Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘kiên giang’

Những con tàu buôn cổ được trục vớt cổ vật tại vùng biển Kiên Giang, Phú Quốc.

Tàu Bảo Trân tham gia khảo sát tàu đắm ở gần Hòn Thơm và Hòn Dầm năm 2008

Tàu Bảo Trân tham gia khảo sát tàu đắm ở gần Hòn Thơm và Hòn Dầm năm 2008

Vùng biển Kiên Giang nằm trong đầu mối con đường giao lưu thương mại quốc tế nên còn lưu giữ nhiều di chỉ tằu đắm cổ. Cho tới trước đợt khảo sát năm ngoái, Kiên Giang đã phát hiện 4 di chỉ tàu đắm, đó là: Tàu đắm Hòn Dầm, Tàu đắm Hòn Ông Đội; Tàu đắm Phú Quốc; Tàu đắm Rạch Tràm (Bãi Thơm).

Chuyên gia chuẩn bị thiết bị lặn

Chuyên gia chuẩn bị thiết bị lặn

Sau khi nghiên cứu tìm hiểu thông tin về những tàu đắm cổ trên vùng biển này, các cơ quan đã làm thủ tục xin phép khảo sát thăm dò tàu đắm cổ tại 2 địa điểm khảo cổ gần Hòn Thơm và Hòn Dầm. Cuộc khảo sát do Sở VH-TT tỉnh Kiên Giang Giang, Bảo tàng Lịch sử VN tiến hành có phối hợp cùng 2 doanh nghiệp để có trang thiết bị cần thiết. Họ đã huy động tới 14 thợ lặn và 8 chuyên gian khảo cổ học dưới nước của Việt Nam và của Pháp, Italia cùng tham gia.

(Cuối tháng 9/2007, Liên danh Công ty TNHH Hoàng Đức Lợi và DNTN Bảo Trân đã gởi văn thư và hồ sơ xin phép UBND tỉnh Kiên Giang khảo sát địa điểm tàu cổ đắm tại vùng biển gần Hòn Thơm và Hòn Dầm, huyện Phú Quốc. Ngày 05/10/2007, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đã có ý kiến chấp thuận cho nhóm liên danh tiến hành khảo sát ban đầu hai vị trí tàu cổ đắm theo đề nghị dưới sự giám sát của các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương…

Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch) đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng và UBND huyện Phú Quốc tổ chức giám sát việc khảo sát. Mới đây Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) đã báo cáo về UBND tỉnh Kiên Giang và các ngành chức năng kết quả cuộc khảo sát này.

Thực hiện quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh, Sở VH,TT& DL phối hợp với Bảo tàng lịch sử Việt Nam, liên danh Công ty thống nhất chương trình và đoàn khảo sát. Đoàn khảo sát gồm 30 người do ông Nguyễn Hữu Phúc, Phó Giám đốc Sở VH,TT& DL làm trưởng đoàn; Tiến sỹ Nguyễn Đình Chiến, Bảo tàng lịch sử Việt Nam làm phó trưởng đoàn, phụ trách khoa học; ông Nguyễn Hữu Phương, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh làm phó trưởng đoàn trực. Ngoài ra còn có các thành viên thuộc cơ quan chức năng có liên quan, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Đức Lợi, thợ lặn, thợ máy và 08 chuyên gia khảo cổ học, kỹ thuật viên người nước ngoài. Theo Thông tin về đợt khảo sát tàu cổ đắm tại vùng biển Kiên Giang đăng trên http://www.kiengiang.gov.vn)

Xin mở ngoặc một chút về việc chuẩn bị để tiến hành công cuộc tìm kiếm này. Tàu khảo sát của doanh nghiệp Bảo Trân được trang bị các trang thiết bị lặn khảo sát hiện đại như hộp điều khiển, máy định vị vệ tinh, máy nén khí dùng cung cấp khí thở, quần áo lặn, dây chì, chân nhái, dao, đèn pin, máy điện đàm dưới nước… Ngoài ra, các chuyên gia nước ngoài còn mang đến một số thiết bị chuyên dụng hiện đại khác. Ông Herve Blanchet, chuyên gia khảo cổ người Pháp đã báo cáo trước các thành viên đoàn khảo sát về tính năng, công dụng của những thiết bị tân tiến này, chẳng hạn như máy Starfish box có khả năng siêu âm sâu qua lớp bùn dày 40m, thông tin phản hồi lại trên máy tính bằng sóng siêu âm thể hiện qua các màu sắc khác nhau. Qua sự phản hồi này, các chuyên gia điều khiển sẽ biết được sâu dưới lớp bùn có những vật thể gì. Một thiết bị khác là máy Scan Scabedimaging System có khả năng khảo sát trên bề mặt đáy biển ở độ sâu tối đa 50m trên diện tích 50x25m. Ngoài ra họ còn mang đến thiết bị phụ trợ GPS và máy rà kim loại…

Chậm hơn ngư dân

Vị trí tàu đắm thứ nhất, ở cách Hòn Thơm khoảng 2km. Sau hơn 20 ca lặn trong 3 ngày, đoàn khảo sát đã tìm hiểu đầy đủ về số phận con tàu này, đáng tiếc là toàn bộ hiện trường đã bị phá hủy do ngư dân khai thác trái phép trước đó. Dấu vết còn lại là một ụ nổi hình bầu dục cao 1m, dài 70m, rộng 40m. Giữa ụ là một hố sâu lộ ván đáy tàu, kích thước 6mx3m.

Cổ vật bị hàu biển bám chặt. Ảnh do đoàn khảo sát cung cấp

Cổ vật bị hàu biển bám chặt. Ảnh do đoàn khảo sát cung cấp

Căn cứ vào dấu vết hiện trường còn lại, đoàn khảo sát quyết định thổi lớp bùn cát theo 2 luống rộng 2m dọc theo chiều dại ụ nổi để xác định trữ lượng hiện vật còn lại. Tuy nhiên lẫn trong bùn cát hầu như chỉ còn lại những mảnh đồ gốm Thái Lan bị vỡ và bị hàu biển bám chặt.

Đoàn đa thu 73 hiện vật gốm ở di chỉ này. Cụ thể có 8 chén men ngọc, 13 bát men ngọc, 6 đĩa. Đặc biệt tìm thấy một chiếc nghiên mực bằng sành, hình tròn, mặt phẳng, rìa mặt tào gờ nổi hình sống trâu có một lỗ thoát nước hình chữ V, chân đế choãi.

Ở vị trí thứ 2 là Hòn Dầm, các chuyên gia cũng sớm thất vọng vì toàn bộ di chỉ đã bị phá, hiện vật bị khai thác cạn kiệt. Dấu vết còn lại của di chỉ là một hố sâu hình vòng chảo đường kính khoảng 60m, trên bề mặt còn rải rác mảnh gốm vỡ. Số lượng hiện vật mang lên chỉ có 17 đồ, song khá phong phú về dòng men: men trắng vẽ lam, men thúy lam, men ngọc, men nâu, đất nung …

Phỏng đoán về 2 con tàu

Trước cuộc khảo sát này, đã có 5 còn tàu cổ bị đắm trên vùng biển Việt Nam được khai quật trong gần 20 năm qua, thu được những hiện vật vô giá, đó là tàu Hòn Cau, Hòn Dầm, Cù Lao Chàm, Cà Mau, Bình Thuận. Trong đó Cù Lao Chàm thu được 24 vạn cổ vật; tàu Cà Mau và Bình Thuận, mỗi tàu thu được 6 vạn cổ vật. Tuy nhiên, 5 con tàu đó chưa phải là con số cuối cùng, vùng biển Việt Nam – nằm trên “con đường tơ lụa” xưa của thế giới – vẫn còn rất nhiều bí ẩn.

Qua phân tích, đoàn khảo sát cho rằng, tàu đắm Hòn Thơm là một tàu buôn chở gốm Thái Lan xuất khẩu có xuất xứ từ các lò gốm Shawankhalok và Shingburi TK 15. Đặc biệt hiện vật trên tàu hoàn toàn giống với hiện vật cùng loại thu được trong đợt khảo sát tàu đắm Phú Quốc năm 2004.

Số hiện vật thu được tại di chỉ Hòn Dầm ngoài những loại hình tương tự ở Hòn Thơm còn có một số mảnh bát sứ mang đặc điểm của đồ sứ lò Cảnh Đức Trấn, thời Minh (Trung Quốc). Nếu chỉ căn cứ vào số lượng ít ỏi này thì khó có thể nói đây là đồ dùng của thủy thủ đoàn hay hàng hóa xuất khẩu cùng với đồ gốm Thái Lan.

Tuy nhiên, qua khảo sát một số sưu tập tư nhận ở Rach Giá, TS Nguyễn Đình Chiến – người phụ trách về mặt khoa học của đoàn – cho rằng có thể đặt ra 2 giả thuyết: Hoặc đây là tàu chở đồ gốm xuất khẩu của Trung Quốc và Thái Lan TK 15 hoặc đây là chiếc tàu buôn của người Trung Quốc chở đồ gốm Thái Lan xuất khẩu.

Do toàn bộ hiện trường của cả 2 di chỉ đã bị phá hủy nghiêm trọng nên các thông tin về cấu trúc và chủ nhân con tàu không thể xác định được một cách chắc chắn và không thể tiến hành dự án khai quật khảo cổ học được. Số hiện vật thu được trong tàu không nhiều và hầu hết đã bị vỡ nên chỉ có giá trị nghiên cứu và trưng bày. Tuy nhiên bản đồ khảo cổ học vùng biển Kiên Giang đã được đánh dấu thêm 2 di chỉ tàu đắm cổ TK 15.

Tàu đắm cổ nhất chưa hề được biết đến ở Việt Nam!

Điều đặc biệt là so với gần chục con tàu đắm cổ được biết đến thời điểm này, thì đây là con tàu cổ nhất, cách đây ngót ngàn năm.

Thợ lặn chuẩn bị bình và khí lặn trong cuộc khảo sát di chỉ tàu đắm trên biển gần Hòn Thơm và Hòn Dầm năm 2008.

Thợ lặn chuẩn bị bình và khí lặn trong cuộc khảo sát di chỉ tàu đắm trên biển gần Hòn Thơm và Hòn Dầm năm 2008.

Cũng từ cuộc tìm kiếm không mấy thành công về 2 con tàu đắm ở Hòn Dầm, Hòn Thơm năm 2008, tại hội nghị thông báo Khảo cổ học gần đây, TS Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quốc Hữu (Bảo tàng lịch sử Việt Nam) và Nguyễn Hữu Phương (Bảo tàng Kiên Giang) lần đầu tiên công bố những thông tin về tàu đắm cổ Rạch Tràm, Phú Quốc (Kiên Giang) đã được khai quật từ mấy năm trước, nhưng trước thời điểm đó “chưa hề xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như các công bố khoa học”.

Từ những đồ gồm cổ

“Đầu năm 2008, sau khi kết thúc đợt khảo sát hai di chỉ tàu đắm tại vùng biển Phú Quốc, chúng tôi đã đi thăm một sưu tập tư nhân ở Rạch Giá – TS Nguyễn Đình Chiến cho biết – Thật bất ngờ khi thấy trong sưu tập của họ có nhiều đồ gốm vớt được tại biển mang đặc điểm của gốm men ngọc thế kỉ 12 -13 thời Nhà Tống, Trung Quốc.

Theo chủ nhân sưu tập, số hiện vật này có xuất xứ từ một di chỉ tàu đắm cổ, cũng ở vùng biển Phú Quốc. Tuy nhiên, cho tới nay, thông tin về con tàu đắm cổ này chưa hề xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như các công bố khoa học.

Và thật bất ngờ hơn, khi lấy tư liệu về đồ gốm Thái Lan trong kho bảo tàng Kiên Giang, chúng tôi lại thấy một sưu tập gốm tương tự những đồ gốm trong sưu tập nói trên. Trao đổi với các đồng nghiệp Bảo tàng Kiên Giang, chúng tôi được biết, đây là sưu tập hiện vật do Bảo tàng Kiên Giang phối hợp với Xưởng 58, Hải quân vùng 5 tổ chức khai quật vào tháng 2 năm 2000, từ một di chỉ đắm tàu ven đảo Phú Quốc, thuộc địa phận ấp Rạch Tràm, xã Bãi Thơm (sau đây gọi tắt là tàu đắm Rạch Tràm).

Tàu đắm Rạch Tràm do ngư dân địa phương tình cờ phát hiện ra. Tuy nhiên họ không báo cáo lên các cơ quan chức năng mà tự ý tổ chức nhiều cuộc lặn trộm vớt đồ cổ trong một thời gian dài. Bởi vậy, cuộc khai quật của Bảo tàng Kiên Giang chỉ mang tính chất là một cuộc khai quật chữa cháy”.

Bè chở gốm hay tàu chở gốm ngót ngàn năm trước?

Theo báo cáo nói trên của các tác giả thì sau khi tiến hành thổi cát nhiều điểm trong phạm vi 500m2, mỗi điểm rộng 5m2, sâu từ 1,5-1,8m, đoàn khai quật đã xác định được vị trí tàu chìm ở dưới độ sâu khoảng 6m và chỉ cách bờ đảo chừng 200m.

Kết quả khai quật cho thấy, di chỉ đã bị phá hủy nghiêm trọng. Dấu tích còn lại của con tàu chỉ là những tấm ván đáy tài rộng 70 – 80cm, dầy 40cm. Chiều dài của những tấm ván chạy song song với bờ đảo, theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Như vậy, có thể cho rằng đó cũng chính là hướng nằm của tàu đắm khi chìm dưới đáy biển. Tuy nhiên, do không có điều kiện lần theo hết dấu vết của những tấm ván này nên không thể xác định được mũi tàu và đuôi tàu. Cũng cần nói thêm, lúc đó đoàn khai quật đã nhận định đây là một bè gỗ chở đồ gốm.

“Theo ý kiến của chúng tôi thì nhận định này không được thuyết phục lắm vì đây chỉ là phần đáy con tàu cổ” – báo cáo nhấn mạnh.

Hiện vật trong tàu hầu như đã bị khai thác đến cạn kiệt. Trong khu vực tàu đắm hầu như chỉ còn lại những mảnh gạch và đồ gốm vỡ. Theo báo cáo khai quật thì gạch được xếp thành lớp sát ván đáy tài. Đáng tiếc là những viên gạch này đều được để lại ngoài Phú Quốc nên không rõ đặc điểm hình dáng, kích thước, màu sắc…

Riêng đồ gốm, căn cứ vào số lượng hơn hai trăm hiện vật thu được từ đợt khai quật hiện đang lưu giữu tại kho Bảo tàng Kiên Giang có thể thấy đồ gốm tàu đắm Rạch Tràm thuộc dòng gốm men ngọc. Qua dáng hình tròn trịa, cân đối không một vết gợn nhỏ chứng tỏ đây là những sản phẩm được chế tạo kĩ lưỡng từ khâu lọc nhào nguyên liệu, tạo hình sản phẩm, chỉnh sửa hàng mộc cho đến khi xếp vào lò nung.

Đáng chú ý trong đó có nhiều tiêu bản giữa lòng in nổi chữ Kim hoặc chữ Phúc. Đây là kiểu bát men ngọc điển hình được sản xuất thế kỉ 12 – 13, thời nhà Tống (Trung Quốc). Kiểu bát này còn được bảo lưu đến thời Nguyên nhưng chân đế nhỏ hơn và thường được cắt tiện vuông thành sắc cạnh.

Phải chăng, xưa kia, Phú Quốc là điểm dừng chân của tàu buôn?

Báo cáo đưa ra kết luận, tàu đắm Rạch Tràm là một tàu buôn cổ chở gạch và đồ gốm men ngọc Trung Quốc, xuất khẩu vào thế kỉ 12 – 13. Theo các tàu liệu đã công bố thì Nhà Tống đặc biệt chú ý mở rộng giao lưu thương mại đường biển với các nước khu vực Đông Nam Á. Nhiều bằng chứng cho thấy hàng hóa Trung Quốc thời kì này có mặt ở khắp nơi quanh các vùng biển Sulu – Celebers – Maluccas. Trong những đoàn tàu thương mại đó, thật không may khi tàu Rạch Tràm đã không tới được đích cần đạt đến mà phải nằm lại dưới đáy biển Phú Quốc ngót một nghìn năm.

Tại sao con tàu này gặp phải số phận bất hạnh như vậy? Đoàn khai quật đưa ra nhận định do gặp phải sóng lớn. Tuy nhiên, theo tư liệu về điều kiện tự nhiên, đặc điểm khí hậu thì biển Kiên Giang là vùng biển êm, ít có sóng lớn, độ cao của ngọn sóng không quá 5m và không có sóng ngầm. Còn theo báo cáo khai quật thì khu vực tàu đắm có nhiều đá ngầm và san hô tảng lớn.

“Kết hợp 2 yếu tố trên, chúng tôi cho rằng, khả năng tài bị đắm là do va phải đá ngầm khi ghé qua đảo để nghỉ. Cũng xin lưu ý rằng, vị trí của tất cả các con tài đắm phát hiện tại vùng biển Phú Quốc đều rất gần bờ. Phải chăng, xưa kia, đảo Phú Quốc là một điểm dừng chân trên hành trình thiên lý vượt biển của các con tàu buôn?”- báo cáo kết luận (theo báo cáo về tàu đắm cổ Rạch Tràm).

Theo Xaluan.com

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Gốm truyền thống Hòn Đất, Kiên Giang

Nghề gốm ở Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang đã phát triển thành nghề truyền thống của một bộ phận cư dân xứ Hòn gần 100 năm qua góp phần ổ định cuộc sống của nhiều gia đình nơi đây.

