Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘kiến trúc xưa’

Kiến trúc xưa ở Cù lao Phố

Cù lao Phố là một cù lao nằm trên sông Đồng Nai, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì đã tự chia ra làm hai nhánh ôm trọn một dải đất sa bồi. Dải đất đó chính là Cù lao Phố, nằm ở phía Đông – Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là xã Hiệp Hòa, với tổng diện tích đất đai là 694,6495ha.

Cù lao Phố còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy có thể đi đến mọi miền.rải qua nhiều thăng trầm lịch sử, Cù Lao Phố, thương cảng sầm uất của Nam Bộ một thời, nay vẫn còn lưu được nhiều nét xưa.

Trước thế kỷ thứ 6, Cù Lao Phố là vùng đất hoang vu thuộc vương quốc Phù Nam. Trong lịch sử mở rộng bờ cõi của cha ông, cuộc nam tiến đã thực sự thành công khi vùng đất Đồng Nai – Gia Định được tiền nhân khai phá.

Sự hình thành và phát triển của dải đất nằm giữa sông Đồng Nai này bắt đầu từ năm 1679, gắn với sự kiện hai trung thần nhà Minh (Trung Quốc) là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch không quy phục triều đình Mãn Thanh, đã dẫn dắt hơn ba nghìn binh lính vượt biển xuôi về Nam trên 50 chiến thuyền. Họ vào cửa Tư Dung (địa phận Thuận Hóa) xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho lánh nạn. Chúa Nguyễn đã thu nạp và cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này chia làm hai cánh, một do hai tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình chỉ huy đã chọn vùng Đồng Nai – Gia Định để khai phá, một do Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến thống lĩnh tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho – Cao Lãnh làm chốn dung thân.

Cầu Ghềnh dẫn vào Cù Lao  Phố.

Trần Thượng Xuyên sau khi định cư đã chiêu mộ thương lái từ Trung Quốc sang mua bán và mở mang thương cảng. Từ đó, vùng Cù Lao Phố trở nên sầm uất, trên chợ, dưới thuyền, bán mua tấp nập. Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển như dệt chiếu, tơ lụa, đúc đồng, làm pháo, đồ gốm, đục đá… Các thương thuyền của người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ thường xuyên vào ra.

Là người có tầm nhìn xa, Trần Thượng Xuyên thấy vùng đất này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp vì thuận lợi giao thông thủy, bộ. Do đó, ông đã huy động sức người sức của để xây dựng thương cảng Nông Nại Đại Phố thành trung tâm thương mại danh tiếng bậc nhất phương Nam thời bấy giờ. Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được chúa Nguyễn truy phong Thượng đẳng thần, thờ ở đình Tân Lân bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Hòa.

Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn, mở mang bờ cõi phương Nam, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là người đầu tiên được nhắc đến. Vào năm 1698, được chúa Nguyễn sai kinh lược phương Nam, viên thống soái này đã chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh. Tại đây, ông  thiết lập bản doanh, tổ chức cơ sở hành chính, ổn định đời sống dân chúng bằng cách thiết lập phủ, huyện, tổng, xã, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn. Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đã giúp chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi. Ông cũng chính là người có sáng kiến khuyến khích dân chúng các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược, hình thành các làng mạc trù phú ở Đồng Nai.

Về sau, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề do cuộc bạo loạn của thương nhân người Phúc Kiến (Trung Quốc) là Lý Văn Quang vào năm 1747 và cuộc giao tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn, đặc biệt là năm 1776. Nhà cửa phố xá bị thiêu trụi, cư dân dần dần lưu tán, chấm dứt thời kỳ hưng thịnh của Cù Lao Phố sau gần 100 năm.

Tinh hoa còn đó

Chùa Ông ở Cù Lao Phố.

Cù Lao Phố hiện còn lưu nhiều dấu tích về thời hưng thịnh với những công trình mang đậm tín ngưỡng như chùa Đại Giác, đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, miếu Quan Đế, chùa Thủ Huồn… Những tinh hoa trong các làng nghề gốm sứ, điêu khắc hay những sự kiện lịch sử trong lao động và bảo vệ lãnh thổ, sự định hình thiết chế xã hội, các di tích văn hóa của vùng đất này… được Trịnh Hoài Đức biên khảo hết sức công phu trong bộ Gia Định Thành thông chí.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Với hệ thống những công trình tín ngưỡng tôn giáo trên mảnh đất ghi đậm dấu ấn lịch sử văn hóa, Cù Lao Phố là điểm du khảo lý thú cho những ai yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật. Đứng bên bờ sông Đồng Nai, du khách có thể nhìn thấy Cù Lao Phố nổi bật giữa dòng sông, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ, tịnh xá…

Chùa Đại Giác

Chùa Đại Giác

Được xem là nơi địa linh nhân kiệt, Cù Lao Phố đang là đối tượng của các nhà nghiên cứu khảo cổ học về những giá trị văn hoá, lịch sử.

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Sự kiện lịch sử:

Sự thịnh vượng của vùng Cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679 -1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:

* Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu, đánh úp dinh Trấn Biên (tiền thân của Biên Hòa sau này), giết chết Nguyễn Cư Cẩn (tước Cẩn Thành Hầu) là người cai quản dinh. Tin cấp báo về Thuận Hóa, chúa Vũ vương (Nguyễn Phúc Khoát) liền sai cai cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đang đóng ở Mô Xoài đem binh vào cứu viện. Tống Phước Đại phá tan đạo quân của Lý Văn Quang, bắt được chúa đảng cùng đồng bọn 57 người. Tuy dẹp được cuộc bạo loạn, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.

* Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở cù lao Phố vì họ đã ủng hộNguyễn Phúc Ánh  . Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Sau khi chợ búa cùng phố xá bị tàn phá nặng nề, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sáp nhập với làng Minh Hương sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay…

Kể từ đó, vùng Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Advertisements

Read Full Post »

Hai căn nhà cổ ở Sa Đéc

nhaco4

Sa đéc là một thị xã lâu đời ở đất miền Tây Nam Bộ  với chiều dài lịch sử trên 300 năm. Từ một địa danh chợ Vĩnh Phước  thuộc phủ Tân Thành, huyện Vĩnh An vào thời Minh Mạng (1832), Sa Đéc trở thành một địa hạt do người Pháp lập ra khi chia tách từ tỉnh An Giang và trở thành tỉnh lỵ từ năm 1889.

Với địa thế nằm bên bờ sông Tiền, trên con đường thủy giao thương đi Phnôm Pênh, là trung tâm của một miệt vườn trù phú, Sa Đéc từ xưa đã là một nơi thị tứ  và cảng sông quan trọng. Nơi đây đã sớm hình thành phố thị, nhà cửa, phố xá đông đúc và được xây dựng công phu mà hiện nay vẫn còn tồn giữ được rất nhiều ngôi nhà cổ.  Người Pháp đã sớm xây dựng các công trình công thự ở cồn Tân Quy Đông biến Sa Đéc trở thành một thị xã có quy hoạch kiến trúc kiểu Châu Âu. Điều này làm cho Sa Đéc hiện tồn tại hai dạng nhà cổ có tuổi đời trên trăm năm, một dạng nhà cổ truyền thống thuần Việt thường bằng gỗ và một dạng nhà cổ ảnh hưởng kiến trúc Phương Tây xây bằng gạch, hay nhà xây kết hợp nhà gỗ.

Các ngôi nhà gỗ xưa của Sa Đéc thường có tầm vóc khá lớn, nó thể hiện sự giàu có của chủ nhân, (thường là các doanh thương buôn bán theo đường sông nước) và tiện ích của con sông Tiền khi dễ dàng vận chuyển gỗ quý từ Cămpuchia về. Trong số các ngôi nhà cổ trên, nổi bật nhất là hai ngôi nhà cổ truyền thống theo kiểu nhà rường Huế, được làm hoàn toàn bằng gỗ tốt, chúng có tuổi đời lâu nhất và phần chạm trổ tinh vi có giá trị mỹ thuật cao.

Mặt dựng với các ô học cửa chính

Mặt dựng với các ô học cửa chính

Khám thờ

Khám thờ




Đồ án cá hóa rồng

Đồ án cá hóa rồng

Ngôi nhà thứ nhất là của ông Nguyễn Văn Thường, ấp Phú Hòa, xã Tân Phú Đông, thị xã Sa Đéc. Ong là đời thứ 3 của chủ nhân đầu tiên, ông Nguyễn Văn Mao. Vốn là một người buôn bán mặt hàng nổi tiếng của Sa Đéc thời đó là cau khô nên rất giàu có, ông Mao đã mua lại căn nhà này từ một người thợ kim hoàn, dựng lại vào năm 1910. Ngôi nhà có cấu trúc 3 gian, 2 chái theo lối nhà rường Huế có phần cải biên theo nhà cổ Nam Bộ, mái lợp ngói âm dương, nền nhà lót gạch tàu hình lục giác. Điều đặc biệt của ngôi nhà là từ các bộ phận kiến trúc như cột, kèo, thanh xà đến các phần trang trí như bao lam, thành vọng và các bức hoành phi, liễn đều bằng gỗ mun, để lâu đời lên nước càng lau càng bóng.

Các phần trang trí của ngôi nhà như bao lam, khám thờ, thành vọng được chạm trổ tinh xảo với nhiều đồ án hoa văn truyền thống kết hợp với cẩn ốc xà cừ. Ngay từ các cây cột cũng được tạo dáng khá cầu kỳ, chân cột được đẽo thành hình chiếc đôn có chân loe, bụng thắt. Nằm ở dưới các đầu cột của thanh kèo là các hình chạm với đồ án cá hóa rồng. Mặt dưới thanh kèo được chạm viền theo khung chữ nhật, phía trong chạm các đồ án mang phong cách Huế với các đề tài Tứ thời như:  mai hóa lân, sen hóa quy, cúc hóa phượng, phật thủ hóa long. Các mặt vách của ngôi nhà cũng theo kiểu thức của nhà cổ phía Nam, các phần chạm khắc được bố trí trong các ô hộc xen kẽ nhau cùng với chấn song tạo nên các mảng vách dày đặc về họa tiết nhưng lại dễ dàng thông gió. Hình chạm trong các ô hộc là đồ án hoa lá quen thuộc như mai điểu,  tứ linh, cúc, lan … cách chạm lộng cao khối làm cho họa tiết rất sắc sảo. Bao lam là một khối mỏng thếp vàng viền theo cấu trúc trang nghiêm, vuông vắn với các ô hộc đan xen nhau của khám thờ.

Nhà ông Lê Văn Võ, được cất vào năm 1860

Ngôi nhà cổ thứ hai là của ông Lê Văn Võ, nằm gần ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Thường. Ngôi nhà này được xây dựng vào đời vua Tự Đức năm thứ 13 (1860), đã tồn tại đến nay qua 3 thế kỷ và trở thành ngôi nhà cổ lâu đời nhất tại Sa Đéc. Ngôi nhà này được làm bằng gỗ căm xe với cấu trúc 3 gian 2 chái. Không gian kiến trúc của nhà căn nhà này cũng giống căn nhà trước, nhiều mảng chạm trổ tinh xảo gắn với các mảng cẩn ốc xà cừ. Sau hàng cột thứ nhất là hàng cột thứ 2 cùng bộ khung cửa. Khung cửa và vách được chạm trổ rất phức tạp, theo các đường viền, uốn cong hình bán nguyệt như cửa chính hay cắt chéo góc như hai cửa bên. Trên khung cửa là các ô hộc chạm đề tài tứ linh, hoa lá. Để tôn thêm các họa tiết được chạm, các nghệ nhân còn chạm thêm một lớp hoa văn hình chữ vạn, hình tổ ong lót phía sau. Cùng với các ô hộc hình hoa lá, vách nhà được xếp xen kẽ hình hoa văn đơn giản như chữ vạn, quả trám, tổ ong  hay song tiện để tránh sự đơn điệu. Đầu kèo chạm hình hoa lá, trái cây như mai, đào, cúc, lựu. Mặt dưới thân kèo cũng chạm trổ đồ án hoa lá với nét chạm sâu làm nổi rõ họa tiết. Khác với căn nhà trước, căn nhà này có bộ bao lam lớn và chạm trổ cầu kỳ hơn, chiếm vị trí chính trong các gian thờ. Chính giữa bao lam là hình con dơi ngậm vòng (tượng trưng cho phúc), hai bên là hình hoa hồng, chim trĩ  ở tấm giữa, chim và hoa mai ở hai tấm hai bên.

Để hòa hợp với kiến trúc ngôi nhà là các vật dụng nội thất cũng cổ xưa không kém như trường kỷ, bàn ghế, tủ thờ, các cây đèn dầu cổ… Trong ngôi nhà này còn treo rất nhiều hoành phi, câu đối được sơn son, thếp vàng hoặc khảm xà cừ bằng chữ Hán và chữ Nôm, góp phần làm tăng thêm vẻ đẹp cho không gian nội thất, thể hiện một phần nào suy nghĩ của người Sa Đéc, coi mình như một vùng đất hiếu học của miền Tây.

N.T.T

Tài liệu tham khảo:
_________________________

Bảo tàng Đồng Tháp
Nguyễn Đình Đầu. 300 năm Sa Đéc. Tạp chí Xưa và Nay số 448
tháng 10/97
Điện ảnh Đồng Tháp.
Phim tài liệu Sa Đéc xưa và nay,

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »