Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘lịch sử’

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, bên cạnh Thảo cầm viên. Đây là nơi bảo tồn và trưng bày hàng chục ngàn hiện vật quí được sưu tầm trong và ngoài nước Việt Nam

Ngày 18 tháng 2 năm 1927 nhà sưu tập Holbé qua đời , đề lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 bạc Đông dương ( một số tiền lớn lúc bấy giờ ) . Sau khi vận động một số nhà hảo tâm mua bộ sưu tập lớn đương thời là sưu tập Holbé với hàng ngàn hiện vật, hội Nghiên cứu Đông Dương đem tặng toàn bộ hiện vật mà họ sở hữu cho nhà nước thuộc địa và đề nghị chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ thành lập Viện Bảo tàng với điều kiện hội được đóng trụ sở và đặt thư viện trong Bảo tàng.

ngày 24-11-1927, Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse ra nghị định thành lập Musée de la Cochinchine tức Bảo tàng Nam kỳ với trụ sở được chọn như hiện nay là tòa nhà lớn đang chuẩn bị xây vào năm sau đó: Năm 1928 – trong Thảo Cầm viên Sài gòn (ở phía trái cổng vào) do kiến trúc sư Delaval vẽ kiểu, mà trước đây dự kiến làm Musée du Riz (Bảo tàng Lúa gạo), sử dụng chung cổng ra vào với Thảo Cầm Viên.

Về mặt quản lý  , trong nghị định thành lập  , Bảo tàng Nam kỳ có quy chế riêng  trực thuộc trường  Viễn Đông Bác cổ , nhưng hội nghiên cứu Đông Dương lại được đặt trụ sở trong Bảo tàng  . Vì vậy  ngày  8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội  nghiên cứu Đông Dương là Jean Bouchot đồng thời cũng là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ được cử làm Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng  ( tương đương chức Giám Đốc  ) . Sau đó, có lẽ vì muốn cho thấy vai trò của người Pháp trong việc hình thành hệ thống Bảo tàng ở Đông Dương nên ngày 6-8-1928, lại có một nghị định đổi tên Bảo tàng Nam kỳ thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse  tức lấy tên người ký nghị định thành lập Bảo tàng làm tên Bảo tàng –  và ngày 1-1-1929 Bảo tàng chính thức ra mắt công chúng.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse là như sau: “… có mục đích tập trung và gìn giữ tất cả các vật cũ ở Đông dương có tính cách mỹ thuật và khảo chứng, đặc biệt là những vật tìm thấy trong những dịp đào đất hay làm công tác gì trên địa hạt Nam kỳ, kể cả những vật điêu khắc riêng biệt mà sự bảo vệ khó thực hiện được chu đáo ở nơi phát hiện vì tình thế, chất liệu hoăc kích thước của vật đó.”

Trong 18 năm tồn tại dưới chính quyền thực dân Pháp . Bảo Tàng Blanchard de la Brosse   trải qua  2 đời Giám Thủ  :

1.    Jean Bouchot : nhà nghiên cứu, Giám thủ từ năm 1928-1932.
2.    Louis Malleret: nhà khảo cổ học, Giám thủ từ năm 1932-1946.

Năm 1945, sau khi Cách Mạng tháng 8 thành công,  Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo Tàng Viện. nhưng thực ra chính quyền người Việt ở Nam  Kỳ không  nắm quyền quản lý Bảo tàng mà phải theo mô hình  cũ cũng như nhờ đến sự trợ giúp của người Pháp , đã có những người Pháp do trường Viễn Đông Bác Cổ  biệt phái tiếp tục thay nhau làm Giám Thủ Bảo Tàng  :

1/Louis Malleret , tiếp tục được lưu dụng  1946 – 1948

2/Pierre Dupont  , nhà nghiên cứu – 1948 – 1950

3/Bernard Groslier , chuyên gia nghiên cứu văn hóa Champa -1951-1954

Từ năm 1948 Vương Hồng Sển đã vào làm việc tại Bảo tàng, đến năm 1954 khi cử Vương Hồng Sển làm Quyền Giám thủ, chế độ Sài gòn mới thực sự quản lý Bảo tàng, Bảo tàng không còn trực thuộc hội Nghiên cứu Đông Dương cũng như không còn các nhân viên người Pháp nữa.

Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, chính quyền Sài gòn đổi tên Bảo tàng Blanchard de la Brosse thành viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam (Sài Gòn). Dưới chế độ Sài gòn, về mặt quản lý, Bảo tàng cũng có quy chế riêng trực thuộc Viện Khảo cổ của bộ Quốc gia Giáo dục (sau là bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên) chính quyền Sài gòn nhưng căn phòng phía sau đại sảnh bát giác vẫn còn dành cho hội Nghiên cứu Đông Dương làm thư viện hội.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam tại Sài Gòn được quy định rất đơn giản

*Nghiên cứu sưu tầm và trưng bày trong viện những di tích và các  tài liêu cổ  thời  thuộc về mỹ thuật , sử học , cổ học và nhân chủng học gồm chung của nước Việt Nam cũng như các nước lân cận hoặc đồng hóa : Trung Hoa , Nhật Bản , Cao  Ly , Cao Miên , Phù Nam , Lào , Thái Lan , Tây Tạng , Ấn Độ , Cổ Chiêm Thành …

*Tập trung về một chỗ và tàng trữ chung tại Viện  những cổ vật hoặc di tích còn ẩn tàng trên lãnh thổ Việt  Nam …

Từ năm 1956- 1975 Bảo tàng đã được quản lý bởi các quản thủ sau:
1.    1956-1964:Vương Hồng Sển, nhà nghiên cứu
2.    1964-1969: Nguyễn Gia Đức, kiến trúc sư
3.    1969-1975: Nghiêm Thẩm, giáo sư Dân tộc học.

.

Sau ngày 30 tháng 4  năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8  năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.

Bảo tàng  Lịch Sử có chức năng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc qua các hoạt động nghiên cứu , sưu tầm , giám định , kiểm kê , bảo quản , bảo vệ , phục chế , phục hồi , trưng bày , thuyết minh , tuyên truyền , xuất bản , ấn phẩm , maketing … giới thiệu các  tư liệu , hiện vật có liên quan đến lịch sử VN , các nước trong khu vực  nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ VN  , đáp ứng  thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu  , nghiên cứu  cũng như thưởng ngoạn của khách tham quan trong và ngoài nước  về lịch sử và các  sưu tập cổ vật

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng hiện có 2 nội dung :

1/  Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến hết thời Nguyễn (1945) với 10 phòng trưng bày:

* Việt Nam thời Tiền sử

*Thời Hùng Vương

*Thời Đấu tranh giành độc lập dân tộc

*Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý

*Thời Trần

*Văn hoá Champa

*Văn hoá Óc Eo

*Thời Lê

*Thời Tây Sơn

*Thời Nguyễn

2/ Một số sưu tập về lịch sử – văn hoá các nước trong khu vực với 8 phòng và khu trưng bày:

* Tượng Phật một số nước Châu Á:

*Súng thần công thế kỷ 18-19

*Điêu khắc đá Campuchia

*Gốm một số nước Châu Á

*Xác ướp Xóm Cải (TPHCM)

* Sưu tập Vương Hồng Sển

*Văn hoá các thành phần dân tộc phía Nam

*Một phòng trưng bày ngắn hạn luân phiên trưng bày từ 3 đến 9 tháng, giới thiệu những sưu tập cổ vật mới phát hiện.

 

Vị trí và Kiến Trúc

Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn  năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá (do chúa Nguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc  làm nơi dạy dỗ Hoàng Tử Cảnh ).

Công thự do kiến trúc sư người Pháp  Delaval thiết kế theo lối Đông Dương cách tân và được hãng  thầu  Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong  3 năm : 1926 – 1927 – 1928

Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái củaKinh Dịch ) có 2 nóc mái lợp ngói  ống, có gắn vật trang trí hình phụng , hình rồng  cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu tố của kiến trúc cổ Trung Quôc ..

Vào những năm đầu 70 của thế kỷ 20, Bảo tàng được mở rộng diện tích bằng việc xây thêm phần sau dạng chữ U theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa.

Thông tin bạn cần biết :

Tại Bảo tàng Lịch sử, quý khách còn có thể tham quan:

1. Đền thờ Hùng Vương- một công trình xây dựng đầu thế kỷ 20 theo kiến trúc cổ Phương Đông được công nhận “Di tích cấp nhà nước” năm 2012- từ năm 1956 được chọn là nơi thờ kính, tưởng nhớ các vua Hùng và các vị Tổ tiên thành lập nước Văn Lang.

2.  Tra cứu tư liệu tại Thư viện Bảo tàng với trên 12000 đầu sách có niên đại từ thế kỷ 19 đến nay với các loại ngôn ngữ: Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nhật, Thái…(trước đây là thư viện của Hội Nghiên Cứu Đông Dương, thành lập từ cuối thế kỷ 19).

3. Xem trình diễn Múa Rối Nước- một hình thức biểu diễn văn nghệ dân gian của nước Đại Việt xuất hiện từ hơn 1000 năm trước.

4. Mua sách về cổ vật cũng như những vật dụng kỷ niệm và thưởng thức café trong shop Bảo tàng…

*Giá vé người lớn : 2000 đ

*Miễn phí cho trẻ em từ 15 tuổi trở xuống tham quan Bảo tàng trong dịp hè ( 2012 ).

*Giờ mở cửa  : 8g – 17g từ thứ ba đến  chủ nhật .

*Thứ hai hàng tuần nghỉ  .

* Chụp hình – quay phim  giá vé : 22.000 đ .

* ĐT : 08.38298146  – 38290268  .

* Email  : btlsvnhcm@yahoo.com


Khanhhoathuynga tổng hợp .

Nguồn tham khảo : Bảo tàng Lịch Sử VN – TPHCM

Trích dẫn môt số bài viết của TS Phạm Hữu Công ( PGĐ  BTLSVN – TPHCM ) .

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P I

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P II –  CỔ VẬT MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P III –

 

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

Read Full Post »

Nguồn: Tổng hợp

Thiên Y A Na và Tháp Bà – Po Nagar

Bà Thiên Y A Na

Tháp Bà có tên chính thức là Kalan Po Nagar (Tháp Po Nagar), tức đền tháp thờ thần Po Nagar (tiếng Chăm là Yan Po Nagar). Thật ra Po Nagar không phải là một vị thần Ấn giáo, mà là Nữ vương thời Chiêm Thành còn mang tên Hoàn Vương Quốc (646-653). Theo lời truyền tụng Nữ vương có nhiều công lao xây dựng vương quốc phồn thịnh (lúc đó Việt Nam vẫn còn trong thời kỳ Bắc thuộc), theo tập tục tín ngưỡng bản địa được người Chăm tôn lên làm thần chủ về đất đai và nông nghiệp hay Bà Mẹ Xứ Sở. Danh tính này được bác sĩ Trần Văn Ký thừa nhận:: “Trên các bia ký lưu lại ở tháp, nếu ghi bằng chữ Phạn cổ thì tên của Bà là Bhagavati Kautharesvati, và ghi bằng chữ Chàm thì gọi đầy đủ là Yang Po Inư Nagar, theo đó thì “Yang” là Thần; “Pô” là tôn kính, là ngài; Inư là Mẫu, là mẹ; và Nagar: xứ sở, đất nước.” [Tháp Bà Nha Trang và Lược Sử Chiêm Thành], Khi người Việt chiếm đất Chiêm Thành, nữ thần này được thừa nhận tương tự như Chúa Nguyễn Hoàng thừa nhận Bà Thiên Mụ ở Huế vậy. Từ đó Nữ thần có thêm tên là Y A Na (trại từ (Po Nagar) và theo tập quán thời Nguyễn vua sắc phong thêm chữ Thiên nên gọi là Thiên Y A Na.

Bà Đen – Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi

(Tượng thờ ở Tháp Bà Po Nagar – Nha Trang)

Thần tích của Nữ thần theo thời gian được Việt hóa, đến năm 1856 Phan Thanh Giản cho khắc một bia đá được dựng ở tháp, toàn văn bài bia Tháp cổ Thiên Y đã được chép lại vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí, đại ý bài văn như sau: “Xưa trong vùng Đại Điền có hai vợ chồng già trồng dưa hấu sinh sống. Khi dưa chín thì về đêm cứ bị phá trộm. Ông lão rình và thấy một cô gái mới lớn dùng dưa để đùa giỡn dưới trăng. Ông lão vặn hỏi thì biết là trẻ mồ côi bèn đem về làm con nuôi, và hai vợ chồng rất thương yêu cô gái. Một ngày mưa lụt lớn, nhớ chốn cũ ở Tam thần Sơn, cô nhập vào một khúc gổ kỳ nam đang trôi về phương bắc. Dân phương bắc thấy gỗ thơm trôi giạt đua nhau gắng sức kéo về nhưng không nổi. Thái tử đang ở tuổi 20, con của vua cai trị nghe tin liền tìm đến bãi biển và lạ thay một mình khuân được gỗ về cung. Từ đấy thường vỗ về cây kỳ nam và bồi hồi ngẩn ngơ. Bỗng một đêm thấy có bóng một cô gái diễm kiều hiện ra, thái tử vội nắm tay giữ lại gặn hỏi và biết được sự tích. Thái tử tâu rõ mọi chuyện với vua cha và được vua cho kết hôn. Hai vợ chồng sinh được hai đứa con, trai tên là Trí và gái là Quý. Một thời gian sau lại nhớ chốn cũ ở phương nam, vợ thái tử dắt hai con nhập vào gỗ kỳ nam trôi về cửa Cù Huân, rồi lần về núi Đại Điền nhưng ông bà lão trồng dưa đã qua đời. Bà liền lập đền thờ. Từ đó bà dạy dân trong vùng biết cách trồng lúa. Về sau Bà còn cho đục đá ở núi Cù Lao tạc tượng bà, rồi giữa ban ngày bà thăng thiên biến mất. Thái tử mãi sau cho người kéo thuyền đi tìm vợ, nhưng bọn người này khi đến cửa Cù Huân lại hiếp đáp dân lành và khinh miệt linh tượng, nên chợt có một trận cuồng phong nổi lên đánh úp thuyền biến thành một tảng đá to. Từ đó dân làng thấy Bà hiển linh thường cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi với tiếng sấm vang động. Có khi bà cỡi tấm lụa bay giữa không trung hay cỡi cá sấu trong vùng dảo Yến, núi Cù. Dân trong vùng bèn xây tháp thờ trên núi Cù Lao, cầu khấn việc gì cũng linh ứng. Tháp giữa thờ Chúa Tiên (tức Thần Thiên Y), tháp bên trái thờ vợ chồng lão trồng dưa, bên phải thờ thái tử. Phía sau lập đền nhỏ thờ hai người con. Người Chàm tôn Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn phong tặng Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đằng Thần và cử ba người dân làng Cù Lao làm Từ phu.” Triều đình dựa vào đó sắc phong cho Nữ thần với mỹ danh Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng đẳng thần và gia phong Hồng nhơn phổ tế linh ứng Thượng đẳng thần

Linga (ở Tháp Bà)

Thần vật của Tháp Bà giáo

Tập San Bạn Huế Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hué) cũng dịch lại điển tích trên và nói thêm trước các ngọn tháp có một bia ghi chữ tượng hình chính người bản địa vẫn không hiểu viết gì (Bài Histoire de la Déesse Thien-Y-A-Na par Đào Thái Hành). Và cũng trong Tập san này, Sallet (avril-juin 1923) có chú thêm ở Đa Hòa, Điện Bàn, Bà còn có danh hiệu “Chúa Ngọc Ngạn Thượng Sơn Thần”, có hai người con trai là Cậu Quý và Cậu Tài. (dẫn từ Le Culte des Pierres của A. Cadière). Nhưng dân gian ở miền Trung lại hay gọi Bà Đen, tên gọi này dễ có sự nhầm lẫn với một Bà Đen khác ở miền Nam. Bà Đen ở miền Nam được thờ ở núi mang cùng tên thuộc tỉnh Tây Ninh được triều Nguyễn sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Tuy cùng tên gọi nhưng là hai nữ thần khác nhau. Bà Đen ở Tây Ninh, do Lê Văn Duyệt trình tấu xin triều đình sắc phong, có thần tích đại khái như sau: “Xưa trên núi Bà Đen, lúc ấy còn gọi là núi Một vì quanh vùng trơ trọi hòn núi này, có một tượng Phật rất to. Người người thường lên viếng Phật, trong đó có một tiểu thư tên là Lý Thị Thiên Hương, tuy là phận gái nhưng văn hay võ giỏi. Thiên Hương có nhan sắc và trong làng có chàng trai tên Lê Sĩ Triết đem lòng yêu thương. Vì có sắc đẹp, Thiên Hương cũng phải lòng một viên quan, người này dùng gian kế và quyền lực ép duyên may nhờ Lê Sĩ Triết ra tay cứu thoát. Cha mẹ cô cảm nghĩa đồng ý gả cô cho chàng trai nghĩa dũng này. Sau đât nước loạn lạc, chàng trai đi tòng quân. Lúc chồng vắng nhà, một hôm có bọn cướp vây bắt khi đang lễ Phật trên núi, cô chống cự và trốn vào rừng mất tích. Đến đời Minh Mạng, một hòa thượng trụ trì trên núi ứng mộng thấy một người con gái xinh đep, da ngăm đen, xưng tên Lý Thị Thiên Hương bị cướp rượt té xuống vực chết,đã về báo mộng chỉ chỗ cho hòa thượng tìm đến. Thấy có sự hiển linh như thế nên dân gian lập miếu thờ cúng.” Ở đây nói thêm hơi dài dòng nhằm phân biệt cho cụ thể cách gọi hai miền.

Mandapa sau khi trùng tu

Tháp Bà Po Nagar

Theo nguồn Wikipedia tiếng Việt: “Tháp Bà là ngôi đền nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 50 mét so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía bắc, nay thuộc phường Vĩnh Phước. ” và tháp không phải đời sau xây lên để thờ Bà mà chính Nữ vương đã cho dựng lên thờ nữ thần Bhagavati. Tư liệu này cho biết thêm lúc đầu ngôi tháp bằng gỗ nhưng trong thờ “tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng”. Tượng nữ thần này bị quân Nam Đảo (tức Indonesia) cướp đi sau khi tàn phá ngôi tháp vào năm 774. Sau đó được Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Đến đời vua Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III lượt xây dựng thêm 5 tháp nữa (tức 6 tháp).

Cứ liệu này cho thấy thời Nữ vương xây dựng bằng gỗ là chính xác, còn tượng bằng vàng cần xem xét lại. Theo cuốn Lịch Sử Champa được tổng hợp từ nguồn Wikipedia viết “Indravarman III. Vào năm 918, Indravarman III cho đúc tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng dựng tại Tháp Bà, bức tượng này bị quân Chân Lạp cướp vào khoảng năm 945 – 946. Năm 965, Jaya Indravarman I cho dựng lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá ở Kauthara.” (thời kỳ này tương đương nhà Đinh ở Việt Nam).

Như thế việc thờ cúng của tháp chia làm hai thời kỳ: một thời kỳ thờ nữ thần Bhagavatitrong thần thoại Ấn Độ và thời kỳ sau thờ Nữ vương Po Nagar vì được coi là hóa thân của nữ thần Bhagavati. Trong bài The My Son and Po Nagar Nha Trang Santiarues, dựa vào các bản sao văn bia trong đền dang lưu giữa ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Trần Kỳ Phương đồng ý quan điểm này: “Qua các văn bia, chúng ta thấy tượng nữ thần Bhagavati được vua Satyavarman dựng lên tại đền năm 784 sau khi vua chiến thắng quân Nam Đảo năm 774. Tượng nữ thần bằng vàng được đặt tại đây từ năm 817 đến năm 918. Năm 950 tượng vàng đó bị quân Khờ-me cướp và đến năm 965 vua Haya Indravarman làm lại bằng sa thạch”.Cứ liệu dựa trên văn bia này đáng tin cậy, như vậy không phải quân Nam Đảo (Java) mà là quân Khờ-me lấy pho tượng vàng này. Một tài liệu khác dựa vào bia ký cũng xác nhận do quân Khờ-me cướp tượng vàng chứ không phải người Nam Đảo: Le Royaume de Champa, của Georges Maspero, 1928: Cuốn sách này có viết: “D8ến năm 945 hay 946 quân của vua Cam-bốt Rajendravarman xâm lược Champa và chiếm đền Po Nagar.”[Trang 118]. Sau đó Trần Kỳ Phương nói thêm: “Năm 1050, vua Sri Paramesvarvarman tôn xưng nữ vương thành thần với danh hiệu Yapu-Nagara/Yang Pu Nagar” Người được tôn xưng và thờ trong tháp chính là nữ vương Po Nagar, trước khi lên ngôi là công chúa Ramavali. [Trang 12]

Theo một nguồn tư liệu khác cho biết thời xây dựng tháp Po Nagar thì Chiêm Thành chia làm 2 nước, đúng hơn là 2 bộ lạc: Bộ lạc Dừa ở phía Bắc và bộ lạc Cau ở phía Nam. Tháp nằm trong lãnh thổ của vương quốc Cau, bị phá hủy nhiều lần bởi người đảo Java (tài liệu trên gọi là Nam Đảo) vào năm 774 và người Khờ-me vào năm 930. Tư liệu này còn cho biết xưa kia có tất cả 10 ngọn tháp mà nay chỉ còn lưu lại có 4 [httpwww.asiedesheritages.comsitechampachampa.htm]. Kiến trúc chính của cụm tháp này có tên gọi là Mandapa, có nghĩa là Phòng cầu nguyện có những cột đá đồ sộ, mà nay vẫn còn và đã được trùng tu lại, Phần kiến trúc này rất quy mô có thể nhận thấy ngay khi đi vào khu di tích. Dữ liệu này hoàn toàn phù hợp với lập luận vừa bàn. Đồng Dương xây dựng ở Quảng Nam tức phía Bắc Nha Trang, thuộc bộ lạc Dừa. Như vậy trước thế kỷ thứ 8 Chiêm Thành có 2 tiếu quốc, phía Bắc chịu ảnh hưởng của Phật giáo và phía Nam là Ấn giáo (cụ thể Thấp-bà giáo). Xứ Cau miền Nam hay bị thủy quân vùng Nam Đảo và quân Khờ-me quấy nhiễu, phía Bắc tiểu quốc Dừa bị Đại Việt đe dọa thôn tính.

Hiện nay, tháp chính thờ Nữ thần Po Nagar nằm ở phía bắc khu di tích, niên đại thế kỷ 12, cao 22,5 m, đỉnh tháp có chạm phù điêu thần Shiva cưỡi bò thần Nandin. Ngoài ra trong tháp còn có nhiều tượng thần khác, chung quanh có tượng các linh thú theo thần thoại Ấn Độ và dĩ nhiên không thể thiếu linga (biểu tượng của thần Shiva, vị thần chính của Chiêm Thành). Dưới đây là một số hình ảnh.


Ngoài Mandapa, cụm di tích này còn có tháp giữa. Tháp này được xây dựng vào thế kỷ thứ 12 từ gạch tháo ra ở những ngôi đền cũ khác. Ngoài ra còn có một số tháp khác nay đã hư nát nhiều. Dưới là bình đồ của cụm di tích này.

Đó chỉ mới là di sản văn hóa, Tháp Bà còn lưu giữ một tài sản hết sức quý báu: di sản lịch sử. Theo các nhà sử học Chiêm Thành gần như không để lại tài liệu ghi chép về lịch sử (hoặc bị mất không chừng?). Những điều này được bù lấp bằng các bia ký ở các đền tháp, đặc biệt ở Tháp Bà Po Nagar lưu lại rất nhiều văn bia có giá trị. Wikipedia tiếng Việt phân loại các bia ký đó nhu sau:

• Nhóm A: Trên bia đá hình lục giác, do vua Satyavarman dựng năm 781 ghi chuyện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774, việc xây dựng tượng thần Sri Satya Mukhalinga vào năm 784.

• Nhóm B: Do vua Vikrantavarman III ghi lại công lao xây dựng của các tiên vương.

• Nhóm C và nhóm D: Do vua Vikrantavarman II ghi các lễ vật dâng cúng chư thần.

• Nhóm E: Ghi việc vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng vào năm 918; pho tượng này về sau bị người Khmer xâm lăng cướp đi, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá vào năm 965.

Bia ký ở Tháp Bà Po Nagar

Bia đá ở hai bên cửa của tháp chính ghi việc cúng ruộng và dân công nô lệ cho nữ thần. Bia ở phía nam của tháp chính ghi việc vua Jaya Harivarman I ca tụng thần Yang Po Nagar vào năm 1178. Bia ở phía bắc tháp chính ghi việc dựng đền thờ thần Bhagavati Matrilingesvara vào năm 1256. Ngoài ra còn bia đá dựng năm 1050 của vua Paramesvaravarman I ghi việc tái lập tượng Bà, việc dâng cúng ruộng đất và nô lệ đủ sắc tộc: người Campa (Chăm), Kvir (Khmer), Lov (Tàu), Pukan (Mã), Syam (Xiêm) vv… Bia của vua Rudravarman III (Chế Củ) dựng năm 1064 ghi việc xây cổng tháp rất tốn kém, và liệt kê những cống phẩm quí giá. Bia năm 1143 ghi lời xưng tụng Bà. Bia năm 1165 của vua Indravarman IV ghi việc dâng cúng một kim mão cho nữ thần Bhagavati Kautharesvati (Dựa vào lời ghi này có thể tạm dịch là “Đức thánh mẫu vùng Kauthara” và so sánh với các bia khác, có thể đoán là người Chăm chỉ thờ thần Parvati như Thánh Mẫu của từng địa phương; ví dụ ở Phú Yên và Ninh Thuận cũng có tháp thờ Thánh Mẫu của vùng đó, chứ chưa hẳn là ở mức độ toàn xứ Chiêm Thành). Các bia sau cùng ở thế kỷ thứ 13 hay 14 tiếp tục ghi những vật dâng cúng Bhagavati. [Wikipedia]

Thực tế cho thấy nhờ những bia đá này mà người ta biết được từng có thời Chiêm Thành chia làm hai tiểu quốc Cau và Dưa; những lần tấn công của quân Nam Đải và quân Khờ-me, các vị vua của những vương triều Champa để đối chiếu với tên phiên âm Hán Việt, … Qua đó nhiều bí mật lịch sử dần hé mở.

Dựa vào các bản sao rập lưu giữ tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp các nhà nghiên cứu đã lần tìm nhiều manh mối lịch sử Champa mà xưa nay chỉ dựa mù mờ vào sử Việt và sử Trung Hoa. Ví dụ:

– Bản số 14, sao rập ở Tháp Bà Po nagar cho biết một chi tiết: cư dân vùng Phan Rang xưa kia xưng tên dân tộc họ là Vrlas;

– Bia Mỹ Sơn số 90 thuật về câu chuyện công chùa Huyền Trân, vợ vua Chế Mân, trốn chạy việc tuẫn táng.

– Bia Tháp Bà Po Nagar số 38 D có ghi lại sự kiện người Khờ-me xâm lăng xứ Champa (mà sử Việt và Sử Trung Hoa không đề cập đến)


Và cả những truyền thuyết về dân tộc và đất nước Chăm. Ví dụ bia Đồng Dương số 66 có chép: “Xưa kia đất nườc này rất huy hoàng và hùng mạnh, thần dân sống ấm no và sinh sôi nảy nở. Trên đất nước này chỉ có một vị vua, Prithivindravarman, giàu có và sống từ đời này qua đời khác, ngài là Đế Thiên (Indra) của mọi vị thần thên cõi thế này”

Nhờ thế mà sai này người ta đối chiếu được rất nhiều vị vua Chăm tương ứng với tên gọi trong Sử Việt như Ba Mỹ Thuếu (tức Parames’varavarman), Ngô Nhựt Hoan (Indravarman II), Băng Vương La Duệ (Sri Harivarman II), Sạ Đẩu (Jaya Sinhavarman II), Chế Củ (Rudravarman III), .Chế mân (Jaya Sinhavarman III), Chế Bồng Nga (Po Bhinethuor),…. Ngược lại vì không có bia tháp mà nhiều vị vua Chiêm Thành không đối chiếu được như: Khu Liên, Phạm Văn, Phạm Hùng Phạm Hồ Đạt, Trà Hoa Bồ Đề, Ma Ha Bí Lai, … thậm chí vào thời cận đại nhà Hậu Lê có hai vị vua vẫn chưa đối chiếu được tên tiếng Phạn-Chăm là Trà Nguyệt và Trà Toàn. Chẳng qua các vị vua này không có dựng tháp và khắc bia kể công tích và sự biến trên đất nước, các sử gia đành dùng tạm tiếng Hán Việt và đó là một lỗ hổng khuyết trong sự thật lịch sử. Bởi lẽ có nhiều tên vị vua bằng tiếng Phạn-Chăm khắc trên bia đá nhưng không thấy nói đến trong sử Việt và sử Trung Hoa như vua Sri Satyamukhalingadeva, vua Sri Paramabuddhaloka, hoàng hậu Haradevi, …, biến sử Champa thành những đoạn rời rạc. Hy vọng sau này những khám phá khảo cổ và nghiên cứu lịch sử sẽ dần khơi tỏ khoảng trống này.

Đức Chính tổng hợp

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm

Read Full Post »

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT UỐNG TRÀ CUẢ TRUNG HOA
tea 01

               Sự phát triển của trà tại TQ chia làm 3 giai đoạn

• Giai đoạn 1: từ thời nhà Ngô đến thời nhà Đường:
Chính thức theo lịch sử thì trà chỉ mới được đề cập đến từ thời Tam Quốc, và đến tận đời Đường, người Tàu vẫn chỉ dùng các loại trà mọc hoang chứ chưa trồng và chế biến thức uống này. Trà cũng chỉ lưu hành trong giới thượng lưu miền Nam Trung Hoa chứ dân dã cũng chưa uống và tục uống trà chưa được coi như một thú thanh cao. Quả thực thời kỳ đó hai miền nam bắc Trung Hoa đời sống cách biệt như hai thế giới. Về cách uống cũng khác biệt,giữa hai bờ đai giang và nhất là dân du mục ngoài Trường Thành thì uống trà pha sữa trâu bò, dê, ngựa. Đến đời Tùy nước Tàu thống nhất thì những sinh hoạt mới lan truyền ra những vùng khác. Tuy việc uống trà đã phổ thông nhưng vẫn có một số đặc điểm khác ngày nay:
– Thứ nhất trà vẫn còn coi như một vị thuốc, chưa có mấy nơi coi như một thức uống.
– Thứ hai trà do dân chúng vào vùng hoang sơn dã lãnh hái về chứ chưa biết trồng thành đồi, thành vườn để sản xuất một cách qui mô.
– Thứ ba trà uống theo kiểu giản dị là hái lá vào đem nấu chứ chưa kiểu cách như sau này.
Tới đời Đường, khi Lục Vũ viết cuốn Trà Kinh thì trà mới trở nên phổ biến. Từ đó trở đi, nơi nơi đều uống trà, trở thành một phong trào và sản xuất trà cũng thành một lãnh vực kinh tế qui mô, đem lại một ngân khoản lớn cho triều đình.

Lục Vũ sinh ra và trưởng thành trong một thời kỳ thịnh trị văn hóa nhất trong lịch sự Trung Quốc , tại vùng Cánh Lăng, thuộc huyện Thiên Môn, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Ông mồ côi từ nhỏ, được Trí Tích Thiền sư nuôi dưỡng trong Thiền Lâm từ bé. Dù ông không xuất gia, nhưng ông vẫn sống một đời đạo vị. Ông thích du lịch khắp nơi, luôn ẩn cư ở những vùng xa vắng. Sau này ôngrất nổi tiếng được vua và các đại thần ngưỡng mộ, các đại văn gia thi hào cũng rất kính trọng ông. Tên Lục Hồng Tiệm, tên tự này lấy từ Kinh Dịch “Hồng Tiệm Ư Lục, Kỳ Vủ Khả Dụng Vi Nhi”
Lục Vũ là tác giả của quyển trà thư nổi tiếng “Trà Kinh”, mà người đời sau xưng tụng ông là “Trà thần”. Vì ông không những là người phê bình lớn, một học giả lớn về trà mà còn là một trà thủ khó ai sánh bằng. Đề thấy rõ tài năng pha trà của ông, có một câu chuyện kể thế này.
Khi Lục Vũ bỏ chùa ra đi lần thứ hai, vị trụ trì chùa Long Cái và cũng là cha nuôi của ông đã không uống trà nữa. Đó là do ông có ai pha trà giỏi như Lục Vũ , và vị trụ trì cũng là một nhân vật nổi tiếng trong giới trà sĩ. Nhà vua muốn thử tài của hai người, xem có đúng như lời đồn hay không? Thế là nhân một dịp Lục Vũ được mời đến gặp vua, ông không cho ai biết vì muốn thử tài hai người và để hai cha con có cơ hội gặp nhau, nhà vua cho mời nhà sư trụ trì đến. Khi mời trà, lẽ dĩ nhiên nhà sư buộc phải dùng. Khi đó vua hỏi “Trà này có pha ngon bằng trà của Lục Hồng Tiệm không?”. Nhà sư nhắm một ngụm rồi đặt tách xuống không nói gì. Đến tách thứ hai, do chính Lục Vũ pha cho khách mà không biết đó là cha mình. Nhà vua thì đợi “lột áo” nhà sư. Nhưng vừa uống xong một ngụm, nhà sư bỗng sáng mắt vui mừng, lên tiếng “Muôn tâu hoàng thượng, tuyệt, tuyệt hảo, Lục vũ chẳng thể nào tài hơn thế được…” Nhà vua cả cười đứng dậy, cho mời Lục Vu ra cho hai cha con gặp mặt.

Trà Trung Hoa có nhiều loại và thay đổi theo thời gian. Vào đời nhà Đường, người Trung Hoa phơi nắng lá và nghiền nhuyễn lá trà để làm nổi bật hương vị của trà. Sau đó, trà được đãi lược, hấp và ép vào khuôn đúc và đặt trong những gian phòng có nhiệt độ cao để sấy khô. Theo Bressett (1998) trà ép khuôn được dùng làm tiền tệ cho một số vùng tại Á Châu như tại Tây Bá Lợi Á, Mông Cổ, Tây Tạng và một số vùng biên giới phía Tây của Trung Hoa. Người Nga sống trong vùng Tây Bá Lợi Á ưa chuộng trà ép khuôn hơn các đồng tiền kim loại vì lợi ích thực dụng của chúng trong việc chữa các bệnh về cảm cúm. Trà ép khuôn có nhiều kích thước và được đóng dấu cho biết giá trị của chúng. Cách dùng trà loại này khác hẳn với cách uống trà ngày nay. Khi pha trà, một phần của bánh trà được bẻ ra, nấu với chút muối tương tự như cách nấu súp. Ðây là cách pha trà của thời kỳ còn sơ khai. Trà khi nấu lên còn được bỏ thêm nhiều gia liệu, hương liệu như: cốm, gạo, vừng, vỏ cam, sữa, chà là và đôi khi cả hành. Trong tác phẩm “Trà Kinh” (Kinh thư của Trà Ðạo), Lục Vũ “một nhà thơ, đệ nhất sứ đồ của Trà Ðạo” sống ở khoảng giữa thế kỷ thứ 8 đã miêu tả cách pha trà bánh (Ðoàn trà) như sau: nước để pha trà tốt nhất là nước sơn tuyền, rồi đến nước sông và các nguồn khác. Người ta đem trà bánh hong trước bếp lửa cho đến khi thật mềm rồi đặt giữa 2 tờ giấy tốt nghiền vụn ra. Khi nước sôi ở độ thứ nhất tức là có những bọt nước nho nhỏ như mắt cá bơi trên mặt nước thì bỏ muối vào. Ðến khi nước sôi độ thứ nhì tức là khi bọt nước trông giống như những hạt châu bằng pha lê lăn đi trong suốt thì bỏ trà vào. Ðến độ sôi thứ ba tức là sóng nước sủi lên sùng sục trong ấm thì đổ một thìa nước lã vào ấm để “trấn” trà và làm cho “nước hồi phục lại nguyên khí” rồi mới rót trà ra thưởng thức.Đời Đường, khu vực sản xuất trà bao gồm Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Lãnh Nam, Phúc Kiến, Kinh Tương và từ đó tới nay vẫn là những địa khu chủ yếu. Theo Chu Trọng Thánh, việc phong thịnh đời Đường bao gồm ba nguyên nhân chính:
– Thứ nhất, thời Đường giao thông đã phát đạt, các phương tiện chuyên chở đã cải tiến nhiều.
– Thứ hai, sau khi cuốn Trà Kinh của Lục Vũ viết ra, phong trào uống trà càng lên cao.
– Thứ ba, thời kỳ đó Phật giáo và Lão giáo hưng thịnh và việc uống trà tại các chùa chiền, miếu mạo rất phổ biến.

tea 02

Giai đoạn 2: sau Đường đến thời Tống:
Trong lịch sử Trung Hoa, hoàng đế Huy Tôn (1082-1135) của nhà Bắc Tống được xem như vị có công lớn trong việc cổ vũ và phát huy một số ngành nghệ thuật như hội họa, thơ văn và uống trà. Bản thân ông là một họa sĩ chuyên vẽ về đề tài hoa điểu, và là một thư pháp gia (calligrapher) nổi tiếng. Ông cũng viết một số bài ca ngợi thú uống trà bột. Ông say mê các ngành nghệ thuật này đến độ không ý thức được việc đế quốc Kim, từ phương Bắc, sắp sửa thôn tính trọn vẹn đất nước của ông.
Mạt trà trở nên thịnh hành, thay thế Ðoàn trà. Người ta bỏ lá trà vào cối đá xay thành bột rồi đem khuấy trong nước sôi bằng một thứ dụng cụ bằng tre tốt có một đầu chẻ ra thành nhiều mảnh. Muối và các hương liệu, gia liệu bị bỏ dần. Cách uống trà này được truyền sang Nhật Bản và phát triển thành một phái Trà Ðạo riêng biệt ở xứ “Mặt trời mọc”.

Traditional Chinese Tea Service

Traditional Chinese Tea Service

Giai đoạn 3: sau thời Tống đến thời Minh – Thanh:
Khi quân Mông Cổ chiếm trọn Trung Hoa và lập ra nhà Nguyên năm 1280, vị trí của trà bị lu mờ, một phần vì thời cuộc và một phần vì những người cai trị mới có sở thích dùng các thức uống của dân du mục Mông Cổ, như rượu sữa kumiss. Đến thời nhà Minh (1368-1644), trà không những được phục hồi vị trí vẻ vang của các thời Đường, Tống, mà còn thăng hoa như một nghệ thuật cao quý. Trong hoàng cung nhà Thanh, trà không những dùng để uống, mà còn được pha tiếp khách nước ngoài. Châu Nguyên Chương (1328-1398), người sáng lập ra nhà Minh, quyết định bỏ hẳn lối sản xuất trà ép khuôn và trà bột vì quy trình sản xuất các loại trà này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. Quyết định này là động cơ thôi thúc các nghệ nhân lò Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây và lò Yixing, tỉnh Giang Tô vẽ ra nhiều kiểu ấm và chén tinh xảo cho cách thức uống trà mới. Trà bột nhường chỗ cho trà có dạng lá tự nhiên và có cách chế biến như ngày nay.
Trà là nét văn hóa đặc thù trong nền văn hóa Trung Hoa, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Ngày nay, những quán trà đậm chất Trung Hoa có mặt ở khắp nơi trên đường phố, các khu thương mại,… Đến với nghệ thuật “ẩm trà”, chúng ta sẽ khám phá được những vùng đất nổi tiếng, phong tục, lễ hội, văn hóa và đời sống cư dân bản địa. Và đặc biệt, ta sẽ không quên những giây phút thư giãn bên tách trà xanh thơm mát, đậm đà.

Chinese Tea Box

Chinese Tea Box

Chinese Tea Box

Chinese Tea Box

Theo Diễn Đàn Văn Hóa Học

 

 

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 

Read Full Post »

Viện bảo tàng lịch sử nghành gốm Cảnh Đức Trấn – hình ảnh – hiện vật trưng bày

jiangxi

Tọa lạc tại Panlongshan trong vùng ngoại ô phía tây của thành phố Cảnh Đức (Jingdezhen) – tỉnh Giang Tây, Viện bảo tàng lịch sử nghành gốm Cảnh Đức Trấn chiếm một khu vực 83 hecta và được xây dựng vào năm 1980.
Viện bảo tàng lưu giử một bộ sưu tập giàu có bao gồm hơn 5000 hiện vật . các hiên vật trưng bày bao gồm gốm sứ trong các triều đại quá khứ, tư liệu lịch sử về gốm sứ, các bộ sưu tập quý giá về tranh vẽ và thư họa, đa phần chất lượng còn tuyệt hảo.
Ngoài sự phong phú của hiện vật trưng bày , nét đẹp kiến trúc cổ kính cũng là điểm thu hút du khách. Kiến trúc cổ chia làm hai khu vực : Minh Viên (Ming garden) và Thanh Viên (Qing garden). Hai khuôn viên này bao gồm khu xưởng gốm cổ, lò nung cổ và các cấu trúc kiến trúc cổ khác trước đây rải rác ở khắp Cảnh Đức Trấn được chính quyền cho phép thu tập về đây.
Gần khu Thanh Viên là một nhóm các xưởng gốm mà gốm sứ đang được sản xuất tại đây. Du khách không chỉ được quan sát quy trình sản xuất và chiêm ngưỡng kỷ thuật chế tác điêu luyện, mà còn có thể tự trải nghiệm. Khách viếng thăm có thể mua bất kỳ sản phẩm gốm sứ nào mà họ thích.
Tháng 10 trong năm là tháng tốt nhất để thăm Viện Bảo Tàng, vì “Lể hội gốm quốc gia tại Cảnh Đức Trấn” hàng năm bắt đầu vào 12 tháng 10 và kéo dài khoảng một tháng.

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Một số mỹ nhân trong lịch sử và văn học Trung Hoa thường được vẽ trên gốm sứ mỹ thuật TQ

the_four_beauties_image0

Tứ đại mỹ nhân, trái qua phải: Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương quý phi

Trên gốm sứ

gom1

gom2

Trên bình phong sơn mài

szcg8333-20090303071556

chinese_ancient_four_beauties

Trên tranh cuộn

 

Tây Thi

Tây Thi

Chiêu Quân

Chiêu Quân

Điêu Thuyền

Điêu Thuyền

Dương quý phi

Dương quý phi

 

Và với sự tái tạo táo bạo của nghệ sĩ vi tính

image

Võ Tắc Thiên
Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đại đế (624 – 705), cổ vãng kim lai duy chỉ có 1 người này. Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cũng có các tiểu nữ hoàng khác từng ngồi trên bảo tọa của hoàng đế, nhưng các quan điểm hiện nay chỉ xem Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất, bởi vì bà lên ngôi hoàng đế bằng chính thực lực của bản thân, không phải là tượng gỗ nghe theo sự điều khiển của kẻ khác.

votacthien

Lạc nhạn Vương Chiêu Quân
Thời Hán Nguyên Đế tại vị, nam bắc giao binh, vùng biên giới không được yên ổn. Hán Nguyên Đến vì an phủ Hung Nô phía bắc, tuyển Chiêu Quân kết duyên với thiền vu Hô Hàn Tà để lưỡng quốc bảo trì hoà hảo vĩnh viễn. Trong một ngày thu cao khí sảng, Chiêu Quân cáo biệt cố thổ, đăng trình về phương bắc. Trên đường đi, tiếng ngựa hí chim hót như xé nát tâm can của nàng; cảm giác bi thương thảm thiết khiến tim nàng thổn thức. Nàng ngồi trên xe ngựa gảy đàn, tấu lên khúc biệt ly bi tráng. Nhạn bay về phương nam nghe thấy tiếng đàn, nhìn thấy thiếu nữ mỹ lệ trên xe ngựa, quên cả vỗ cánh và rơi xuống đất. Từ đó, Chiêu Quân được gọi là “Lạc Nhạn”.
vuongchieuquan

Trầm ngư Tây Thi
Thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, Việt quốc có 1 cô gái giặt áo, ngũ quan đoan chính, phấn diện đào hoa, tướng mạo hơn người. Khi cô giặt áo bên bờ sông, bóng cô soi trên mặt nước sông trong suốt làm cô thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy ảnh cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó,người trong vùng xưng tụng cô là “Trầm Ngư”.

taythix
Trác Văn Quân
của Tư Mã Tương Như thời Hán

tracvanquan

Tiết Đào
Nữ thi nhân thời Đường, người gọi là Nữ Hiệu Thư, từng xướng họa cùng thi nhân nổi tiếng đương thời Nguyên Trẩn, thực lực không thua kém. Tác phẩm tiêu biểu : Ngô Đồng Thi (làm khi mới 8 tuổi)

tietdao

Thượng Quan Uyển Nhi
Cháu gái Thượng Quan Nghị, hiệu xưng là Cân Quốc Thủ Tướng đầu tiên. Thời Đường Cao Tông, cháu gái tể tướng Thượng Quan Nghị là Thượng Quan Uyển Nhi, thông thuộc thi thư, không những biết ngâm thơ viết văn mà còn hiểu biết chuyện xưa nay, thông minh mẫn tiệp dị thường.

thuongquanuyennhi
Thái Diễm
Tức Thái Văn Cơ, con gái của quan Nghị Lang Thái Ung thời Đông Hán
thaidiem1
Tạ Đạo Uẩn
Cháu gái Tạ An, người xuất hiện trong điển “Vịnh Nhứ Tài”.

tadaouan
Hoa Nhị Phu Nhân
Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn từng ngưỡng mộ tài danh của Hoa Nhị Phu Nhân. Hoa Nhị Phu Nhân là Phí Quý Phi của Hậu Thục Hậu Chủ – Mạnh Xưởng, xuất thân là 1 ca kỹ ở Thanh Thành (nay ở phía Đông Nam thành phố Giang Yển). Tương truyền “Hoa Nhị Phu Nhân Cung Từ” có hơn 100 biến, trong đó thật ra chỉ có hơn 90 biến. Khi Tống diệt Hậu Thục, chỉ dùng có 1 vạn quân, 14 vạn quân Hậu Thục không chiến mà hàng, Hoa Nhị Phu Nhân theo Mạnh Xưởng lưu vong về phương bắc, đêm nghỉ ở Gia Minh dịch trạm, cảm hoài nỗi buồn nước mất nhà tan, đề lên vách quán bài “Thái Tang Tử”. Nhưng vì quân kỵ thôi thúc nên bị mất hết một nửa, cứ viết được 1 chữ lại rơi lệ.

hoanhiphunhan
Hầu Phu Nhân
Tùy Dương Đế Dương Quảng tại vị, quảng cáo cao lâu, bắt hàng ngàn thiên hạ mỹ nữ nhốt vào trong đó, Hầu Phu Nhân chính là 1 trong số hàng ngàn cung nữ đó mà suốt cả cuộc đời cũng chưa hề gặp được Tùy Dương Đế, cuối cùng tự ải mà chết.

hauphunhan
Hoa nhượng Dương Quý Phi
Đường Triều Khai Nguyên niên, có một thiếu nữ tên gọi Dương Ngọc Hoàn được tuyển vào cung. Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kềm được, buông lời than thở : “Hoa a, hoa a ! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy ?”. Lời chưa dứt lệ đã tuông rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại Hàm Xú Thảo (cây mắc cỡ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là “Hoa Nhượng”.

duongquiphi
Chân Hoàng Hậu
Sau khi Tào Phi xưng đế, sủng hạnh Quách hoàng hậu, Quách hậu cậy đắc sủng nên gièm pha Chân hoàng hậu, từ đó Chân hoàn hậu thất sủng. Sau khi bị vua bỏ lơ không nói đến, từ “Đường Thượng Hành” có thể đọc thấy được lòng tương tư cực chí của một người vợ đối với trượng phu, một lòng thâm tình vô hối. Sự chờ đợi của Chân hoàng hậu đáng thương cuối cùng chỉ là một tờ giấy chết của Tào Phi. Thậm chí sau khi chết, thi thể phải lấy tóc che mặt, lấy trấu lấp miệng, chịu nỗi khổ vũ nhục và lăng ngược.
chanhoanghau
Bế nguyệt Điêu Thuyền
Điêu Thuyền bái nguyệt ở hậu hoa viên của Tư Đồ Vương Doãn, đại thần của Hán Hiến Đế thời Tam Quốc, đột nhiên có một cơn gió nhẹ thổi đến, một vầng mây trôi che khuất mặt trăng. Đúng lúc đó, Vương Doãn bước ra nhìn thấy. Để khen con gái nuôi mình xinh đẹp như thế nào, Vương Doãn thường nói với mọi người rằng con gái mình đẹp đến nổi trăng sáng nhìn thấy cũng phải trốn vào sau lưng mây. Vì vậy, Điêu Thuyền được mọi người xưng tụng là “Bế Nguyệt”.

dieuthuyen
Ban Tiệp Dư
Ban Tiệp Dư là con nhà danh môn, còn trẻ đã học thành tài, thời Hán Thành Đế được lập làm Tiệp Dư. Chị em Triệu Phi Yến sau khi đắc sủng, ganh ghét tài năng phẩm hạnh của Ban Tiệp Dư, Ban Tiệp Dư ngày đêm lo sợ nên xin theo hầu thái hậu ở cung Trường Tín. Có thể bài “Đoàn Phiến Thi” được sáng tác tại cung Trường Tín, bài thơ nhỏ này dùng từ thái mới mẻ, tình như ai oán, biểu hiện thật ủy uyển hàm súc, có một loại khí độ oán mà không giận.

bantiepdu1

Ban Chiêu
Em gái của Ban Cố, Ban Siêu. Ban Cố soạn Hán Thư, bộ sử nối tiếp Sử Ký của Tư Mã Thiên, Hán Thư chưa kịp hoàn thành thì Ban Cố bị Lạc Dương Lệnh hãm hại mà chết, Ban Chiêu giúp anh hoàn tất phần “Thiên Văn Chí” trong Hán Thư.
banchieu

Trần viên Viên

Cuối đời nhà Minh, thời Sùng Trinh hoàng đế.

tranvienvien

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC


Read Full Post »