Tuy nhiên, mấy chục năm qua nghề gốm ở Hòn Đất chủ yếu là sản xuất các mặt hàng truyền thống như lò ràng, lị than, nồi đất, khuôn bánh khọt , các loại am, chum đựng nước, diệm dùng đặc rượu, v.v…

Mấy năm gần đây, đời sống của nhân dân được nâng lên cùng với thị trường đa dạng hoá các mặt hàng gia dụng như bếp ga, đồ điện, các mặt hàng được sản xuất từ nhuôm, sành, sứ cao cấp vừa tiện lợi, giá cả phù hợp với điều kiện kinh tế của đại bộ phận nhân dân đã làm ảnh hưởng đến giá thành và đầu ra của sản phẩm gốm Hòn Đất.

Do đó, để nghề gốm ở Hòn Đất tồn tại và phát triển đòi hỏi cấp thiết đối với những người sống bằng nghề gốm là phải thay đổi hình thức sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển của xã hội.

Để giải bài toán về làng nghề gốm ở Hòn Đất, đầu năm 2007 với sự tài trợ của Trung tâm khuyến công tỉnh Kiên Giang một mô hình sản xuất gốm mới theo hình thức sản xuất hàng mỹ nghệ, do Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đồng Thịnh ở xã Bình Sơn đang triển khai thực hiện.

Đây là một hình thức sản xuất mới với những mặt hàng gốm được sản xuất đảm bảo cả ba tiêu chí: kỹ thuật, mỹ thuật và giá thành sản phẩm. Qua bước đầu thực nghiệm cho thấy đây là một triển vọng mới đối với nghề làm gốm ở Hòn Đất.

Theo sự hướng dẫn của anh Đào Hùng Phương, Trưởng phòng Công Thương Khoa học Công nghệ Hòn Đất chúng tôi đến thăm làng nghề gốm thủ công thuộc ấp Đầu Doi, Thị Trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất.

Hiện nay trong ấp có trên 500 hộ dân, đã có gần một nửa với trên 500 lao động làm nghề sản xuất mặt hàng gốm.

Đất sét của xứ Hòn có độ mịm và dẻo rất cao nên khi nắn, nung ít hư, sản phẩm lại có độ bền nên được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Vào những năm 1980 là giai đoạn sung túc nhất của làng gốm Đầu Doi.

Các mặt hàng gia dụng làm bằng gốm ở thời điểm đó bán rất chạy nên hầu người dân địa phương sống nhờ vào nghề gốm. Nhà nào cũng có từ hai đến ba lò gốm và sản phẩm được ủ nung thường xuyên.

Nhiều gia đình có điều kiện còn tranh thủ mùa nắng sản xuất, tích luỹ để có hàng bán vào những tháng mùa mưa.

Giá mỗi cái lò ràng ở thời điểm đó có lúc tính bằng một giạ lúa. Có lẻ đây là giai đoạn ăn nên, làm ra nhất đối với những người dân ấp Đầu Doi.

Mấy năm gần đây các mặt hàng gia dụng được sản xuất từ gốm đã ít được người tiêu dùng quan tâm sử dụng hơn.

Hầu hết những gia đình thuộc diện trung bình trở lên đã dùng bếp ga, nồi cơm điện hoặc xây lò chụm bằng củi, trấu bằng gạch thay cho việc nấu củi bằng lò ràng, nồi đất.

Các mặt hàng gia dụng khác cũng dần được thay thế bằng đồ sành, sứ, nhuôm, nhựa, Inox nên các mặt hàng bằng gốm bán ít chạy và giá thành lại thấp. Giá sản phẩm thấp nên công thợ cũng rẻ. Một người thợ làm suốt ngày chỉ kiếm được 20.000 đồng tiền công.

Đến thăm gia đình chú Trần Văn Tuồng, gia đình chú cũng đã có trên 30 năm sống nhờ vào nghề gốm. Thế nhưng theo chú Tuồng cho biết hiện nay làm nghề gốm rất khó sống.

Một cái cà ràng loại lớn chỉ bán được 7.000 đồng. Lò than được rạng bằng thiết, trét xi măng thật kỉ loại lớn bán được hơn 40.000 đồng. Còn lại những loại nồi đất, lò nhỏ chỉ bán vài ba ngàn đđồng.

Nếu như so sánh với giá lúa ở thời điểm như hiện nay, gần hai chục cái cà ràng mới mua được một gịa lúa. Mặc dù giá thành thấp như vậy nhưng số lượng tiêu thụ cũng rất ít. Mội tháng chỉ bán hơn ngàn sản phẩm các loại đã là nhiều.

Chú Tuồng tâm sự:” Mấy mười năm chỉ làm quen với nghề này nên việc đổi nghề là rất khó. Còn con Trai chú Tuồng, em Trần Thanh Nam cho biết:” Nhiều khi cũng muốn tìm cách làm mới để duy trì và phát triển để cải thiện nghề gốm của gia đình nhưng chưa biết làm cách nào ?”

Đó cũng là những trăn trở và suy nghĩ của anh Huỳnh Như Sanh, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh. Là hoạ sĩ lại kiếm sống bằng công việc kế toán cho một công ty ở Kiên Lương.

Cứ mỗi lần có dịp đi ngang qua làng nghề gốm ở ấp Đầu Doi, anh Sanh lại thấy thương cho người dân làng nghề.

Lao động cật lực nhưng thu nhập lại thấp. Nhìn thấy màu gốm tươi gói, anh tiết cho những sản phẩm làm ra quá thô sơ, giá thành không cao. Với anh Sanh việc thay đổi cách sản xuất gốm để vừa có giá trị kinh tế cao hơn đã thôi thúc anh bắt tay vào nghiên cứu cách làm mới.

Anh Sanh đã bỏ công tìm hiểu xây dựng dự án sản xuất mặt hàng gốm mỹ nghệ chất lượng cao.Với dự án này anh Sanh đã thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh.

Để có kinh phí đầu tư đi vào sản xuất anh Sanh đã vận động bạn bè, gia đình ủng hộ trên với số vốn đầu tư ban đầu là 500 triệu đồng, trong đó trung tâm khuyến công tài trợ 150 triệu đồng.

Với một người mới vào nghề, mà là nghề làm gốm mỹ nghệ quả là quá nhiều trở ngại. Tất cả điều bắt đầu từ con số không.

Để làm được việc, anh Sanh đã vận động một số thợ trẻ, say mê nghề cùng anh làm việc, Trung tâm Khuyến công Tỉnh Kiên Giang giúp anh rất nhiều trong việc chuyển giao kỹ thuật xây lò nung, tìm hiểu về độ mịn, độ nềm dẻo của đất, v.v… Riêng anh Sanh đã tự thiết kế ra hơn chục mẫu sản phẩm để đưa vào sản xuất thử.

Chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất của anh Sanh trong những ngày giáp tết. Nói là cơ sở sản xuất nhưng qui mô cũng còn rất nhỏ hẹp. Khuôn viên làm việc với diện tích gần 200m2 vừa là nhà kho, nhà trưng bày sản phẩm, khu làm việc cho gần chục công nhân, lò nung, khu chế tác tượng của hoạ sĩ.

Theo sự giới thiệu của anh Sanh sau hơn gần một năm vừa nghiên cứu, vừa sản xuất thí điểm cơ sở của anh đã cho ra trên 1.000 sản phẩm với khoản 30 mẫu sản phẩm.

Đặc biệt là sản phẩm bình hoa loại lớn có gần 100 chiếc, nhưng là mẫu sãn phẩm độc bình . Mỗi kích cỡ , mỗi mẫu chỉ sản xuất một chiếc duy nhất như Bình Hồ Lơ cao gần một mét, bình cấm hoa lại lớn và loại trung bình với nhiều kiểu dáng và hoa văn khác nhau.

Tất cả các loại bình này được nung từ đất gốm của xứ Hòn với màu rất sắc. Những chiếc bình hoa này khi trang trí trưng bày trên những chiếc đế làm chân bình được chế tác từ gốc cây tràm.

Cây sắn đã tạo thêm vẻ đẹp tự nhiên hài hoà giữa: Màu đỏ đất gốm, của cây lá và hoa nhưng lại rất sang trọng và điệu nghệ khi được bày trí trong phòng khách hàng ngày hay trong phịng khách.

Bên cạnh việc sản xuất sản phẩm độc bình, Công ty Đồng Thịnh cũng sản xuất một số mặt hàng mỹ nghệ bằng gốm màu như: Những loại tranh nỗi bằng gốm, các loại sản phẩm dùng để trang trí.

Do mới sản xuất thử nghiệm nên sản phẩm chưa thật sự sắc sảo nhưng từ thành công bước đầu đã mở ra một triển vọng mới, một hình thức sản xuất để có sản phẩm mới hơn và có giá trị hơn đối với việc sản xuất gốm ở Hòn Đất


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Nhà cổ ở Nam bộ – tư liệu tổng hợp

“Du khảo” một vòng quanh các ngôi nhà cổ nổi tiếng ở nam bộ mà xưa nay đã được ­nhắc đến ít nhiều qua việc lược ghi một số tư liệu

OVROUQ103638
Nhà Hội đồng Liêu (Đồng Nai). Ảnh: Huỳnh Nghĩa
OVROUQ103638

ĐỒNG NAI

Ngôi nhà mang tên Đạt Đức đường nhưng nhân dân địa phương quen gọi là nhà Hội đồng Liêu, tọa lạc ở xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch. Nhà được xây dựng cách nay khoảng một trăm năm. Do nhà có tới 114 cột, nên một tốp thợ thi công gồm 10 người đã phải mất hai năm mới hoàn tất ngôi nhà.

Nhà có dạng chữ đinh, nằm khuất sau hàng rào quýt dại và sau những tán lá xanh tươi của vườn sầu riêng, hài hoà trong cảnh vật của làng quê thanh bình. Bước vào hiên nhà là những mảng điêu khắc hoa, lá, trái cây sống động trên khung cửa, trên các khuôn bông và trước những kèo hiên chạm khắc những cành lá được cách điệu khéo léo thành những con rồng như đang vươn ra đỡ mái hiên nhà. Nội thất, cách bài trí cho đến các vật dụng đều được duy trì từ ngày đầu xây dựng ngôi nhà cho đến nay. Ba gian thờ đều nằm sát vách và còn đầy đủ những tự khí như đỉnh đồng, bát nhang, chân đèn và bình hoa, chò tử quả được bài trí đúng cách: đông bình tây quả.

Nhiều chi tiết được chạm trổ rất tinh xảo như các thành kèo, khuôn bông, các mảng cánh én hay những khung cửa buồng. Đặc biệt ba bức bao lam của những gian thờ là những tuyệt tác chạm lộng với những đoá hoa sen nở xòe trong dáng điệu gợi cảm thanh cao, những dải hoa lá xen nhau mềm mại, uyển chuyển, sinh động. Một đôi chim thiêng, dáng như chim phượng với cánh và đuôi xoè ra như múa. Các bức đại tự, bức liễn sơn son thếp vàng hay cẩn xà cừ chứa đựng những ước nguyện của người xưa càng làm cho không gian ngôi nhà có thêm một vẻ đẹp sâu xa.

BÌNH DƯƠNG .

Cụm nhà cổ gồm 3 ngôi nhà nằm cách nhau trên một khu đất giữa một bên là đường Đinh Bộ Lĩnh, một bên là chợ Phú Cường (thị xã Thủ Dầu Một). Nếu tính từ sông Sài Gòn trở lên, lần lượt là nhà các ông Trần Văn Hồ, Trần Văn Tề và Trần Công Vàng, chủ nhân của ba ngôi nhà này đều có quan hệ huyết thống với nhau.  Nhà ông Trần Văn Hồ xây vào năm 1890, nhà ông Trần Văn Tề là năm 1895 và nhà ông Trần Công Vàng dựng vào năm 1835.  Về kiểu thức kiến trúc, ngoại trừ nhà ông Hồ, hai ngôi nhà kia đều theo lối chữ đinh, có sân con và cầu nổi. Nhà ông Tề theo kiểu chữ đinh thuận, còn nhà ông Vàng theo lối chữ đinh nghịch. Nhà ông Vàng thiết kế theo hình chữ nhật, gồm 8 căn 2 chái (8 cột, 8 dầm, 8 khuyết), dài 24m, ngang 22m, diện tích sử dụng khoảng 500m2. Mái khá thấp so với kiến trúc hiện nay nhưng bên trong lúc nào cũng thoáng mát nhờ bốn phía đều có cửa sổ. Nền nhà lát gạch tàu. Vật liệu xây dựng chủ yếu là các loại danh mộc như sao, cẩm lai, mun, huỳnh đường… Có cả thảy 6 hàng cột với 48 cây. Giàn kèo đều được chạm trổ hình đầu rồng có những con dơi bám vào rất tinh vi. Nhưng đặc biệt hơn cả là giàn kèo cột đều được vào mộng, toàn bộ ngôi nhà không sử dụng một cây đinh!

Phần nhà trên của cả ba ngôi nhà đều cất theo kiểu xuyên trính với hai mái hai chái. Riêng nhà ông Hồ không có phần hành lang nội bao bọc quanh phần nhà thờ như hai ngôi nhà kia. Về những môtip chạm trổ thì cả ba ngôi nhà có những nét giống nhau, nhưng nhà ông Vàng nét chạm trổ tinh vi, sống động hơn, nhất là ở các bao lam, khám thờ và đầu vách ngăn. Các liễn đối, hoành phi, bao lam, bức thờ thì ở mỗi ngôi nhà có nét độc đáo riêng, tinh xảo và đa dạng.   Nhà ông Hồ có cái thủ quyển treo giữa nhà trông hoành tráng, nét chạm hình tứ linh thật sinh động. Hai bức thờ khảm xà cừ mà mỗi chữ Hán lại là sự kết hợp hình những con chim, con bướm, cành lá, đoá hoa… tạo thành một bức tranh sinh động.

Ở nhà ông Tề có những câu đối viết lối chân đỉnh, những chữ triện cách điệu, những bức tranh hoạt cảnh có kèm theo những bài thơ bát cú minh hoạ, tất cả đều khảm xà cừ công phu.

Nhà ông Vàng còn lưu một cặp liễn đối vẽ cách điệu bằng hình ảnh hoa trái treo hai bên bàn thờ giữa và cũng được cẩn xà cừ.

LONG AN

Nhà Hội đồng Trần Văn Hoa ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước được xây dựng vào năm 1898.   Ban đầu khi xây dựng có đến 160 cột. Đến nay ngôi nhà còn 120 cột: 68 cột tròn bằng gỗ, 52 cột vuông xây bằng gạch. Các cột tròn được phân bố thành 6 hàng, các cột vuông chủ yếu ở các vách tường và hai chái phía sau. Cột cao nhất cũng gần 5m, làm bằng các loại gỗ tốt như cẩm lai, gõ đỏ, thao lao, giáng hương… Tường làm bằng vôi trộn mật đường. Mái ngói dày đến 3 lớp: ngói thí tạo nguồn sáng cho nhà, lớp âm dương ở giữa và lớp ngói ống bên cho mát mẻ. Diện tích nhà trên 460m2, được xây theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, hai cửa ra vào theo hướng đông và đông nam. Phần trước để tiếp khách và thờ tự, phần sau để sinh hoạt.

OVROUQ103638
Nhà trăm cột (Long An). Ảnh: B.H.C

Nền nhà lót gạch tàu hình lục giác, nền cao nhất vùng (92cm) được cẩn đá hộc và xi măng kiên cố nhằm chống lại những con nước lớn từ sông Rạch Cát tràn vào. Các bao lam được chạm trổ tinh xảo theo kiểu cung đình Huế càng tôn thêm vẻ đẹp cho ngôi nhà. Ngôi nhà được xây dựng chỉ trong hai năm nhưng công đoạn chạm trổ, trang trí thì mất đến ba năm ròng qua bàn tay của 15 nghệ nhân từ miền Trung vào. Các đề tài tứ linh, tứ thời, “phúc – lộc – thọ” được chạm trổ rất điêu luyện. Mỗi đầu kèo đều được chạm khắc hình rồng, phần giữa kèo, nơi tiếp giáp với đầu cột được chạm một bông hoa nổi lớn, trên các thanh xà đều trang trí hoa văn. Những công đoạn khó ở trên cao, nghệ nhân phải mắc võng trên trần để thực hiện. Ba kiến trúc sư thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã phải mất hơn nửa tháng mới vẽ xong toàn bộ căn nhà để góp phần vào việc phục chế, sửa chữa lại căn nhà quý giá này.  Bộ lư đồng thờ cúng, các tấm liễn sơn son thếp vàng, khảm xà cừ, bộ bàn ghế, trường kỷ có chạm khắc, bộ xalông thúng, bàn quay tròn, đèn lồng, tủ, giường trong ngôi nhà cổ này đến nay vẫn còn được gìn giữ cẩn thận.

OVROUQ103638
Nhà cổ xóm nhà giàu. Ảnh: Trọng Nhân

Năm 1997, ngôi nhà cổ “trăm cột” này được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Ong Trần Văn Ngộ, cháu nội Hội đồng Trần Văn Hoa hiện là vị chủ nhà kiêm luôn thuyết minh lẫn nhân viên bảo vệ di tích.

“Xóm nhà giàu” ở xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành để chỉ 4 căn nhà nằm liền nhau do 4 anh em nhà họ Nguyễn xây dựng khoảng từ năm 1900 – 1908.    Bốn ngôi nhà đều có chung kiểu kiến trúc chữ công, ba gian hai chái, lợp ngói đại ống và được bao quanh bằng hàng rào với những thanh sắt được tạo dáng một cách công phu và tao nhã. Điều gây ấn tượng đầu tiên là 4 hàng cột, mỗi hàng 6 cột, đường kính một vòng tay người ôm, làm bằng gỗ căm xe lên nước đen bóng.

Giữa các hàng cột là 3 bao lam với những mảng chạm khắc hình muông thú, hoa trái vô cùng tinh xảo. Chỉ riêng việc trang trí nội thất cho ngôi nhà đã mất 3 năm trời. Các bao lam trung tâm phía dưới chạm hoa sen lá xòe, lá cụp, gương sen mãn khai lẫn búp sen; bên trên chạm cây tùng, chim trĩ, hoa cúc và chim hoàng anh, trông thật sinh động. Giữa bao lam chạm cuốn thư khắc ba chữ “phúc – lộc – thọ” theo kiểu chữ triện chân lư, dưới cùng là môtip bướm và hai bao lam tả hữu giống nhau, chạm hoa hồng và chim sẻ, cây tùng và chim công, chim hoàng anh và hoa cúc, ở giữa chạm dơi tả thực và dơi cách điệu. Kỹ thuật chạm lộng đặc sắc, tinh xảo, nét đục sắc gọn, đường vuốt công phu.  Ngoài ra, còn có những hoành phi, liễn, câu đối mang đậm nét văn hoá phương Đông; tất cả được bảo quản rất tốt. Nhiều đoàn làm phim đã mượn bối cảnh ở đây làm trường quay, cũng như  đã có nhiều thợ chạm khắc đến tham quan, học hỏi tay nghề bậc thầy của người xưa.

BẾN TRE.

Nhà của Hương Liêm (tức Huỳnh Ngọc Khiêm, sinh 1842) ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng trước năm 1900. Một điền chủ có trên 2.000 mẫu ruộng.

OVROUQ103638

Nhà cổ Đại Điền. Ảnh: Nguyễn Thành Công

Ngôi nhà trông rất đồ sộ, kiến trúc như một ngôi đình. Nhà cất theo hình chữ nhật, chu vi khoảng 100m với 48 cột bằng gỗ lim và căm xe quý. Cột hàng ba cao 3,5m, mỗi cột chu vi khoảng 80cm. Cột chính cao 4,5m, mỗi cột chu vi hơn 1,2m. Nhiều cột có chạm khắc, cẩn chữ Hán, hoa văn bằng ốc xà cừ. Xuyên, trính, kèo đều được chạm trổ. Hoành phi sơn son thếp vàng với 4 chữ: Hiếu, Để, Trung, Tín. Thành vọng chạm, lọng, với những họa tiết phong cảnh hay tứ linh trông thật sống động. Tủ, bàn, trường kỷ và hàng chục bức chạm khắc gỗ theo các điển tích xưa được cẩn xà cừ.  Mái lợp ngói âm dương, trên từng miếng ngói có in cảnh sinh hoạt dân gian với các chủ đề quen thuộc như mục đồng cưỡi trâu, con gà, con cua, bó lúa…Nền cao trên 1m, viền bọc nền là những thớt đá hoa cương dài 2 – 3m, được đục và gắn kết liền mặt, bao quanh nền nhà. Ngày trước thợ chạm, lọng thành vọng, cửa nhà, vách nhà được tính tiền công theo số dăm bào trong ngày, bao nhiêu chén dăm bào thì trả bấy nhiêu tiền. Việc vận chuyển gỗ, đá để làm nhà theo đường sông Hàm Luông. Ngôi nhà do những người thợ tài hoa của Thủ Dầu Một (Bình Dương) và Cần Giuộc (Long An) đến xây dựng. Người ta kể rằng, khi làm lễ khởi công, kéo gỗ từ ngoài bến vào, thợ làm nhà ăn bưởi cúng lễ khởi công rồi vứt hạt ra xung quanh. Những hạt bưởi đó mọc thành cây, lớn lên ra lứa quả đầu tiên (trong khoảng 5 năm) mà ngôi nhà vẫn chưa làm xong!

CẦN THƠ

Ngôi nhà cổ năm gian hai chái nằm trên đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ được xây dựng từ năm 1870. Nhà kiến trúc theo kiểu Pháp với nền nhà được nâng cao 1m so với mặt sân, có bốn bậc thang hình cánh cung tao nhã nối kết nhà với khoảng sân rộng, trần cao trang trí hoa văn, mở nhiều cửa lớn nhỏ với khung sắt uốn khá đơn giản trông ngôi nhà có vẻ thông thoáng, mặt tiền trang trí phù điêu đắp nổi. Toàn bộ gạch bông hoa hồng đỏ, đen lót nền nhà cùng hàng rào sắt đúc bảo vệ khuôn viên đều được đặt và chở từ Pháp sang. Đây là mẫu nhà cổ hiếm hoi còn sót lại khá nguyên vẹn ở đồng bằng sông Cửu Long, thể hiện khá đầy đủ những đặc trưng về nhà ở nông thôn khu vực này ở thế kỷ trước. Đó là nhà luôn gắn với vườn với hơn 6.000m/8.000m2 toàn khuôn viên; rộng 22m; chiều dài 16m. Tiền sảnh dùng để tiếp khách mà không chia thành các phòng nhỏ, hai cửa hậu thông ra khu nhà ở phía sau, sân rộng có lát gạch tàu có đủ hòn non bộ, chậu kiểng, cổng tam quan, khu nuôi thú…

Các đồ vật trong nhà được bố trí hài hoà: hai bộ bàn ghế Vân Nam (Trung Quốc), xalông kiểu Pháp đời Louis XV, chùm đèn bạch đăng thế kỷ 18, cặp đèn treo thế kỷ 19, lavabô cùng bốn cây đèn đường đốt bằng dầu cao hơn 3m được chế tác tại Pháp vào thế kỷ 18, tách nậm trà – rượu đời Minh –  Thanh…Trước đây, để xử lý chống mối mọt và giữ độ lạnh trong nhà, người ta rải đều dưới nền nhà một lớp muối hột dày 10cm. Nhà không dùng ximăng để xây mà dùng ô dước. Hệ thống vì kèo, bao lam cùng 16 cây cột lớn đường kính 180cm, cao 4 – 6m được nối kết bằng mộng – ngàm.

Giữa tiền sảnh, nơi trang trọng nhất đặt bàn thờ, khánh thờ tổ tiên, phía sau là giường thờ luôn trải chiếu, tủ chè, sập gụ, trường kỷ, cặp thành vọng cao hơn 3m…do những bàn tay tài hoa của nghệ nhân ba miền tạo tác bằng gỗ quý được phủ sơn son thếp vàng hoặc cẩn xà cừ, nét chạm khắc rất tinh tế.  Ngôi nhà này từng là phim trường của hàng chục bộ phim trong đó có bộ phim nổi tiếng Người tình của đạo diễn Pháp J.J. Annaud vào tháng 3 – 1990.

ĐỒNG THÁP

Nhà của Hương chủ Dược ở làng Tân Phú Đông (nay thuộc thị xã Sa Đéc) được xây dựng vào năm 1860, nằm trên hương lộ 5 nối liền Sa Đéc với Hà Tiên. Ngôi nhà có bề ngang 18,7m, dài 16m, cao 7m, trên lợp ngói, cấu trúc theo kiểu ba căn hai chái bát dần (gọi là kiểu nhà tám đấm, tám khuyết), làm toàn bằng gỗ căm xe. Nhà có mái hiên với hàng cột vuông tám cây, cây nào cũng đục, khắc chữ Hán. Sau hàng cột vuông là hàng cột tròn, to, cao, uy nghi đường bệ. Ngay giữa bao lơn rộng lớn là một bộ trường kỷ dùng để tiếp khách. Ngăn giữa bao lơn và gian trong là vọng cửa với ba cửa lớn có hoa văn được chạm trổ rất công phu, đường nét sắc sảo, tinh tế.    Ngay gian giữa nhà là nơi thờ tổ tiên với tủ thờ, giường thờ, đồ thờ, lư đồng, bên trên có một tấm bảng sơn son thếp vàng ghi dòng chữ Nguyễn phủ đường. Hai bên là tủ thờ của người trong thân tộc. Gian trong là nơi nghỉ ngơi của gia đình, hai bên chái dùng làm chỗ sinh hoạt thường ngày.

OVROUQ103638 OVROUQ103638
Nhà cổ Rạch Giá. Ảnh: Hoàng Nam

Ngôi nhà quy tụ những thợ giỏi của miền Bắc, miền Trung và cả Nam Vang (Campuchia), công việc kéo dài đúng một năm ròng. Giá trị ngôi nhà là 950 đồng bạc lớn vào lúc bấy giờ. Hiện ngôi nhà do ông Lê Văn Võ (81 tuổi), cháu năm đời của Hương chủ Dược trông nom.

KIÊN GIANG

Nhà của ông Trần Chánh (người Hoa), toạ lạc tại số 27, thị xã Rạch Giá được xây trong 9 năm từ 1911 đến 1920, thuộc loại đồ sộ nhất Rạch Giá lúc bấy giờ. Ngôi từ đường của Trần phủ rộng 2000m2, kiến trúc ba gian hai chái, theo dạng “nội công ngoại quốc”, chất liệu gỗ truyền thống, riêng phần nền cao 7 tấc ở cái xứ biển hồi đầu thế kỷ trước quả là kỳ công. Nhà cao 9m, móng nền xây đá, tường nhà xây bằng gạch thẻ, mái lợp ngói âm dương. Mỗi gian rộng 3m, mỗi chái rộng 4m, chiều sâu 16,2m, hàng hiên chạy bốn mặt.

Thiết kế bên ngoài chịu ảnh hưởng theo lối kiến trúc Pháp thời bấy giờ, chỉ có khác là phần trong làm toàn bằng gõ đỏ theo kiểu kẻ chuyển, tiền kẻ hậu bẩy có soi chạm, hoành tháo xẻ (hoành vuông). Kết cấu chịu lực cả ngôi nhà theo sáu vì kèo, gồm 30 cột chia ra làm 8 cột cái, 16 cột quân và 6 cột hiên, đều làm bằng căm xe. Cột kê tảng bằng đá giáp hộc (cao 0,45m).

Nếu như nơi tiền sảnh, mặt trước, mặt sau và hai bên hông của ngôi nhà được xây dựng theo kiểu Pháp (Vila Daniel) thì nơi chính điện để thờ ông bà lại theo phong cách kiến trúc phương Đông. Thần vọng, khám thờ, hoa văn trên các khung cửa và cột kèo bằng danh mộc được sơn son thếp vàng, chạm khắc rất công phu. Ba gian giữa nhà ngăn với tây phòng, đông phòng là hai bức thuận cao 3,60m. Các hình trên giàn chạm trổ mai, tùng, trúc, sen, lan, đào, mẫu đơn và dây nho cách điệu; chim muông gồm phượng hoàng, khổng tước, anh vũ xen lẫn bầu rượu, ống thơ, sách bên cạnh nét mềm mại của dải lụa.   Trên trăm tay thợ trứ danh ở Gia Định, miền Bắc đảm nhận việc xây dựng ngôi nhà trong suốt 9 năm. Tiếc là phần mái nhà do phải trùng tu (vẫn mái ngói âm dương) nên ít nhiều mất đi vẻ trầm mặc vốn có.  Thời Pháp, ngôi nhà bị trưng dụng làm toà án. Đến thời Mỹ dùng làm câu lạc bộ tổ chức các cuộc giao lưu của các quan chức cỡ lớn. Sau năm 1975, ngôi nhà cổ được sử dụng làm nhà triển lãm của Sở Văn hoá Thông tin Kiên Giang. Từ năm 1981 trở thành Nhà bảo tàng Kiên Giang. Năm 1993, ngôi nhà đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »