Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘làng nghề’

LÒ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI BÊN BỜ DIỆT VONG SAU CƠN BÃO LŨ…

TRƯỚC NĂM 75 LÀNG GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN CÓ TRÊN TRĂM HỘ  GIÀ TRẺ TRAI GÁI CẢ LÀNG ĐIỀU LÀM GỐM …..SAU 75 NGHỀ GỐM MAI MỘT DẦN.. DẾN THỜI BAO CẤP CÀNG KHÓ KHĂN HƠN…SẢN PHẨM LÀM RA. KHÔNG ĐỬ CƠM CÔNG PHẦN ĐÔNG  PHẢI BỎ NGHỀ THANH NIÊN TRONG LÀNG PHẢI LÊN THÀNH PHỐ TÌM KẾ SINH NHAI MONG CUỘC SỐNG KHẤM KHÁ HƠN TƯƠNG LAI HƠN…

QUA BAO THĂNG TRẦM CỦA CUỘC SỐNG  DUY NHẤT CHỈ CÒN MỘT LÒ GỐM  CỦA ANH TRỊNH TỒN TẠI ĐẾN NGÀY HÔM NAY NGƯỜI CON ĐỜI THƯ 3 CỦA LÀNG GỐM MỸ THIỆN CHÂU Ổ  CŨNG CHỈ VÌ YÊU LẤY CÁI NGHỀ CÁI NGHIỆP TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG MÀ BÁM GIỮ LẤY ĐẾN NGÀY HÔM NAY  CÓ NHỮNG LÚC KHÓ KHẤN PHẨM LÀM RA  DÙ CHO  KHÔNG ĐỦ NUÔI DƯỠNG LẤY CUỘC  SỐNG HẰNG NGÀY NHƯNG GIA ĐÌNH  ANH VẪN CỐ GẮNG VƯỢT QUA BAO NỖI KHÓ KHĂN CHỒNG CHẤT VẪN YÊU QUÍ CÁI  NGHỀ MÀ SỐNG….

TRƯƠC KIA  BIẾT BAO CHƯƠNG TRÌNH TRÊN BÁO ĐÀI  ĐỊA PHƯƠNG CŨNG NHƯ TRUNG ƯƠNG   BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN  THỐNG HỔ TRỢ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG….. CŨNG ĐÃ ĐẾN THĂM  ĐỘNG VIÊN  VÀ    HỨA…. HẸN…..  NHƯNG CŨNG CHỈ..  LÀ….HEN… HỨA …… Ô..HÔ…  THAN ÔI….

ĐẾN CƠN BÃO LỤT HÃI HÙNG VỪA QUA NHÀ CỬA VÀ DUY NHẤT CÁI LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG MỘT THỢI LIỆT OANH ẤY  …GIỜ CHỈ CÒN ĐỐNG GẠCH VỤN…ANH TRỊNH PHẢI XA NHÀ VÀO SÀI GÒN TÌM CÔNG ĂN VIỆC LÀM GỞI TIỀN VỀ GIÚP GIA ĐÌNH  …MỘT DÒNG GÓM  TRUYỀN THỐNG  VANG BÓNG  MỘT THỜI ………..BÊN BỜ DIỆT VONG

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI

NHỮNG SẢN PHẨM GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN  MÀ ANH EM MÌNH SƯU TẦM  CÓ ĐƯỢC LƯU GIỮ ĐẾN CHO NGÀY HÔM NAY LÀ  NƠI XUẤT PHÁT TỪ LÀNG GỐM NẦY CÓ TRÊN 200 NĂM LỊCH SỬ BIẾN THIÊN CỦA ĐẤT NƯỚC….

SÔNG TRONG ĐỜI SỐNG … CŨNG CHỈ Ở TẤM LÒNG…..

TÙY DUYÊN HẠNH NGỘ

NHỮNG AI YÊU MẾN GỐM VIỆT

HÃY CỨU  GIÚP VÀ GIỮ LẤY CHO MAI SAU  MỘT GIÒNG GỐM TRUYỀN THỐNG…. BÊN BỜ DIỆT VONG….

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÁI

GỐM CHÂU Ổ ĐÃ NUNG MỘT LẦN SAU ĐÓ XỐI THÊM

MỘT CHẤT MEN TRUYỀN THỐNG ĐEM NUNG LẦN NỮA

MỚI THÀNH SẢN PHẨM RA LÒ…..

ĐÔI CHÉ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN VỚI MÀU MEN TRUYỀN THỐNG…

XIN MẠO MUỘI ĐĂNG LẠI BÀI BÁO CỦA THẦY

DIỆP ĐÌNH  HOA VIẾT VỀ LÒ GỐM CHÂU Ổ NẦY ĐÃ ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY XUÂN 2007

LÒ GỐM CHÂU Ổ_QUẢNG NGÃI

SỰ TỒN VONG CỦA MỘT LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG

Châu Ổ, nay là thị trấn huyện lỵ của Bình Sơn, theo nhân dân kể lại,vốn có một lịch sử lâu đời ba bốn trăm năm. Theo bảng tông đồ ghi các phả hệ hiện đang treo ở nhà từ đường thờ tổ nghề gốm ở Châu Ổ, thì có thể xác định sự khai sinh ra làng gốm này có thể đã xảy ra từ khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Bên trái, ngoài sân nhà thờ tổ, có một nhà bia nhỏ, với một tấm bia bằng đá ngũ hành, hai mặt có khắc chữ,nhưng chữ đã mờ không thể đọc được.Vài chữ còn lại cho biết bia được dựng từ thời Bảo Đại, nhưng năm tháng cụ thể còn cần phải mày mò đoán định thêm. Dù sao qua việc khảo sát các di tích khảo cổ và lịch sử ở Quảng Ngãi, cũng như vùng KonTum, có thể thấy rằng vào khoảng nửa sau của thế kỷ XIX, hiện vật cũng như các mảnh của lò gốm Châu Ổ đã tồn tại phổ biến và đều khắp. Các ché rượu cần xuất xứ từ lò gốm Châu Ổ, vẫn còn là một phần tài sản quý giá của các dân tộc ít người vùng bắc Tây Nguyên.

Sau 1975 những người làm gốm hợp lại thành Hợp tác xã gốm Châu Ổ. Khi chúng tôi đến khảo sát, cả làng chỉ tồn tại một hộ gia đình làm gốm. Tất cả đều đã chuyển sang nghề khác. Một hộ còn lại giữ vững truyền thống đương đầu thách thức với sự khắc nghiệt cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Nguyên liệu đất sét trước đây mua ở trong làng, về sau mua ở các làng lân cận. Cách xử lý mua nguyên liệu theo phương pháp cổ truyền. Đất sét mua về, ủ cho khô nỏ, xong chặt vụn nhỏ ra, nhào nhuyễn, không pha cát hoặc các phụ gia khác. Quá trình tạo dáng được hình thành trên bàn xoay chậm. Một người đứng vê đất thành những con trạch trên một chiếc bàn dài. Người này đứng một chân, làm trụ, còn mâm phải đạp mâm bàn xoay. Người tạo gốm ngồi xổm trên một đòn kê, đặt con trạch được vẽ xong lên một khe nhỏ đặt trên bàn xoay gốm. Khay quay cùng bàn xoay để tạo cùng dáng vuốt thành hình. Sau khi tu sửa, vuốt lại hiện vật, người thợ mới bưng khay ra, thay khay khác, tiếp tục công việc.

Người tạo hoa văn lấy hiện vật được tao dáng xong gắn lên những hoa văn đát nổi: Con sóc, rồng, hoa, nhũ đinh…., quá trình tạo dáng hoàn tất, hiện vật được phơi trên sân nhà cho se lại.

Lò nung gốm theo kiểu lò cóc, nhưng có phần nung gốm theo kiểu lò hộp. Nhiên liệu dùng bồi, củi, trấu. Hiện vật được sắp xếp vào lò nung trực tiếp, không cần bao nung.

Cung cách sử dụng bàn xoay chậm ở đây tương tự như cách sử dụng của các lò gốm Hương Canh ở Vĩnh Phúc vào những năm 60 của thế kỷ trước. Sản phẩm làm ra như gốm Phụ Lãng sành có men, có hai loại một loại sành co men màu da lươn và một loại sành tự nhiên, được sản sinh do quá trình nung làm cho ô xít nhôm có trong đất sét bị mu- lít hóa. Loại này khác với gốm Phụ Lãng vì hiện vật được nung xong mang màu sắc tím đậm ngã xanh, thể hiện đặc sắc của cá tính địa phương Châu Ổ. Sắc màu của gốm này khiến chúng ta liên tưởng đến màu sắc của những hiện vật gốm trang trí trên nóc của các tháp Chăm trong vùng. Phải chăng đây là một truyền thống địa phương được hình thành bền vững do chất liệu đát và kỹ thuật nung, hình thành trên một sự tương đồng dai đẵng về mặt truyền thống, tuy rằng ông tổ của người làm gốm ở Châu Ổ vốn là thợ nghề từ đất Thanh Hóa di cư vào.

Những dáng bình đặc trưng của gốm Châu Ổ là các loại bình cắm hoa để thờ tự, các loại vò lớn, nhỏ để đựng nước rượu. Những vò to được gọi là ché. Các loại hủ, tĩn, ang, chum, vại để đựng các laọi mắm, chượp nước mắm. Gốm Châu Ổ là một loại đựng thích hợp nhất để đựng các chất mặn: chượp nước mắm. Ngày nay, tuy nhiều người biết đồ nhựa dùng để đựng các chất này độc nhưng vì thuận tiện cho nên đồ nhựa đã thay thế dần vai trò của loại gốm Châu Ổ.

Đúng ở góc độ của kỹ thuật học, lò gốm Châu Ổ vẫn còn bảo lưu tính chất cổ truyền của công cuộc chế tạo đồ gốm nguyên thủy. Đây là kỹ thuật dùng dải cuộn kết hợp với bàn chân xoay chậm. Kỹ thuật này đã tồn tại ở làng gốm Hương Canh, Vĩnh Phú vào những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.Sang những năm bảy mươi, bàn xoay Hương Canh được chuyển động nhờ một mô tơ điện. Làng gốm Bát Tràng những năm hai mươi của thế kỷ trước đã dùng một mô tơ điện.

Lò gốm Châu Ổ hiện nay còn phát triển được là do có những đơn đặt hàng  từ các khách sạn ở Hội An. Gốm Châu Ổ là những vật trang trí trong các ngôi vườn nhỏ của các khách sạn. Dù sao thì mẫu mã cũng đơn điệu, nhung có thể là hướng phát triển trong tương lai của gốm Châu Ổ. Phát triển được hay không lại phụ thuộc vào những người chơi sành điệu, biết khám phá ra những nét đẹp truyền thống của gốm Châu Ổ. Đây cũng là con đường của gốm Chăm ở Bàu Trúc, Ninh Thuận. Làng gốm Châu Ổ chắc không thể đi theo con đường của làng gốm Hương Canh, từ một hợp tác xã lớn trở thành một làng sản xuất ngói, rồi chuyển thành một làng sản xuất gạch. Đối với lang gốm Châu Ổ, theo cách nhìn thông thường, sự phát triển của một làng gốm trù phú đến hiện tượng nay chỉ còn một nhà sản xuất, xem ra xu thế phát triển của truyền thống trước áp lực của việc hiện đại hóa, sự mai mọt dần phải chăng là xu thế tất yếu của qui luật phát triển lịch sử. Với một cách nhìn khác theo chiều sâu, một nhà còn tiếp tục sản xuất gốm có nghĩa là họ đang cố gắng vươn lên trên cơ sở của một gia tài truyền thống lâu đời. Hiện tượng nay cũng đã có tiền lệ như làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh. Một bước ngoặt mới đầy thử thách với truyền thống gốm Châu Ổ.

Bài của Nhà sưu tập Lâm du Xenh đăng trên trang Phố Mua Bán ngày 01/11/09

Sắc vàng làng gốm

Gốm trong ký ức

Nhiều năm trước, có lần tôi ngồi hàn huyên với nhà thơ Đoàn Vi Thượng và họa sĩ Phạm Cung ở Sài Gòn. Câu chuyện đưa đẩy đến nghề làm gốm của quê nhà Quảng Ngãi. Đôi mắt họa sĩ rưng rưng ngấn nước. Thì ra ông chào đời và suốt tuổi ấu thơ gắn liền với gốm Mỹ Thiện, Châu Ổ

Họa sĩ kể rằng, chẳng hiểu tại sao ông lại yêu tiếng giọt mưa rơi vào những chum, những vại của mẹ ông để ngoài hiên đến thế. Nghe không “đã” tai, ông đi dạo quanh khắp các bờ rào trong làng, nhặt gom những mảnh sành vỡ về chất đầy cả góc nhà. Mỗi khi trời mưa, ông mang ra đặt dưới giọt mái tranh rồi ngồi nghe từng chuỗi âm thanh lạ lùng, kỳ diệu ngân vang. Khi thì tiếng sầm sập, đùng đục như bầy ngựa khua vó trên đường. Lúc thánh thót, du dương như tiếng đàn tranh quấn quýt. Lại có khi nghe róc rách như con nước chảy qua gành đá. Mưa gần tạnh, thỉnh thoảng rớt tiếng “bum”, “bum” như âm thanh trống lệnh của đội chèo bả trạo diễn trình, một loại hình nghệ thuật dân gian rất đặc trưng ở vùng đất này.

Tiếng đất kỳ quặc ấy ám ảnh ông mãi. Khi đã là họa sĩ thành danh, vì tình yêu mến với người bạn vong niên – thi sĩ Bùi Giáng, Phạm Cung đã về quê nhà mang đất vào để nặn chân dung thi sĩ. Chân dung sống động, biến đổi. Tùy theo ánh sáng chiếu vào mà khuôn mặt Bùi Giáng rất nhiều biểu cảm, tỏ lộ cả hỉ, nộ, ái, ố. Nhiều người muốn có bức tượng này, kể cả những người ở quốc gia khác, nhưng Phạm Cung vẫn một lòng giữ lại, bởi theo ông có cái còn quý hơn bạc vàng!

Sau này tôi được ông Long Cương – Nguyễn Đức Tập ở thị trấn Sơn Tịnh cho biết thêm về gốm Châu Ổ. Khoảng năm 1959 ông đã tiếp xúc với một nghệ nhân họ Trần chuyên làm lọ độc bình tráng men màu vàng sẫm. Điều lạ là trên chiếc độc bình nào cũng vẽ hoa văn rồng, trúc và đều có bài thơ chữ Hán minh họa: Văn minh khai triết mạc/ Hoa cấp hiến tân đồ/ Bạc kỹ cung thường phẩm/ Bình Sơn cổ sở vô. Ông dịch qua thơ lục bát: Văn minh màn triết mở ra/ Đồ hình mới được bút hoa vẽ vời. Vật thường cung ứng cho đời/ Bình Sơn ngày trước chưa người làm nên.

Qua những người tôi có dịp thưa chuyện, tự nhiên chợt thấy mình quá đỗi hời hợt với quê hương. Chỉ hơn 20 km đường từ thành phố Quảng Ngãi đến Bình Sơn, vậy mà tôi cứ dửng dưng đi qua, chưa một lần ghé lại.

Còn một móc neo

Cả làng gốm, giờ chỉ còn anh Đặng Văn Trịnh tiếp tục sản xuất. Hàng anh làm ra tới đâu, bán tới đó. Thu nhập bình quân 15 triệu đồng mỗi tháng. Khách hàng chủ yếu là Đà Nẵng, Hội An. Ngoài những đồ gốm gia dụng như vò, ghè, chum, ảng, chậu phong lan… anh còn sản xuất gốm giả cổ và gốm trang trí  cho khách đặt hàng. Là một người lâu năm trong nghề, anh tự hào rằng, bất cứ mẫu hàng nào hễ có khách yêu cầu, anh đều có thể làm được. Những người tài hoa như anh trước kia không hề hiếm.

Ông Thuần nói với tôi, chưa biết làng gốm Mỹ Thiện được hình thành từ năm nào. Nhưng theo “Quảng Ngãi tỉnh chí” (1933) thì toàn tỉnh có các lò gốm ở Đông Thành, Đại Lộc (Sơn Tịnh), Thạnh Hiếu, Chí Trung (Đức Phổ), Bồ Đề (Mộ Đức), trong đó Mỹ Thiện là nổi tiếng nhất. Nhờ nằm ở vị trí thuận tiện, sản phẩm xuất lò được vận chuyển đi các nơi dễ dàng. Có thời sản phẩm qua cửa biển Sa Cần đã ra tới Đông Hà, Đồng Hới, Vinh… vô tận Bình Định, Khánh Hòa. Còn trong tỉnh thì theo đường bộ hoặc đường sông, ngược lên miền núi xa xôi.

Đến năm 1964, qua trận lụt lớn, lạch Bến Củi bị bồi lấp một phần. Chi phí sản xuất như đất, chất đốt, vận chuyển đã tăng cao nên một số gia đình tìm kế sinh nhai khác. Nhất là sau này, vào những năm 1988 – 1989, học theo cách tráng men của Bát Tràng không thành công, hầu hết các lò đốt cầm chừng, rồi sau đó không cạnh tranh nổi với gốm sứ ngoài Bắc, trong Nam và hàng nhựa nên các lò tự giải tán.

Cách pha men cổ truyền, hiện nay chỉ còn ông Đặng Thạnh. Ngoài các loại men chính như men màu đen, men vàng và men nâu sành, ông còn gia giảm, loại bớt để sản phẩm có các màu xanh ngọc, da lươn, men chảy, vàng rạn da… Sản phẩm làm ra nay ế ẩm, nhưng bàn tay hay lam, hay làm của ông không nghỉ được. Ông gởi vào lò của anh Trịnh (con trai ông) một ít gốm mộc rồi hàng ngày tòn tơn quảy ra chợ huyện bán để khỏi quên nghề. Còn ông Hồ Duy Khánh thì ghi chép lại tất cả các công đoạn, bí quyết nghề làm gốm. Nhìn quyển vở học sinh nhem nhuốc những chữ viết, những hình vẽ các kiểu lò, cách tạo hình các sản phẩm, cách chế tác các vật dụng lớn… không ai khỏi chạnh lòng, bởi một làng nghề sắp bị biến mất.

Cũng may làng còn có anh Đặng Văn Trịnh, được xem như một móc neo cuối cùng giữ lại nghề gốm Mỹ Thiện. Độc đáo nhất của tay nghề anh là ở kỹ thuật hỏa biến và nước men vàng. Gốm hỏa biến là sự sáng tạo của lửa nên đầy bất ngờ, thú vị. Lúc sản phẩm ra lò, lòng người thợ cũng hồi hộp, bâng khuâng như cuộc hò hẹn tình yêu đầu đời. Màu vàng của men tựa sắc mai xuân; óng ả, quý phái, dịu dàng như lụa. Cầm trên tay, lúc này sản phẩm gốm không phải là đồ vật vô tri, chỉ có giá trị sử dụng, mà sinh động, đẹp như tác phẩm nghệ thuật, nhìn mãi không chán mắt.

Tất cả những ngón nghề trên, anh Trịnh đều mong muốn truyền lại. Lò gốm của anh nằm trong khu dân cư nên mỗi lần nổi lửa đều gây phiền phức cho hàng xóm. Nhất là mùa mưa, trời nặng, khói không bốc lên được. Muốn mở mang nghề và thu nhận thêm người, đòi hỏi phải có một diện tích đất tương đối rộng. Anh ao ước, giá như được huyện Bình Sơn quy hoạch cho khu đất làm gốm riêng biệt, anh sẽ gom hết số thợ đang tha phương cầu thực quy về một mối để trao truyền nghề.

Đời sống mỗi ngày một khá hơn. Những ngôi nhà sang trọng, những ngôi biệt thự, nhà hàng chen nhau mọc. Tôi đã từng chứng kiến nhiều chủ nhân ra tận Bắc Ninh, Quảng Nam, vào tới Đồng Nai, Bình Định mua đồ gốm về trang trí trong nhà. Vậy mà ngay tại Quảng Ngãi, một làng nghề truyền thống có hàng mấy trăm năm đang trôi về phía lụi tàn. Mong có những bàn tay chặn lại.

V.HIỀN

bài viết của nhà báo HIỀN VĂN ra ngày 15-3 2009 BÁO QUẢNG NGÃI CHỦ NHẬT
một số sản phẩm cổ của lò gốm Mỹ Thiện:


* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Hàng mã của làng tranh Đông Hồ

Làng tranh Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) nay lại nổi tiếng làm hàng mã để phục vụ người ở cõi âm. Trên dương gian có nhà lầu, xe hơi, xe máy… thì âm phủ tất tần tật đều phải có đủ cả.

hangmaDongHo-1

1 xe SH = 20 đám cưới chuột (chiếc xe SH hàng mã đang được lắp ráp có giá 60.000 đồng trong khi một tập tranh đám cưới chuột 20 bức, mỗi bức bán chỉ 3.000 đồng)

hangmaDongHo-2

Áp tết, cả làng rực lên các loại giấy màu được bồi, phết, nhuộm…

hangmaDongHo-3

Người dương “chìm” trong sự xâm lấn của “người âm” ở một gia đình chuyên sản xuất hình nhân bằng giấy

hangmaDongHo-4

Thôn nữ làng Đông Hồ giờ cắt giấy, phết hồ thành thạo và thu nhập chính lại từ những thứ giấy màu để đốt cho người chết

hangmaDongHo-5

Phải đạt đến đẳng cấp “nghệ nhân” hàng mã như anh Nguyễn Văn Sam mới được đặt hàng làm các bộ đồ lễ như thế

hangmaDongHo-6

Thấp thoáng chỉ còn vài người làm tranh ở sân nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế để còn nhớ về một làng tranh có tên Đông Hồ

Có người nói làng tranh Đông Hồ giờ đã là làng vàng mã, vì quanh năm suốt tháng cả làng từ già trẻ lớn bé đều đã đổi nghề tranh sang làm hàng mã. Dân ở đây đã có câu “ráo tay hồ là nhà hết gạo”. Đi từ đầu làng tới cuối thôn, đâu đâu cũng sáng bừng lên sắc màu của các loại mũ mão, cân đai, hài hia, võng lọng, ngựa, xe, hình nhân… cho đến nhà lầu, ôtô, đôla, xe máy, tivi, tủ lạnh, máy bay…

Những tưởng kinh doanh phục vụ người sống mới nhanh nhạy, thức thời nhưng không ngờ phục vụ người chết cũng nhạy bén không kém. Chính vì thế mà chiếc mũ bảo hiểm giờ cũng trở thành một mặt hàng được các nhà sản xuất vàng mã ở đây đặt vào tầm ngắm để phục vụ các cụ ở dưới cõi âm.

Vào dịp giáp Tết âm lịch, trước nhu cầu tiêu dùng hàng mã cho việc cúng ông công ông táo, tất niên, giỗ kỵ nhiều vô kể, cả làng đang làm ngày đêm mà vẫn không đủ bán. Nhờ làm ôtô, xe máy giấy mà có người đã sắm ôtô, xe máy thật. Phú quí sinh lễ nghĩa, xưa các cụ chơi tranh, nay con cháu bỏ tranh sang “chơi” đồ mã. Âu đó cũng là nỗi buồn của một làng nghề thời mở cửa!

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Nghề gốm và gốm thời Lý – Trần

Lịch sử Việt Nam, tập 1, trang 38 có ghi: “Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ đục… quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, cưa khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi… bằng đá được chau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm (nồi, bát, cốc, vò…) có hình dáng đẹp, chắc, khoẻ, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí, đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ….”

Vậy là kỹ nghệ gốm giai đoạn Phùng Nguyên (cách ta gần 4.000 năm) ở nước ta đã phát triển mạnh. Con người buổi đó đã biết nghĩ ra bàn xoay và chế tạo ra thứ men để phủ ngoài, tăng thêm vẻ dẹp kỳ diệu của đồ gốm.

Đây là một thời kỳ của nước Văn Lang. Cho tới thời Âu Lạc, kỹ nghệ gốm đã phát triển mạnh lắm. Nghề nung gạch, làm ngói… cũng đã có từ ngày này.

Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kỹ nghệ được khuyến khích phát đạt.

Nghề gốm, xem ra phát triển rải rác khắp đất nước. Ở tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm. Cứ ven các dòng sông, chúng ta gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Hoặc chúng ta gặp những dãy lò gốm đang ăn khói nghi ngút. Những trung tâm sứ gốm ở nước ta, xuất hiện từ thời Lý – Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh nghề nghiệp, đó là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Hà Nam Ninh), Chum Thanh (Thanh Hóa)… Mỗi vùng quê gốm lại giữ kỹ nghệ riêng biệt. Và mỗi nơi, lại có mặt hàng gốm đặc trưng riêng của mình, tạo thêm cái đa dạng và phong phú của công nghệ gốm Việt Nam. Nếu nói trung tâm gốm ở nước ta, phải nói tới Bát Tràng – Thổ Hà – Hương Canh. Một đặc điểm riêng biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ nó tiện đường chuyên chở, và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản xuất gốm, sứ.

Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý – Trần có người đỗ Thái học sinh (đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần) được cử đi sứ nhà Tống (Trung Quốc) là: Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa), Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà (Hà Bắc), Lưu Phong Tú, người làng Kẻ Sặt (Hải Dương). Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề sứ gốm. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau: Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng, và:

– Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng.

– Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ.

– Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm.

Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng Vua xem. Nhà Vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông là “Tổ sư”, tức “Tổ nghề”.

Phường gốm Bồ Bát sau có rời ra ngoài Bắc. Dọc theo con sông Hồng, tới một bãi sông có đất thó trắng, họ dừng lại lập lò gốm ở đó, với tên gọi Bạch Phường thổ, sau này đổi là Bát Tràng phường. Và ngày nay, ta quen gọi là Bát Tràng.

Ấm men ngọc, ấm hoa nâu, ấm men nâu thời Lý-Trần

Ấm men ngọc, ấm hoa nâu, ấm men nâu thời Lý-Trần

Đồ gốm thời Lý – Trần phát triển mạnh, nhiều ở số lượng và quý ở chất lượng. Thịnh hành hai loại gốm chính, là: (1) Gốm trang trí kiến trúc, thường là đất nung để mộc, hoặc phủ một lớp men có giá trị độc đáo. Ví dụ như gạch có in hoa văn để trang trí với nhiều dáng hình, kích thước khác nhau. Hoặc ngói bò có gắn đầu phượng, đầu rồng. Hoặc hình gốm trang trí hình chiếc lá nhọn đầu để gắn trên nóc hoặc riềm nhà… (2) Còn như gốm gia dụng, thì đủ thể loại. Nào bát đĩa, ấm, âu, chén, vại, chum, vò…

Đồ gốm thời kỳ này, ngoài ý nghĩa sử dụng trong nước, còn được xuất đi nhiều nước khác.

Lịch sử từng ghi lại, từ đầu nhà Lý đã có nhiều nước tới buôn bán, trao đổi hàng hóa với nước ta như Nam Dương, Xiêm La (Thái Lan)… Tới thế kỷ XII, các thuyền buồm ngoại quốc cập bến nước ta càng đông. Năm 1149, Triều Lý cho lập cảng Vân Đồn, để thuyền bè các nước vào ra buôn bán. Cho tới nay, dọc hai bên bờ bến cảng Vân Đồn còn lại nhiều mảnh gốm của nhiều thời đại ở Việt Nam sản xuất. Trong đó, có cả mảnh gốm men ngọc của thời Lý. Vậy, đó chẳng là dấu tích để khẳng định hàng gốm của ta từ xưa đã đạt trình độ cao đó sao?

Ở nước ta, có thời người dân cứ sính đồ ngoại. Ví dụ: Mặt hàng gốm men ngọc thời Lý của chính nước ta làm ra thì gọi là “gốm Tống” hoặc “đồ Tống”.

Hiện tại, ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn lưu giữ được nhiều đồ gốm, đồ sứ các thời đại của nước ta. Đó là những dấu tích để chứng minh kỹ nghệ phẩm ở nước ta sớm phát triển, và từ xưa, nghề gốm ở nước ta đã chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế, văn hóa của dân tộc. Qua đây, chúng ta càng thêm yêu quý đôi bàn tay khéo léo và bộ óc giàu sáng tạo của những người thợ gốm Việt Nam. Để hiểu sâu thêm về nghề gốm, chúng tôi muốn giới thiệu một đôi nét về các kiểu lò gốm và men gốm từ xưa ở nước ta.

Lò gốm xa xưa

Thực ra, nguyên lý của lò gốm xưa và nay không khác nhau nhiều lắm. Nó vẫn dựa trên nguyên lý cơ bản, cấu tạo gồm 3 phần: bầu lò, thân lò, hệ thống ống khói. Chỉ có điều, lò gốm ngày xưa thì nhỏ bé và đơn giản.

Do sự phân chia công dụng của mỗi loại lò, nên đã có tên gọi riêng cho lò gốm: lò quan và lò dân. Sản phẩm lò quan chủ yếu phục vụ cung đình và giao bằng quốc tế. Còn sản phẩm lò dân là những vật dụng thông thường cho con người sinh hoạt hàng ngày như: cốc, bát, ấm, lò, lọ, chum, vại… Theo lệ thường, sản phẩm ở lò quan bao giờ cũng được đầu tư kỹ thuật cao hơn ở lò dân.

Theo tài liệu của Đỗ Văn Ninh (Viện Khảo cổ) về việc khai quật khu lò nung gốm sứ ở Bút Tháp (Thuận Thành) cho thấy: Khu lò nung gốm sứ này gồm 4 lò với cấu trúc kiểu lò tương tự giống nhau. Toàn bộ lò nhìn bên ngoài có hình quả dưa, giữa phình rộng, hai đầu cụt. Kích thước đo được ở một lò có hình thức bề thế và to lớn hơn ba lò kia, cho thấy: chiều dài 3,35 mét, chiều rộng nhất gần 2 mét. Như thế, quy mô của lò nung thời đó nhỏ gọn.

Điểm đáng chú ý là các lò gốm, hầu hết dùng nhiên liệu đốt bằng tre, gỗ; nhiên liệu than chưa dùng vào thời kỳ này. Qua đây, nó thể hiện tiêu chuẩn kỹ thuật nung thời đó và ý thức tự lực tự cường nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương rất cao.

Phần khác, thấy rằng, cấu trúc lò rất đơn giản và sáng tạo; thợ đắp lò thời xưa chỉ dùng đất sét mà đắp chứ chưa phải dùng tới gạch chịu lửa để cuốn bầu lò và thân lò. Trong khi đó, ở Trung Quốc, lò sứ gốm thời Đường không lớn lắm (thường dài 3 mét, rộng 2 mét), vậy mà đã phải dùng tới gạch chịu lửa để xây cửa đốt và xây ống khói.

Cũng theo tài liệu về khảo cổ học năm 1975 của Trần Đình Luyện (Sở Văn hóa Bắc Ninh) cho chúng ta biết thêm về khu lò nung gốm, gạch ở Đông Yên thuộc phần đất Bắc Ninh, nằm bên bờ sông Ngũ Huyện vào thời Lê Mạt. Cấu trúc của lò có khác kiểu lò ở Bút Tháp. Đó là lò gốm hình tròn, có đường kính 1,2 mét, tường lò đắp đất có lẫn mảnh sành gạnh nhỏ, dầy 1 mét, chân tường choãi, bên trên thu nhỏ dần theo kiểu vòm cuốn. Bầu lò được tạo hình phễu, đắp liền với tường lò, cũng bằng đất với bề dầy xấp xỉ 0,2 mét.

Qua khảo cứu, lò gốm ở Đông Yên có phần tiến bộ hơn ở Bút Tháp. Song cứ dọc tuyến tiến triển của các lò gốm qua các thời đại, ta thấy, cho tới đầu thế kỷ XX này, các lò nung mới được cải tiến một bước lớn. Đó là chuyển hình thức từ đun lò con cóc sang hình thức đun lò rộng nhiều bầu. Chuyển dần thể thức đun tre gỗ sang đun than và đun dầu. Đó là những bước tiến xa và khẳng định sức sống bất hủ của kỹ nghệ gốm thủ công.

Ngày nay, với kiểu lò gốm hiện đại, người ta đã thiết kế kiểu lò vòng liên hoàn. Đó là một hình thức của lò gạch tiên tiến. Người ta chỉ việc nhóm lò một lần, và ngọn lửa lò cứ cháy truyền từ bầu lò này sang bầu lò kia, ngọn lửa ấy cứ cháy mãi cho tới ngày lò hỏng. Những cải tiến văn minh đó, là khởi nguồn từ chiếc lò gốm cổ thô sơ thuở xưa…

Men gốm thời Lý – Trần

Thời Lý – Trần: từ thế kỷ 10 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam. Thời kỳ phục hồi độc lập dân tộc sau hơn mười thế kỷ đô hộ của phong kiến Trung Hoa. Suốt bốn thế kỷ, từ nhà Lý sang nhà Trần, đồ gốm đạt được những thành tựu rực rỡ. Quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm, chất liệu… đều được mở rộng. Nhiều loại men được ứng dụng và ổn định về công nghệ. Đặc biệt men trắng cũng xuất hiện ở thời kỳ này ngoài men tro và men đất. Ba yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm là hình dáng, hoa văn trang trí, men màu. Sự phát triển của kỹ thuật và trình độ thẩm mỹ cao đã tạo nên sản phẩm gốm thời kỳ này có những loại nổi tiếng là gốm men trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men ngọc, gốm hoa lam.

gốm men trắng thời Lý

gốm men trắng thời Lý

Bát gốm men trắng, thế kỷ 11-13, nghệ thuật gốm thời Lý.

Bát gốm men trắng, thế kỷ 11-13, nghệ thuật gốm thời Lý.

Về tạo dáng gốm Lý – Trần ngoài những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa, quả là cách tạo dáng của những đồ đồng trước đó. Trang trí trên gốm Lý – Trần, hoa văn hình học chiếm vị trí phụ. Những hoạ tiết chính ở đây là hoa lá, chim, thú, người. Hoa văn trang trí với cách miêu tả giản dị, mộc mạc rất gần gũi với thiên nhiên và con người Việt Nam. Một đặc điểm nữa là nét chìm được làm “bè” ra, một bên rõ cạnh, một bên biến dần vào sản phẩm, làm chỗ chảy dồn men, tạo nên độ đậm nhạt cho hoạ tiết như trên gốm men ngọc hoặc làm giới hạn để tô nâu.

Thời Lý – Trần là thời thịnh vượng của kỹ nghệ gốm. Vì thế, men gốm thời Lý – Trần phong phú là điều tất yếu.

Trước thời kỳ này, một số đồ gốm ở dạng gốm mộc, không phủ men mà được bao ngoài một lớp áo gốm, khâu phủ áo gốm không phải nơi nào cũng làm, nhưng Thổ Hà và Phù Lãng đều có dùng tới áo gốm. Áo gốm là một dung dịch tổng hợp giữa đất và chay, với công thức 4 đất 1 chay. Đất là gốm, giã nhỏ, sàng lọc cẩn thận. Còn chay là một thứ đá có lẫn gỉ sắt ở ngay địa phương. Chay cũng phải giã nhỏ, sàng lọc kỹ càng. Có hai thứ đất và chay rồi, trộn lẫn, pha nước, hòa tan thành một dung dịch. Tất cả các đồ gốm trước khi đem nung được nhúng vào dung dịch này, tạo ra một lớp áo gốm. Nếu cứ thế đem nung lên, là có gốm đẹp rồi. Hoặc giả, muốn phủ men ngoài thì ta phủ men lên lớp áo gốm.

Hãy làm quen với ba loại men gốm tiêu biểu thời Lý – Trần. Đó là gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm hoa lam.

Gốm men ngọc (celadon): Khi đã có xương gốm tốt, người ta phủ ngoài một lớp men dày màu xanh mát, trong bóng như thuỷ tinh, do đó mới gọi là gốm men ngọc. Đồ gốm men ngọc ở ta rất giá trị, được trong và ngoài nước ưa chuộng. Người ta thường sánh gốm men ngọc của ta với đồ gốm Long Tuyền thời Tống của Trung Quốc.

menmanhngoc_ly

Đĩa men ngọc trang trí văn in hoa cúc dây, thời Lý

Gốm men ngọc thời Lý thường tạo xương gốm mỏng, thanh. Tới thời Trần, thì phần xương gốm chắc, dầy hơn. Hoa văn trang trí trên gốm, đa phần là hình tượng hoa sen cách điệu. Ngoài ra còn một số đề tài khác, như trang trí hoa thảo và các hoa dây chạy quanh bình gốm. Có ba hình thức trang trí trên đồ gốm: hoa khắc, hoa in và hoa đắp. Hoa in chìm hoặc đắp nổi thì dùng khuôn, còn hoa khắc thì đùng mũi dao đầu nhọn hoặc một đầu thanh tre vẽ lên xương gốm khi đất còn mềm. Khắc hoa rồi đem nhúng vào men, men đọng lại và tạo ra các hình hoa văn trang trí rất đẹp. Bên cạnh các đồ gốm men ngọc cầu kỳ và tinh xảo đó, người thợ thủ công còn sản xuất một số đồ gốm đại trà, có khi để mộc, có khi phủ lớp men mỏng màu vàng, màu nâu, hoặc màu da lươn mà xỉn màu và ít bóng. Loại gốm này để sử dụng thông dụng và ngay khi nung, người ta nung từng chồng cao.

Thời Lý, đồ gốm hầu như không viết chữ. Tới thời Trần, ta thường thấy dưới trôn các loại đồ gốm có hàng chữ mầu nâu “Thiên Trường phủ chế”.

Đĩa đài men xanh ngọc thời Trần

Đĩa đài men xanh ngọc thời Trần

Trong cuốn Gốm Việt Nam, họa sĩ Trần Khánh Chương đã viết: “Trong lòng đĩa bát thời Lý ta thường gặp những đồ án mà bố cục chung cố tình không đều đặn… hoa văn có khi được in bằng khuôn in nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Phủ lên toàn bộ sản phẩm là một lớp men xanh mát, có độ trong như ngọc mà người ta thường gọi là men ngọc hay men Đông thanh. Qua lớp men trong, tuỳ nét khắc to hay nhỏ, nông hay sâu mà hoa văn hiện lên với độ đậm nhạt khác nhau, khi ẩn, khi hiện, kín đáo, trang nhã. Trên những bát đĩa thuộc loại này, hoa văn có khi được in bằng khuôn in, nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Đây hẳn là loại sản phẩm “cao cấp”, có lẽ là đồ gốm gia dụng của tầng lớp quý tộc. Chiếc bát gốm men ngọc vẽ rồng này chắc chắn là đồ thuộc tầng lớp đại quý tộc vương công. Thời Trần nhiều vương gia có dinh phủ, có quân đội riêng. Hình rồng này ta có thể thấy được sự tiếp nối của thời Lê sơ trong một bát hoa lam vẽ rồng phát hiện ở thành cổ khu A TK XV. Lối họa tiết in nổi ta cũng tìm thấy trong Hoàng thành một nắp hộp đồ gốm men xanh lục (vert glazed) thuộc dòng gốm có mầu sắc men quyến rũ, hoa văn trang trí đẹp, các đề tài hoa lá, trong đó những đồ tinh xảo trang trí rồng tìm thấy trong Hoàng thành hố A9MR là một tiêu bản tư liệu đặc sắc. Chiếc bát gốm miệng rộng hình lá sen men ngọc này được làm từ đất sét trắng. Khi cầm lên có cảm giác dầy dặn, xương đất được lọc kỹ, với mầu men xanh lục có độ thủy tinh trong nên độ bóng khá cao, nhìn dịu mắt, mát tay. Xương gốm chạm khắc rồng tinh tế được phủ men dày nên hoa văn có chiều sâu lung linh. Bát men ngọc trang trí rồng thuộc TK XIII, XIV này còn nguyên vẹn hiếm thấy, đạt tới những tiêu chuẩn điển hình trong gốm sứ, dáng hình thanh nhã, họa tiết khoáng đạt, tinh tế, rồng mây uyển nhã, lớp men của loại đất đá ô xít cô ban nhiều, tinh khiết nên đạt được sắc độ xanh trong, mát nhẹ nổi tiếng một thời và là tiêu bản quý hiếm.

Gốm hoa nâu: Đó là loại gốm đàn, kiểu dáng to, chắc chắn, cốt gốm dầy và thô. Bên ngoài có phủ lớp men trắng ngà hoặc vàng nhạt. Gốm hoa nâu xuất hiện vào cuối thời Lý đầu thời Trần.

Hình thức trang trí hoa văn trên gốm hoa nâu thường là hoa dây chạy viền quanh miệng đồ gốm. Đặc biệt, hầu hết các sườn gốm hoa nâu có đắp nổi hình hoa thảo, chim cò, thú bốn chân, hoặc tôm cá… rất sinh động. Các hình rồng trang trí ở gốm hoa nâu thời Trần có khác thời Lý. Đó là mình rồng khỏe mập, uốn khúc thoải mái, khác hẳn con rồng thời Lý thân hình thanh mảnh và uốn khúc gò bó.

Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14

Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14

Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 - 14

Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 - 14

Gốm hoa lam: là tên một hoại gốm phủ men trắng đục vẽ trang trí màu lam.

Để có màu men đẹp, điều cần thiết phải có cốt xương gốm tốt. Xem ra, thông thường thì xương gốm là đất sét có pha cát. Nếu gốm cổ, lại pha cả một số tạp chất khác như rơm, rạ, trấu hoặc lá cỏ dại để tăng độ liên kết.

KhanhHoaThuyNga tổng hợp

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Tranh làng Sình xưa và nay

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Vị trí: Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Đặc điểm: Tranh Làng Sình chủ yếu phục vụ cho việc thờ cúng của người dân trong vùng.

Thời Trịnh – Nguyễn, cùng đoàn người vào đất Thuật Hoá định cư, ông Kỳ Hữu Hoà mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản, tranh làng Sình ra đời từ đó. Ông Hoà được coi là ông tổ nghề tranh ở làng sình.

Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này!

Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Có thể phân làm ba loại:

1-  Tranh nhân vật chủ yếu là tranh tượng bà, vẽ một người phụ nữ xiêm y rực rỡ với hai nữ tì nhỏ hơn đứng hầu hai bên. Tượng bà còn chia thành ba loại: tượng đế, tượng chùa, và tượng ngang. Loại tranh này dán trên bàn thờ riêng thờ quanh năm.

2- Lại còn các loại tranh khác gọi là con ảnh, gồm hai loại: ảnh xiêm vẽ hình đàn ông đàn bà, và ảnh phền vẽ bé trai bé gái (phải chăng phền do chữ phồn thực của Ðông Hồ). Các loại nhân vật còn lại là tranh ông Ðiệu, ông Ðốc và Tờ bếp (có lẽ tranh vẽ Táo quân). Các loại tranh này sẽ đốt sau khi cúng xong.

3-  Tranh đồ vật vẽ các thứ áo, tiền và dụng cụ để đốt cho người cõi âm: áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… thường là tranh cỡ nhỏ. Tranh súc vật (gia súc, ngoài ra còn có voi, cọp và tranh 12 con giáp) để đốt cho người chết.

Tranh làng Sình có thể sánh với các dòng tranh miền Bắc (như Ðông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống), một thời đã lưu hành khắp vùng Thuận Quảng. Sình là tên nôm của làng Lại Ân, cách Huế chừng 7km về phía đông bắc. Sách Ô Châu cận lục ra đời hồi thế kỷ 16 đã nói đến Lại Ân như một địa danh trù phú.

Xóm Lại Ân canh gà xào xạc

Giục khách thương mua một bán mười…

Vào khoảng tháng năm, tháng sáu, khi trời nắng to nước cạn, từng nhóm 57 chàng trai dong thuyền dọc theo đầm phá Tam Giang, đến Cầu Hai, Hà Trung, Lăng Cô để cào điệp, một loại trai sò có vỏ mỏng và phẳng. Có loại điệp chết đã lâu ngày vỏ lắng dưới bùn gọi là “điệp bùn”, khi nhặt chỉ còn là những mảnh màu trắng, mỏng, mềm dễ sử dụng hơn. Loại điệp mới chết gọi là “điệp bầy” nổi trên bùn, có vỏ cứng lẫn nhiều màu đen. Ðiệp đem về loại hết tạp chất, chỉ còn lại lớp vỏ trắng bên trong, được đem giã nhỏ. Mỗi cối giã có từ 26 người thay nhau giã, gần như suốt đêm tới sáng. Những câu hò giã điệp cũng vang lên như lúc giã gạo. Bột điệp lấp lánh trộn với bột nếp khuấy thành hồ, phết lên giấy sẽ cho ra một thứ giấy trắng lấp lánh ánh bạc. Bàn chải quét điệp làm bằng lá thông khô bó lại, gọi là cái “thét”. Khi chiếc thét quét qua mặt giấy sẽ để lại những vệt trắng song song lấp lánh.

Ðể kiếm các loại cây cỏ pha chế màu có khi họ phải lên tận rừng già phía tây Thừa Thiên – Huế. Hai thứ cây chỉ có ở đây là cây trâm, phải chặt từng đoạn mang về, sau đó mới chẻ nhỏ để nấu màu; còn cây đung thì hái lá và bẻ cành. Lá đung giã với búp hòe non sẽ cho màu vàng nhẹ. Các màu khác cũng được làm từ cây cỏ trong vườn như hạt mồng tơi cho màu xanh dương, hạt hòe cho màu vàng đỏ, muốn có màu đỏ sẫm thì lấy nước lá bàng. Ngoài ra người làng Sình còn dùng đá son để lấy màu đỏ, bột gạch để có màu đơn. Màu đen được dùng nhiều nhất, lại là màu dễ làm nhất. Người ta lấy rơm gạo nếp đốt cháy thành tro, sau đó hòa tan trong nước rồi lọc sạch để lấy một thứ nước đen, đem cô lại thành một thứ mực đen bóng. Những màu chủ yếu trên tranh làng Sình là các màu xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi.

Tranh Sình có kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó thông dụng. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25×35), pha ba (25×23) hay pha tư (25×17). In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên.

Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Tuy màu tô không tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Công việc “điểm nhãn” ở một số tranh cũng do thợ chính làm nhằm tăng thêm vẻ sinh động của tranh.

Những mảng màu lớn thì dùng một thứ bút riêng làm bằng tre gọi là thanh kẻ để tô màu. Những chi tiết nhỏ thì dùng bút lông đầu nhọn. Việc tô màu được làm theo dây chuyền, mỗi người phụ trách một hai màu, tô xong lại chuyển cho người khác. Những bàn tay tô màu như múa thoăn thoắt trên tờ tranh, có người kẹp hai, ba cây bút ở đầu ngón tay để tô cùng một lúc hai, ba mảng màu. Ðiểm nỗi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo của nó là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên. Cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí, người họa sĩ tài hoa của đất thần kinh xưa, đã tìm thấy trong tranh Sình bảng màu “ngũ sắc Huế”, hơi khác với bảng “ngũ sắc phương Đông”. Và nếu ta so sánh những gam màu sử dụng trên tranh thờ sẽ thấy nó gần gũi với tranh pháp lam trang trí trên các kiến trúc của kinh thành xưa. Ðó là sự hòa sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hỏa hoàng, phí thủy với hổ phách…

Cái khác biệt của tranh làng Sình với các dòng tranh dân gian khác chính ở nét vẽ và bố cục còn rất thô sơ, hồn nhiên đậm chất mộc mạc làng quê. Khi sáng tác một bức tranh, bản mộc chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính ( thường là màu tím chàm). Những màu sắc còn lại được người nghệ nhân vẽ bằng tay. Chính vì thế không có bức nào giống bức nào. Mỗi bức đều mang trong mình tâm trạng của nghệ nhân lúc đó.

Khi nghiên cứu về tranh làng Sình, nhiều nhà nghiêu cứu cho rằng gam màu sử dụng trên tranh làng Sình gần giống với gam màu được sử dụng trên tranh pháp lam tại các kiến trúc kinh thành Huế: hoà sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hoả hoàng, phí thuỷ với hổ phách.

Bức tranh khi hoàn thành sẽ lấp lánh bởi vỏ điệp, nền nã bởi chất màu thô mộc, quyến rũ và quan trọng hơn cả là khi bức tranh đến tay người sử dụng đã ẩn chứa một cái gì đo thiêng liêng của cõi tâm linh.

Chấn hưng bằng phương pháp công nghiệp!

Nghề làm tranh giấy truyền thống làng Sình mai một dần từ sau 1945. Chiến tranh loạn lạc chẳng mấy ai để ý đến chuyệ thờ cúng cho đúng với truyền thống, lễ nghi.

Tranh giấy làng Sình làm ra bán không ai mua, người dân bỏ giấy, bỏ mực chuyển chuyển sang làm những nghề khác để mưu sinh. Sau năm 1975, cả làng chỉ còn vỏn ven 3 hộ dân bám đuổi với nghề làm tranh truyền thống.

Những khuôn bản mộc để in tranh lưu truyền hơn mấy năm cũng bị thất lạc dần theo sự mai một của làng nghề này. Thật hiếm để tìm lại những bản mộc xưa.

Ông Kỳ Hữu Phước kể rằng: Để giữ được những bản mộc của ông cha để lại, ông đã phải bọc nilon, chôn thật sâu dưới đất hàng chục năm. Bây giừo ông Kỳ Hữu Phước còn giữ lại vỏn vẹn có hai bộ mộc bản có tuổi trên 150 năm.

Năm 1999, trước nhu cầu của thị trường, nghề làm tranh giấy truyền thống Làng Sình đứng trước cơ hội được phục hưng. Những khuôn mộc thất truyền, người làm tranh bỏ công đi tìm lại nhưng số lượng không nhiều. Để có khuôn mộc in tranh truyền thống người làm tranh chỉ còn cách tìm lại những bức tranh được cất giữ rồi tự làm lấy bản mộc. Hiện tại, người làm tranh làng Sình phục hồi 25 bản mộc để in tranh truyền thống.

Giấy dó để làm tranh truyền thống được thay bằng loại giấy công nghiệp, màu cũng được thay bằng màu công nghiệp bán trên thị trường. Chính vì thế mà giá thành cho mỗi bức tranh cũng giảm đi đáng kể.

Từ việc đứng trước nguy cơ biến mất, đến vài ba hộ dân, tăng lên chục hộ rồi dần tăng lên con số vài chục hộ trở lại với nghề. Đến thời điểm này, làng Sình có 32 hộ làm nghề tranh truyền thống.

Tranh dân gian làng Sình thời hiện đại không còn giữ nguyên được bản chất truyền thống, bởi lẽ từ nguyên vật liệu đã được thay bằng những nguyên vật liệu công nghiệp, tiện lợi hơn gấp nhiều lần.

Có giấy, có màu công nghiệp, giờ đây người làm tranh truyền thống làng Sình mỗi ngày có thể in trên bản mộc 1.000 bức mỗi ngày. Các công đoạn in ấn, phối màu cũng được giảm thiểu, số lượng tranh cung cấp cho thị trường mỗi năm xấp xỉ 200 ngàn tờ.

Làm nhanh, số lượng nhiều, nhưng cái thần sắc của bức tranh làng Sình nổi tiếng một thời cứ mất dần đi.

Để bắt kịp với cơ chế thị trường, tăng số lượng tranh cung cấp cho thị trường những nghệ nhân chân đất gắn bó cả cuộc với nghiệp làm tranh truyền thống lại có ý tưởng công ngiệp hoá tranh truyền thống làng Sình!

Một dự án khuyến công của xã Phú Mậu, h.Phú Vang, TT-Huế đang được triển khai, theo dự án này, người dân làm tranh truyền thống sẽ được đầu tư mua máy xén, mua Rulô quay. Giấy sẽ không còn xén thủ công nữa, bản mộc được khắc hẳn lên bề mặt rulô, cách làm này không mục đích nào hơn là tăng năng suất làm tranh.

Lý giải cho cách làm này, nghệ nhân dân gian Kỳ Hữu Phước cho rằng: “ Với 30 triệu đồng đầu tư mua sắm máy xén, ru lô quay, rồi đây chúng tôi sẽ một mặt tăng năng suất, thu hút lao động để giữ vững làng nghề truyền thống cha ông”(?)

In bằng rulô thì nhanh thật, năng suất thật! Nhưng theo một nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian thì cái hồn của tranh làng Sình chính nằm ở cái vuốt tay trên mặt giấy khi in bảm mộc! Vậy thì làm kiểu “ công nghiệp” chắc rằng tranh làng Sinh sẽ mất cái hồn ấy!

Cách làm công nghiệp hoá tranh dân gian ở làng Sình, liệu rồi đây những bức tranh giấy được sản xuất tại đây có còn nguyên bản chất truyền thống dân gian?

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm.

tls

Trẻ con bây giờ là nhân lực chính trong công đoạn tô màu!

Theo Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam và Việt Báo

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Lò lu Đại Hưng

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Thủ Dầu Một – Bình Dương với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển; với những ngành nghề thủ công truyền thống khá nổi tiếng cả trong và ngoài nước như sơn mài, điêu khắc và gốm sứ. Trong đó nghề gốm cũng đã du nhập đến vùng đất này khá lâu đời đã. Hiện nay ngành gốm sứ đã phát triển một cách mạnh mẽ và có một chỗ đứng vững chắc trong sự phát triển kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây. Hầu hết nghề thủ công truyền thống làm gốm ở Bình Dương nói riêng và khu vực Nam bộ nói chung đều có nguồn gốc khá lâu đời, phần lớn do những người Trung Hoa di cư thế kỷ XVll – XVlll, đến vùng đất này sinh cơ lập nghiệp. Lò lu Đại Hưng thuộc ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, TX.TDM, tỉnh Bình Dương cũng là một trong các lò lu như thế.

Lúc đầu lò được làm theo kiểu lò ống (hiện vẫn còn nhưng không sử dụng nung được) nằm ở phía trên lò lu hiện tại. Sau đó được làm lại phần lò bao như ngày nay, khi đó lò chỉ được lợp bằng tre và lá dừa nước lẩy ở sông Sài Gòn, cũng không ngoại lệ. Ong chủ đầu tiên sáng lập nên lò lu này là một người Hoa tên gọi là chú Ngâu, ông là người Quảng Đông – Trung Quốc. Khi đó hàng làm ra chủ yếu là các loại lu khạp, hủ… Đến khi ông Ngâu chết lò được sang lại cho ông Tư Ti ở Sài Gòn – Chợ Lớn, khi ông Tư Ti chết thì lò được sang lại cho một người Hoa khác có tên là Lầm, người quản lý lò cho ông Lầm cũng là một người Hoa. Nguyên liệu chính để làm ra những sản phẩm lu – khạp… lúc bấy giở, thường được lấy ba hoặc bốn loại đất như: đất đen, đất cát, đất lá bài và bùn dưới sông Sài Gòn trộn lẫn với nhau, cho vào hầm xay sẵn rồi đạp cho nhuyễn. Phương tiện chủ yếu để vận chuyển nguyên liệu là xe bò. Thành phẩm làm ra được các thương lái ở Sài Gòn mua lại, rồi bán về các tỉnh miền Tây Nam bộ và các vùng phụ cận, vận chuyển sản phẩm bằng ghe theo sông Sài Gòn xuôi về khắp nơi. Hiện tại, lò lu đã sản xuất nhiều mặt hàng gốm, sành rất đa dạng về mẫu mã và màu sắc. Đặc biệt, lò vẫn giữ nét thủ công truyền thống của nghề làm gốm, chủ yếu tạo sản phẩm bằng thủ công, màu sắc sản phẩm cổ điển, nguyên vật liệu của địa phương, chất đốt bằng củi, chưa sử dụng kỹ thuật, máy móc hiện đại Loại hình sản phẩm truyền thống là lu, khạp, vại, chậu… với kích thước đa dạng. Sản phẩm được xuất đi khắp nơi trong nước và xuất khẩu sang thị trường Campuchia…

Lò được xây hoàn toàn bằng gạch sống (gạch chưa nung), phơi khô sau đó đem vào xây lò và được trét bằng đất sét. Sau một thời gian lò được đốt thì lớp đất sét và phần gạch sống này sẽ trở nên rất chắc chắn. Sở dĩ người ta không dùng xi măng vì nó sẽ bị cháy hoặc nổ trong quá trình đốt lâu dài. Lò chính được xây theo kiểu lò Bao, các bao rộng từ 2,5 – 3m cao từ 2,6 – 2,8m, với tổng cộng 15 bao nối liền nhau từ thấp đến cao nhìn như những vỏ sò nằm nối tiếp nhau, cái nọ sát cái kia. Căn đầu tiên (Bao đầu tiên) được gọi là căn mồi lửa, căn này có cửa cao khoảng 1 ,5m và rộng 1m, riêng ở bên hông các căn còn lại đều có 2 cửa hai bên rộng khoảng O,8m cao 1,2m các cửa này dùng để đưa sản phẩm vào lò và lấy sản phẩm ra sau khi đã nung chín. Sau khi đưa sản phẩm vào lò các công nhân sẽ dùng gạch bít kín các cửa này lại, chỉ chừa lại một ô nhỏ phía trên hình chữ nhật rộng khoảng 15cm, dài 30cm những ô này để cho người thợ chụm củi quan sát lửa trong bao, xem độ nóng trong lò đã đủ chưa và đạt đến độ chín cần thiết hay không. Các ô này còn được gọi là nhãn lò ”Mắt lò thường thì các bao lớn ở phía trước của lò chủ yếu để nung các loại lu lớn và nhỏ, lu lớn có thể xếp được 2 tầng với 3 hàng khoảng 40 chiếc, các bao nhỏ ở phía sau chủ yếu là xếp khạp và hủ, các bao nhỏ này có thể xếp được khoảng 200 khạp lớn và 100 khạp nhỏ. Thông thường thì đốt liên tục khoảng 6 giờ thì sản phẩm sẽ chín, nhưng có khi cũng chỉ khoảng 4 giờ là được, chủ yếu là do con mắt tinh tế của người nghệ nhân.

Nguyên liệu chủ đạo là đất sét, nhưng phải là loại đất có pha cát, sỏi không phải là loại đất dẻo. Phần nguyên liệu này chủ yếuđược lấy từ Dầu Tiếng, Tân Uyên… Khi mới được đưa về được đổ các bãi ngoài trời trước khi đưa vào nghiền. Đất được để ngoài trời càng lâu thì càng tốt. Vì khi để ở ngoài trời, dưới tác động của thời tiết mưa nắng, đất bắt đầu có sự phân rã sẽ làm cho chất phèn trong đất dần dần chảy hết ra ngoài. Đất sẽ được cho vào máy xay cho nhuyễn và loại hết các loại tạp chất, đem ngâm trong bể khuấy đều và đạp bằng chân cho đất thật nhuyễn, thật đều các nguyên liệu với nhau, rồi đất được vớt lên để khoảng 2 giờ thì cho vào máy ép cho nhuyễn, cũng như làm cho đất sét đặc lại không còn không khí bên trong. Các sản phẩm ở đây chủ yếu là lu và khạp. Trong đó lu nhất là lớn nhất có thể đựng tới 200 lít nước. Hoa văn trang trí trên sản phẩm thường là hình rồng, phụng được đắp nổi. Khạp là lại sản phẩm cũng dùng chủ yếu là đựng nước, nhưng nhỏ hơn lu, lu và khạp có màu chủ yếu là vàng da bò, da lươn. Đây là loại men chủ yếu dùng cho hai loại sản phẩm này.

lò lu Đại Hưng 01

Hiện nay, theo ông Bùi Văn Giang là người trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm này thì trong những năm gần đây, các loại lu lớn, nhỏ cũng được các thương lái từ TP.HCM và các tỉnh miền Tây Nam bộ đặt hàng. Sau đó, một phần cũng tiêu thụ trong nước chủ yếu là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Thị trường nước ngoài chủ yếu và duy nhất của lò này thị trường Campuchia, các thương lái buôn Việt Nam và Campuchia sau khi mua các sản phẩm tại đây thì cho thuyền ngược theo sông Sài Gòn để qua Campuchia tiêu thụ, các sản phẩm được thị trường này chấp nhận là các loại lu lớn (lu nhất).

Là một trong những lò lu còn khá nguyên vẹn, đã hình thành tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm trên vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Bảo quản và giữ gìn được lò lu này, nhằm giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau về một nghề thủ công truyền thống, đóng góp và có nhiều ý nghĩa trong đời sống, mà còn thể hiện tính nhân văn. Giữ gìn được nét văn hóa đặc trưng của nghề gốm – một trong các nghề thủ công truyền thống ở Bình Dương. Ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ từng ngày, những lò lu gốm thủ công này có thể dần dần sẽ bị biến mất và thay thế vào đó là những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hơn. Vì vậy, gìn giữ và bảo quản được di tích này sẽ góp một phần không nhỏ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của địa phương, trong hành trình của lịch sử dân tộc, đang bước vào thời kỳ mới.

Lò lu Đại Hưng đã được xếp hạng Di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 4815/QĐ-UBND ngày 3-10-2006 của UBND tỉnh Bình Dương.

(Ban Quản lý Di tích lịch sử Binh Dương)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Vẽ đẹp gốm Cây Mai – cập nhật thêm thông tin mới

1

Trong dòng gốm Sài Gòn xưa, gốm Cây Mai nổi lên như một hiện tượng của Sài Gòn – Chợ Lớn xứ Nam kỳ những năm cuối thế kỷ 19. Đây là một dòng gốm mỹ thuật do các nghệ nhân người Hoa của Chợ Lớn chế tạo.

Tên gọi gốm Cây Mai trong xóm Lò Gốm bắt nguồn từ địa danh Đồn Cây Mai (nay là góc đường Hùng Vương – Nguyễn Thị Nhỏ), một trong nhiều khu lò của gốm Sài Gòn xưa chuyên sản xuất từ các vật dụng sinh hoạt đến các sản phẩm phục vụ nhu cầu trang trí.

Những hiệu lò nổi tiếng

2
Gốm mỹ thuật Cây Mai, xưa đến nay luôn là mục tiêu săn lùng của giới đam mê cổ ngoạn – những người yêu thích vẻ đẹp gốm mỹ thuật tráng men Đề ngạn/ Mai khư của Sài Gòn xưa

Nói về gốm Cây Mai, xin tạm chia thành hai dòng phổ biến: một dòng chuyên sản xuất các đồ gia dụng gồm muỗng, chén, ấm trà, bình rượu, thố, siêu, nồi có tay cầm, chậu (việm hay còn gọi là vịm), hũ, ống nhổ, thạp, lu… Những tên lò thuộc dòng này có thể kể đến như Cây Keo, Hưng Lợi (qua các hiện vật khai thác được).

Đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện thêm nhu cầu sản phẩm vừa mang tính hiện đại (Âu – Tây) vừa đáp ứng chất lượng và mỹ thuật của người tiêu dùng. Dòng gốm Cây Mai tiến thêm một bậc là cho ra đời sản phẩm dùng trang trí đình chùa, đền miếu, nhà ở… Những vật phẩm cao cấp này giúp định danh gốm Cây Mai trong dòng gốm Sài Gòn xưa như một tuyệt đỉnh về kỹ thuật làm gốm mỹ thuật do những nghệ nhân người Hoa ở Chợ Lớn tác tạo.

3

Những tên lò thuộc dòng gốm mỹ thuật Cây Mai được biết đến qua những hiện vật hiếm hoi (chủ yếu là tượng trang trí, tượng thờ) cho thấy rõ tên tuổi và được lưu giữ tại các đình chùa trong khu vực Chợ Lớn và rải rác trong các đình chùa, nhà dân ở khắp vùng Nam kỳ. Có thể kể đến những tên quen thuộc như lò Đồng Hoà, Bửu Nguyên, Mai Sơn… Các sản phẩm gốm phủ men độc đáo, thoạt nhìn rất thô mộc, đơn giản, nhưng ẩn chứa nét công phu trong chế tác, chuẩn mực trong tạo hình, kỹ lưỡng trong chấm men, hài hoà trong bố cục tổng thể. Mỗi sản phẩm như thế là một tuyệt tác mỹ thuật, đại diện cho một dòng gốm đặc trưng của Sài Gòn xưa trong bản đồ gốm Việt.

Vẻ đẹp gốm Cây Mai

Mỹ thuật trong gốm Cây Mai được lột tả bằng kỹ thuật phủ men. Theo giới kỹ thuật gốm sứ, bảng màu men của gốm Cây Mai không phong phú, thậm chí nghèo nàn, gồm những màu như xanh cobalt, xanh lục đậu, xanh ve chai, nâu, đen, trắng, vàng, đỏ. Thế nhưng, khi kết hợp cùng các sản phẩm được tạo ra từ chất liệu đất có màu vàng, rất mềm và mịn ở vùng Đồn Cây Mai, các màu men đã góp phần tạo nên “chiếc áo” mỹ thuật hoàn hảo và bền mãi với thời gian.

Theo tài liệu nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Trảng, lò Cây Mai sản xuất đồ sành mỗi năm ra lò 1.000 lu lớn đựng nước, 250.000 sản phẩm đủ loại khác và 150.000 bình đựng thuốc phiện. Lò Cây Mai được khen thưởng một huy chương bạc tại cuộc triển lãm 1880 tại Nam kỳ

Những sản phẩm tiêu biểu của dòng gốm Cây Mai phủ men nay vẫn còn khá nhiều, như các loại đôn, chậu cảnh, với kỹ thuật tạo hình bằng bàn xoay và trang trí trên thân chậu bằng các hoạ tiết được in khuôn, cắt dán, đắp theo lối phù điêu. Đặc biệt là kỹ thuật chạm lộng, khắc chìm tô men ở các loại đôn kê chậu kiểng ngoài sân vườn. Lối chạm lủng, đắp nổi, phủ men ở các thể loại đôn tròn, đôn lục giác, bát giác được xem là một tiền đề sau này của dòng gốm Biên Hoà. Bà hiệu trưởng Balick (người Pháp), người sáng lập ra trường Mỹ nghệ Biên Hoà – đã tạo nên dòng gốm Biên Hoà xưa (cũng với kỹ thuật khắc chìm tô men) bằng cách pha trộn hài hoà giữa gốm Sài Gòn (mà đại diện tiêu biểu là gốm Cây Mai) và dòng gốm Limoges của Pháp. 4

Ở các đình chùa của người Hoa trong Chợ Lớn, rất dễ thấy những hiện vật của gốm Cây Mai, các loại tượng, tiếu tượng, linh vật… ngự trên nóc đình chùa, tượng trong gian thờ. Một sản phẩm đặc biệt và độc bản của gốm Cây Mai nay còn nguyên vẹn là tấm Chiếu Bích Cửu Long nằm chính diện Chùa Bà (đường Nguyễn Trãi). Tác phẩm gồm 25 miếng ghép thể hiện 9 con rồng ẩn hiện trong mây rất sinh động và ấn tượng.

Những hiện vật gốm Cây Mai còn khá nhiều trong dân gian ở Nam kỳ gồm muỗng, bình, bát, chén, lu, hũ, bình rượu với các ký tự chữ Hán thường gặp như: Hưng Lợi diêu, Việt Lợi, Kim Ngọc, Chấn Hoa xuất phẩm, Nhất phiến băng tâm, Khách lai đương tửu, Vạn ứng dược tửu, Song hỷ… Chính sự biến đổi quá sớm của thị trường đã khiến gốm Cây Mai thất truyền từ những năm đầu thế kỷ 20. Các thợ gốm Cây Mai tản mác về Lái Thiêu, Biên Hoà, lập lò gốm, tạo ra những dòng gốm tráng men Lái Thiêu đặc trưng với các lò của người Tiều, người Quảng, hay dòng gốm Biên Hoà đặc trưng với màu men xanh đồng trổ bông, cũng đã khẳng định được tên tuổi và vẻ đẹp trong bản đồ gốm sứ Việt Nam.

Gốm mỹ thuật Cây Mai, từ xưa đến nay, luôn là mục tiêu săn lùng của giới đam mê cổ ngoạn – những người yêu thích vẻ đẹp gốm mỹ thuật tráng men Đề ngạn/Mai khư của Sài Gòn xưa.

8Những sản phẩm tiêu biểu của dòng gốm Cây Mai phủ men nay vẫn còn lại khá nhiều như các loại đôn, chậu cảnh, với kỹ thuật tạo hình bằng bàn xoay và trang trí bên thân chậu bằng các hoạ tiết được in khuôn, cắt dán, đắp theo lối phù điêu

6

Hiệu lò Đồng Hoà diêu tạo
5
Hiệu lò Chợ Rẫy Mai Sơn
7
Những hoạ tiết đắp chạm công phu

Lam Phong

07 miếng gốm Cây Mai của nhà sưu tập Bạch Liên (Phú Nhuận – Tp Hồ chí Minh)

Theo nhà sưu tập thuật lại thì cách đây 04 năm, chị đã may mắn mua được bộ gốm 07 miếng ( mô đun lắp ghép  trang trí  bằng gốm ) này của một chùa Hoa cổ trên đường Trần Văn Kiều quận 5. Chùa bị giải tỏa để làm đường, nên chùa bán bộ gốm ngoài trời này để lấy tiền xây chùa mới (tiền đền bù đủ xây lại một chùa cũ nhưng họ muốn làm lớn hơn nên thiếu tiền). Dự án Đông -Tây vô tình đã đưa 7 mảnh gốm Cây Mai tuyệt mỹ này hữu duyên cùng chị.

Những bức hình dưới đây được chụp hơi nghiệp dư nên không phản ánh đúng sắc độ của men như thực tế tôi  đã quan sát là còn đẹp hơn rất nhiều.

large_gal_4a1245cacfd42

large_gal_4a1245e7eab2a

large_gal_4a1246ac095bd

large_gal_4a1246bfc46b9

large_gal_4a12467aea852

large_gal_4a124591e694b

large_gal_4a124664c5d1d

large_gal_4a1246078f6ab

large_gal_4a1246920580a


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


C


Read Full Post »

Hình ảnh triển lãm gốm Lái Thiêu nhân kỷ niệm 30/4 và 1/5 2009

Nhân kỷ niệm 30/4 và 1/5 2009 Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM cùng các nhà sưu tập tư nhân tổ chức trưng bày chuyên đề: Gốm Lái Thiêu – gốm gia dụng miền Nam. Đây là trưng bày có số hiện vật phong phú, đa dạng nhất từ trước đến nay về gốm Lái Thiêu (639 hiện vật) của ba trường phái đặc trưng gốm Lái Thiêu gồm: gốm Quảng Đông, Triều Châu, và Phúc Kiến.

Sản phẩm gốm Lái Thiêu mang tính chất hồn nhiên, tiện dụng và thẩm mỹ, đã hiện diện sâu rộng trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Nam bộ suốt gần hai thế kỷ qua. Trước khi chuyển tiếp qua thời kỳ đồ gia dụng kim khí và thuỷ tinh, một số đồ dùng trong nhà bếp được làm bằng gốm, như cái lẩu, bình lọc nước, ống cắm đũa, v.v…

Trong triển lãm, bảo tàng Mỹ thuật cùng nhóm tác giả là các nhà nghiên cứu, sưu tập tư nhân cũng ra mắt cuốn sách Gốm Lái Thiêu, cung cấp những tư liệu, câu chuyện và thông tin phong phú về nguồn gốc xuất xứ, kỹ thuật chế tác, mỹ thuật… rất đầy đủ và chi tiết về gốm Lái Thiêu – một dòng gốm lừng danh Nam bộ ở thế kỷ 20.

Từ sự đóng góp của Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM cùng các nhà sưu tập, 639 hiện vật gốm được mang đến trưng bày tại bảo tàng rất phong phú, đa dạng về màu sắc, tạo hình… Các hiện vật được phân theo nhóm chủng loại gồm các loại bình bông, bình đựng nước, gối nằm, ống cắm đũa, bình vôi, đèn và chân đèn các loại, chén bát, tượng thờ… Dịp này, nhóm các nhà sưu tập cũng ra mắt tập sách ảnh cùng tên triển lãm để giới thiệu rõ hơn giá trị của dòng gốm.

Bà Nguyễn Thị Đức, giám đốc bảo tàng Mỹ thuật TP HCM nhận xét: “Cuộc trưng bày gốm Lái Thiêu là một bài học lịch sử – văn hóa cụ thể và sống động, là chuyến hành trình ngược về nguồn cội của dòng gốm đã gắn bó bao năm với người Nam Bộ”.

Dưới đây là vài hình ảnh tại cuộc trưng bày, kéo dài từ 28/4 đến hết 25/5: ( click trên hình để xem ảnh lớn)

nguồn Sgtt và VnExpress

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Older Posts »