Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘kiến trúc’

CHÙA TẠI MIỀN BẮC – VIỆT NAM

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

Read Full Post »

Ảnh hưởng Chăm trong mỹ thuật và tín ngưỡng Việt

Thường người ta hay nghĩ dân tộc thống trị sẽ đồng hóa dân tộc bị trị, nhưng thực tế có khi ngược lại: dòngvăn hóa dân tộc bị trị du nhập và ảnh hưởng đến nền văn hóa của quốc gia thống trị nó. Thực tế này không phải là hiếm hoi trên thế giới, chẳng hạn hệ thần thoại La Mã có nguồn gốc từ thần thoại Hy Lạp khi quân La Mã đô hộ xứ này. Trong chừng mực nào đó, nếu nền văn hóa của dân tộc bị trị có nền tảng vững chắc và truyền thống lâu đời thì dân tộc thống trị bị đồng hóa ngược lại. Ví dụ lịch sử điển hình nhất là người Mãn. Khi chiếm được Trung Hoa chính sách đồng hóa của nhà Thanh hết sức công khai như bắt toàn Trung Hoa róc tóc và mặc y phục người Mãn. Dĩ nhiên trong một thời gian ban đầu điều này thực hiện được dưới áp lực hành chánh cai trị, nhưng với dân số đông đảo người Hán và nền văn hóa truyền thống lâu đời của họ dần dà đồng hóa ngược lại người Mãn. Để duy trì được ngôi báu, các hoàng đế nhà Thanh dần dần chuyển dịch theo khuôn phép Hán tộc nếu không muốn bị những sự phản kháng ngấm ngầm và sự trì trệ trong điều hành đất nước. Cho nên nền văn hóa triều Thanh khó mà phát hiện yếu tố Mãn, trong khi đó ngập tràn yếu tố Hán.

Dân tộc Việt không phải là ngoại lệ. Từ thời Lý-Trần nền văn hóa Chăm đã có những tác động mạnh mẽ và sâu đậm đối với mỹ thuật tôn giáo của Đại Việt thời ấy rồi. Theo thời gian dòng ảnh hưởng đó được Việt hóa một phần, nhưng dấu vết căn bản của nó hiện nay vẫn nhận ra Nền văn hóa chịu ảnh hưởng đầu tiên là nền văn hóa Phật giáo: chúng ta có thể thấy mỹ thuật Phật giáo Đại Việt có nhiều thành tố xa lạ với truyền thống nguyên sơ của Phật giáo, nó mang một số hình ảnh của Tháp-bà giáo (Shivaism) từ Chiêm Thành mang về.

Sự du nhập đó là một thực tế lịch sử có ghi chép rất rõ ràng. Đời vua Lý Thánh Tông “Mùa thu, tháng 7 (Giáp Thân- 1044), vua đem quân vào thành Phật Thệ bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên. ” và sau đó “Dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành [Bính Tuất – 1046]” [Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản kỷ 2] và vũ nhạc Chăm bắt đầu ảnh hưởng đến Đại Việt từ nguồn nhân lực này. .

Ảnh hưởng đối với kiến trúc và mỹ thuật thời Lý-Trần

Một yếu tố Chăm ít người chú ý nhất là bình đồ chùa và tháp thời Lý. Chùa đời Lý thường có hình vuông, loại bình đồ này là khuôn mẫu của các tháp Chăm (Kalan). Thấp-bà giáo của người Chăm quan niệm. Tháp Chăm (Kalan) được kiến trúc dựa theo núi Tu-di trong thần thoại Ấn Độ. Nền vuông (Bhurloka): tượng trưng cho trần thế tức cõi dục, Thân tháp (Bhurvaloka): là phần lưng chừng tượng trưng cho cõi tánh linh , mái tháp (Suarloka): là ngon núi tượng trưng cho cõi tâm linh và là cõi của thần linh, và trên cùng hết là đỉnh tháp tượng trưng cho cung trời Kailasa, chốn của thần Shiva, thường bằng vàng hay bạc.

Chùa Một Cột – Diên Hựu

Quan sát ngôi chùa Diên Hựu (Một Cột) đời Lý chúng ta thấy ngay bình đồ hình vuông của ngôi chùa này. Theo mô tả, chùa Diên Hựu nhỏ, chỉ có một gian chính điện vuông vức 3m, trên một cột duy nhất cao 4m tính từ mặt nước và đường kính 1,2 m. Dù theo sử sách nói việc xây chùa do giấc mơ Phật bà Quan Âm dắt vua Lý Thái Tông lên tòa sen, nhưng có sự trùng hợp là các tháp Chăm nhìn từ xa có dáng dấp một hoa sen. Dáng dấp hoa sen đó không thuần túy ở góc độ nghệ thuật, mà là một yếu tố tâm linh của Ấn Giáo. Người Việt quen có nếp suy nghĩ hoa sen tượng trưng cho Phật giáo, nhưng thực ra hoa sen vốn là loài hoa thiêng của Bà-la-môn giáo mà sai này Phật giáo kế thừa. Trong Bà-la-môn giáo rất nhiều đoạn kinh thư nói đến hoa sen và hoa sen được gắn liền với nhiều vị thần. Tôn giáo này cho rằng hoa sen là biểu tượng của sự khai thiên lập địa (hoa sen được hình dung như bộ phận sinh dục nữ), sự hợp nhất của Tứ đại (đất, gió hay không khí, lửa, nước). Quan niệm hợp nhất tứ đại trong hoa sen của Ấn Độ được giải thích như sau: Rễ ăn sâu vào đất, sinh trưởng trong và bởi nước, lá sống nhờ không khí và hoa hấp thụ lửa của mặt trời. Thứ đến, tháp Chăm (tức Kalan) chỉ có một cửa ra vào, chùa Diên Hựu cũng có một cửa (các chùa đời sau đó rất nhiều cửa). Có thể đó là những ngẫu nhiên, nhưng trong ngẫu nhiên đó thấp thoáng thấy bóng dáng sự tất nhiên: do nghệ nhân tù binh Chăm xây dựng. Lưu ý: Không phải chỉ đời Lý Thánh Tông mới có tù binh nghệ nhân Chiêm Thành, từ thời Lê Hoàn và trước đó nữa đã có nhiều lần chinh phạt Chiêm Thành, mang về nhiều chiến lợi phẩm trong đó có tù binh (dĩ nhiên chưa nhiều và chưa đủ thời gian ảnh hưởng như thời Lý-Trần).

Không chỉ chùa Một Cột vuông vức, khá nhiều chùa xây thời Lý có bình đồ vuông, phong cách vẫn đơn giản hơn so với cấu trúc các đời sau. Tuy nhiên sau nhiều lần trùng tu không còn nguyên dạng nữa và mang phong cách thời đại sau.

Hình tượng thú vị khác là hình tượng rồng. Thời Lý-Trần hình tượng con rồng đều mang dáng dấp con rắn: dài và uốn lượn. So với con rồng thời Lê-Nguyễn thì rồng thời Lý-Trần gần gũi với rắn thần Nagar của Ấn Giáo hơn. Mặt khác, quá trình diễn biến hình tượng rồng của người Việt cũng cho thấy có sự du nhập của nghệ nhân tù binh Chăm trong chế tác các tác phẩm rồng. Ban đầu thời Đinh-Tiền Lê con rồng mang dáng dấp cá sấu (còn gọi là thuồng luồng hay giao long: rồng không sừng). Chuyển biến qua thời nhà lý là con rồng-rắn uốn lượn. Hình dưới đây cho sự so sánh đó:


Dễ dàng thấy hình tượng rồng thời Lý có dạng di chuyển uốn ngang (từ trái qua phải và ngược lại) kiểu rắn bò, còn rồng thời Nguyễn có dạng uốn dọc (từ trên xuống dưới và ngược lại) đặc trưng của con rồng Trung Hoa. Còn rồng trước thời Lý-Trần là con rồng sấu, gắn bó với dân tộc miền sông nước như người Việt. Điều này cho thấy những lần chinh phạt Chiêm Thành của các vua đời Lý-Trần đã du nhập văn hóa miền đất phía Nam, đến mức át cả ảnh hưởng của Trung Hoa từ phương Bắc tràn xuống. Hình tượng rồng là một tiêu biểu vì rồng trong Phật giáo chính là con rắn thần. Kinh sách Phật giáo chứng minh điều này: từ Nagar được người Trung Hoa dịch là “long”, ví dụ bồ tát nāgārjunađược dịch là bồ tát Long Thọ (tiếng Phạn nāgar= Long; arjuna = màu trắng, thanh tịnh; nhưng sự phiên dịch của Trung quốc có sai lệch là Long Thụ:Cây Rồng)

Nhưng thực ra rắn thần Nagar vốn của Ấn Giáo được Phật giáo du nhập vào siêu hình học của mình. Theo thần thoại Ấn Độ, long thần Naga chủ về mùa xuân và cai quản sông ngòi; thần coi việc làm mưa và là vị gieo thảm họa lụt lội. Chính vì những đặc điểm tương tự như quan niệm rồng của người Trung Hoa nên “nagar” được dịch thành rồng; hoặc cũng có thể người Trung Hoa du nhập rắn thần nagar vào nước mình rồi biến thể qua nhiều đời thành con rồng như chúng ta biết hiện nay. Và như chúng ta đã biết Chiêm Thành là cái nôi văn hóa Ấn Giáo truyền vào Việt Nam.

Rồng trên cột đá chùa Dạm – đời Lý

cột đá này mang dấu ấn một Linga

Trở lại vấn đề. Chính vì sự du nhập các nghệ nhân tù binh mà nền văn hóa Chăm đã mang rắn thần Nagar cách điệu dần con rồng thời Đinh-Ngô. Đó là lý do vì sao tiếp nối rồng sấu và rồng mèo thời Ngô-Đinh là con rồng rắn thời Lý-trần mà không có thể dạng chuyển tiếp từ hai dạng rất khác biệt nhau về phong cách này.

Bên cạnh đó chúng ta còn thấy các đền chùa thời Lý trần rất nhiều tác phẩm điêu khắc mang hình tượng thần thoại của Ấn giao (Phật giáo có kế thừa nhưng không có tính đậm nét) như Kim Sí Điểu (Garuda),Nhạc công (Kinnara), …

– Kim Sí Điểu tiếng Phạn là Garuda nên còn phiên âm là Câu-lâu-na, là vật cưỡi của thần Visnu, sai này Phật giáo quy vào Bát bộ chúng. Loài này mình chim đầu người: mình vàng, mặt trắng, cánh màu đỏ, mỏ diều hâu, thân hình vạm vỡ và trên đầu đội mũ ngù

– Nhạc công chính là Nhạc thần Khẩn-na-la (Kinnara) phục vụ sự ca hát cho Đế Thích. Hình các phù điêu ở đời Lý không châm khác rõ phần dưới, chứ theo truyền thống Ấn giáo thù phần dưới thân là hình chim. Khẩn-na-la nam đàn hát hay còn nữ múa giỏi, nên loài này được lo việc âm nhạc ở cung trời Đế Thích. Phù điêu ở những chùa đời Lý mà người Việt quen gọi là tiên chính là các Khẩn-la-na nữ.

Những tác phẩm điêu khắc này chúng ta thấy đầy rẫy ở các tháp Chăm có niên đại xưa hơn chùa chiềng đời Lý. Bên cạnh còn có những tượng thú cũng hay gặp ở các công trình công giáo Chiêm Thành: sư tử, voi, bò (trâu), … Tượng bò (trâu) tuy hiếm nhưng đó là vết tích của bò thần Nandin thường thấy ở các tháp Chăm.

Dấu ấn văn hóa Chăm trong Đạo Mẫu


Hầu bóng hay lên đồng là một hình thái đặc trưng của Đạo Mẫu. Dạng thông linh này hiếm thấy ở nền văn hóa Trung Hoa. Chúng ta dễ dàng tìm thấy nhiều tư liệu sách cổ chữ Hán những hình thức thông linh như cầu mộng, bút tiên, … Trong khi hầu bóng là một dạng thức thông linh trực tiếp có nét khác, và nó có thể tìm thấy trong nền văn hóa Chăm. Cụ thể ở gần Nha Trang trước năm 1975 có một làng gọi là Xóm Bóng (sau người Việt đến ở đông nên không còn nữa, và đổi là xóm Chài) chuyên làm nghề bóng rỗi. Theo tín ngưỡng Chăm: “Bà bóng Pajao có nhiệm vụ nhảy múa, dâng lễ vật mời thần linh, nhập đồng tiên tri mọi việc vì hàng năm bà bóng vẫn có dịp giao cảm với thần linh trong một giấc ngủ triền miên” (Nguyễn Văn Luận. Người Chăm Hồi Giáo Miền Tây Nam Phần,. Sài Gòn 1974, tr 50)..Một trong những màn nổi cộm nhất trong lễ hầu bóng là xiên lình Khi xiên lình con nhang ở trạng thái xuất thần và âm nhạc của cung văn dùng làn điệu ‘đảo phách’ pha trộn tiếng nhạc khí gõ tạo một trạng thái âm thanh huyền ảo. Sau khi ‘thăng đồng’, người xiên lình không hề có cảm giác đau và chảy máu nơi đó. Nghi lễ này có nguồn gốc Bà-la-môn giáo vùng Nam Ấn, cũng thấy ở nhiều lễ hội vùng phía Nam Đông Nam Á, đặc biệt ở Mã Lai. Người Mã Lai xiên lình trong dịp lễ có tên là Thaipusam. Nguồn gốc lễ hội này từ Nam Ấn du nhập sang Mã Lai cách nay hàng trăm năm, hàng năm được tổ chức tại đền Batu Caves (thờ thần Murugan) ở ngoại ô thủ đô Kuala Lumpur. Nghi lễ xiên lình này nhằm tưởng nhớ thần Murugan dùng thanh sắt của thần Parvati (mẹ của thần Murugan) trao cho đánh thắng loài quỷ dữ

Quay trở lại dân tộc Việt, những tập tục cổ xưa trước khi có Đạo Mẫu không hề thấy có tư liệu hay vết tích khảo cổ chứng minh được nghi thức tế lễ này và nhiều cơ sở cho thấy nó xuất hiện từ thời Hậu Lê cùng với truyền thuyết Mẫu Thượng Thiên Liễu Hạnh. Do vậy nhiều xác tín đây là nghi lễ du nhập từ Chiêm Thành vào và Việt hóa dần.


Quá trình lên đồng luôn luôn có đi kèm một dàn bát âm chầu văn, trong đó cung văn là vị trí không thể thiếu Có nhà nghiên cứu cho rằng lối hát chầu văn khi hầu bóng là sự du nhập và biến thể lối hát “giàn” của người Chăm. Lối hát giàn này hiện vẫn còn trong các lễ hội của người Chăm. Khởi nguyên là sự du nhập nhạc chiêm Thành của các vua đời Lý-Trần, những khúc nhạc này lan truyền ra dân gian và áp dụng vào nhạc lễ của Đạo Mẫu. Về sau âm nhạc chầu văn được Việt hóa bằng những nhạc cụ có gốc Việt nam, hiện nay một nhạc chầu văn có đầy đủ nhạc khí sẽ gồm một đàn nguyệt, một đàn nhị, một sáo, một trống lớn, một trống nhỏ, một cảnh đôi, một phách (của người Chăm gồm đàn Kanhi, trống Gi-năng, kèn Sa-rai-nai, ….) nhưng giai điệu mang máng có những nét trầm bổng giống nhau, nhất là nhịp phách của bộ gõ. Bộ gõ tạo nên một không khí phấn hứng cao, góp phần giúp người ngồi đồng có cảm giác thoát xác để nhập thân với các vị Thánh (dĩ nhiên kết hợp với yếu tố tâm linh} tạo nên một trạng thái tinh thần đặc biệt khiến người ta làm những việc mà ở trạng thái bình thường khó làm nổi. Không khí này dễ dàng bắt gặp ở lễ hội Ka-tê của người Chăm hàng năm tổ chức ở tháp Pô Kluang Garai (Phan Rang, mà người Việt quen gọi Tháp Chàm nên ga xe lửa gần đó gọi là ga Tháp Chàm). Lễ hội này sẽ kết thúc bằng điệu múa thiêng của bà đồng bên trong tháp kèm theo những tiếng nhạc gây cảm giác của một buổi hầu đồng.

Hình ảnh kế tiếp là ông Lốt chạm khắc trên các cột đền phủ của Đạo Mẫu. Ông Lốt chính là hai con rắn quấn trên cột. Chúng ta lần về quá khứ trước thời Đạo Mẫu ra đời thì dân Việt không có tục thờ rắn, ngược lại hình tượng rồng rất phổ biến do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa. Nhiều người nói rằng ông Lốt chính là Thanh Xà và Bạch Xà trong chuyện thần thoại Trung Hoa. Nhưng xét màu sắc trang trí ông Lốt thì rõ ràng không phù hợp, hơn nữa một tôn giáo khó lấy hình tượng “yêu quái” để thờ. Rất nhiều khả năng đó là rắn thần Nagar của Ấn Giáo mà Phật giáo hay gọi là rồng. Trên các bức phù điêu của những tháp Chăm hiện diện rất nhiều hình ảnh rắn thần Nagar với những nét mỹ thuật khá trùng hợp với ông Lốt trong Đạo Mẫu.

Vì thế, rất có thể Đạo Mẫu là dòng tín ngưỡng du nhập từ Chiêm Thành vào Việt Nam rồi Việt hóa dần. Sự du nhập đó mang tính rất tự nhiên của con người khi khai phá vùng đất mới đầy hiểm nguy rình rập. Tâm trạng sợ hãi đó được trấn an bằng sự tiếp nhận thần linh nơi vùng đất mới làm sức mạnh thiêng liêng phù trợ cho mình. Chúng ta có thể hiểu được tâm trạng này qua hình ảnh Chúa Tiên Nguyễn Hoàng dễ dàng thừa nhận Bà Thiên Mụ áo đỏ của người Chăm làm vị thần bảo vệ đất Thuận Hóa của Chúa. Nhiều bài nghiên cứu trên Tạp Chí Những Người Bạn Huế Cũ và của Trường Viễn Đông Bác Cổ cũng chứng minh nhiều pho tượng Chăm được người Việt đem thờ mà chẳng cần biết gốc gác thần tích.

Liệu thời cổ xưa hơn nữa có mối giao lưu Việt-Chăm hay không? Một vài chứng cứ sử liệu cho thấy có. Đề tài này sẽ bàn trong bài viết sau này, nếu có thể.


Kim Sí Điểu (Garuda)đời Lý

Chùa Phật Tích – Bắc Ninh

Kim Sí Điểu (Garuda) đời Trần

Chùa Thái Lạc

phù điêu Nhạc công -đời Lý

chùa Phật Tích

Đức Chính biên khảo

*Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính biên khảo  và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ Tác giả Đức Chính .

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm


Read Full Post »

Nguồn: Tổng hợp

Thiên Y A Na và Tháp Bà – Po Nagar

Bà Thiên Y A Na

Tháp Bà có tên chính thức là Kalan Po Nagar (Tháp Po Nagar), tức đền tháp thờ thần Po Nagar (tiếng Chăm là Yan Po Nagar). Thật ra Po Nagar không phải là một vị thần Ấn giáo, mà là Nữ vương thời Chiêm Thành còn mang tên Hoàn Vương Quốc (646-653). Theo lời truyền tụng Nữ vương có nhiều công lao xây dựng vương quốc phồn thịnh (lúc đó Việt Nam vẫn còn trong thời kỳ Bắc thuộc), theo tập tục tín ngưỡng bản địa được người Chăm tôn lên làm thần chủ về đất đai và nông nghiệp hay Bà Mẹ Xứ Sở. Danh tính này được bác sĩ Trần Văn Ký thừa nhận:: “Trên các bia ký lưu lại ở tháp, nếu ghi bằng chữ Phạn cổ thì tên của Bà là Bhagavati Kautharesvati, và ghi bằng chữ Chàm thì gọi đầy đủ là Yang Po Inư Nagar, theo đó thì “Yang” là Thần; “Pô” là tôn kính, là ngài; Inư là Mẫu, là mẹ; và Nagar: xứ sở, đất nước.” [Tháp Bà Nha Trang và Lược Sử Chiêm Thành], Khi người Việt chiếm đất Chiêm Thành, nữ thần này được thừa nhận tương tự như Chúa Nguyễn Hoàng thừa nhận Bà Thiên Mụ ở Huế vậy. Từ đó Nữ thần có thêm tên là Y A Na (trại từ (Po Nagar) và theo tập quán thời Nguyễn vua sắc phong thêm chữ Thiên nên gọi là Thiên Y A Na.

Bà Đen – Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi

(Tượng thờ ở Tháp Bà Po Nagar – Nha Trang)

Thần tích của Nữ thần theo thời gian được Việt hóa, đến năm 1856 Phan Thanh Giản cho khắc một bia đá được dựng ở tháp, toàn văn bài bia Tháp cổ Thiên Y đã được chép lại vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí, đại ý bài văn như sau: “Xưa trong vùng Đại Điền có hai vợ chồng già trồng dưa hấu sinh sống. Khi dưa chín thì về đêm cứ bị phá trộm. Ông lão rình và thấy một cô gái mới lớn dùng dưa để đùa giỡn dưới trăng. Ông lão vặn hỏi thì biết là trẻ mồ côi bèn đem về làm con nuôi, và hai vợ chồng rất thương yêu cô gái. Một ngày mưa lụt lớn, nhớ chốn cũ ở Tam thần Sơn, cô nhập vào một khúc gổ kỳ nam đang trôi về phương bắc. Dân phương bắc thấy gỗ thơm trôi giạt đua nhau gắng sức kéo về nhưng không nổi. Thái tử đang ở tuổi 20, con của vua cai trị nghe tin liền tìm đến bãi biển và lạ thay một mình khuân được gỗ về cung. Từ đấy thường vỗ về cây kỳ nam và bồi hồi ngẩn ngơ. Bỗng một đêm thấy có bóng một cô gái diễm kiều hiện ra, thái tử vội nắm tay giữ lại gặn hỏi và biết được sự tích. Thái tử tâu rõ mọi chuyện với vua cha và được vua cho kết hôn. Hai vợ chồng sinh được hai đứa con, trai tên là Trí và gái là Quý. Một thời gian sau lại nhớ chốn cũ ở phương nam, vợ thái tử dắt hai con nhập vào gỗ kỳ nam trôi về cửa Cù Huân, rồi lần về núi Đại Điền nhưng ông bà lão trồng dưa đã qua đời. Bà liền lập đền thờ. Từ đó bà dạy dân trong vùng biết cách trồng lúa. Về sau Bà còn cho đục đá ở núi Cù Lao tạc tượng bà, rồi giữa ban ngày bà thăng thiên biến mất. Thái tử mãi sau cho người kéo thuyền đi tìm vợ, nhưng bọn người này khi đến cửa Cù Huân lại hiếp đáp dân lành và khinh miệt linh tượng, nên chợt có một trận cuồng phong nổi lên đánh úp thuyền biến thành một tảng đá to. Từ đó dân làng thấy Bà hiển linh thường cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi với tiếng sấm vang động. Có khi bà cỡi tấm lụa bay giữa không trung hay cỡi cá sấu trong vùng dảo Yến, núi Cù. Dân trong vùng bèn xây tháp thờ trên núi Cù Lao, cầu khấn việc gì cũng linh ứng. Tháp giữa thờ Chúa Tiên (tức Thần Thiên Y), tháp bên trái thờ vợ chồng lão trồng dưa, bên phải thờ thái tử. Phía sau lập đền nhỏ thờ hai người con. Người Chàm tôn Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn phong tặng Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đằng Thần và cử ba người dân làng Cù Lao làm Từ phu.” Triều đình dựa vào đó sắc phong cho Nữ thần với mỹ danh Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng đẳng thần và gia phong Hồng nhơn phổ tế linh ứng Thượng đẳng thần

Linga (ở Tháp Bà)

Thần vật của Tháp Bà giáo

Tập San Bạn Huế Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hué) cũng dịch lại điển tích trên và nói thêm trước các ngọn tháp có một bia ghi chữ tượng hình chính người bản địa vẫn không hiểu viết gì (Bài Histoire de la Déesse Thien-Y-A-Na par Đào Thái Hành). Và cũng trong Tập san này, Sallet (avril-juin 1923) có chú thêm ở Đa Hòa, Điện Bàn, Bà còn có danh hiệu “Chúa Ngọc Ngạn Thượng Sơn Thần”, có hai người con trai là Cậu Quý và Cậu Tài. (dẫn từ Le Culte des Pierres của A. Cadière). Nhưng dân gian ở miền Trung lại hay gọi Bà Đen, tên gọi này dễ có sự nhầm lẫn với một Bà Đen khác ở miền Nam. Bà Đen ở miền Nam được thờ ở núi mang cùng tên thuộc tỉnh Tây Ninh được triều Nguyễn sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Tuy cùng tên gọi nhưng là hai nữ thần khác nhau. Bà Đen ở Tây Ninh, do Lê Văn Duyệt trình tấu xin triều đình sắc phong, có thần tích đại khái như sau: “Xưa trên núi Bà Đen, lúc ấy còn gọi là núi Một vì quanh vùng trơ trọi hòn núi này, có một tượng Phật rất to. Người người thường lên viếng Phật, trong đó có một tiểu thư tên là Lý Thị Thiên Hương, tuy là phận gái nhưng văn hay võ giỏi. Thiên Hương có nhan sắc và trong làng có chàng trai tên Lê Sĩ Triết đem lòng yêu thương. Vì có sắc đẹp, Thiên Hương cũng phải lòng một viên quan, người này dùng gian kế và quyền lực ép duyên may nhờ Lê Sĩ Triết ra tay cứu thoát. Cha mẹ cô cảm nghĩa đồng ý gả cô cho chàng trai nghĩa dũng này. Sau đât nước loạn lạc, chàng trai đi tòng quân. Lúc chồng vắng nhà, một hôm có bọn cướp vây bắt khi đang lễ Phật trên núi, cô chống cự và trốn vào rừng mất tích. Đến đời Minh Mạng, một hòa thượng trụ trì trên núi ứng mộng thấy một người con gái xinh đep, da ngăm đen, xưng tên Lý Thị Thiên Hương bị cướp rượt té xuống vực chết,đã về báo mộng chỉ chỗ cho hòa thượng tìm đến. Thấy có sự hiển linh như thế nên dân gian lập miếu thờ cúng.” Ở đây nói thêm hơi dài dòng nhằm phân biệt cho cụ thể cách gọi hai miền.

Mandapa sau khi trùng tu

Tháp Bà Po Nagar

Theo nguồn Wikipedia tiếng Việt: “Tháp Bà là ngôi đền nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 50 mét so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía bắc, nay thuộc phường Vĩnh Phước. ” và tháp không phải đời sau xây lên để thờ Bà mà chính Nữ vương đã cho dựng lên thờ nữ thần Bhagavati. Tư liệu này cho biết thêm lúc đầu ngôi tháp bằng gỗ nhưng trong thờ “tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng”. Tượng nữ thần này bị quân Nam Đảo (tức Indonesia) cướp đi sau khi tàn phá ngôi tháp vào năm 774. Sau đó được Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Đến đời vua Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III lượt xây dựng thêm 5 tháp nữa (tức 6 tháp).

Cứ liệu này cho thấy thời Nữ vương xây dựng bằng gỗ là chính xác, còn tượng bằng vàng cần xem xét lại. Theo cuốn Lịch Sử Champa được tổng hợp từ nguồn Wikipedia viết “Indravarman III. Vào năm 918, Indravarman III cho đúc tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng dựng tại Tháp Bà, bức tượng này bị quân Chân Lạp cướp vào khoảng năm 945 – 946. Năm 965, Jaya Indravarman I cho dựng lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá ở Kauthara.” (thời kỳ này tương đương nhà Đinh ở Việt Nam).

Như thế việc thờ cúng của tháp chia làm hai thời kỳ: một thời kỳ thờ nữ thần Bhagavatitrong thần thoại Ấn Độ và thời kỳ sau thờ Nữ vương Po Nagar vì được coi là hóa thân của nữ thần Bhagavati. Trong bài The My Son and Po Nagar Nha Trang Santiarues, dựa vào các bản sao văn bia trong đền dang lưu giữa ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Trần Kỳ Phương đồng ý quan điểm này: “Qua các văn bia, chúng ta thấy tượng nữ thần Bhagavati được vua Satyavarman dựng lên tại đền năm 784 sau khi vua chiến thắng quân Nam Đảo năm 774. Tượng nữ thần bằng vàng được đặt tại đây từ năm 817 đến năm 918. Năm 950 tượng vàng đó bị quân Khờ-me cướp và đến năm 965 vua Haya Indravarman làm lại bằng sa thạch”.Cứ liệu dựa trên văn bia này đáng tin cậy, như vậy không phải quân Nam Đảo (Java) mà là quân Khờ-me lấy pho tượng vàng này. Một tài liệu khác dựa vào bia ký cũng xác nhận do quân Khờ-me cướp tượng vàng chứ không phải người Nam Đảo: Le Royaume de Champa, của Georges Maspero, 1928: Cuốn sách này có viết: “D8ến năm 945 hay 946 quân của vua Cam-bốt Rajendravarman xâm lược Champa và chiếm đền Po Nagar.”[Trang 118]. Sau đó Trần Kỳ Phương nói thêm: “Năm 1050, vua Sri Paramesvarvarman tôn xưng nữ vương thành thần với danh hiệu Yapu-Nagara/Yang Pu Nagar” Người được tôn xưng và thờ trong tháp chính là nữ vương Po Nagar, trước khi lên ngôi là công chúa Ramavali. [Trang 12]

Theo một nguồn tư liệu khác cho biết thời xây dựng tháp Po Nagar thì Chiêm Thành chia làm 2 nước, đúng hơn là 2 bộ lạc: Bộ lạc Dừa ở phía Bắc và bộ lạc Cau ở phía Nam. Tháp nằm trong lãnh thổ của vương quốc Cau, bị phá hủy nhiều lần bởi người đảo Java (tài liệu trên gọi là Nam Đảo) vào năm 774 và người Khờ-me vào năm 930. Tư liệu này còn cho biết xưa kia có tất cả 10 ngọn tháp mà nay chỉ còn lưu lại có 4 [httpwww.asiedesheritages.comsitechampachampa.htm]. Kiến trúc chính của cụm tháp này có tên gọi là Mandapa, có nghĩa là Phòng cầu nguyện có những cột đá đồ sộ, mà nay vẫn còn và đã được trùng tu lại, Phần kiến trúc này rất quy mô có thể nhận thấy ngay khi đi vào khu di tích. Dữ liệu này hoàn toàn phù hợp với lập luận vừa bàn. Đồng Dương xây dựng ở Quảng Nam tức phía Bắc Nha Trang, thuộc bộ lạc Dừa. Như vậy trước thế kỷ thứ 8 Chiêm Thành có 2 tiếu quốc, phía Bắc chịu ảnh hưởng của Phật giáo và phía Nam là Ấn giáo (cụ thể Thấp-bà giáo). Xứ Cau miền Nam hay bị thủy quân vùng Nam Đảo và quân Khờ-me quấy nhiễu, phía Bắc tiểu quốc Dừa bị Đại Việt đe dọa thôn tính.

Hiện nay, tháp chính thờ Nữ thần Po Nagar nằm ở phía bắc khu di tích, niên đại thế kỷ 12, cao 22,5 m, đỉnh tháp có chạm phù điêu thần Shiva cưỡi bò thần Nandin. Ngoài ra trong tháp còn có nhiều tượng thần khác, chung quanh có tượng các linh thú theo thần thoại Ấn Độ và dĩ nhiên không thể thiếu linga (biểu tượng của thần Shiva, vị thần chính của Chiêm Thành). Dưới đây là một số hình ảnh.


Ngoài Mandapa, cụm di tích này còn có tháp giữa. Tháp này được xây dựng vào thế kỷ thứ 12 từ gạch tháo ra ở những ngôi đền cũ khác. Ngoài ra còn có một số tháp khác nay đã hư nát nhiều. Dưới là bình đồ của cụm di tích này.

Đó chỉ mới là di sản văn hóa, Tháp Bà còn lưu giữ một tài sản hết sức quý báu: di sản lịch sử. Theo các nhà sử học Chiêm Thành gần như không để lại tài liệu ghi chép về lịch sử (hoặc bị mất không chừng?). Những điều này được bù lấp bằng các bia ký ở các đền tháp, đặc biệt ở Tháp Bà Po Nagar lưu lại rất nhiều văn bia có giá trị. Wikipedia tiếng Việt phân loại các bia ký đó nhu sau:

• Nhóm A: Trên bia đá hình lục giác, do vua Satyavarman dựng năm 781 ghi chuyện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774, việc xây dựng tượng thần Sri Satya Mukhalinga vào năm 784.

• Nhóm B: Do vua Vikrantavarman III ghi lại công lao xây dựng của các tiên vương.

• Nhóm C và nhóm D: Do vua Vikrantavarman II ghi các lễ vật dâng cúng chư thần.

• Nhóm E: Ghi việc vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng vào năm 918; pho tượng này về sau bị người Khmer xâm lăng cướp đi, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá vào năm 965.

Bia ký ở Tháp Bà Po Nagar

Bia đá ở hai bên cửa của tháp chính ghi việc cúng ruộng và dân công nô lệ cho nữ thần. Bia ở phía nam của tháp chính ghi việc vua Jaya Harivarman I ca tụng thần Yang Po Nagar vào năm 1178. Bia ở phía bắc tháp chính ghi việc dựng đền thờ thần Bhagavati Matrilingesvara vào năm 1256. Ngoài ra còn bia đá dựng năm 1050 của vua Paramesvaravarman I ghi việc tái lập tượng Bà, việc dâng cúng ruộng đất và nô lệ đủ sắc tộc: người Campa (Chăm), Kvir (Khmer), Lov (Tàu), Pukan (Mã), Syam (Xiêm) vv… Bia của vua Rudravarman III (Chế Củ) dựng năm 1064 ghi việc xây cổng tháp rất tốn kém, và liệt kê những cống phẩm quí giá. Bia năm 1143 ghi lời xưng tụng Bà. Bia năm 1165 của vua Indravarman IV ghi việc dâng cúng một kim mão cho nữ thần Bhagavati Kautharesvati (Dựa vào lời ghi này có thể tạm dịch là “Đức thánh mẫu vùng Kauthara” và so sánh với các bia khác, có thể đoán là người Chăm chỉ thờ thần Parvati như Thánh Mẫu của từng địa phương; ví dụ ở Phú Yên và Ninh Thuận cũng có tháp thờ Thánh Mẫu của vùng đó, chứ chưa hẳn là ở mức độ toàn xứ Chiêm Thành). Các bia sau cùng ở thế kỷ thứ 13 hay 14 tiếp tục ghi những vật dâng cúng Bhagavati. [Wikipedia]

Thực tế cho thấy nhờ những bia đá này mà người ta biết được từng có thời Chiêm Thành chia làm hai tiểu quốc Cau và Dưa; những lần tấn công của quân Nam Đải và quân Khờ-me, các vị vua của những vương triều Champa để đối chiếu với tên phiên âm Hán Việt, … Qua đó nhiều bí mật lịch sử dần hé mở.

Dựa vào các bản sao rập lưu giữ tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp các nhà nghiên cứu đã lần tìm nhiều manh mối lịch sử Champa mà xưa nay chỉ dựa mù mờ vào sử Việt và sử Trung Hoa. Ví dụ:

– Bản số 14, sao rập ở Tháp Bà Po nagar cho biết một chi tiết: cư dân vùng Phan Rang xưa kia xưng tên dân tộc họ là Vrlas;

– Bia Mỹ Sơn số 90 thuật về câu chuyện công chùa Huyền Trân, vợ vua Chế Mân, trốn chạy việc tuẫn táng.

– Bia Tháp Bà Po Nagar số 38 D có ghi lại sự kiện người Khờ-me xâm lăng xứ Champa (mà sử Việt và Sử Trung Hoa không đề cập đến)


Và cả những truyền thuyết về dân tộc và đất nước Chăm. Ví dụ bia Đồng Dương số 66 có chép: “Xưa kia đất nườc này rất huy hoàng và hùng mạnh, thần dân sống ấm no và sinh sôi nảy nở. Trên đất nước này chỉ có một vị vua, Prithivindravarman, giàu có và sống từ đời này qua đời khác, ngài là Đế Thiên (Indra) của mọi vị thần thên cõi thế này”

Nhờ thế mà sai này người ta đối chiếu được rất nhiều vị vua Chăm tương ứng với tên gọi trong Sử Việt như Ba Mỹ Thuếu (tức Parames’varavarman), Ngô Nhựt Hoan (Indravarman II), Băng Vương La Duệ (Sri Harivarman II), Sạ Đẩu (Jaya Sinhavarman II), Chế Củ (Rudravarman III), .Chế mân (Jaya Sinhavarman III), Chế Bồng Nga (Po Bhinethuor),…. Ngược lại vì không có bia tháp mà nhiều vị vua Chiêm Thành không đối chiếu được như: Khu Liên, Phạm Văn, Phạm Hùng Phạm Hồ Đạt, Trà Hoa Bồ Đề, Ma Ha Bí Lai, … thậm chí vào thời cận đại nhà Hậu Lê có hai vị vua vẫn chưa đối chiếu được tên tiếng Phạn-Chăm là Trà Nguyệt và Trà Toàn. Chẳng qua các vị vua này không có dựng tháp và khắc bia kể công tích và sự biến trên đất nước, các sử gia đành dùng tạm tiếng Hán Việt và đó là một lỗ hổng khuyết trong sự thật lịch sử. Bởi lẽ có nhiều tên vị vua bằng tiếng Phạn-Chăm khắc trên bia đá nhưng không thấy nói đến trong sử Việt và sử Trung Hoa như vua Sri Satyamukhalingadeva, vua Sri Paramabuddhaloka, hoàng hậu Haradevi, …, biến sử Champa thành những đoạn rời rạc. Hy vọng sau này những khám phá khảo cổ và nghiên cứu lịch sử sẽ dần khơi tỏ khoảng trống này.

Đức Chính tổng hợp

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm

Read Full Post »

Nguồn Bảo tàng Guimet

Thần Shiva

Tháp Bánh Ít (người Pháp gọi là Tháp Bạc: Tours d’Argent), tỉnh Bình Định, Việt Nam

Nghệ thuật Chăm

Phong cách Tháp Mẫm, cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12

Chất liệu: Sa thạch.

Cao:: 165 cm

Phát hiện: Don Navelle

Mã số: MG 18130

Bức tượng này thể hiện thần Shiva có 10 cánh tay, giữa trán có con mắt thứ ba, trên mũ có hình trăng lưỡi liềm biểu tượng cho sự khổ hạnh, sợi dây Phạm Thiên (Brahman) mang hình con rắn ở trước ngực, và một tay cầm cái chén hình nửa sọ người. Ngồi trên đài sen và tựa lưng vào tấm bia, tượng thần có khuôn hình tam giác, một kiểu thức thường thấy ở hệ tượng vào các thời đại muộn của nghệ thuật Chăm. Dáng cong của thân hình, cũng như mi dưới nằm ngang và cách xử lý mái tóc, đều tiêu biểu cho nghệ thuật của vương quốc Champa. Kiểu thức sampot (chạm theo mô-típ hình móc) viền quanh các viên tròn lủng lẳng với sự tô điểm tỉ mỉ, một đặc trung của Tháp Mẫm. Dù rằng khối nổi của bức tượng hết sức mềm mại nhưng sự lãnh tịnh của việc cách điệu hóa và tính hồn nhiên của cách thực hiện khiến cho những cánh tay phụ như dính vào lưng một cách giả tạo, đó lại là cấu tạo của thể loại nghệ thuật này.

Tượng thần Shiva này được tìm thấy ở một tháp Chăm (tiếng Chăm gọi là kalan) cao 25 m.

Phần lớn tượng hình người của Champa mang hình dung người Ấn Độ, bức tượng là này điểm giao của phong cách Mỹ Sơn A1 (thời hoàng kim của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của vương quốc nay với phong cách Tháp Mẫm. Tỉnh Bình Định có rất nhiều tác phẩm mang phong cách Tháp Mẫm chứng tỏ có một sự phát triển của nghệ thuật Chăm gốc dù rằng vẫn chịu ảnh hưởng rộng rãi của truyền thống Khờ-me thời đó.

Đức Chính dịch và giới thiệu

*Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính biên dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ tác giả Đức Chính .

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm


Read Full Post »

Lăng tẩm các vua nhà Nguyễn.

Là những kỳ quan được thiết kế xây dựng rất kỳ công trong những không gian hoành tráng hùng vĩ , hài hòa với những cảnh quan thiên nhiên một cách tuyệt vời ,bố cục tạo hình gợi cảm tiết điệu , có giá trị thẩm mỹ cao , tùy thuộc tư tưởng từng cá tính của mỗi vị vua . các lăng phản ánh tâm linh , quan niệm vĩnh cửu và huyền bí phương đông . Theo quan niệm phương đông khi lên ngôi , các vị vua đều nghĩ tới chuyện xây dựng lăng tẩm , nơi an nghỉ cuối cùng ‘’tức vị trị quan’’đấy là nguyên tắc của các vị đế vương .

LĂNG GIA LONG (Thiên Thọ Lăng )

Lăng Gia long còn gọi là Thiên Thọ Lăng ,bắt đầu được xây dựng năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn thành .Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến . Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi , núi lớn nhỏ , trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này .

Đồ án công trình bố cục theo chiều ngang ,trải rộng mênh mông , không có đình tả và thành .Tổng thể điện Minh Thành bao gồm tẩm điện , sân chầu ,tượng đá voi ngựa, quan chầu ,bia thánh đức thần công .

Bao quanh cảnh núi đồi hùng vĩ giống như một vòng thành thiên nhiên , với núi Thiên Thọ gồm 42 ngọn đồi ,khu mộ hợp táng vua và Hoàng hậu là sự độc đáo của công trình lăng ở phương đông . cảnh quan thiên nhiên hòa quyện với kiến trúc .Con người làm chủ thiên nhiên trong sự hài hòa có tính chất chiều sâu tâm linh nội tại . Một chuyên gia UNESCO đã nhận xét rằng “ lăng Gia Long ở giữa một khu vườn thiên nhiên bao la và gợi nên ấn tượng hoành tráng và thanh thoát .



LĂNG MINH MẠNG (Hiếu Lăng)

Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng năm 1840 đến năm 1843 để chon cất vua cha Minh Mạng .Lăng nằm trên núi Cẩm Khê , gần ngã ba Bằng Lăng , là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12km .

Lăng Minh mạng , với đồ án chữ Minh của mặt bằng hồ , cùng những công trình kiến trúc theo trật tự thẳng trục thần đạo , có tính chất uy nghiêm hùng vĩ , đã phản ánh tư tưởng trung ương tập quyền của vị hoàng đế này .lăng Minh Mạng được coi là một trong những công trình lăng tẩm đạt đỉnh cao của sự hài hòa đối xứng và bất đối xứng của trật tự nghiêm ngặt tạo sự hoành tráng uy nghi , đặc biệt tẩm (khu mộ khối hình tròn thành cao tượng trưng cho mặt trời biểu tượng thiên thể )



LĂNG THIỆU TRỊ (Xương Lăng )

Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh , xã Thủy Bằng , huyện Hương Thủy . Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chon cất vua cha Thiệu Trị . So với Lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị . Lăng Thiệu Trị có những nét riêng . Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng tây Bắc .một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung đình và lăng tẩm thời Nguyễn .

Là sự thay đổi không gian qua biến thể cấu trúc kết hộp giữa đồ án hoành của lăng Gia Long và trục đứng đạo đến khu mộ của lăng Minh Mạng để tạo ra bố cục mới đặt cụm kiến trúc sân chầu , nhà bia ,bửu thành song song viên chính và vẫn giữ vẻ uy nghi , quy mô hòa hợp với cảnh quan thiên nhiên



LĂNG TỰ ĐỨC (Khiêm Lăng )

Lăng tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua thi sĩ Tự Đức (1848-1883) đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình , phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn.Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thương ,Tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba , xã Thủy Xuân , thành phố Huế ).

Tuy không có sự kế thừa nhưng đã phá vỡ không gian tạo hình , không giống những lăng các vị tiên đế . Đồ án uyển chuyển , nhịp nhàng , tạo nhịp điệu đầy chất thơ hòa quyện trong không gian thiên nhiên đầy thông ,hồ nước chảy quanh ,đặc biệt điễm tô thêm nhà thủy tạ , duyên dáng soi bóng trên mặt hồ sen ,một nhà bia với tấm văn bia đồ sộ biểu lộ tâm trạng bi quan của nhà vua .Lăng phản ánh tâm hồn phóng khoáng , lãng mạn của một vị vua thi sĩ đã có nhiều trước tác về thơ văn có giá trị văn học . Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn .Ở đó quanh năm có suối chảy , thông reo , muôn chim ca hát .yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét . Không có những con đường thẳng tắp ,đầy góc cạnh như những kiến trúc khác , thay vào đó là con đường lát gạch bát tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn ,rồi uốn lượn quanh co ,ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh . Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng , diễm lệ .




LĂNG ĐỒNG KHÁNH (Tư Lăng )

Lăng Đồng Khánh tọa lạc giữa vùng quê tĩnh mịch ,thuộc làng Cư Sĩ , xã Dương Xuân ngày trước ( nay là thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân , thành Phố Huế ). Ông vua vắn số này yên nghỉ giữa một vị thế nồng ấm tình cảm gia đình . chung quanh ông là lăng mộ của bà con quyến thuộc. Lăng Tự Đức ( bác ruột và là cha nuôi), Lăng Kiến Thái Vương ( cha ruột), lăng bà Từ Cung (con dâu ), lăng à Thánh Cung (vợ). Xa hơn là lăng tá Thiên Nhân Hoàng Hậu ( bà cố nội ) , lăng Thiệu Trị ( ông nội )…âu đó cũng là sự bù đắp cho vị vua kém may mắn này .

Sau khi lên ngôi , Đồng Khánh thấy lăng mộ của cha mình ở Cư Sĩ chưa có điện thờ nên sai bộ công dựng điện truy Tư cạnh đó để thờ cha . điện Truy tư khởi công vào tháng 2 năm 1888, đến tháng 10 năm đó hoàn tất phần căn ản . Đồng Khánh rước bài vị của Kiên Thái Vương về thờ trong điện , đồng thời tiếp tục hoàn chỉnh công trình . Thế nhưng , trong khi công việc kiến trúc đang tiếp tục thì Đồng Khánh mắc bệnh và đôt ngột qua đời . Vua Thành Thái ( 1889-1907)kế vị trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn , kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm , đành lấy điện truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh . Thi hài nhà vua cũng được an táng đơn giản trên quả đồi có tên là Hộ Thuận Sơn , cách điện Ngưng Hy 30m về phía tây . Toàn bộ khu lăng tẩm được gọi tên là Tư lăng .

Tháng 8 năm 1916 , sau khi lên ngôi được 3 tháng , vua Khải Định (1916-1925), con trai vua Đồng Khánh đã tu sửa điện thờ và xây cất lăng mộ cho cha mình . Toàn bộ khu lăng mộ từ bái Đình , Bi Đình đến Bửu Thành và Huyền Cung đều được kiến thiết dưới thời Khải Định .đến tháng 7-1917 mới hoàn thành .Riêng điện ngưng Hy cùng Tả , Hữu Tùng Viện ,tả , Hữu Tùng Tự tiếp tục được tu sửa cho đến năm 1923 .

Ra đời trOng quá trình dài như thế, lăng Đồng Khánh mang dấu ấn hai trường phái kiến trúc của hai thời điểm lịch sử khác nhau . Nếu phong cách cổ truyền thực sự dừng chân trong kiến trúc lăng tự Đức và phong cách hiện đại được thể hiện rõ nét trong kiến trúc lăng Khải Định sau này ,thì lăng đồng Khánh là một bước trung chuyển .


LĂNG DỤC ĐỨC (An Lăng )

Sauk hi vua Tự Đức băng hà, triều thần đã đưa Ưng chân lên ngai vàng vào ngày 19-7-1883, y theo di chiếu truyền ngôi của vua Tự Đức . Chưa kịp đặt niên hiệu , vị vua trẻ được đặt tên theo tư thất của mình là Dục Đức , nhưng chỉ vài ngày sau , Vua Dục Đức đã bị truất phế vì tội dám lược bỏ một đoạn văn trong di chiếu truyền ngôi của tiên đế và bị tống vào ngục thất . Ngày 24-10-1884 ông vua bất hạnh này bị chết đói trong nhà ngục , thi hài được gói trong một chiếc chiếu giao cho hai tên lính và một viên quyền suất gánh đi chôn ‘’đám tang ‘’của ông vua xấu số này được đưa về An Cựu để mai tang trong địa phận chùa Tường Quang (chùa do một người thân bên vợ của vua Dục Đức lập ra năm 1817) gần đến nơi thì thi hài nhà vua bị rớt giữa đường do đứt dây ,một người lính đã chạy vào chùa Tường Quang mời nhà sư trụ trì ra giải quyết .cuối cùng mọi người nhất trí chọn mảnh đất ‘’thiên tang ‘’đó làm nơi an nghỉ đời đời của vua Dục Đức.

Sáu năm sau, con trai vua Dục Đức là Bửu Lân lại được đưa lên làm vua .Sau khi tức vị , Bửu lân đặt niên hiệu là Thành Thái (1889-1907) và bắt đầu cho xây đắp lăng mộ của vua cha ngay trên nấm mồ ‘’thiên táng ‘’đó .lăng được xây dựng vào đầu năm 1890 ,đặt tên là An Lang nhưng chưa có điện thờ .vào năm Thành Thái thứ 11 (1899) nhà vua cho xây dựng điện Long Ân phía hữu lăng mộ , làm nơi thờ cúng vua cha .Ngoài điện Long Ân , nhà vua còn cho xây cất các công trình phụ như tả , hữu Phối Đường (trước) tả , Hữu Tùng Viện (sau ) dành cho bảy bà vợ thứ của vua cha ăn ở , lo việc thờ phụng hương khói .


LĂNG KHẢI ĐỊNH ( Ứng Lăng )

Lăng Khải Định còn gọi là Ứng lăng tọa lạc trên triền núi Châu Chữ ( còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định , vị vua thứ 12 của Triều Nguyễn . Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi .Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bị sự pha trộn kiến trúc đông tây kim cổ lạ thường , vì các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo .

Toa6 lạc tại vị trí này , lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án , lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm ‘’tả Thanh Long ‘’và ‘’Hữu Bạch Hổ’’, có khe CHâu Ê chảy từ trái qua phải làm thủy tụ gọi là ‘’minh đương’’ . Nhà Vua đổi tên núi Châu Chữ – vừa là hậu chẫm vùa là ‘’mặt bằng’’của lăng – thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo núi : Ứng Lăng

Lăng khởi công ngày 4-9-1920 và kéo dài trong 11na8m mới hoàn tất lăng . Lăng Khải Định có một diện tích rất khiêm tốn :117mx 48,5m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian . Người đời sau thường đặt lăng Khải Định ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới , cái lạ , cái độc đáo , cái ngông nghênh , lạc lõng …tạo ra từ phong cách kiến thức . Toàn cảnh lăng Khải Định nhìn có môt cái gì nó vừa quen , vừa lạ . Tổng thể của lăng là một khối hình chữ nhật vươn cao với 127 bậc cấp như muốn thể hiện khát vọng tự chủ của ông vua bù nhìn này . sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc : Ấn Độ Giáo , Phật Giáo , Roman , Gothicque…đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể .: những trụ cổng hình tháp ,ảnh hưởng từ kiến trúc A7n1 Độ , trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật ,hang rào như những cây thánh giá khẳng khiu, nhà bia và những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể …Điều này là kết quả của hai yếu tố : sự giao thoa văn hóa đông tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định .


CHÙA THIÊN MỤ

Chùa Thiên Mụ hay là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương , cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây . Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601) đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Nguyễn đầu tiên ở đàng trong.Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất ở Huế .

Truyền thuyết kể rằng , khi chúa Hoàng vào làm trấn thủ xứ Thận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam , ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp. Xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này . Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương , ngược lên phía đầu nguồn , ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc , thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại , ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê .

Người dân địa phương cho biết nơi này ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi , nói với mọi người :

‘’rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí ,làm bền long mạch , cho nước nam hùng mạnh ‘’. Vì thế nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn.

Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng .Nguyễn Hoàng cả mừng ,vào năm 1601 đã cho dựng một ngôi chú trên đồi , ngoảnh mặt ra sông Hương , lấy tên là Thiên Mụ .

Năm 1862 dưới thời vua Tự Đức để cầu mong có con nối dõi , nhà vua sợ chữ Thiên phạm đến trời , nên cho đổi từ Thiên Mụ thành Linh Mụ (hay bà mụ linh thiêng ).

Vấn đề kiêng cữ như đã nêu chỉ diễn tiến từ năm nhâm tuất (1862) cho tới năm kỷ tỵ(1869). Sau đó người dân thoải mái gọi hai tên : chùa Thiên Mụ và chùa Linh Mụ.

Vì rằng từ ‘’Linh’’ đồng nghĩa với ‘’thiêng ‘’, âm người Huế khi nói ‘thiên’nghe trại ‘thiêng ‘’, nên khi người Huế nói ‘’Linh Mụ”, “thiên Mụ”hay “thiêng Mụ” thì người nghe đều hiểu là muốn nhắc đến chú này .

Một số người còn đặt tên cho chùa là Tiên Mụ (hay bà mụ thần tiên) cách gọi này không được giới nghiên cứu chấp nhận.


Dưới thời chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứ Đàng Trong , chùa được xây dựng lại quy mô hơn . năm 1710 , chúa Quốc cho đúc một chiếc chuông lớn , nặng tới trên hai tấn , gọi là Đại Hồng Chung ,có khắc một bài minh trên đó .Đến năm 1714 chúa Quốc cho đại trùng tu chùa vì hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như Điện Thiên Vương ,Điện Đại Hùng , nhà thuyết pháp , lầu tàng kinh ,phòng tăng , nhà Thiền …mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa. Chúa Quốc còn đích thân viết bài văn , khắc vào bia lớn ( cao 2m60 rộng 1m2)nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây , việc cho người sang Trung Quốc mua hơn 1000 bài kinh Phật đưa về đặt tại lầu tàng kinh , ca tụng triết lý của đạo phật , ghi rõ sự tích của Hòa Thượng Thạch Liêm , người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật Giáo ở đàng trong .Bia được đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn , trang trí đơn sơ nhưng tuyệt đẹp .

Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng ngay từ thời đó , chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ đàng trong . trải qua bao biến cố lịch sử . Chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn tế trời , dưới triều Tây Sơn ( khoảng năm 1788) rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới các triều vua nhà Nguyễn .Năm 1844, nhân dịp mừng lễ “bát thọ”của bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long ,bà nội vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn , xây thêm ngôi tháp bát giác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên ), đình Hương Nguyên và dựng 2 tấm bia ghi lại việc dựng tháp , đình và các bài thơ văn của nhà

Tháp Phước Duyên

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ . Tháp cao 21m , gồm 7 tầng , được xây dựng phía trước chùa vào năm 1844.Mỗi tầng tháp đều có tượng Phật .Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng ,nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng .Phía trước tháp là đình Hương Nguyện , trên nóc đặt pháp luân ( bánh xe pháp luân , biểu tượng phật giáo , Pháp luân đặt trên đình Hương Nguyện quay khi có gió thổi) . trận bão năm 1904 đã tàn phá chùa nặng nề ,nhiều công trình bị hư hỏng trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn (nay vẫn còn dấu tích ) .năm 1907 Vua Thành Thái cho xây dựng lại , nhưng chùa không còn to lớn như trước nữa .Hai bên tháp có hai nhà tứ giác ,một nhà để bia và một nhà để quả chuông đúc đời chúa Nguyễn Phúc Chu .


PHÁP LAM HUẾ

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

MỸ THUẬT THỜI TÂY SƠN

Trong Thế kỷ 18 , nước Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê , có danh mà không có quyền hành chính trị . Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình phong kiến , các chúa Trịnh ở phía bắc ,kiểm soát nhà vua và điều khiển triều đình ở Thăng Long và các chúa Nguyễn ở phía nam , đóng đô tại thành Xuân Phú . Hai bên từng đánh lẫn nhau để giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước trong suốt 45 năm va đều tuyên bố trung thành với nhà Lê để củng cố quyền lực cho mình .

Cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kết thúc năm 1672 và cuộc sống của những người nông dân ở phía bắc của các chúa Trịnh khá yên bình .Trong khi đó ở phía nam , các chúa Nguyễn thường gây chiến với Đế Chế Khmer yếu ớt ở bên cạnh và sau đó là với cả một nước khá mạnh là nước Xiêm . các chúa Nguyễn thường thắng trận và mở mang thêm đất đai phía nam . Từ giữa thế kỷ , người nông dân bị bần cùng và họ đứng lên khởi nghĩa cả ở Đàng ngoài lẫn Đàng trong .

Năm 1771 Anh em nhà Nguyễn Nhạc , Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi lên lập đồn ải ở đất Tây Sơn tỉnh Bình Định . Thanh thế của anh em Tây Sơn ngày càng lớn ,họ được hưởng ứng không những của người nghèo mà còn có của người giàu có , các thổ hào nữa. Sự nghiệp oanh liệt mà chớp nhoáng của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792)như kỳ công xóa bỏ nạn phân tranh Trịnh- Nguyễn , rồi võ công BÌnh Xiêm (1786)diệt Thanh (1789).

Kể từ năm 1787 , với sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám Mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc ), Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định . Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó tình hình Bắc Hà , Nguyễn Lữ qua đời , Nguyễn Nhạc bất lực , Ánh nhanh chóng chiếm lại đất đai ở Nam bộ rồi đánh lấn ra Diên Khang ,Bình Thuận – đất của Nguyễn Nhạc .Nguyễn Nhạc già yếu không cứu được chỉ còn lo giữ Qui Nhơn , Quảng Ngãi , Phú Yên . Vua Quang Trung đang định chuẩn bị phối hợp với vua anh đem quân vào nam đánh Gia Định thì qua đời (1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi , tức là vua Cảnh Thịnh . Nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu . Nội bộ xảy ra tranh chấp , giữa năm 1802 Nguyễn Ánh tiến ra chiếm được Thăng Long , Quang Toản không chống nổi , bỏ chạy và bị bắt . triều đình Tây Sơn bị sụp đổ .

BIÊN NIÊN CÁC SỰ KIỆN :

-1771 : Anh em Tây Sơn nổi dậy

-1776: Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương

-1777: Nguyễn Huệ tiêu diệt chúa Nguyễn tại Gia Định

-1778: Nguyễn Nhạc xưng đế , đặt tên hiệu là Thái Đức

-1780: Nguyễn Ánh xưng vương tại Gia Định

-1782: Nguyễn Ánh bị quân tây Sơn đuổi , chạy ra Phú Quốc

-1783: Nguyễn Ánh lánh nạn tại Côn Sơn

-1785 : Nguyễn Huệ đánh bại quân Xiêm tại Rạch Gầm –Xoài Mút , Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm .

-1786:Nguyễn Huệ lật đổ chúa Trịnh

-1787: Nguyễn Huệ trở lại Long Xuyên

-1788:Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế

-1789: Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh , Nguyễn Ánh lấy thành Gia Định

-1792: Vua Quang Trung mất

-1793 :Nguyễn Nhạc mất

-1799: Nguyễn Ánh chiếm thành Qui Nhơn .

-1801: Nguyền Ánh lấy được Phú Xuân .

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

Older Posts »