị truất phế , vua Hàm Nghi tiếp tục việc chống Pháp nhưng bị bắt vào năm 1888 và bị Pháp đày sang Algerie .

-Vua Đồng Khánh sinh năm 1864 , mất năm 1889 , là con trai thứ hai ( con nuôi ) của vua Tự đức .Lên ngôi năm 1885 nhưng sau 3 năm thì bị bênh5 rồi chết , có 6 con trai và 3 con gái .

-Vua Thành Thái sinh năm 1879 , mất năm 1995 , là con trai thứ bảy của vua Dục Đức ( người làm vua chỉ trong ba ngày ). Lên ngôi năm 1889 nhưng bị truất phế vào năm 1907 vì chống lại họ , có 16 con trai và nhiều con gái . Vào năm 1916 Vua Thành Thái (cùng con là vua Duy tân ) bị Pháp đày sang đảo Reunion , nhưng được đón trở lại Việt Nam vào năm 1947.

-Vua Duy Tân sinh năm 1899, mất năm 1945 , là con trai thứ năm của Vua Thành Thái , lên ngôi năm 1907 nhưng chỉ lo việc chống người Pháp nên bị họ truất phế và bị đày sang đảo Reunion(cùng với cha là vua Thành Thái ). Vào năm 1916 , có 3 con trai và 1 con gái .

-Vua Khải Định sinh năm 1885 , mất năm 1925 , là con trai trưởng của vua Đồng Khánh . Lên ngôi năm 1916 với ý định hòa hoãn với Pháp , chỉ có 1 con trai .

-Vua Bảo Đại sinh năm 1913 , mất năm 1997 , là con trai độc nhất của vua Khải Định .Lên ngôi năm 1926 , trong khi đang du học tại Pháp nên về Việt nam 6 năm sau đó , có 2 con trai và 3 con gái .Ngày 11thang1 3 năm 1945 , triều đình Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước Patenotre ký với Pháp năm 1884 , khôi phục chủ quyền Việt Nam . Nhà sử học Trần Trọng Kim được bổ nhiệm làm Nội Các Tổng trưởng , giao nhiệm vụ thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 và quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam .Vua Bảo Đại thoái vị vào ngày 30 tháng 8 năm 1945 và giao chức ‘’cố vấn tối cao’’cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới thành lập , nhưng chẳng bao lâu lại từ chức đi sống tại các nước ngoài . Bảo Đại trở lại Việt nam , với chức vụ Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam vào năm 1948 nhưng lại bị mất quyền sau môt cuộc trưng cầu dân ý trong năm 1956.

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »