Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘kim tự tháp Ai cập’

Kim Tự Tháp Ai Cập

 

Biên khảo: Đức Chính

Bài 5: Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ

Kim Tự Tháp là một đặc trưng văn hóa cổ Ai Cập, thế nhưng nhiều nơi trên thế giới cũng có những công trình được người ta gọi là Kim Tự Tháp: nổi tiếng nhất là vùng Trung và Nam Mỹ kỳ bí của thổ dân xứ này. Có thực sự nền văn minh Ai Cập đã sớm truyền bá qua Nam Mỹ trước thời Colombo? Những kiến trúc này có nguồn gốc từ đâu? Vấn đề vẫn là câu hỏi lớn thách thức các nhà nghiên cứu.

Ở châu Mỹ Kim Tự Tháp xuất hiện nhiều ở vùng Trung Mỹ và một ít ở Nam Mỹ. Hai dân tộc vùng Trung Mỹ đã xây dựng nhiều Kim Tự Tháp nhất là dân tộc Mayas và dân tộc Artez. Cả hai dân tộc này có nền văn hóa rất phong phú, thiên về tín ngưỡng và thiên văn học. Sơ bộ có thể liệt kê các Kim Tự Tháp vùng Trung Mỹ: Kim Tự Tháp ở Altun Ha (người Mayas), Kim Tự Tháp Caana ở Caracol (người Mayas), Kim Tự Tháp Wooden Lintel ở Caracol (người Mayas), Kim Tự Tháp High Temple ở Lamanai (người Mayas), Kim Tự Tháp Temple of the Jaguar ở Lamanai (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Lubaantun (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Nim Li Punit (người Mayas), Kim Tự Tháp El Castillo ở Xunantunich (người Mayas), Kim Tự Tháp the Bell ở San Andrés (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Tazumal (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Aguateca (người Mayas), Kim Tự Tháp LD-49 ở Dos Pilas (người Mayas), Kim Tự Tháp El Duende ở Dos Pilas (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Kaminaljuyu (người Mayas), Kim Tự Tháp La Danta ở El Mirador (người Mayas), Kim Tự Tháp El Tigre ở El Mirador (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Mixco Viejo (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Tikal (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Copán (người Mayas), Kim Tự Tháp Temple of the Murals ở Bonampak (người Mayas), Kim Tự Tháp Lớn ở Calakmul (người Mayas), Kim Tự Tháp El Castillo ở Chichen Itza (người Mayas), Kim Tự Tháp Lớn ở Cholula (người Xelhua), Kim Tự Tháp The Nohoch Mul ở Coba (người Mayas), Kim Tự Tháp La Iglesia ở Coba (người Mayas), Kim Tự Tháp Crossroads Temple ở Coba (người Mayas), Kim Tự Tháp Niches ở El Tajín (người Veracruz), Kim Tự Tháp Lớn ở La Venta (người Olmec), Kim Tự Tháp Temple of the Cross ở Palenque (người Mayas), Kim Tự Tháp Temple of the Inscriptions ở Palenque (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Santa Cecilia Acatitlan (người Aztec), Kim Tự Tháp ở Tenayuca (người Aztec), Kim Tự Tháp Templo Mayor ở Tenochtitlan (người Aztec), Kim Tự Tháp ở Tenochtitlan (người Aztec), Kim Tự Tháp Mặt trời ở Teotihuacan (người Teotihuacano), Kim Tự Tháp Mặt trăng ở Teotihuacan (người Teotihuacano), Kim Tự Tháp ở El Tepozteco (người Aztec), Kim Tự Tháp ở Tula, Hidalgo (người Toltec), Kim Tự Tháp Magicia ở Uxmal (người Mayas), Kim Tự Tháp Lớn ở Uxmal (người Mayas), …

Về cơ bản có thể thấy Kim Tự Tháp Nam Mỹ có những khác biệt:

– Kim Tự Tháp Ai Cập đa số hình chóp nhọn, còn Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ phần nhiều là bậc thang;

– Mô típ trang trí trong Kim Tự Tháp Ai Cập thiên về “Tử Thư”, tức mô tả các hình ảnh thế giới của người chết và cách vãng sinh. Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ sử dụng những mô típ có chủ đề thế giới thần linh và sáng thế.

– Kim Tự Tháp Ai Cập là một lăng mộ của một vị Pharaoh, Kim Tự Tháp Nam Mỹ là nơi tiến hành lễ nghi tôn giáo hay phục vụ mục đích thiên văn. Dù rằng quanh chúng cũng tìm thấy một số mộ táng nhưng không có dấu vết chứng tỏ là lăng tẩm vương hầu[1], ngược lại có dấu hiệu nghi vấn đó là những người bị đem tế thần.

Thoáng nhìn, cả hai loại Kim Tự Tháp gần như giống nhau. Nhưng thực sự chúng có những cốt lõi khá cách biệt nếu nghiên cứu sâu. Một vài ví dụ về sự khác biệt về kiến trúc này. Người Mayas và người Artez có nhiều Kim Tự Tháp, nhưng nổi tiếng lại là Kim Tự Tháp Mặt trời và Kim Tự Tháp Mặt trăng Teotihuacan của người Teotihuacano.

Kim Tự Tháp Mặt trời ở Teotihuacan là Kim Tự Tháp có hai bậc thang lớn nhất vùng Trung Mỹ, cao 71,2 m và chu vi đáy 893,9 m. Nó được xây dựng vào khoảng năm 100 sau Công nguyên dùng để thờ Thần Rắn Lông Vũ (Feathered Serpent), nhưng đã bỏ hoang phế nhiều thế kỷ.

Thần Rắn Lông Vũ được nhiều dân tộc vùng Trung Mỹ tôn thờ. Không rõ người Teotihuacano gọi là gì, còn người Artez gọi là Quetzalcoatl, người Mayas gọi là Kukulcan, người Quiche là Gukumatz, … Nhưng văn hóa tín ngưỡng mỗi dân tộc về vị thần này có khác nhau. Người Teotihuacano coi là thần Mặt trời cai quản Trái đất và cuộc sống; người Artez tin Thần chủ về sự sống, gió và sự mọc lên của tinh tú (thần Mặt trời là Tonatiuh). Người Olmec (không rõ gọi là gì và chủ về việc gì) xếp vào hạng thần thứ 7 xuất hiện trên bức bia chạm ở Kim Tự Tháp La Venta (bên dưới có hình một người được hình dung là phi công vũ trụ); người Mayas cho rằng Thần Sáng tạo dạy họ luật lệ, làm ruộng, săn bắn và đánh cá (thần Mặt trời tên là Kinich Ahau);  …

Kim Tự Tháp Mặt trăng ở Teotihuacan là Kim Tự Tháp lớn hàng thứ 2, sau Kim Tự Tháp Mặt trời và có sau khoảng 200 năm. Nó cũng là Kim Tự Tháp bậc thang, được xây dựng để thờ đại nữ thần Teotihuacan; vị thần chủ về nước, sự phì nhiêu, đất đai và sự sinh sản (nói chung chủ về nông nghiệp).

Kim Tự Tháp Tazumal ở El Salvador, Trung Mỹ, là Kim Tự Tháp cụt ngọn nấc thang nằm ở vùng ngoại ô thành phố Chalchuapa, cách thủ đô San Salvador 78 km. Kim Tự Tháp này còn nhiều bí ẩn và vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu.

 

Kim Tự Tháp Tikal ở Guatemala, Trung Mỹ. Đây cũng là Kim Tự Tháp bậc thang chóp bằng, gồm hai kiến trúc: kiến trúc phía Bắc nằm ở vị trí Mặt trời mọc vào ngày xuân phân, phía Nam ở vị trí của ngày Đông Chí. Phát hiện cho thấy đây là một đài quan sát thiên văn, không loại trừ hoạt động này phục vụ cho một nhu cầu tín ngưỡng.

Kim Tự Tháp Pachacamac ở Peru, Nam Mỹ. Kiến trúc này xây bằng gạch phơi (không nung) của người Ichimay. Nó được xây dựng phục vụ một tôn giáo thần bí của dân tộc này.

*****

Nhiều nhà nghiên cứu cho đó là biến thể của Kim Tự Tháp Ai Cập khi truyền bá qua Nam Mỹ, lập luận của họ cho rằng: khi Kim Tự Tháp truyền bá đi xứ khác, nó không còn là lăng mộ nữa, mà là đền đài tưởng niệm đất tổ. Trên một góc độ nào đó quả Kim Tự Tháp ở ngoài Ai Cập là những đền đài tôn giáo dành cho thứ tín ngưỡng thần bí mật truyền. Hiện tượng này giống như hình thái tín ngưỡng thờ vọng của người Việt.

Thế nhưng giả thuyết này cũng khó đứng vững, chí ít đối với một số Kim Tự Tháp ở Trung Mỹ. Chúng ta biết Kim Tự Tháp ở Nam Mỹ là nơi tổ chức các buổi lễ tôn giáo; nếu là di sản của Ai Cập cổ đại truyền sang thì yếu tố tâm linh và văn hóa phải in đậm trong các di chỉ này, nếu không nói là căn cơ cho tín ngưỡng thổ dân Nam Mỹ.

Như đã khái quát ở trên, các nét đặc thù và cơ bản của Ai Cập cổ đại không hề thấy. Đi sâu hơn, chúng ta khảo sát một vài khía cạnh về văn hóa tín ngưỡng của cả hai vùng.

5-1. – nghiên cứu về các hệ thần giữa Ai cập và các dân tộc bản địa Châu Mỹ

Về góc độ này, nét tổng quan rất giống nhau và cũng giống các nền văn minh cổ đạo khác: thờ đa thần theo tín ngưỡng saman. Người Ai Cập và người Mayas, người Artez đều tin vua của họ do Trời phái xuống. Đây không là điều đặc biệt, có thể nói là tính phổ quát của loài người thời xa xưa, Trung Hoa cổ đại cũng không ngoại lệ.

Một điểm rất chung trong hệ thần của các dân tộc này: cùng thờ thần Mặt trời. Người Ai Cập gọi vị thần này với nhiều tên (tùy theo thời khắc trong ngày) nhưng phổ biến nhất là “Thần Ra” (bán nhân thần mình người đầu chim) cỡi chiếc xe Mặt trời đi qua bầu trời; còn thần Mặt trời của các thổ dân Châu Mỹ có tên như đã trình bày ở trên. Nếu như thần Ra là một vị thần quan trọng theo quan niệm của Ai Cập cổ đại, Thần Mặt trời của thổ dân Châu Mỹ khiêm tốn hơn. Với các thổ dân Châu Mỹ, vị thần tối cao được cho có hình dáng con người và từ bên ngoài Trái đất đi đến. Thần Mặt trời chỉ là một trong những vị thần do Thần Tối Cao sáng tạo ra.

Đặc biệt hình tượng Nhân sư đặc thù của Ai Cập không hề thấy ở Trung và Nam Mỹ. Nếu là kế thừa nền văn minh Ai Cập, yếu tố này không thể thiếu sót. Chẳng hạn như những bức tượng sư tử ở Cam-bốt là thần vật không thể thiếu khi du nhập nền văn minh Nam Ấn; hay trường hợp bò thần Nandi ở người Chăm Bà-la-môn cũng vậy.

Yếu tố quan trọng khác: Nền tảng của các dòng tín ngưỡng luôn lấy sự khai thiên lập địa để xây dựng các vị thần. Chúng ta thấy khái niệm sáng thế của người Ai Cập mang nhiều tính triết lý.

Thuở hồng hoang, đất nước Ai Cập chìm trong tối tăm và phủ đầy nước, toàn bộ những thứ đó gọi là nun.  Từ nun một năng lực thoát ra tạo thành một quả trứng. Quả trứng đó nở ra thần Ra. Thần Ra có quyền lực bao trùm trời đất và hóa thân được thành nhiều thứ và ở mỗi trạng thái đó thần có một tên riêng.

Đầu tiên hóa thân ra gió, gọi là thần Shu; sau hóa thân ra mưa (thần Tefnut), ra đất đai (thần Geb),  ra bầu trời (thần Nut), ra sông ngòi (thần Hapi), … cuối cùng mới hóa thân ra con người, tạo ra nam và nữ để sinh sôi, và thần là Pharaih đầu tiên.

Truyền thuyết này khiến ta nhớ đến vũ trụ quan của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh: thưở ban đầu là một mớ hỗn độ, ở đó sinh ra “đạo”, đạo sinh âm dương, âm dương sinh ra vạn vật trong đó có con người.

Truyền thuyết sáng thế của các dân tộc bản địa Châu Mỹ thì giống Kinh Thánh của Cơ Đốc giáo một cách kỳ lạ.

Người Mayas: truyền thuyết sáng thế Popol Vuh của người Mayas cho rằng các vị thần từ cõi khác bên ngoài Trái đất đến xứ sở này để gieo mầm sống. Con người do các vị thần đó tạo ra theo hình hài của chư thần, được ban cho các năng lực của chư thần và cùng chung sống với chư thần một thời gian dài. Sau vì sợ con người chống lại, chư thần tiêu diệt đi và tái tạo lại với đẳng cấp thấp hơn.

Người Artez: thưở ban đầu chỉ có hai vị thần: thần ánh sáng Quetzalcoatl và thần bóng tối Tezcatlipoca cùng sống trên trời và bên dưới hai thần chỉ toàn là nước. Ở vùng nước đó có nữ thần khổng lồ rất nhiều miệng, ăn tất cả những gì nữ thần bắt gặp. Hai thần liền hóa thành con rắn hau đầu đi xuống nơi đó. Một thần nắm lấy tay, một thần nắm lấy chân, bẻ đôi nữ thần đó. Phần đầu và vai nữ thần hóa thành Trái đất, phần còn lại hóa thành bầu trời. Liền sau đó hai thần tạo ra sông ngòi, cây cỏ, chim thú và con người.

Thần thoại sáng thế của thổ dân Châu Mỹ chỉ có thần thoại của dân tộc Incas hơi giống với người Ai Cập về mặt có một vị thần tự sinh ra; nhưng có nhiều chi tiết giống với các dân tộc bản địa khác.

Người Incas: truyền thuyết kể tại hồ Collasuyu (nay gọi là hồ Titicaca), xuất hiện vị thần tên lả Con Tiqui Viracocha, đã sáng tạo ra con người giống như hình dáng của thần từ khối đá và tạo ra phụ nữ để sinh sản. Sau đó thần Con Tiqui mới tạo ra Mặt trời (Inti), Mặt trăng và các tinh tú để soi sáng thế gian; lại ban cho con người quyền năng như thần và muôn vật để sinh sống. Về sau người Inca quên công ơn của thần và nổi loạn. Thần Con Tiqui làm cho hạn hán, dân chúng điêu linh. Thương loài người thần hóa thân thành thần Pachacamac cứu giúp nhưng tước hết quyền phép khi xưa.

5-2.- Sự khác biệt về lịch pháp

Sự chuyển dịch văn minh qua khu vực khác có một đặc điểm rất thú vị: hệ lịch pháp thường được giữ nguyên, nếu có thay đổi thay đổi rất ít. Điều này có nhiều chứng cứ cụ thể: lịch Trung Hoa truyền sang Việt Nam gần như không có thay đổi dù vị trí quan sát đường hoàng đạo có khác. Tương tự, dân tộc Chăm  tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ cùng với hệ lịch của đất nước này. Bởi vậy, nếu nền văn minh Ai cập cổ truyền bá qua Nam Mỹ bằng con đường nào đó, hệ lịch của người Ai Cập ít nhất phải là nền cho hệ lịch pháp các dân tộc bản địa ở Trung và Nam Mỹ.

Thực tế hệ lịch pháp của Ai Cập và Trung Mỹ khác biệt nhau rất lớn. Tuy cùng theo hệ Mặt trời để tính lịch nhưng các hệ lịch này lấy sao chuẩn, cách chia tháng, … đều khác nhau. Đặc biệt lịch của các dân tộc bản địa Châu Mỹ đậm nét thiên văn học, còn của Ai Cập nặng về thời tiết lưu vực sông Nil. Lịch pháp Ai Cập tuy có dựa vào các thiên thể, nhưng đối chiếu và lấy thời vụ làm chuẩn; còn hệ lịch thổ dân Châu Mỹ dựa vào các chu kỳ xoay vần cỉa các thiên thể mà tính toán. Chính vì thế mà chúng ta sẽ chứng kiến một bộ lịch Dài của người Mayas.

5-2-1.- Lịch pháp Ai Cập cổ đại

Người Ai Cập cổ đại dùng hệ lịch theo Mặt trời (Dương lịch), lấy chuẩn là sao Thiên lang (sirius) để tính toán. Ngày bắt đầu một năm là ngày sao này mọc lên ở phương Tây lúc Mặt trời mọc sau nhiều tháng lặn mất. Vào thời Vương triều thứ 1 (3000 trước Công nguyên), người Ai Cập sử dụng âm dương lịch: dùng Mặt trăng xác định số ngày trong tháng tháng và lấy sự luân chuyển của sao Thiên lang (sirus) để tính số ngày trong năm. Tương tự như hệ âm lịch của Việt Nam, một thời gian sau lịch và mùa tiết bị chênh lệch, họ bổ sung vào tháng nhuận để cân bằng lại[1]. Đồng thời, cơn lũ hàng năm của sông Nil trùng hợp với sự xuất hiện của sao Sirius, nên mùa đầu năm được chọn là mùa akhet (lụt lội). Sự chênh lệch giữa lịch và thời tiết sẽ theo đó điều chỉnh mà thêm vào tháng nhuận.

Về sau họ chuyển qua hệ dương lịch[2]. Họ chia mỗi năm ra làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày và 5 ngày lẻ vào cuối năm (như vậy thiếu ¼ ngày theo lịch tự nhiên). Mỗi tháng lại chia làm 3 tuần, mỗi tuần có 10 ngày. Đến triều đại Ptolemy (vào năm 238 trước Công nguyên) mới có chỉ dụ đến năm thứ 4 cộng thêm 1 ngày (366 ngày). Và hệ lịch này truyền qua Phương Tây, thông qua Hy Lạp, cải biến dần thành hệ dương lịch ngày nay.

Dựa theo mùa tiết, mỗi năm chia làm ba mùa: akhet (lụt lội), peret (trồng tỉa) và shemu (thu hoạch); tức có 4 tháng mùa akhet (lụt lội), 4 tháng mùa peret (trồng tỉa) và 4 tháng mùa shemu (thu hoạch). Theo đó có tên gọi tháng giêng là tháng thứ nhất mùa akhet, … tháng 5 là tháng thứ nhất mùa peret, … tháng 9 là tháng thứ nhất mùa shemu.

5-2-2.- Lịch pháp của người Mayas và Incas

Người Mayas có ba hệ lịch pháp: Haab’, Tzolk’in và hệ Lịch Dài. Hệ lịch pháp Dài có chu kỳ lịch rất dài, chu kỳ hiện tại đến ngày 21 tháng 12 năm 2012 mới kết thúc. Hệ lịch Dài dùng theo nhị thập phân (cơ số 20), các nhà nghiên cứu dựa vào đó tính toán thì ngày khởi đầu của chu kỳ hệ lịch này là ngày 11 tháng 8 năm 3114 trước Công nguyên (dài khủng khiếp)[3]. Hai chu kỳ còn lại chia mỗi “vòng lịch” dài 52 năm.

Lịch pháp Tzolk’in (có nghĩa là “đếm ngày”) được người Mayas dùng phổ biến nhất, nên có thể coi là hệ lịch cơ bản của dân tộc này. Tzolk’in có hai chu kỳ lịch: chu kỳ lịch thường và chu kỳ lịch tôn giáo. Chu kỳ lịch thường  dùng trong đời sống xã hội; còn chu kỳ lịch tôn giáo dành cho các tu sĩ thực hiện các lễ nghi tôn giáo. Chu kỳ lịch thường có 365 ngày, lịch tôn giáo có 260 ngày. Chính vì hai chu kỳ lịch có sai số ngày như thế nên cứ 52 năm trùng lặp với nhau 1 lần, tạo thành một vòng lịch (tạm gọi là “thế kỷ”).

Mỗi năm có 20 tháng, mỗi tháng có 18 ngày và 5 ngày lẻ không tính vào tháng nào cả. Các tháng có tên như sau:

 

Bộ lịch này có liên quan mật thiết với cuốn Kinh Thư Dresden của người Mayas. Cuốn kinh thư này ngoài giá trị văn hóa tín ngưỡng, còn là một thư tịch cổ về thiên văn đáng kinh ngạc. Dựa vào kiến thức trong cuốn sách này các tu sĩ người Mayas đã tiên đoán được lần nhật thực ngày 11 tháng 7 năm 1991 từ năm 755 sau Công nguyên rồi.

Lịch của người Incas cũng tương tự với “vòng lịch” 52 năm. Nhưng lịch của người Incas dựa trên sự quan sát Mặt trời và Mặt trăng cùng với những tương quan các vì tinh tú khác chia mỗi năm thành 12 tháng. Do thiếu ¼ ngày mỗi năm, lịch của người Incas thêm vào một tháng trăng vào năm thứ 3 (tức có 13 tháng trăng thay vì 12 tháng như bình thường) giống như hệ lịch của Việt Nam (nhưng cách tính tháng nhuận của Việt Nam có khác: dựa vào trung khí).

5-2-3.- Lịch pháp của người Aztec

Di chỉ quan trọng nhất dung để nghiện cứu hệ lịch pháp của người Aztec là Khối đá Mặt trời (Sun Stone) hiện đang bảo tồn ở Viện Bảo tàng Nhân chùng học và Lịch sử (National Museum of Anthropology and History), tại Công viên Chapultepec, thành phố Mexico. Nó được phát hiện trong cuộc khai quật “Zocalo”, thành phố Mexico, vào ngày 17 tháng 12 năm 1790, do công của Hầu tước Tây Ban Nha Cruillas.

Theo nghiên cứu khối đá này gọi là “Cuauhxicalli”, có nghĩa là “cái chén chim ưng”, do vị quân vương Artez thứ 6 tạo tác vào khoảng năm 1479 để kính thờ thần Mặt trời. Nó nặng 25 tấn, đường kính 12 feet và dày 3 feet, vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng vừa có ý nghĩa thiên văn.

Tương tự như của người Mayas, hệ lịch pháp này có hai chu kỳ: chu kỳ lịch thường 365 ngày và chu kỳ lịch tôn giáo 260 ngày. Chu kỳ lịch thường, gọi là “Xiuhmolpilli”,  dùng trong đời sống xã hội; còn chu kỳ lịch tôn giáo gọi là “Tonalpohualli”, dành cho các tu sĩ thực hiện các lễ nghi tôn giáo.

Cả hai chu kỳ này hợp thành một “vòng lịch”, đơn giản tạm gọi là “thế kỷ”, với 52 năm. Năm bắt đầu vào ngày chòm sao Bắc đầu (Pleiades) xuất hiện ở hướng Đông trước khi trời rạng sáng. Mỗi năm có 18 tháng, mỗi tháng có một tên gọi riêng và 5 ngày lẻ không nằm trong tháng nào.

Số

 Tên tháng

Thần bảo hộ và nghi lễ

  I.  Atlacacauallo (cạn nước)   Thần: Tlaloc, ChachihutlicueTrẻ em cúng Thần nước
 II.  Tlacaxipehualiztli (lột da)  Thần: Xipe-TotecLễ đấu sĩ; các thầy phù thủy đội da đầu người nhảy múa.
 III.  Tozoztontli (lễ vọng nhỏ)  Thần: Coatlicue, TlalocTrẻ em khoác da lột làm lễ
 IV.  Hueytozoztli (Lễ vọng lớn)  Thần: Centeotl, ChicomecacoatlThiếu nữ làm lễ cầu mùa màng bội thu
 V.  Toxcatl (Khô hạn)  Thần: Tezcatlipoca, HuitzilopochtliNgười đóng vai thần làm lễ
 VI.  Etzalcualiztli (món bắp đậu)  Thần: TlaloquesNgười đóng vai thần Nước làm lễ; nghi lễ tắm và nhảy múa
 VII.  Tecuilhuitontli (bữa tiệc nhỏ của Thượng đế)  Thần: Huixtocihuatl, XochipilliNgười đóng vai thần làm lễ; theo nghi thức người làm ruộng muối
 VIII.  Hueytecuihutli (bữa tiệc lớn của Thượng đế)  Thần: XilonenTiệc cho nữ thần bắp, thần mang tài vật cho mọi người
 IX.  Tlaxochimaco (ra hoa)  Thần: HuizilopochtliDâng các vòng hoa cho chư thần; ăn mừng với bánh bắp và gà tây
 X.  Xocotlhuetzin (rụng quả)Hueymiccaihuitl (tiệc lớn cho người chết: cúng cô hồn)  Thần: XiuhtecuhtliCeremonial pole climbing competition

Cúng thần lửa bằng cách thiêu sống một người

 XI.  Ochpaniztli (quét dọn)  Thần: TlazolteotlQuét nhà quét đường; đánh trận giả
 XII.  Teoleco (rước thần)  Thần: TezcatlipocaLễ mừng chu thần xuống trái đất; uống rượu và đốt lửa cúng
 XIII.  Tepeihuitl (tiệc núi rừng)  Thần: TlalocLễ thần mưa trên núi; đàn ông làm lễ và ăn thịt người
 XIV.  Quecholli (mùa săn)  Thần: Mixcoatl-CamaxtliDiễn nghi thức đi săn; làm lễ săn bắn và mở tiệc
 XV.  Panquetzaliztli (dựng cờ)  Thần: HuitzilopochtliDán giấy vào người và cây ăn quả; thi rước lễ; cúng tế lớn
 XVI.  Atemoztli (mưa xuống)  Thần: TlalocHội mừng thần Nước; hy tế trẻ con và nô lệ
 XVII.  Tititl (đảo vũ)  Thần: LlamatecuhtliLàm phù thuật cầu mưa xuống; phụ nữ bị đánh bằng những chiếc túi nhồi đầy rơm cho đến khi bật khóc
 XVIII.  Izcalli (resuscitation)  Thần: XiuhtecuhtliHình tượng thần làm bằng bột nhão cây dền; mở tiệc bánh ngô tamal nhồi rau củ
 Nemontemi (ngày xấu)  Có 5 ngày xấu không tính vào tháng nào, không có nghi lễ tín ngưỡng vào những ngày này.

Mỗi tháng có 20 ngày được đánh số theo thứ tự và có từng tên riêng.

 

Ngày thứ 1 gọi là “Coatl” (con rắn), thứ 2 gọi là “Cuetzpallin” (thằn lằn), thứ 3 gọi là “Calli” (căn nhà), thứ 4 gọi là “Ehecatl” (gió), thứ 5 gọi là “Cipactli” (cá sấu), thứ 6 gọi là “Xochitl” (hoa), thứ 7 gọi là “Quiahuitl” (mưa), thứ 8 gọi là “Tecpatl” (đá lửa), thứ 9 gọi là “Ollin” (chuyển động), thứ 10 gọi là “Cozcacuauhtli” (kên kên), thứ 11 gọi là “Cuauhtle” (chim ó), thứ 12 gọi là “Ocelotl” (báo đốm), thứ 13 gọi là “Acatl” (dây mây), thứ 14 gọi là “Malinalli” (cỏ), thứ 15 gọi là “Ozomatli” (con khỉ), thứ 16 gọi là “Itzquintli” (chó trụi lông), thứ 17 gọi là “Atl” (nước), thứ 18 gọi là “Tochtli” (thỏ rừng), thứ 19 gọi là “Mazatl” (hươu nai), và thứ 20 gọi là “Miquiztli” (đầu lâu),

5-3.- Vấn đề ướp xác và các yếu tố văn hóa khác

Kim Tự Tháp Ai Cập gắn liền với nghệ thuật ướp xác của họ. Nếu như Kim Tự Tháp ở Trung và Nam Mỹ kế thừa từ nền văn minh Ai Cập cổ đại, kỹ thuật ướp xác phải có mang tính “đại đồng tiểu dị” (cơ bản giống nhau, chỉ khác ở chi tiết nhỏ). Thế nhưng vấn đề ướp xác của hai vùng đất này rất khác xa nhau.

Người Ai Cập cổ đại rất ưa ướp xác. Ngoài những xác ướp con người, họ còn ướp xác cả thú vật như mèo, cá sấu, …

Trườc tiên, người Ai Cập mổ banh bụng lấy hết ngũ tạng ra, não cũng lấy ra khỏi đầu. Sau đó họ ướp tẩm thi hài với một vài loại muối natri và diêm tiêu (natron). Rồi dùng vải liệm quấn vào thi hài đem hong khô cho tới khi chất dịch thoát ra bám vào vải liệm. Lớp vải đó được tháo ra, rửa sạch thi hàu và phét vào đó một vài loại nhựa cây như nhựa thông chẳng hạn. Các hố bụng được nhét thêm vải xé xơ để bảo vệ hình dạng, rồi quấn vải lại, phết thêm bên ngoài một vài loại nhựa thơm chiết từ cây cỏ.

Các dân tộc bản địa vùng trung Mỹ không phổ biến ướp xác như người Ai Cập cổ đại và các Kim Tự Tháp của họ không có dấu vết chứng tỏ từng là nơi yên nghỉ của xác ướp. Tuy thế, người ta cũng tìm thấy một số xác ướp vùng này, nổi tiếng là xác ướp Chinchorro.

Xác ướp Chinchorro được cắt lìa tay chân và đầu khỏi thân mình, cũng moi hết nội tạng ra và nhồi vào đó là các xơ thực vật hay lông thú. Sau cùng mới ráp lại thành xác ướp. Bên ngoài không quấn vải như xác ướp Ai Cập, mà tùy theo trường hợp họ phủ lên một chất bảo vệ rồi hong khô. Có hai trường hợp: xác ướp đen và xác ướp đỏ. Xác ướp đen là xác ướp sau khi xử lý sẽ được phết một lớp bột tro nhão, còn xác ướp đỏ được phết bằng đất hoàng thổ đỏ. Sau đó là quá trình hong khô để xác ướp không bị phân hủy.

Theo National Geographic, ngày 16 tháng 4 năm 2010, người ta tìm thấy một xác ướp ở vùng sa mạc phía bắc của Chi-lê theo hình dưới đây:

Xác ướp này thuộc nền văn hóa Chinchorro, được đánh giá cách nay 5000-3000 năm trước Công nguyên (theo phương pháp carbon phóng xạ).

*****

Ngoài chuyện này, thổ dân Châu Mỹ còn có tục lệ săn và thờ đầu người (sọ thật hay được chế tác bằng vật liệu) hoàn toàn xa lạ với nền văn minh Ai Cập cổ đại. Tập tục này không những mang yếu tố tính ngưỡng mà còn hàm chứa một bí thuật hết sức kỳ lạ,

Thứ nhất là chuyện những chiếc sọ dài của người Inca.

Thông tin về những chiếc sọ dài không nhiều. Có điều về mặt nhân chủng học cho thấy không thuộc giống người hay vượn người nào cả; có giả thuyết đặt ra là do tác động cố ý của con người làm biến dạng. Nhưng với kỹ thuật “kéo dài vòm sọ” nào thì hiện chưa có câu trả lời. Câu hỏi thứ hai: chiếc sọ có vai trò thế nào đối với người Inca thời xưa cũng còn là một bí ẩn.

Chuyện thứ hai là những chiếc sọ tinh thể. Đây không phải là chiếc sọ thật, mà là chiếc sọ do người Mayas chế tác từ tinh thể thạch anh. Kích thước của chúng cũng không đều nhau: có chiếc chỉ đường kính non 1 tấc, nhưng có những chiếc to như thật hay to hơn. Các nghiên cứu cho thấy chúng có liên quan đến bộ Lịch Dài của dân tộc này.

Họ sắp xếp các chiếc sọ này theo “nguyên tắc 12 quanh 1” (12 chiếc sọ trên một vòng tròn và ở giữa có một chiếc sọ khác). Chiếc sọ chính giữa tượng trưng cho Trái đất và 12 chiếc sọ xung quanh cho 12 vị trí thời tiết. Có điểm lạ là người Mayas chia năm làm 18 tháng nhưng cách bố trí này có hình tượng như 12 tháng.

 

Vị trí 12 chiếc sọ ở vòng ngoài này nằm trên đường Hoàng đạo và biểu trưng cho 12 tiết khí trong năm; trong đó có 4 tiết khí chính: xuân phân, thu phân, hạ chí, và đông chí. Việc này hoàn toàn đáng tin cậy vì một số Kim Tự Tháp của người Mayas được bố trí để quan sát và xác định ngày của 4 tiết khí này. Trong thiên văn học của Au Cập cổ đại út quan tâm đến điều này, vì thế họ mới chia năm ra làm 3 mùa.

*****

Cả hai vùng (Ai Cập và Trung Mỹ) đều có tạo tác ra mặt nạ tín ngưỡng. Với người Ai Cập đó là thứ bùa hộ mạng cho người chết đi về cõi vĩnh hằng (đeo cho xác ướp, chủ yếu dành cho các Pharaoh), thì với thổ dân Châu Mỹ là thần vật giúp giao tiếp thần linh (họ dùng khi có lễ tế thần, và chỉ vị phù thủy mới đeo).

Loại mặt nạ thần vật của người bản địa Châu Mỹ còn được phát triển thành các trụ Totem dựng ở các nơi nhằm bảo hộ cho họ trước các thế lực huyền bí đen tối. Các trụ này hay chon ở ven làng hay những nơi họ cảm giác sợ hãi vì tin có ma quỷ.

Những yếu tố trên chưa đủ để khẳng định hoàn toàn thuyết phục bản chất phi Ai Cập của Kim Tự Tháp ở Trung và Nam Mỹ. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó cũng thấy có nhiều điểm không tương đồng mang tính nền tảng. Tôi không dám kết luận vấn đề, chỉ nêu lên một thiển kiến: Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ là những đền miếu mang dáng dấp Kim Tự Tháp chứ không phải là phoe6n bản đúng nghĩa như của Kim Tự Tháp Ai Cập.

(Hết)

*****************************************************************************

[1] Trừ một số ít vua Mayas thời kỳ đầu chôn dưới Kim Tự Tháp (chứ không ướp xac. Nhưng về sau người Mayas theo tục hỏa táng. Chứng tỏ Kim Tự Tháp lăng mộ không là tín ngưỡng của họ.

[1] Với lịch sử trước Công nguyên 3000, có thể liên tưởng lịch cổ của người Trung Hoa kế thừa từ nền văn minh Ai Cập.

[2] . Các nhà nghiên cứu cho rằng hệ lịch pháp này có thể có từ trước năm 2400 trước Công nguyên.

[3] Dựa vào điều này nhiều tin đồn cho rằng vào ngày này sẽ tận thế vì hết lịch. Thực ra đó là sự kết thúc một chu kỳ lịch và nối tiếp chu kỳ lịch mới theo tính toân của người Mayas.

 

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 4: Chuyện bên lề Kim Tự Tháp Ai Cập

Biên khảo: Đức Chính

2.- Lời nguyền Pharaoh

Lời nguyền Pharaoh (còn gọi là Lời nguyền của xác ướp hay Lời nguyền của vua Tut) là một huyền thoại thời hiện đại, xuất hiên vào đầu thế kỷ 20. Chẳng ai biết nó đi ra từ miệng người nào, nhưng có một thời các cơ quan thông tin trên thế giới đua nhau đưa tin và bàn luận. Càng bàn luận sự việc càng phủ lên một màu sắc thần bí, bên cạnh có một xu hướng chứng minh phản bác sự thần bí đó.

Dù không biết bắt đầu từ ai, nhưng chắc hẳn từ đoàn thám hiểm ngôi mộ vua Tut (viết đầy đủ là Tutankhamun[1]), hay chí ít cũng từ những người có liên quan. Quả chuyến thám hiểm lăng mộ vị Pharaoh này có nhiều biến cố khá ly kỳ và bi thảm. Những biến cố đó xảy ra tương đối khá dồn dập trong thời gian ngắn cùng với câu chữ khắc ở lăng mộ vị đế

vương này: “Kẻ nào khuấy động sự bình yên của Pharaoh sẽ phải chết[1]. Câu này trở thành chất men khá mạnh tạo ra những lời đồn đoán về “Lời nguyền Pharaoh”.

Các sự kiện biên niên như sau:

  • Ngày 4 tháng 11 năm 1922: phát hiện ra lăng mộ chưa bị xâm phạm của vua Tutankhamon;
  • Ngày 26 tháng 11 năm 1922, Carter cùng Bá tước Carnarvon xâm nhập vào trong lăng mộ;
  • Ngày 18 tháng 12 năm 1922, Burton, Hauser và Hall đến Breasted để bắt tay vào việc;
  • Ngày 17 tháng 2 năm 1923, mười bảy người tham gia khai mở lăng mộ.
  • Ngày 5 tháng 4 năm 1923, Bá tước Carnarvon qua đời ở tuổi 57 do bị muỗi độc đốt[2], tức 4 tháng 7 ngày sau ngày khai mở lăng mộ;
  • Tháng 5 năm 1923, giáo sư La Fleur, nhà khảo cổ học người Canada, bạn thân của Carter, qua đời;
  • Ngày 26 tháng 9 năm 1923, sáu tháng sau ngày Bá tước Carnarvon chết, đại tá Aubrey Herbert, anh em dị bào với Carnarvon, qua đời ;
  • Năm 1924, giáo sư Hugh Evelyn-White, cộng sự của Carter và là người đầu tiên đặt chân vào bên trong lăng mộ, qua đời vì chứng suy nhược thần kinh;
  • Cùng năm, Archibald Douglas Reed, chuyên viên X-quang của chính phủ Ai cập, người có nhiệm vụ chụp X-quang xác ướp vua Tutankhamun, qua đời;
  • Năm 1926, nữ y tá chăm sóc cho ông Carnarvon, qua đời;
  • Năm 1928, nhà học giả khảo cổ người Anh Arthur C. Mace, người phụ giúp Carter hạ bức tường của phòng quàn xác ướp xuống, chết không rõ nguyên nhân;
  • Năm 1929, Quý‎ bà Almina, vợ quá của Bá tước Carnarvon, qua đời;
  • Năm 1929, thư k‎ý riêng của Carter, Richard Bathell, 35 tuổi, được phát hiện chết trên giường, rõ ràng có triệu chứng tai biến mạch máu;
  • Ngày 2 tháng 3 năm 1939, Howard Carter qua đời ở tuổi 64;
  • Năm 1967, Mohammed Mehri, Giám đốc Phòng Cổ vật Ai Cập ở Viện Bảo Tàng Cairo, đột tử vì xuất huyết não sau khi k‎ý thỏa thuận mang kho báu của vua Tut sang trưng bày ở Petit Palais, Paris;
  • Tháng 2 năm 1972, Gamal Mehrez, người kế nhiệm Mohammed Mehri, cũng qua đời do xuất huyết não ngay sau khi k‎ý kết cho trưng bày ở Luân Đôn;
  • Năm 1980, quý bà Evelyn Herbert qua đời.

Bên lề dòng sự kiện trên còn có những việc có thể coi là trùng hợp cũng có thể coi là điềm báo trước, chẳng ai dám bảo quan điểm nào là sai. Sau khi có quá nhiều cái chết bí hiểm, người ta mới lần hồi nhớ lại những sự kiện: trên đường tới lăng mộ, chiếc xe chở đoàn nghiên cứu sém chút nữa thì đâm phải một em bé; rồi bất thần cơn bão dữ dội ập đến; chiếc máy x-quang vốn luôn hoạt động tốt bổng trở chứng; Howard Carter bị rắn hổ trong lăng mộ cắn; …

Thế là báo chí rầm rộ đưa tin về “Lời nguyền của Pharaoh”. Arthur Conan Doyle là người đi đầu trong việc thâu thập tin tức liên quan đến cái chết của bá tước Carnarvon đưa lên báo. Lúc đó, nguyên nhân cái chết và những vấn đề liên quan chưa được nghiên cứu sâu, nên luồng dư luận càng ngày càng dâng cao. Họ cũng liệt kê trong vòng 12 năm có đến 27 người liên quan trực tiếp lẫn gián tiếp chết vì lời nguyền. Đến mức có thời điểm trở thành một huyền thại thời hiện kim.

Giới khoa học bắt tay vào nghiên cứu giải thích. Hiện có lời giải thích như sau:

Trong số các nạn nhân trong vụ này, tỷ lệ số người chết do ngạt vì sưng phổi cao. Bác sĩ Geoffrey Dean ở bệnh viện Port Elizabeth, Nam Phi, cho rằng những người chết là một loại virus nằm ẩn trong lăng mộ ngót 3.000 năm. Nhưng lý giải này sớm bị bác bỏ vì virus gây bệnh trên người chỉ có thể tồn tại trên cơ thể sống chứ không thể trên xác chết. Bác sĩ Caroline Stenger-Philipp đưa ra lời giải thích dễ chấp nhận hơn: theo những dấu hiệu ông ta có, thủ phạm thực sự là những chất hữu cơ mai táng theo cùng vị Pharaoh này theo tục lệ của người Ai Cập cổ đại. Qua nhiều thế kỷ, những chất hữu cơ này bị phân hủy và sản sinh ra loại nấm mốc cũng như những hạt bụi hữu cơ có tính dị ứng nguyên rất mạnh. Những thứ này khiến nạn nhân có cái chết bí hiểm.

Bằng chứng là vào năm 1985 khi sửa sang xác ướp vua Ramses II, các phân tích cho thấy trên xác ướp có nhiều loại nấm mốc[1]. Khu mộ của vua Tut theo mô tả của Carter có đủ độ ẩm để các loại nấm mốc này cư trú. Thêm nữa, không khí trong phòng quàn xác ướp ngột ngạt, có mùi hôi từ xác ướp bốc ra và họ hít vào phổi khá nhiều bụi mịn. Các loại nấm mốc phát hiện trên xác ướp vua Ramses II rất nguy hiểm đối với con người, phù hợp với triệu chứng “viêm phổi có ngưng kết tố, xung đột miễn dịch – dị ứng do hít phải các hạt có nguồn gốc động thực vật mang tính dị ứng nguyên” của các nhà khảo cổ. Đó bệnh do loại nấm có tên khoa học Histoplasma capsulatum gây ra, biểu hiện triệu chứng viêm phổi cấp.

Tuy có vẻ hợp l‎ý nhưng giả thuyết này cũng bị phản bác: nếu nguyên nhân là do nấm mốc vương vải khắp trong lăng mộ, vậy tại sao suốt nhiều tuần sau khi khai mở rất nhiều nhà khảo cổ, nhà Ai Cập học, phóng viên khác, … và cả Nữ Hoàng Bỉ[1] đến tham quan chẳng ai bị việc gì? Người ta lại viện dẫn khi mới khai mở trong lăng mộ có nhiều loại khí độc[2], sau đó vài tiếng không khí ở ngoài tan đi. Sự viện dẫn này không thuyết phục sự kiện: ông Carter (người phát hiện lăng mộ và là một trong những người đầu tiên vào bên trong lăng mộ sau khi khai mở) và qu‎ý bà Evelyn Herbert (con gái bá tước Carnarvon, cũng là một trong những người bước vào trước tiên) đều có mặt bên trong lăng mộ rất lâu sao lại không bị nấm mốc và khí độc gây bệnh. Cả hai sống rất nhiều năm sau đó: Howard Carter mất năm 1939, thọ 64 tuổi và Evelyn Herbert mất năm 1980[3]. Khí độc không hề cho ai “miễn nhiễm” và chẳng đợi cả năm sau mới phác tác. Hơn nữa các triệu chứng viêm phổi của những nạn nhân không thể giải thích bằng khí độc.

Những người bảo vệ thuyết “Lời nguyền của Pharaoh” lại nêu trường hợp hai cái chết giống nhau, trong một hoàn cảnh giống nhau của hai vị giám đốc viện Bảo Tàng Cairo: Mohammed Mehri (1967) và Gamal Mehrez (1972). Phải chăng chỉ đơn thuần là một sự trùng hợp? Có điều năm 2005 kho báu vua Tut được đưa qua Hoa Kỳ mà không gây cái chết theo “Lời nguyền” nào. Lời nguyền cũng có ngoại lệ ư?

Như đã nói từ đầu, vấn đề vượt quá tầm hiểu biết của tôi, xin để bậc cao minh luận giải.



[1] Vua tut lên ngôi năm 13 tuổi, băng hà năm 18 tuổi. Tuy thời gian trị vì ngắn ngủi và còn nhỏ tuổi nhưng vương triều của ông là một trong những vương triều thịch trị nhất của AI Cập cổ đại. Cương thổ thời ấy mở rất rộng, hoàng thất sống vương giả với nhiều vàng bạc châu báu chiến lợi phẩm. Đó là nhờ dưới triều này có nhiều anh tài phò tá, đặc biệt võ tướng Djehuty.

[2] Câu này có ghi ở nhiều lăng mộ khác nhưng không thấy ứng lời nguyền như ở lăng mộ vua Tut. Luận cứ này nhằm phản bác truyền thuyết “Lời nguyền Pharaoh”.

[3] Bệnh án ghi do côn trùng trong lăng mộ Pharaoh đốt gây nhiễm trùng huyết và sưng phổi, rồi chết.

[4] Hai loại nấm độc nhất là Aspergillus nigerAspergillus flavus. Các nhà khoa học còn nói đến hai loại vi khuẩn nguy hiển khác là StaphylococcusPseudomonas.

[5] Theo lý thuyết xác suất điều này không thể xảy ra nếu như nấm mốc và vi khuẩn là thủ phạm gây chết cái chết của những người trong cuộc. Không thể tất cả những người tham quan đều có sức miễn cao hết và các nhà khai quật đều yếu về miễn nhiễm. Cũng không thể nói trong mấy tuần sau đó nấm mốc đã biến mất vì thực tế cho thấy chúng tồn tại rất lâu trong môi trường như thế.

[6] Các khí độc đó là amoniac, H2S… thường sinh ra do phân hủy chất hữu cơ ở nơi ít không khí.

[7] Luận điểm này bị phản bác ngược lại: nếu lời nguyền linh ứng thì Carter phải là người phải hứng trước tiên. Thế sao ông ta sống thọ vậy.

Còn tiếp .
Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .



Read Full Post »

Bài 4: Chuyện bên lề Kim Tự Tháp Ai Cập

Biên Khảo : Đức Chính

Kim Tự Tháp Ai Cập vừa kỳ vĩ vừa huyền bí, nên chẳng lạ gì khi xung quanh nó nhiều chuyện bên lề. Những câu chuyện này vừa minh họa thêm nét tinh hoa của nền văn minh Ai Cập Cổ đại, vừa làm thỏa mãn lòng hiếu kỳ của con người.

Chúng ta sẽ lần lượt nhìn qua từ câu chuyện hết sức khoa học đến câu chuyện mang tính huyền bí hoang đường.

1.- Khám phá chữ viết Ai Cập cổ

Rõ ràng nhiều bí mật của Kim Tự Tháp sẽ không có lời giải đáp nếu không giải mã được ngôn ngữ chạm khắc trên vách, trong vách và trên các bia k‎ý khai quật được. Tuy vậy, đến nay tuy đã giải mã được khá hoàn hảo nhưng bí ẩn Kim Tự Tháp vẫn còn bao trùm. Hiểu ngôn ngữ Ai Cập cổ chỉ mới là một trong nhiều công cụ phục vụ khám phá bí ẩn quanh nó mà thôi. Trước hết chúng ta bắt đầu từ biến cố ngẫu nhiên đến công trình giải mã nó và cuối cùng là khái niệm chữ Ai Cập cổ.

a.- Bia đá Rosetta

Tuy nhiên chữ cổ Ai Cập quả là bí hiểm. Thuở ban đầu không ai hiểu nổi những bức chạm khắc ngoằn ngoèo xen kẻ các hình chạm chân phương trên vách Kim Tự Tháp cả. Thậm chí có người còn cho đó là hình vẽ mô tả cuộc sống thời đó chứ không phải là chữ. Thế rồi tình cờ một tia sáng giải mã đầu tiên lóe lên. Thú vị nó lại xuất phát từ một tấm bia đá mang tên Rosetta. Bia đá này được tìm thấy ở khu di chỉ Sais thuộc vùng Rosetta vào tháng 7 năm 1799. Nó được Bouchard phát hiện không phải trong cuộc khai quật, mà ở pháo đài Julien theo cách gọi của quân Pháp thời bấy giờ. Lúc ấy nó được dùng làm đồ dằn khi tàu thuyền cặp bến cảng này.

Một lần tình cờ Bouchard nhìn thấy bia đá này, nhưng điều làm ông sửng sốt là trên bia đá đó có khắc loại chữ cổ Ai Cập xem lẫn chữ Hy Lạp cổ. Dưới ánh mắt nhà khoa học, một ‎ý niệm nảy lên: “Có hai loại chữ tức là có khả năng so sánh để giải mã chữ cổ Ai Cập.” Sau đó, theo Hiệp ước Alexandria công của người khám phá bị phủ nhận, nó trở thành tài sản của nước Anh và được đưa về Viện Bảo Tàng Luân Đôn, mang mã số EA 24 (khu cổ vật Ai Cập). Tuy nhiên, nó được in rập thành nhiều bản, mang tên văn bản Akerblad và đã trao đến tay rất nhiều nhà nghiên cứu.

Bia đá Rosetta sau khi được giải mã mới biết đó là bản khắc một “sắc luật”, gọi là sắc luật Memphis. Khi vua Ptolemy V[1] đăng quang, ông cho dựng bia sắc luật này tuyên cáo dưới sự trị vì của ông toàn dân phải “tôn thờ thần linh”. Ngày tháng ghi trên bia đó là ngày “4 tháng Xandicus” theo lịch của người Macedonian, tức ngày “18 tháng Meshir” theo lịch Ai Cập; phiên ra theo lịch ngày nay là ngày 27 tháng 3 năm 196 trước Công Nguyên[2]. Trong bia có thuật lại trong 9 năm cầm quyền của vua, nước sông Nil dâng lũ lên rất lớn, mùa màng bị hư hại nhiều. Vì thế, các tu sĩ ở Memphis (vì thế có tên này) cầu xin vua tổ chức cúng tế các vị thần Ai Cập để họ phù hộ. Vua nghe theo, ban sắc luật này và lệnh cho dựng bản sao ở các đền miếu; trong đó chạm “chữ của thần linh” (tức chữ cổ Ai Cập) và “chữ của thường tục” (tức chữ Hy Lạp) đang được triều đình dùng.

b.- Giải mã chữ Ai Cập cổ đại

Người đầu tiên lao vào việc giải mã này là bá tước người Pháp Antoine Isaac Sylvestre de Sacy. Thất bại, nó được chuyển qua tay nhà nghiên cứu Thụy Điển Johan David nhưng không đi đến thành tựu gì, chỉ phỏng đoán chữ cổ Ai Cập cấu tạo bởi các mẫu chữ cái. Đến năm 1814, nhà bác gọc người Anh tên Thomas Young đi vào nghiên cứu lại ra kết luận phản bác Johan David: chữ Ai Cập không là chữ ghép bởi các chữ cái, nó là thứ chữ tượng hình. Cùng nhiều học giả khác theo đuổi, có người làm việc độc lập có người cộng tác với nhau, công cuộc giải mã không hoàn toàn thành tựu: các bia ký‎ vẫn chưa đọc được và giải thích thỏa đáng.

Phải đến nhà ngôn ngữ học thiên tài trẻ tuổi người Pháp, Jean-France Champollion (học trò của Sylvestre de Sacy), bức màn bí mật mới được vén lên tương đối sau 14 năm nghiên cứu. Champillion là một nhà cổ ngôn ngữ học uyên bác, từ thời thiếu niên ông đã am tường chữ hữ Copic (thứ chữ Á Rập cổ)[3]; Ai Cập mới, và chữ cổ Do Thái (hebreux); sau này nghề nghiệp còn dẫn ông đến ngôn ngữ Syria, Chaldae, Hán, Phạn, Zend, Pahlavi, Parsee, … và một số thứ tiếng khác. Vốn liếng này hỗ trợ ông khá nhiều trong công cuộc giải mã chữ Ai Cập Cổ vì một số tính chất chung trong cấu tạo ngôn ngữ của những vùng địa l‎ý tương đối không xa nhau lắm này. Kiến thức về các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau cũng giúp ông lần mò giải đáp những nghi hoặc về chữ cổ Ai Cập. Đầu tiên, Jean-François Champollion, đã chứng minh được từ “Kleopatra” (tên nữ hoàng clê-ô-pát) viết bằng chữ cổ Ai Cập như thế nào. Sau đó vận dụng kiến thức về ngôn ngữ Copic ông đã phỏng định một số biểu tượng trong chữ cổ Ai cập có thể phát âm giống như trong chữ Copic.

Cũng như Thomas Young, ông kết luận chữ cổ Ai Cập là một thứ chữ tượng hình, nhưng có điểm khác không hoàn toàn là thứ chữ tượng hình: đó là thứ chữ vừa tượng hình vừa biểu ý. Một chữ tượng hình ngoài nghĩa thông thường nó cần biểu hiện, còn mang một ý nghĩa trừu tượng theo quan niệm xã hội thời đó về đối tượng đượng tượng hình. Nhiều ý niệm trừu tượng khác được thể hiện bằng hai hay nhiều chữ tượng hình ghép lại. Tính cách biểu ý như thế dĩ nhiên không có quy tắc cụ thể, nó thay đổi và có sự khác biệt vào từng vương triều dù ít nhiều vẫn có nét chung. Chính vì vậy không thể hoàn toàn giải mã toàn bộ cùng một lúc các từ cổ của chữ Ai Cập, và công viêc giải mã đến nay vẫn còn tiếp tục thực hiện.

Ngày nay, các công trình nghiên cứu của những người kế tục còn cho thấy thông qua chữ Ả Rập (có nguồn gốc từ chữ Copic) đã ảnh hưởng và tồn tại trong ngôn ngữ nền văn minh phương tây. Ví dụ từ “Perilune” (tiếng Pháp: périlune), có nghĩa là điểm trên quỹ đạo xoay quanh Mặt trăng và nằm gần Mặt trăng nhất (điểm cận nguyệt); từ này gốc tiếng Á rập Pirâmâh, gồm pirâ- (nằm gần bên) + mâh (Mặt trăng). Nền thiên văn học Á Rập chẳng qua là phiên bản từ thiên văn học Ả Rập cổ đại, hai thành tố từ trên được trại ra từ tiếng Copic, hay nói khác đi là từ tiếng Ai Cập cổ đại biến thể. Rất nhiều từ khoa học của phương Tây có nguồn gốc Á Rập, truy nguyên sẽ thấy có cội nguồn từ tiếng Ai Cập cổ đại

Chính nhờ sớm thừa kế nền văn minh Ai Cập cổ đại (người La Mã không thụ lãnh được nhiều để mang về Phương Tây) mà nền khoa học Hồi Giáo á Rập có một thời sáng chói, vượt xa nền văn minh Công giáo Phương Tây. Đến khi có sự tiếp cận thư viện Alexandria sau những cuộc chiến Thập Tự Chinh, Phương Tây mới biết đến những kiến thức khoa học đã giúp dân Á Rập hùng mạnh và bắt chước theo.

Công trình của ông được phác thảo lần đầu tiên trong cuốn Précis du Système Hiéroglytique[1] (tạm dịch: Khái Luận Hệ Chữ Cổ Hy Lạp). Sau đó ông trình bày cụ thể hơn trong bản thảo cuốn Grammaire (Ngữ Pháp) khoảng vào năm 1836-1841và Dictionnaire (Từ Điển – 1841-1844) chuyên về loại chữ này. Các tác phẩm sau chỉ được xuất bản khi ông đã qua đời.

c.- Chữ Ai Cập cổ đại

Chữ cổ Ai Cập có cấu tạo bao gồm nhiều hình ảnh và biểu tượng, được dùng ròng rã gần 3500 năm (từ năm 3300 trước Công nguyên đến hết thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên). Ngoài những bia đá và bức chạm trên vách, quách và quan tài trong Kim Tự Tháp mang tính chất tín ngưỡng, thứ chữ cổ này còn được dùng trong các văn bản chính thức của các vương triều. Bản văn chữ cổ Ai cập hiện được coi là có niên đại cuối cùng được xác định vào năm 394 sau Công nguyên.


[1] Nhiều tác giả dịch Hiéroglytique là “chữ tượng hình”, cách dịch này không bao hàm hết ‎ý nghĩa của vấn đề vì thứ chữ này không đơn thuần là hình vẽ mô tả một nghĩa muốn trình bày. Tôi tạm dùng một cách khiên cưỡng “chữ Ai Cập cổ”, mong bạn đọc thông cảm.

Trong chữ cổ Ai Cập, một số biểu tượng mang nghĩa độc lập, bên cạnh có những biểu tượng dùng để phụ hội nghĩa. Ngoài ra, một số từ Ai Cập cổ chỉ có công dụng để phát âm giống như kiểu bộ mẫu tự La Mã. Thêm nữa, một số từ lại mang rất nhiều nghĩa như từ “cái chân” còn có nghĩa là “đi”, “chạy”, “lui tới”, …  Ngữ nghĩa của chữ Ai Cập cổ mang tính biểu ‎ý như thế rất nhiều, thậm chí còn biểu ‎ý theo tâm l‎ý xã hội riêng của thời đó: ví dụ, người Ai Cập cổ đại tin rằng “con ngỗng mái có lòng thương con cao nhất trong số các loài vật”, nên từ “ngỗng mái” biểu ‎ý cho “tình mẫu tử”. Lối biểu ý[1]‎ này khá phổ biến trong Hán ngữ, nên sự hiểu biết ngôn ngữ Trung Hoa góp phần không nhỏ trong việc giải mã tiếng Ai Cập cổ đại. Đặc biệt tên các vị pharaoh và tên các vị thần thường nằm trong nột vòng khuyên, gọi là “vòng tên”. Cũng chính vì tính phức tạp đó, cho đến tận ngày nay tuy đã giải mã được khá nhiều, nhưng vẫn còn không ít từ chưa thể vượt qua.

 

Bộ mẫu tự phát âm tiếng Ai cập cổ


Biểu tượng

Ý nghĩa

Âm theo tiếng Anh

Kên kên Âm A ngắn, ví dụ chữ “cat
Cánh tay Âm A dài, ví dụ chữ “table
Chân Âm B nặng, ví dụ chữ “big
Cái giõ Âm C (K) nặng, ví dụ chữ “call
Sợi dây Âm CH, ví dụ chữ “children
Bàn tay Âm D nặng, ví dụ chữ “dog
Hai lá sậy Âm E dài, ví dụ chữ “lead
Kên kên Âm E ngắn, ví dụ chữ “met
Rắn lục sừng Âm F, ví dụ chữ “flower
Giá lọ Âm G nặng, ví dụ chữ “gap
Rắn hổ Âm G nhẹ, ví dụ chữ “generous
Chỗ trú, Dây Âm H, ví dụ chữ “he, who
Lá sậy Âm I ngắn & dài, ví dụ chữ “him, I’m
Rắn hổ Âm J, ví dụ chữ “jelly
Giõ, Sườn đồi Âm C hay K nặng, ví dụ chữ “kind, Christmas, lack
Miệng Âm L, ví dụ chữ “lisp, linger
Chim cú Âm M, ví dụ chữ “milk, dumb
Nước Âm N, ví dụ chữ “none
Cút con Âm O dài, ví dụ chữ “lose, moon
Kên kên Âm O ngắn, ví dụ chữ “brought, got
Dụng cụ Âm P, ví dụ chữ “pretty
Rắn lục sừng Âm PH, ví dụ chữ “pharaoh
+ Giõ + Cút Âm Q, ví dụ chữ “queen
Miệng Âm R, ví dụ chữ “red
Vải gấp Âm S, (C nhẹ), ví dụ chữ “silly, peace
Hồ nước Âm SH, ví dụ chữ “shilling
Ổ bánh mì Âm T, ví dụ chữ “talk
Bụng bò Âm TH nhẹ, ví dụ chữ “moth
(chưa biết) Âm TH nặng, ví dụ chữ “there
Cút con Âm U ngắn, ví dụ chữ “lull
+ Sây + Cút Âm U dài, ví dụ chữ “rule
Rắn lục sừng Âm V, ví dụ chữ “villain
Cút con Âm W, ví dụ chữ “will, where, when
+ Giõ + Vải Âm X, ví dụ chữ “fox
Lá sậy Âm Y ngắn, ví dụ chữ “yes
Hai lá sậy Âm Y dài, ví dụ chữ “tarry
Then cửa Âm Z mạnh, ví dụ chữ “xylophone, zany

Cú pháp của chữ Ai Cập cổ lại viết theo ba kiểu: một cách viết từ trên xuống dưới, một cách viết từ phải qua trái và một cách từ trái qua phải. Vậy làm sao biết được một văn bản viết theo cú pháp dọc hay ngang; nhất là khi nào viết từ phải qua trái và khi nào viết từ trái qua phải?

Có một quy tắc mà ngay người không biết chữ Ai Cập cổ vẫn xác định được chỗ bắt đầu và nơi kết thúc một câu, dĩ nhiên không thể hiểu được câu đó nói gì.

Nguyên tắc đó là ở mỗi đầu câu đều bắt đầu một hình vẽ. Ví dụ trên một bảng văn có hình người đàn ông ngồi hướng mặt về bên phải, câu đó đọc từ trái qua phải. Hai trường hợp kia cũng tương tự.

Chính sự phức tạp này mà nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ cổ chào thua. Nhưng dù sao cũng đã giải mã được khá nhiều, qua đó tên các vị pharaoh chủ nhân các Kim Tự Tháp được xác định. Cùng chính vì đọc được chử cổ Ai Cập mà phát sinh truyền thuyết “Lời nguyền Pharoh” sắp nói tới đây.

(còn tiếp)



[1] Lúc này Ai Cập bị đế quốc La Hy cai trị. Vua Ptolemy V là một người Hy Lạp. Chính vì vậy nó được khắc ba ngôn ngữ để mọi thần dân đều đọc được và cũng chính vì thế mới giải mã được chữ cổ Ai Cập.

[2] Năm đó là năm thứ 9 theo niên hiệu vua này.

[3] Hồi giáo Á rập tiếp thu rất nhiều nền văn minh Ai Cập và Hy Lạp thời cổ đại, trong có ảnh hưởng chữ viết không nhỏ. Do vậy, chữ Copic là một nền tảng quan trọng để giải mã.

[4] Nhiều tác giả dịch Hiéroglytique là “chữ tượng hình”, cách dịch này không bao hàm hết ‎ý nghĩa của vấn đề vì thứ chữ này không đơn thuần là hình vẽ mô tả một nghĩa muốn trình bày. Tôi tạm dùng một cách khiên cưỡng “chữ Ai Cập cổ”, mong bạn đọc thông cảm.

[5] Trong ngôn ngữ học còn dùng từ “tượng ý” để thay cho “biểu ý”, tức hình tượng ra ý.

 

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 3: Các giả thuyết xây dựng Kim Tự Tháp (tiếp theo)

Biên Khảo : Đức Chính

3.- Một vài hình ảnh nghệ thuật trong Kim Tự Tháp:

Kim Tự Tháp không chỉ vĩ đại và hào nhoáng ở kiến trúc bên ngoài, bên trong nó chứa đựng một nền văn hóa hồn hậu khiến người ta phải nghiêng mình thán phục khi biết những vật thể này có cách nay không dưới 3.000 năm. Những nét nghệ thuật trên tranh tượng trong Kim Tự Tháp khiến người ta phải nghi ngờ quan niệm Kim Tự Tháp do các nô lệ của các pharaoh tạo nên. Vì trong mỗi Kim Tự Tháp có vô số các hình tượng nghệ thuật nhưng khó tìm thấy nét sơ cứng của tư duy người nô lệ hiện lên trên chúng. Hình như các nghệ phẩm đều toát lên một nét thành kính trong tạo tác, như là một hoạt động tín ngưỡng tâm linh rất thiêng liêng khi người nghệ sĩ thực hiện.

Tuy chưa ai đặt giả thuyết về diễn biến của nền văn hóa này, nhưng khó phủ nhận đó là một đề tài còn tiếp tục làm các nhà Ai Cập học đau đầu. Chúng chứa đựng nhiều mặt văn hóa, ở đây chỉ nêu vài khía cạnh về mặt mỹ thuật.

a.- Điêu khắc:

Nghệ thuật điêu khắc Ai Cập cổ đại chủ yếu thể hiện hình ảnh các vị thần, các pharaoh và hoàng hậu. Khi nhân loại vẫn còn mơ màng trong thời kỳ mông muội tiền sử và thể chế bộ lạc, các bức tượng này đã có nét tả thực và trình độ tạo tác rất cao. Chừng mực nào đó chúng chẳng thua kém nghệ thuật tạo hình hiện đại.

Rõ ràng chân dung Pharaoh Djoser được thể hiện rất chi tiết, dù có bị hư hại khá nhiều.

Tượng hoàng hậu Nefertiti đường nét rất tinh tế và cân đối về cơ thể học rất chuẩn mực so với những bức tượng minh họa mang tính tượng trưng của các nền văn minh khác cùng thời hay sau nó hàng ngàn năm. Nó còn bộc lộ cả tính cách nhân vật trên cơ mặt và đôi môi. Rõ ràng nghệ sĩ tạo bức tượng này hẳn phải có trình độ mỹ học và giải phẫu học tuyệt vời mới biểu cảm nhân vật sâu sắc đến như thế.

Nhìn chung đặc điểm các tượng đàn ông trong Kim Tự Tháp thường sậm màu hơn tượng dành cho nữ giới. Ở các tượng ngồi tay thường được bố trí đặt trên đùi.

Ở bức tượng Pharaoh và Hoàng hậu này những cấu trúc cơ thể học vẫn tuân thủ rất nghiêm túc. Tuy rằng sự thể hiện nét uy nghiêm có phần thô cứng nhưng dù sao cũng phải thừa nhận trình độ tạo hình của nó không hề thấp kém, nhất là khi chất liệu tạo hình bằng đá chứ không phải đất sét hay thạch cao.

Các phù điêu cũng vậy, chúng đều toát lên một văn hóa mỹ cảm hết sức tinh tế mà ngày nay cũng phải nghiêng mình thán phục.

Có lẽ nền văn hóa ấy không chỉ ở cung đình mà đã mở rộng ra tận các nghệ nhân dân gian. Chúng ta thấy nó thể hiện ở bức bích họa bên ngoài Kim Tự Tháp dưới đây.

Nét sinh động của bức chạm này thật tuyệt vời, nhất là sự đa dạng tư thế của con vật. Vẫn mềm mại trên môi trường khó thể hiện là vách đá. Để làm được điều này tác giả phải thật sự cảm xúc với đề tài chứ không đơn thuần “thực hiện công việc” như một người thợ.

Khi nói đến điêu khắc trong Kim Tự Tháp không thể không nói đến các vật dụng dùng trong mai táng. Ấn tượng đầu tiên về các tác phẩm thuộc loại này là chiếc quách của các pharaoh. Quách đã được nói qua trong các phần trước nên không bàn đến. Riêng phần nghệ thuật tạo tác đá còn có một yếu tố đáng chú ý: trần các phòng quàn xác ướp pharaoh. Các trần này cũng biểu hiện một nghệ thuật tạo hình bằng đá ở trình độ cao.

Ở Kim Tự Tháp Khufu và nhiều kim tự tháp khác vòm trần hình chữ V, nhưng ở Kim Tự Tháp Sesostrix hình bát úp.

Với kiến trúc này không đơn thuần là nghệ thuật xây dựng, mà nó còn hàm ‎ vừa mỹ thuật vừa tâm linh trong gian phòng này. Ý nghĩa của nó vẫn còn là câu hỏi.

b.- Hội họa và nghệ thuật viết chữ

Hội họa càng tuyệt vời hơn, các yếu tố tả chân, mềm mạu, sinh động, biểu cảm được bộc lộ hẳn ra. Thêm nữa chủ đề rất phong phú, hội họa khắc họa được nhiều mặt đời sống văn hóa và xã hội của Ai Cập cổ đại.

Tuy nhiên, trong Kim Tự Tháp ngành hội họa chủ yếu dùng trang trí các quan tài của pharaoh và hoàng hậu. Theo tục lệ cổ đại, hình bên ngoài chiếc quan tài phải khắc họa được chân dung người nằm trong đó. Chính nhờ vậy hội họa Ai Cập cổ đại trở thành một thành phần sử liệu để nghiên cứu thời kỳ này.

Yếu tố tả chân tuy vẫn còn nhưng nét mềm mại biến mất, đồng thời tính chất cách điệu đã chen vào. Nguyên nhân chủ yếu là lý‎ do tôn giáo: các pharaoh và hoàng hậu là những vị thần, khômng thể thể hiện những đường nét uyển chuyển phàm tục và cần cách điệu để thể hiện tính thiêng liêng của nhân vật. Điều này không lạ, nhiều nền văn minh sau này vẫn áp dụng cách thể hiện này để tôn vinh nét thần bí của nhân vật lên.

Bên cạnh hội họa, nghệ thuật viết và khắc chạm chữ cũng là một nguồn tư liệu rất qu‎í về văn hóa xã hội thời Ai Cập cổ đại. Trong các Kim Tự Tháp đầy rẫy những kinh văn tín ngưỡng giúp chúng ta tìm hiểu về đời sống tâm linh của họ. Cũng không loại trừ trong những kinh văn đó có chứa đựng những yếu tố lịch sử giúp hiểu thêm về các biến chuyển hưng vong xảy ra suốt chiều dài lịch sử những triều đại Ai Cập thời cổ.

Chữ viết được thể hiện bằng nhiều cách, như chạm trên đá hay khắc trên gốm, nhưng bản chất chữ viết Ai Cập cổ mang tính chất hội họa cao nên đưa vào mục này. Nhiều nhất là các bức chạm chữ viết trên vách hành lang, trên quách và quan tài, … Chữ Ai Cập cổ mang tính tượng hình đầy bí hiểm, sẽ được trình bày rộng hơn ở bài sau.

Gần như luôn luôn các bản văn đều kèm theo các hình vẽ nửa có tính trang trí nửa có tính minh họa. Các hình vẽ (hình trên) miêu tả một buổi lễ mai táng theo nội dung kinh văn, nhưng cách thể hiện cho cảm giác như là các họa tiết trang trí ở đầu trang sách.

Ngay chữ viết cũng là một bức tranh được giản lược bớt: chữ Ai Cập cổ vốn là chữ vừa tượng hình vừa tượng ý‎, nhưng tính chất tượng hình của nó tả chân hơn chữ của người Trung Hoa nhiều.

c.- Gốm sứ:

Mỹ thuật Ai Cập cổ đại thiên về đá nhiều hơn, nhưng không phải không có dấu vết gốm sứ dù khá hiếm hoi. Các nghệ nhân Ai Cập cổ đã tìm ra men gốm sứ và cải biến chúng để tráng men cả đồ đá nhỏ. Chất liệu men đó là starite mà phương Tây sau này gọi là “đá xà phòng” (soapstone).

Hình trên mô tả một lối sinh hoạt thời đó, nhưng đa số các đồ gốm trong Kim Tự Tháp lấy đề tài thần linh. Thường nhất gốm sứ là vật ghi lại kinh văn.

Chất liệu gốm hẳn còn thô sơ so với kỹ thuật chế tác tinh xảo. Vì sao nghệ thuật gốm không phát triển so với đá là một đề tài lớn cần nghiên cứu.

(còn tiếp)

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 3: Các giả thuyết xây dựng Kim Tự Tháp (tiếp theo)

Biên Khảo : Đức Chính

2.- Phương pháp dùng giàn trượt:

Là lý thuyết được đề ra khá sớm. Nó dựa vào các dấu vết còn sót lại được tìm thấy ở các Kim Tự Tháp Meïdoum, Sekhemkhet và Khufu, cũng như cả ở Assouan và Sinki.

Tuy nhiên nó không đủ cơ sơ thuyết phục về mặt kỹ thuật nên chưa thể cắt đứt các tranh cãi về phương pháp xây dựng Kim Tự Tháp. Các tính toán cho thấy mô hình giàn trượt chính diện như dấu vết tìm thấy ở Assouan không thể nào hoàn thành công trình Kim Tự Tháp Khufu được.

Nhưng không ít nhà khoa học vẫn dựa vào phương pháp này đề ra nhiều giải pháp kỹ thuật để chứng minh. Tựu trung có các giải pháp: giàn trượt chính diện, giàn trược xoắn ốc, giàn trượt bên hông giàn trượt bên trong. Thậm chí có tác giả như Jean-Pierre Houdin đưa ra giải pháp kết hợp vừa dùng giàn trượt chính diện vừa dùng giàn trượt bên trong; hay kết hợp với các công cụ đơn giản phù hợp với trình độ kỹ thuật thời đó như các tác giả Auguste Choisy, Hermann Strub-Roessler, Louis Croon, …

a) Giàn trượt chính diện bằng gạch thô: lý thuyết này do nhà Ai Cập học người Đức Ludwig Borchardt đưa ra nhằm giải thích dấu vết giàn trượt ở Kim Tự Tháp Meïdoum.

Giàn trượt này đặt thẳng góc với mặt Kim Tự Tháp với độ dốc không đổi dù có lên cao đến mấy. Dĩ nhiên độ dốc giàn trượt lài hơn độ dốc Kim Tự Tháp nên tránh được hạn chế gia tốc trọng trường của phương pháp Franz Löhner. Nhưng cũng vì vậy giàn trượt phải càng ngày càng dài ra tương ứng với số tầng Kim Tự Tháp được xây lên.

Các khối đá sẽ đặt lên trên bàn trượt và dùng sức người kéo lên dọc theo giàn trượt này. Phương pháp kéo có thể áp dụng kiểu kéo ngược dốc của Franz Löhner và dưới bàn trượt có thể dùng dầu làm chất bôi trơn.

Nhược điểm chính của phương pháp này là giàn trượt phải kéo dài ra mãi, đến khi đạt độ cao của Kim Tự Tháp Khufu thì giàn trượt trở thành một công trình đồ sộ không kém. Khắc phục điều này Jean-Philippe Lauer đưa ra một giải pháp cải tiến: khi còn thấp thì có độ dốc không đổi, đến khi lên cao mới áp dụng độ dốc không đổi.


Cả hai đề xuất này đều vướng vào mấy điều kiện kỹ thuật và xây dựng sau :

– Một là giàn trượt có độ dốc nhỏ và dài. Trường hợp này khối lượng vật tư xây giàn trượt rất lớn tương ứng với quy mô của từng Kim Tự Tháp; rồi khi hoàn thành phải tốn rất nhiều công sức để dẹp nó đi;

– Hai là có độ dốc tăng dần theo độ cao xây dựng. Như vậy càng lên cao lực nâng các khối đá gia tăng.

Tuy nhiên trở ngại lớn nhất của cả hai là đòi hỏi nhiều vật tư và khoảng trống xây công trình thi công giàn trượt. Nó là điểm khó thuyết phục các học giả khác.

b) Giàn trượt zic-zắc bằng gạch thô: rõ ràng khoảng trống quá lớn để làm giàn trượt chính diện là điểm khó thực tế ở môi trường xây dựng Kim Tự Tháp Khufu. Lý thuyết giàn trượt zíc-zắc được đề xuất và nhận nhiều tán đồng.

Các giàn trượt được dựng song song với các mặt của Kim Tự Tháp và cho kéo các khối đá từ tầng này lên tầng khác: không cần kéo thẳng một lần lên các tầng cao. Mặt bằng cho giàn trượt gần như không đáng kể so với mặt bằng công trình. Nhờ vậy các khối đá được nâng lên xây lõi từ dưới lên cao và từ trên cao làm phẳng bề mặt Kim Tự Tháp trở xuống. Khi đặt chóp Kim Tự Tháp, giàn trượt sẽ tháo dần theo tiến độ làm phẳng bốn mặt của các tầng bên dưới.

Tuy nhiên thuyết này cũng gặp phản bác: loại giàn này không phù hợp với điều kiện địa kỹ thuật của vật liệu được dùng (gạch thô) và nó đòi hỏi một nguồn nhân lực khổng lồ. Lại nữa, nhân công dùng kéo khối đá theo giàn trượt này rất đông, với số đông như vậy làm sao đủ diện tích để họ làm việc ở những khúc quanh. Có nghĩa là nó không có giá trị khi xét về mặt cơ học hợp lực kéo.

c) Giàn trượt bên bằng gạch thô: lý thuyết này do nhà Ai Cập học người Đức Uvo Hölscher đề xuất. Giàn gồm nhiều giàn trượt nhỏ bên hông từng bậc Kim Tự Tháp ghép với nhau theo hình xoắn ốc nên còn gọi là giàn trượt xoắn ốc.

Trở ngại chính của đề xuất này là độ dốc lớn do giới hạn chiều dài của từng tầng Kim Tự Tháp. Vì thế nó chỉ có hiệu quả trong việc xây dựng Kim Tự Tháp bậc thang nhỏ với khối đá chuyển tải lên nặng dưới 350 kg.

Khắc phục điều này, nhà Ai Cập người Đức Rainer Stadelmann thiết kế loại giàn trượt bên mở rộng ra phía trước Kim Tự Tháp để giảm độ dốc.

3.- Các phương pháp kết hợp:

Năm 2000, kiến trúc sư người Pháp Jean-Pierre Houdin đề nghị dùng 2 giàn trượt chính diện phối hợp với giàn trượt bên trong. Theo đề nghị này 40 m đầu tiên của Kim Tự Tháp dùng giàn trượt chính diện đôi: một giàn để đưa lên và một giàn nâng tiếp lên cao hơn. Tiếp theo dùng giàn trượt bên trong dạng xoắn ốc, tổng chiều dài lên tới đỉnh 1,6 km chia thành 21 đoạn. Do đặt ở trong nên tại vị trí các cạnh Kim Tự Tháp không thiếu mặt bằng cho thợ làm việc như phương pháp của Uvo Hölscher.

Phương pháp này khác phục được trở ngại dốc trượt quá cao, thiếu diện tích cho thợ thi công hay lượng vật tư cần dùng quá lớn của các phương pháp khác.

Đề nghị kết hợp thứ hai là dùng giàn trượt zíc-zắc với hai loại công cụ: cần trục con dê và tời đứng. Jean-Pierre Adam đề nghị ở mỗi mặt làm một giàn trượt zíc-zắc ; bổ sung thêm cho 4 giàn trượt này là những cần trục con dê theo ‎ý kiến Auguste Choisy, hay tời đứng kéo tay[1].


[1] Jean-Pierre Adam cho rằng vào thời này người Ai Cập đã biết đến bánh xe.

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 3: CÁC GIẢ THUYẾT XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP  ( tt )  

Biên khảo : ĐỨC CHÍNH

D.- Đưa các khối đá vào xây dựng

Các phần trước có nói chiếc quách làm bằng đá granit đỏ của Pharaoh Khufu thôi cũng nặng từ 50 đến 60 tấn. Đưa chiếc quách siêu trọng này vào bên trong Kim Tự Tháp với sức người và các phương tiện thô sơ đúng là chuyện ngoài sức tưởng tượng. Thế nhưng chuyện còn làm chúng ta khó tin hơn khi với những phương tiện như thế họ đã nâng những khối đá nặng trung bình 2-3 tấn lên cao, nhất là khối đá cuối cùng ở chóp Kim Tự Tháp (dù có nhẹ hơn 2-3 lần) phải đưa lên độ cao trên 140 m.

Đưa một vật nặng thẳng lên độ cao như vậy là điều không thể. Nên nhiều chuyên gia cho rằng Kim Tự Tháp xây phần giữa từ dưới lên trên trước và chia thành nhiều tầng như Kim Tự Tháp bậc thang. Ở mội tầng có khoảng trống để làm không gian chuyển tiếp vật liệu cho tầng cao hơn. Khi phần giữa xây dựng xong, người ta mới ốp đá tạo mặt nhẵn bên ngoài từ trên xuống, cũng để có không gian chuyển tiếp vận chuyển vật liệu.

Dù vậy, vấn đề này vẫn còn làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu và cũng vì vậy mà có nhiều thuyết được đưa ra. Chúng ta lần lượt xem xét một số thuyết được nhiều người đồng tình nhất.

1.- Phương pháp dùng trục quay và dây kéo: các tác giả dựa trên nguyên lý‎ ròng rọc, loại phương tiện đơn giản khả dĩ người Ai Cập cổ đại có thể nghĩ ra.

Franz Löhner đề xuất phương pháp dùng dây kéo và trục quay. Trục quay là loại gỗ cứng, xoay trong một vòng bằng đồng. Dây tựa vào trục quay đó để kéo khối đá lên. Franz Löhner đề xuất mẫu trục quay sau:

Với trục quay theo kích thước ở trên và sợi dây có đường kính chỉ 5 cm, năm 1991 Löhner đã thử nghiệm nâng khối đá năng 5 tấn lên cao. Ông cho rằng loại thiết bị này neo vào Kim Tự Tháp dễ dàng nhờ vách của nó rất nặng và sườn lại dốc (gần 520). Chính có độ dốc như thế việc kéo đá bằng trục quay và dây kéo không bị vướng.

Có thể dùng thêm neo phụ ở trong sâu để bảo đảm sức bám của trục quay.

Nếu dùng thêm bàn trượt bằng gỗ đở khối đá tựa vào vách Kim Tự Tháp khi kéo lên, khả năng của hệ thống này khi dùng sức người có thể nâng những khối đá có trọng lượng trung bình 2,5 tấn lên cao 30-37m. Vì Kim Tự Tháp được xây dựng từng bậc một, với sức nâng như thế việc đưa các khối đá vào xây dựng là có thể.

Lực ma sát tĩnh giữa bàn trượt với đường ray và lực ma sát giữa dây kéo với trục quay có thể làm giảm bớt bằng chất bôi trơn. Chất bôi trơn cho bàn trượt có thể là một chất dầu có độ sệt nhẹ, cho dây kéo với trục quay là chất mỡ đồng chế bằng cách nghiền mịn đồng với mỡ động vật. Dây kéo có thể bện bằng sợi gai, chất sợi này dẽo có thể giảm được khá nhiều lực ma sát.

Phương thức kéo được đề xuất nhiều cách:

a.- Kéo ngược dốc: Franz Löhner đề xuất hai người đi ngược hướng với khối đá để giảm sức chịu nặng. Với sườn  dốc Kim Tự Tháp Khufu (gần 520), số lượng người kéo mỗi đội cần khoảng 50 người đủ đưa những khối đá nặng 2,5 tấn lên cao. Cơ sở tính toán là mỗi người có khả năng kéo 12-15 kg lực, trừ đi độ mõi khi kéo lên cao thì 2,5 tấn cần bấy nhiêu người.

Đội kéo chia làm hai nhóm, mỗi nhóm kéo một đầu dây ở hai bên đà trượt. Như thế, dây buộc khối đá là dây đôi, khi lòn qua trục quay sẽ chia làm hai ngã. Khi kéo đến, bàn trượt sẽ được di chuyển trên đà trượt đến nơi quy định.

Riêng khối chóp cuối cùng của Kim Tự Tháp sẽ có một đội ít người hơn người đứng đứng trên giàn đở (k‎ý hiệu A) đầu đối diện hướng vừa để kéo phụ lực vừa để điều chỉnh vị trí đỉnh chóp.

Dĩ nhiên công việc này cần có người chỉ huy cũng đứng trên giàn đở (k‎ý hiệu D) để xác định vị trí của chóp. Khi bàn trượt kéo lên đến méo thành chóp kim tự tháp, đội điều chỉnh phía bên kia chằng dây kéo phụ để điều khiển khối đá ăn vào vị trí đã định. Công việc này có nhiều xê dịch tới lui, phải phối hợp với đội kéo chính có nhiệm vụ nâng khối chóp này. Thực tế đội kéo chính và đội kéo điều chỉnh khó phán đoán vị trí chính xác cần đưa vào. Người chỉ huy phải làm việc này và ra những lệnh điều chỉnh thích hợp. Vị trí đã ăn khớp, đòn bẫy sẽ dùng để kéo bàn trượt ra. Khi kéo bàn trượt ra người chỉ huy cần có kinh nghiệm để khối chóp ở đúng vị trị hay ít phải xê dịch điều chỉnh quá nhiều.

b.- Nâng thẳng đứng: đây là một đề xuất phụ của một tác giả khác: James Frederick Edwards (2003). Phương pháp này đưa các khối đá vào trong lòng Kim Tự Tháp và từ đó kéo lên. Đặc biệt phương pháp này tỏ ra khả thi khi vận dụng để nâng và hạ khối đá siêu trọng như chiếc quách của Pharaoh vào đúng phòng quàn xác ướp.

Phương pháp này dùng hệ thống 2 trục quay đặt trên dưới nhau. Như thế lực nâng bị chia ra và người kéo có thể ghì đở chịu mõi. Hơn thế nữa, nười kéo sẽ làm việc trên một mặt phẳng nên năng suất và độ an toàn cao hơn.

Do kéo thẳng đứng nên khối đá chịu thêm một lực do gia tốc trọng trường tác động vào. Do vậy, hệ thống này phải dùng một đội kéo đông hơn chia thành 4 nhóm kéo theo 4 phương thẳng góc nhau. Hệ thống trục quay cũng thay đổi: thay vì nằm ở giữa sẽ dười ra 4 cạnh của hệ thống. Dây kéo sẽ luốn quan khối đá và đưa ra ở 4 trục quay trên. Nhóm kéo sẽ dùng sức kéo đầy dây này.

c.- Nâng chuyển khối siêu trọng của chiếc quách: chiếc quách này như đã nói nặng 50-60 tấn. Tác giả sử dụng phương pháp đối trọng bằng những khối đá nhỏ hơn.

Thay cho sức kéo, tác giả đề xuất dùng 8 khối đá có trọng lượng 5-6 tấn mỗi khối, mỗi khối do một đội kéo khoảng 80 người điều khiển, để nâng hay hạ thẳng đứng. Những khối đá này được thả từ từ ngược hướng nâng của khối siêu trọng.

Như vậy việc nâng chuyển chiếc quách siêu trọng được giải quyết bằng 8 đội kéo thả từ từ 8 khối đá 5-6 tấn xuống làm đối trọng cho chiếc quách, khi cần kéo lên hay thả xuống. Số lượng nhân công làm việc này lên đến 640 người. Điều kiện mọi người phải làm việc đều tay sao cho ăn khớp nhau, tránh có khối đối trọng nào đi quá nhanh (vì nó sẽ gây tai nạn), đó là vai trò của người chỉ huy.

(còn tiếp)

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 3:  CÁC GIẢ THUYẾT XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP ( tt )

Biên Khảo : ĐỨC CHÍNH

C.- Khai thác và vận chuyển đá

Các nghiên cứu gần đây trên cơ sở hóa học cho thấy đá granit đỏ trong Kim Tự Tháp Khufu lấy từ mỏ đá Aswan, nằm ở thượng nguồn sông Nil cách Giza 934km (tính theo đường chim bay 700 km). Riêng chiếc quách làm bằng đá granit đỏ của Pharaoh Khufu thôi cũng nặng từ 50 đến 60 tấn (kích thước 1,3×1,8x8m)

Bên cạnh, có những khối đá vôi lấy từ thiên nhiên ở các mỏ gần đó như đã nói ở phần trước. Các nghiên cứu gần đây cho thấy phần đá vôi khai thác tại mỏ Tura, bên bồ Tây Sông Nil (phía nam Cairo) cách Giza 13-17 km. Một mỏ đá khác nằm ngay vùng Giza (gọi là mỏ Giza) nhưng cũng cách công trường vài cây số.

Dù gần hay xa, vấn đề khai thác và vận chuyển cũng đặt thành vấn đề nan giải. Chẳng hạn di chuyển khối đá granit dùng làm chiếc quách nặng trên 60 tấn vượt gần 1.000 cây số với sức người và công cụ thô sơ?!

1.- Khai thác và chế tác đá:

Khai thác đá tức lấy từ khối địa chất tại mỏ đá ra những thể tích theo đúng yêu cầu xây dựng: cắt đá mỏ ra thành khối. Vấn đề này tưởng chừng đơn giản này lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi chỉ vì một l‎ý do đơn giản: các khai quật không tìm thấy dấu vết dụng cụ khai thác đá nào cả. Các cuộc tranh cãi cứ đặt trên nền tảng những thử nghiệm và phán đoán.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng công cụ tạo hình các khối đá là búa và đục bằng đồng. Nguyên lý‎ thông thường dụng cụ chạm đẽo đá phải có độ cứng cao hơn đá. Dựa vào thang độ cứng Mohs, đá vôi là 4. đá granit từ 6 đến 8. Trong khi đó độ cứng của đồng nguyên chất chỉ có 3. Nên trái với những giả thuyết trước đây, Franz Löhner đoan chắc nếu không dùng dụng cụ rèn từ sắt thì việc cắt các khối đá là chuyện không thể (độ cứng sắt rèn là 7-8, theo thang Mohs). Nhưng nhà Ai Cập học người Anh Denys Stocks chứng minh được các loại khoan và cưa làm bằng hợp kim đồng (chứ không phải đồng nguyên chất) vẫn gia công chế tác đá tốt. Thực tế các khảo cứu gần đây cho thấy chất đồng thời Ai Cập cổ đại không là đồng nguyên chất. Nó được chế tác từ khoáng đồng có lẫn arsenic và de bismuth, nên sản phẩm của nó là một hợp kim có độ cứng cao hơn đồng nguyên chất nhiều.

Stocks còn thử nghiệm cưa đá bằng công cụ hợp kim đồng có gia thêm cát thạch anh ở phần tiếp xúc với đá nhằm gia tăng độ ma sát. Phương pháp này khá thuyết phục vì cát thạch anh có sẳn ở sa mạc Ai Cập và công cụ dùng chung với nó không đòi hỏi phải tinh xảo lắm. Thuyết này hiện được đông đảo thừa nhận.

Mặt khác, lý‎ thuyết cơ học cho biết các vật bén nhọn cho phép cắt đẽo những vật có độ cứng hơn nó (phản bác lý‎ luận của Franz Löhner). Như thế đục bằng đồng vẫn có thể đục chạm các khối đá. Việc này đã được thực nghiệm chứng minh.

Cắt chuẩn xác góc cạnh cho khối đá

Kim Tự Tháp Khufu có góc nghiêng khoảng 520. Yếu tố kỹ thuật này đòi hỏi các khối đá khi khai thác phải đáp ứng thì việc xây dựng sau đó mới dễ dàng và an toàn. Như vậy, các khối đá nằm ở mặt ngoài Kim Tự Tháp không những đạt tiêu chuẩn độ phẳng thích hợp mà còn phải đảm bảo yếu tố kích thước và góc cạnh theo yêu cầu xây dựng.

Như trình bày ở trên, người Ai Cập có phương thức seked, nhưng phương thức này gây khó khăn khi xác định ngay tại công trường. Mỗi lần như thế phải dùng dây dọi để xác định tỷ lệ tương ứng với seked như hình vẽ dưới đây.

Rõ ràng thiếu dây dọi sẽ làm lệch độ nghiêng vì sai lệch đoạn thẳng tương ứng mà ra, còn dùng dây dọi quả cản trở khá nhiều tiến độ chế tác đá vì quá trình này đòi hỏi kiểm tra lại nhiều lần. Khắc phục điều này, người Ai Cập chế sẳn cái lường bằng gỗ theo góc nghiên cho trước.

2.- Thủy vận các khối đá :

Dấu vết các khu Kim Tự Tháp đều có các con kinh lớn dẫn vào khu gần Kim Tự Tháp. Tại đó có một bến cảng nhỏ để tiếp nhận các khối đá. Vết tích các bến cảng này được giới khảo cổ gọi là hố thuyền. Như bài 2 đã nói, phần lớn các Kim Tự Tháp đều có dấu vết hố thuyền.

Đó là lẽ đương nhiên và là lựa chọn của các pharaoh khi xây dựng các Kim Tự Tháp bên cạnh bờ sông Nil: khai thác thủy lộ để vận chuyển đá. Nhưng đó cũng là câu hỏi đối với các nhà khoa học: phương thức và phương tiện thủy vận như thế nào?

Đề xuất thứ nhất là chuyển các khối đá lên một chiếc xuồng được thiết kế dùng cho việc này, lợi dụng sức gió theo hướng Bắc Nam và sức đẩy của dòng nước (vì các mỏ nằm vùng thượng lưu còn khu Kim Tự Tháp đa phần nằm ở hạ lưu) của sông Nil để chuyển vận. Khi sức gió và dòng nước không đủ để con tàu di chuyển, người ta dùng mái chèo và dây kéo bằng sức người ở hai bên bờ. Ở gần công trường, họ khơi một con kinh đủ rộng để việc thủy vận tiến vào sát vào công trường.

Bài toán này có vẽ hợp l‎ý với những khối đá thông dụng 5-6 tấn. Nhưng với những khối đá siêu nặng như chiếc quách của vua Khufu (60 tấn) vấn đề chuyển lên và chuyển xuống (trong trường hợp con thuyền đủ sức chịu đưng) không là chuyện đơn giản ngay cả trong điều kiện ngày nay. Vậy người Ai Cập cổ đại giải quyết thế nào?!

Franz Löhner đề xuất một giả thuyết có nhiều tính khả thi: người Ai Cập chuyển khối đá siêu trọng đó lên một chiếc bè, cặp chiếc bè đó có hai chiếc thuyền lai dắt đi.

Với những khối đá này khi di chuyển lên bè (tương đối ngang mặt nước, thuận lợi hơn thuyền vì thuyền có thành nhô cao) phải dùng đến sườn dốc để đẩy. Loại sườn dốc này sẽ gặp lại trong phần D: đưa các khối đá lên Kim Tự Tháp.

3.- Vận chuyển trên bộ :

a.- Dùng trâu bò kéo trên xe trượt: có thể phương thức này dùng sức người để kéo. Theo tài liệu cổ của Ai Cập, có hình vẽ tượng pharaoh đặt trên các xe trượt để thần dân kéo đi. Theo mô tả của thư tịch tượng này cao 13 cubits (6,81 m), nặng đến 60 tấn (tương đương chiếc quách bằng đá granit hồng của Khufu)

Tuy nhiên với số lượng đá khổng lồ và không đòi hỏi quá nhiều câu nệ lễ nghi như đối với tượng pharaoh, sức người có thể thay thế bằng sức gia súc.

Theo các nhà khoa học, họ dùng xe trượt vì thời ấy người Ai Cập chưa sáng kiến ra bánh xe. Chính vì thế lực ma sát với mặt đường lớn và đòi hỏi nhiều sức kéo. Đòi hỏi này đặt thành vấn đề cần bao nhiêu nhân lực để kéo (nếu dùng sức người) hay có giải pháp nào để dung hòa với việc canh tác (nếu dùng gia súc kéo). Dồn hết sức gia súc cho việc xây dựng Kim Tự Tháp sẽ có vấn đề cung ứng lương thực cho nhân công tại đây.

b.- Đề xuất của kéo trục lăn của Löhner. Các khối đá đặt trên các trục lăn bằng gỗ và dùng dây kéo. Các trục lăn này đặt trên các đường ray nên trượt đi khá dễ dàng.

Năm 1991, Löhner đã thử nghiệm phương pháp này tại Đức và kéo được khối đá nặng 5 tấn. Nhưng thử nghiệm này không giải quyết được vấn đề di chuyển các khối đá lớn như chiếc quách của Khufu. Bởi lẽ :

– Sức chịu lực của các trục tròn không lớn như trục dẹt của xe trượt. Vậy giới hạn sức nặng khối đá bao nhiêu để trục lăn bằng gỗ không bẹt dúm.

– Việc xây dựng đường ray qua nhiều địa hình không phải dễ dàng và dĩ nhiên kích thước khối đá đến một giới hạn nào đó phải có đường ray lớn thích hợp.

Nhưng phải thừa nhận đa số các khối đá dùng xây dựng Kim Tự Tháp đều thỏa với thí nghiệm và mỗi Kim Tự Tháp đều có dấu vết con đường đấp dẫn đến tận chân Kim Tự Tháp cùng với con kinh lớn xẻ từ sông Nil vào bến cảng công trường. Có thể phương pháp này rất hiệu quả cho việc vận chuyển những khối đá thông dụng từ bến cảng đến khu chế tác và từ khu chế tác đến chân Kim Tự Tháp.

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Older Posts »