Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘kiến trúc phật giáo’

KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

Chùa Phổ Minh ( Phổ Minh Tự )là một ngôi chùa ở thôn Tức Mạc , nằm cách thành phố Nam Định khoảng 5km về phía bắc , vùng quê này là quê hương của vua Trần . Chùa còn có tên là Chùa Tháp .

Biên niên sử , chùa được xây dựng vào năm 1262 , ở phía tây cung Trùng Quang của các vua nhà Trần . Nhưng theo các minh văn trên bia , trên chuông thì ngôi chùa này đã có từ thời nhà Lý .Có thể chùa đã được xây dựng lại với quy mô rộng lớn từ năm 1262 tuy đã nhiều lần tu bổ nhưng chùa vẫn giữ được nhiều dấu tích nghệ thuật thời Trần .Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường , 3 gian thiêu hương , tòa thượng điện cũng 3 gian nhưng rộng lớn , xếp theo hình chữ “công” bộ cửa gian giữa nhà tiền đường gồm 4 cánh bằng gỗ lim , to dày , chạm rồng , sóng nước , hoa lá và văn hoa hình học . Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn chầu mặt trời trong khuôn hình lá đề ., được coi là một tác phẫm điêu khắc khá hoàn mỹ . Cũng như đôi sấu đá trên thành bậc tam quan và đôi rồng trên thành bậc gian giữa tiền đường , bộ cánh cừa này còn giữ được những dấu ấn của nghệ thuật chạm khắc đời Trần trong chùa có bày tượng Trần Nhân Tông nhập niết bàn ( tượng nằm ), tượng Trúc Lâm tam tổ dưới bóng trúc , một số tượng Phật đẹp lộng lẫy . Chuông lớn của chùa có khắc bản văn “Phổ Minh đỉnh tự “ đúc năm 1796 – chùa vốn có một vạc lớn , sử sách coi là một trong bốn vật báu của Việt Nam ( An Nam tử khí , nay không còn ).

Sau thượng điện , cách một sân hẹp là ngôi nhà dài 11 gian . Ở giữa là 5 gian nhà tổ , bên trái là 3 gian nhà tăng và bên phải là 3 gian điện thờ . Hai dãy hành lang nối tiền đường ở phía trước với ngôi nhà 11gian ở phía sau làm thành một khung vuông bao quanh kiến trúc Chùa .


Tháp Bình Sơn còn gọi là tháp chùa Vĩnh Khánh hay là Tháp Then , là một ngôi tháp tương truyền có 15 tầng tuy hiện nay chỉ còn lại 11 tầng . Tháp được xây dựng từ thời Trần , nằm ở trong khuôn viên chùa Vĩnh Khánh ( Chùa Then ) thuộc thôn Bình Sơn , xã Tam Sơn , huyện Lập thạch , tỉnh Vĩnh Phúc .

Là ngọn tháp tiêu biểu cho kiến trúc chùa tháp thời Lý – trần ở Việt Nam và là ngọn tháp đất nung đời Trần cao nhất còn lại đến ngày nay , Tháp bình Sơn với hình khối thanh thoát , đường nét mềm mại , trang trí phong phú điêu luyện , là di tích lịch sử và di tích nghệ thuật có giá trị cao vào bậc nhất trên lãnh thỗ Việt Nam .

Tháp Bình Sơn tương truyền có 15 tầng , theo các cụ cao niên địa phương kể lại thì trên nóc tháp còn có một hình khối búp hoa sen chưa nở bằng đất nung tạo cho tháp một dáng vẻ thanh thoát vươn cao .Tháp hiện chỉ còn 11 tầng tháp và 1 tầng bệ vì phần chóp của tháp bị bể , có tổng độ cao là 16,5 m . tháp cấu tạo theo mặt bằng hình vuông nhỏ dần phía ngọn với cạnh của tầng dưới cùng là 4,45 m cạnh của tầng thứ 11 là 1,55m .

Toàn bộ phần còn lại của tháp , căn cứ vào thống kê phân loại trong tiến trình tháo dở phục dựng , cho thấy tháp được xây dựng bằng 13.200 viên gạch nung , gồm 2 loại trong đó có một loại hình vuông kích thước là 0,22m x 0,22m , một loại kích thước hình chữ nhật kích thước 0,45m x 0,22m . trong lòng tháp là một khoảng rỗng nhỏ chạy suốt chân tháp lên đến ngọn .

Thân của tháp Bình Sơn được cấu trúc bằng hai lớp gạch : gạch khẩu chịu lực có nhiều kích cỡ để trơn được sử dụng xây bệ , xây bên trong tháp và giật cấp làm mái phân tầng . phần lớn các viên gạch khẩu được cấu trúc có mộng chốt , tạo dáng khớp nhau theo từng lớp , từng tầng rồi mới nung rắn chắc để xây , bảo đảm liên kết tốt và khả năng chịu đựng lớn . Bên ngoài , xung quanh tháp được ốp một lớp gạch vuông , mỗi cạnh dài 0,46m phủ kín thân tháp . Mặt ngoài của gạch ốp này đều có trang trí hoa văn rất phong phú .


Gần tháp có môt vũng nước được bao bọc bằng bờ gạch , mà người ta thường gọi là giếng .Tương truyền đất của giếng là môt ngôi tháp , được gọi là tháp xanh . Một hôm ngôi tháp biến mất , còn lại miệng giếng như hiện nay .


CHÙA DÂU

Chùa Dâu , còn có tên gọi là Diên Ứng ,Pháp Vân hay Cổ Châu , là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương , huyện Thuận Thành ,tỉnh Bắc Ninh , cách Hà Nội khoảng 30km . Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như Chùa Cả , Cổ Châu Tự , Duyên Ứng Tự . Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam

Chùa nằm ở vùng Dâu , thời thuộc hán gọi là Luy Lâu . Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật Giáo Việt Nam . tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ : chùa dâu thờ Pháp Vân ( mây pháp ), Chùa Đậu thờ Pháp Vũ ( mưa Pháp ) ,Chùa Tướng thờ Pháp Lôi (Sấm Pháp ), Chùa Dàn thờ Pháp Diện ( chớp pháp ), và Chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ cũa Tứ Pháp . Năm Chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần .

Chùa được xây dựng vào buổi đầu công nguyên . các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây . Vào thế kỷ thứ 6 , nhà sư Ti-ni-đa-lui-chi từ Trung Quốc đến chùa này , lập nên một phái thiền ở Việt Nam . Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226 , là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa Phật Giáo Việt Nam , được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1962 .

Chùa Dâu được gắn liền với sự tích Phật mẫu Man Nương , thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn , Mãn Xá cách chùa Dâu 1km

Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo .Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa dâu thành chùa trăm gian , tháp chín tầng , cầu chín nhịp .Hiện nay , ở tòa thượng điện , chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời Trần và thời nhà Lê .

Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt Nam , Chùa Dâu được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc . Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính : Tiền Đường , thiêu hương và thượng điện . Tiền đường của chùa Dâu đặt tương Hộ Pháp , tám vị Kim Cương , gian Thiêu Hương đặt tượng Cửu Long , hai bên có tượng các vị Diêm Vương , Tam Châu Thái Tử ,Mạc Đĩnh Chi .Thượng Điện để tượng bà Dâu (Pháp Vân) Bà Đậu (Pháp Vũ ), và các hầu cận .Các pho tượng Bồ Tát , Tam Thế , Đức Ông , Thánh Tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính .

Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ . ở gian giữa chùa có tượng bà Dâu , hay nữ thần Pháp Vân , uy nghi , trầm mặc , màu đồng hun , cao gần 2m được bày ở gian giữa . Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán , gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ , tới quê hương Tây Trúc . Ở hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ . Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang phật là một khối đá , tương truyền là em út của tứ pháp .

Do Chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy , nên tượng bà Đậu ( Pháp Vũ ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu . Tượng Pháp Vũ với những nét Thuần Việt , đức độ , cao cả . Những tượng này đều có niên đại thế kỷ 18 .

Bên trái của thượng điện có pho tượng Thiền Sư Tỳ ni Đa Lưu Chi . Tượng được đặt trên một bệ gỗ hình sư tử đội hoa sen , có thể có niên đại thế kỷ 14 .


Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong . Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa ,được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành . Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp , nay chỉ còn ba tầng dưới , cao khoảng 17m ,nhưng vẫn uy nghi , vững chãi thế đứng ngàn năm . Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ “ Hòa Phong Tháp “. Chân tháp vuông , mỗi cạnh gần 7m . tầng dưới có 4 cửa vòm , trong tháp treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817 . Có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6m ở bốn góc .Trước tháp ,bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738 , bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33m cao 0,8m . Tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán .


CHÙA BỐI KHÊ

Chùa được gọi là chùa Bối Khê, tọa lạc ở xã Bối Khê nay là xã Tam Hưng , huyện Thanh Oai ,tỉnh Hà Tây . Chùa được xây dựng vào thời Trần , khoảng năm 1338 . Kiến trúc hiện nay chủ yếu vào những lần trùng tu vào cuối thế kỷ 18 và năm 1923 . Chùa còn giữ được nhiều di vật của thời Trần ở tòa thượng điện và tượng Bồ Tát Quan Thế Âm tạc vào thế kỷ XVI . Theo sách từ điển di tích văn hóa Việt Nam ( Hà Nội , 1993) , ngoài chư phật ,chùa còn thờ Minh Đức Chân Nhân đời Trần . Ngài họ Nguyễn , húy là Nữ , tự Bình An , tu hành đắc đạo , tăng đồ theo thụ giáo rất đông . Hàng năm mở hội lễ vào ngày 12 tháng giêng (âm lịch) . Chùa đã được bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.


Chùa Bối Khê không những là di tích lịch sử quý giá về niên đại mà còn có kiến trúc bằng gỗ rất đẹp . Kiến Trúc chùa Bối Khê có tiền đường , hành lang tả hữu ,nhà tam bảo đều bằng gỗ dựng theo hình chữ Quốc . hậu đường được kết nối với điện thờ Thánh có hình chữ công .Toàn bộ kiến trúc được sắp xếp cân xứng hai bên theo một trục chính . Đặc biệt , chùa Bối Khê còn lưu giữ được kiến trúc độc đáo , những họa tiết về kiến trúc gỗ 4 vị chim thần .

Cổng chùa có 5 cửa , phía trên cửa chính có chữ Đại Bi Tự . Qua cổng chùa thấy ngay chiếc cầu gạch vắt qua hào nước hẹp . Dấu tích của dòng sông Đỗ Động , rẽ trái là con đường dẫn tới từ đường Trạng Nguyên Nguyễn Trực ( 1417-1474) cách chùa 30m . Đi qua cầu là tam quan cao hai tầng , tám mái .Tầng trên treo quả chuông lớn , đường kính 60cm , cao 1m , đúc năm Thiệu Trị thứ 4 ( 1844).

Qua khỏi gác chuông là sân gạch rộng chừng 400m vuông , hai bên là hai hồ nước , một trồng sen , một làm giếng nước sinh hoạt cho dân làng trước đây . TòaTam bảo còn gọi là Thượng điện, thờ Phật , Pháp , Tăng , cấu tạo theo 4 hàng cột , mỗi hàng 4 chiếc , riêng thềm điện có 6 cột đỡ mái , chia thành 7 gian . hai vì kèo giữa mang đậm phong cách nghệ thuật thời Trần , các đầu bảy đỡ mái phía ngoài được chạm khắc hình rồng , đầu bảy góc trái phía ngoài chạm hình chim thần Garuda . Bên phải tam bảo là nhà bia dựng năm 1450 ghi sự tích Đức Thánh Bối . Chùa còn bảo lưu được nhiều nghi thức tôn giáo của phái Trúc Lâm , Đạo giáo , Khổng Giáo và có nhiều cổ vật quý 58 pho tượng lớn nhỏ , 2 cây đèn gốm thời Mạc và nhiều sắc phong . Trong số 58 pho tượng , đáng chú ý là tượng Quan Âm 12 tay ngồi trê tòa sen đặt trên bệ đá chạm khắc hình rồng , chim thần , hoa lá có niên đại Xương Phù luc niên ( 1382 ) triều vua Trần Phế Đế . Hai hành lang chạy dọc , mỗi bên 9 gian ,18 vị La hán ngồi trên bệ đá , thể hiện đủ gương mặt , tư thế khác nhau . Sau tam Bảo là hậu cung thờ Đức Thánh Bối Nguyễn Đình An , hai tầng tám mái .

Đến nay , Chùa Bối Khê vẫn còn lưu giữ được những cổ vật quý giá như tượng Phật Bà nghìn mắt , nghìn tay có từ đời Lý là một trong hai pho tượng đẹp và quý nhất Việt Nam , 11 bia đá có từ đời Hậu Trần , hai quả chuông được đúc bằng đồng và 22 đạo sắc từ thời Lý cho đến thời Nguyễn , một quần thể tượng Cửu Long 9 pho tượng được đặt trên 9 bệ rồng .



CHÙA THÁI LẠC

Chùa thuộc thôn Thái lạc , xã Lạc Hồng , huyện Văn Lâm , ngoài thờ Phật , chùa còn thờ Pháp Vân ( Thần Mây ) nên có tên gọi là Pháp Vân Tự , hay là Chùa Pháp Vân .Xây dựng từ thời Trần ( 1225- 1400) Chùa được tu sửa vào các năm 1609, 1612 , 1630 -1636, 1691-1703 . kiến trúc hiện nay là kiểu nội công ngoại quốc ,gồm tiền đường 5 gian , ba gian thượng điện , hai dãy hành lang mỗi bên chin gian , nhà tổ bảy gian .

Chùa Thái Lạc còn giữ được bộ vì gỗ ở gian giữa tòa thượng điện ,kiến trúc thời Trần , còn khá nguyên vẹn . Loại hình này ở nước ta rất hiếm , ngoài chùa Thái Lạc chỉ còn thấy ở chúa Dâu , chùa Bối Khê .Bộ vì kiến trúc kiểu giá chuông , dựa trên kết cấu 4 hàng chân cột . Trên bộ vì được kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và trang trí . Trên các cốn ,các đố của bộ vì và trẹn các cột , đấu có nhiều mảng chạm khắc lớn . nếu nguyên vẹn ,có khoảng 20 bức chạm nổi các đề tài khác nhau , hiện nay có 16 bức . Trên ván có bưng chạm tiên nữ đầu người mình chim . Trên thân cột trụ chạm hình các ông phỗng giơ tay đỡ bệ sen phía trên . trên ván nong trang trí các đề tài tiên nữ . Nơi tiên nữ đang cưỡi phượng , người thổi tiêu ,người kéo nhị . Nơi khác , tiên nữ đang thổi sáo , đánh đàn .Có cảnh tiên nữ đầu người mình chim đang giơ tay dâng hoa . Độc đáo hơn còn có cảnh chạm dàn nhạc ba người đang sử dụng những nhạc cụ dân tộc . Chùa Thái Lạc còn giữ được tượng Pháp Vân , ba bệ thờ và ba tấm bia đá ghi quá trình trùng tu tôn tạo chùa . tất cả đều có niên đại thế kỷ 16-17.

Năm 1967 , chùa được bộ văn hóa thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật đặc biệt quan trọng .


Chùa Hoa Yên , Chùa Thiên Trúc và Thiền Viện Trúc Lâm Yê Tử Quảng Ninh ,núi Yên Tử ở xã Thượng yên Công ,phía tây thị xã Uông Bí , tình Quảng Ninh , ở đỉnh cao 1068m.

Chùa Hoa yên thường gọi là chùa Cả ,tọa lạc trên núi Yên Tử , ở độ cao 516m . Chùa nguyên tên là Vân yên , do Thiền Sư Hiện Quang khai sơn . Ngài là đệ tử nối pháp của Thiền Sư Thường Chiếu ,Kế tiếp Thiền Sư Hiện Quang và Quốc Sư Trúc Lâm , Quốc Sư Đại Đăng ,Thiền Sư Tiêu Diêu ,Thiền Sư Huệ Tuệ , Đại Đầu Đà Trúc lâm tức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ( 1299) vv…

Đại Đầu Đà Trúc lâm thuộc thế hệ thứ 6 ổ Yên Tử , nhưng đến Ngài , Ngài đã thống nhất các Thiến Phái đã có thành một Thiến Phái Trúc Lâm nên người đời gọi Ngài là Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ .

Ngài cho mổ chùa Vân Yên to rộng ,Tả hữu dựng Viện Phù Đồ , lầu chuông trống ,nhà dưỡng tăng , nhà khách , dưới sườn núi dựng nhà cửa đến suốt đến sứ Thanh Lương .Tăng đồ khắp nơi đến nghe giảng yếu chỉ Thiền Tông rất đông .Chùa Vân yên trở thành trung tâm Phật Giáo thời bấy giờ .

Đến khoảng niên hiệu Hồng Đức ( 1470- 1497 ), vua Lê Thánh Tông lên thăm chùa , thấy cảnh hoa nở đầy sân , bèn cho đổi là Hoa Yên .

Trước chùa Hoa Yên có Huê Quang Kim Tháp xây năm 1309 , an táng xá lợi Trần Nhân Tông và hơn 40 ngôi tháp lớn nhỏ khác , đều là tháp cổ thời Trần .

Hệ thống Chùa ở Yên Tử hiện nay đang được trùng tu ,xây dựng quy mô lớn : Chùa Cấm THực , Chùa Giải Oan ,Chùa Một Mái , Chùa Bảo Sái ,Chùa Vân Tiêu , Chùa Thiên Trúc …

Tuyến cáp treo từ chân núi đến gần khu vực tháp Tổ đã hoạt động từ năm 2002 .


THÁP HUỆ QUANG

Thờ đệ nhất Tổ Trúc lâm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông , tên húy là Trần Khâm .

Tháp xây dựng vào năm Kỷ Dậu ( 1309 ).niên hiệu Hưng Long thứ 17 , trong lăng Quy Đức , để quàn xá lợi Điều Đức Ngự , tên gọi là Huệ Quang Kim tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật .


CHÙA THIÊN TRÚC

Chùa Thiên Trúc ( Chùa Đồng ) trên đỉnh núi Yên Tử do một bà phi của chúa Trịnh phát tâm cúng dường , ngôi chùa nhỏ ở dạng một khối đồng hình chữ nhật cao 1,35m , dài 1,4m , rộng 1,1m , qua thời gian đã hư hỏng nhiều .Ngày 23-10-2005 UBND tình và Ban trị sự Phật Giáo tỉnh Quảng Ninh đã làm lễ khởi công xây dựng lại chùa Đồng hoàn toàn bằng chất liệu đồng với khoảng 70 tấn đồng , diện tích khoảng 20m vuông , chiều cao từ cột nền tới mái lá 3,35m mỗi viên ngói nặng khoảng 4 kg , 4 cột chùa , mỗi cột nặng 1 tấn . Trong đại lễ khánh thành Chùa Đồng ngày 30-1-2007 , trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng xác lập kỷ lục : Thiên Trúc Tự – Ngôi chùa bằng đồng lớn nhất Việt Nam trước hang ngàn chư tôn đức tăng ni , quan khách , phật tử và khách tham dự.


THIỀN VIỆN TRÚC LÂM

Thiền Viện Trúc Lâm , tức chùa Lân , chùa Long Động , nằm trên đường vào khu danh thắng Yên Tử . Cách tỉnh lộ 18 khoảng 10km , thuộc xã Thượng Yên Công , thị xã Uông Bí , tỉnh Quảng Ninh , đã được Hòa Thượng Thích Thanh Từ cho khởi công xây dựng lại ngày 15-8-2002 và tổ chức khánh thành ngày 14-12-2002. Đây là nơi trước kia Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông làm nơi giảng đạo .

Trước sân THiền Viện có đặt một quả cầu Như Ý Báo Ân Phật bằng đá hoa cương đỏ ( ru bi) đường kính 1590mm , trọng lượng 6,5 tấn , được lấy từ mỏ đá An Nhơn ( Quy Nhơn ). Quả cầu đặt trên một bệ đá granit có tiết diện vuông , nặng 4 tấn ,bọc bên ngoài là bể nước hình bát giác với tám bồn hình cánh hoa bao quanh tượng trưng cho Bát Chánh Đạo . Quả cầu do nhóm Phật Tử Minh Hạnh Túc Phát Tâm cúng dường , được Công Ty TNHH Hà Quang thi công trong 18 tháng . Lễ cúng dường được tổ chức vào ngày 06-7-2005 ( 1 /6/ năm Ất Dậu ). Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục : Quả cầu Như Ý lớn nhất Việt Nam .


MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Advertisements

Read Full Post »

MỸ THUẬT THỜI TRẦN

Khi nhà Lý bắt đầu suy yếu , người đứng đầu dòng họ Trần ở đây là Trần Cảnh ( Trần Thái Tông ) nhưng người đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của nhà Trần là trần Thủ Độ . Nhà Lý suy vi , quyền lực rơi hết vào tay Trần Thủ Độ .Sau khi ép Lý Chiêu Hoàng ( 8 tuổi ) nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh ( 7 tuổi ,1218-1227) thì thời đại của nhà Trần chính thức bắt đầu năm 1225 . Trong khoảng 175 năm trị vì , nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần kháng chiến chống quân Nguyên thành công vào các năm 1258 ,1285 và 1288 , nhưng trong những năm sau này ,kể từ thời Vua Dụ Tông thì triều đại nhà Trần đạ suy yếu đi vì nhiều lý do , chủ yếu là do sự mục nát và yếu kém của hệ thống quan lại . Cuối cùng vào năm 1400 , Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần , chấm dứt 175 năm trị vì của dòng họ này .

Nhà Trần thay thế nhà Lý suy tàn trong sự phát triển đi lên của phong kiến Việt Nam . Ba lần chống quân Nguyên – Mông thắng lợi , bảo tồn giang sơn đã tạo nên một hào khí oai hùng cho dân tộc và thấm đẫm trong văn học nghệ thuật , mặt khác chiến tranh nhiều lần tàn phá đất nước , hoạt động nghệ thuật bị hạn chế , cuối cùng chế độ điền trang thái ấp cũng tan vỡ trong cuộc cải cách của Hồ Quý Ly vào cuối thế kỷ 14 .

Mỹ thuật thồi Trần với đường nét phóng khoáng , khỏe khoắn hơn thời Lý . Bố cục có phần thưa thoáng đơn giản . Đề tài phong phú hơn thời Lý , đặc biệt là trên đồ gốm xuất hiện nhiều hình ảnh con thú . Có được điều này là nhờ sự giao lưu văn hóa rộng rãi và tinh thấn thượng võ thời Trần phát triển mạnh qua ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông .

KIẾN TRÚC

KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH :

Lăng Trần Thủ Độ ở Tam Đường ( Thái Bình ) có một số tượng thú

Tượng Hổ ở lăng Trần Thủ Độ ( Thái Bình ) .Trần Thủ Độ là thái sư triều Trấn , ơng là người uy dũng , quyết đoán , người góp phần dựng lên vương triều Trần , người có vai trò quan trọng trong chiến thắng chống quân xâm lược Mông Cổ (1258) .Khu lăng mộ của ông được xây dựng vào năm 1264 tại Thái Bình , ở lăng có tạc một con hổ . Tượng hổ có kích thước gần như thật (dài 1m43), thân hình thon , bộ ngực nở nang , bắp vế căng tròn . Tượng đã lột tả tính cách dũng mãnh của vị chúa sơn lâm ngay cả trong tư thế rát thư thái : nắm xoải chân , chân thu về phía trước , đầu ngẩng cao . Tượng hổ tạo khối đơn giản , dứt khoát , có chọn lọc và được sắp sếp một cách chặt chẽ , vững trãi . Sự trau chuốt nuột nà của hình khối và đường nét với những đường chải mượt của tóc hổ , những đường văn đều đặn trên ức tạo nên những hoa văn trang trí tôn thêm vẻ đẹp của hổ . Thông qua hình tượng con hổ , các nghệ sỹ điêu khăc thời xưa đã nắm bắt và lột tả được tính cách , vẻ đường bệ , lẫm liệt của thái sư Trần Thủ Độ . Bây giờ đến Vũ Thư , Thái Bình . Ta vẫn gặp một con hổ đá nằm im lìm giữa hoa hoang cỏ dại trong di tích hoang tàn lăng Trần Thủ Độ . Đây là một tác phẩm nghệ thuật dẹp trong nền nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam .


ĐỀN AN SINH VÀ LĂNG MỘ NHÀ TRẦN

Đền và lăng mộ nhà Trần thuộc xã An Sinh , huyện Đông Triều , tỉnh Quảng Ninh ,nắm rải rác trong một khu đất rộng có bán kính 20km để thờ “Bát Vị Hoàng Đế “ thời Trần .Đây là một trong những công trình tưởng niệm có giá trị lớn trong lịch sử Việt Nam và đã được bộ văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử . Được trùng tu vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn , quần thể di tích gồm một đền và tám lăng mộ .

Khu đền Sinh thuộc thôn Nghĩa Hưng là nơi thờ chung tám vị vua nhà Trần và lăng mộ của Trần Thái Tông , Trần Thánh Tông và Giản Định Đế . Lăng mộ Trần Anh Tông ở khu trại lốc , lăng Trần Minh Tông ở khu Khe Gạch , lăng Trần Hiến Tông ở khu Ao Bèo , Lăng Trần Dụ Tông ở khu Đống Tròn ,lăng Trần Nghệ Tông ở khu Khe Nghệ .

Ngoài việc xây dựng điện miếu ở mỗi lăng làm nơi thồ cúng , triều đình còn cho xây dựng ở khu đền Sinh nhiều tòa điện miếu lớn để làm nôi tế lễ bái yết và cắt cử các quan về trông coi cẩn thận . toàn bộ khu vực này trở thành thánh địa tôn nghiêm qua các triều Trần , Lê , Nguyễn .

Đền Sinh gồm ba tòa nhà rộng , kết cấu hình chữ tam , tiền đường thờ Triều Trần , bái đường thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo , hậu cung thờ tám vua Trần : Thái Tông , Chánh Tông ,Anh Tông , Minh Tông ,Hiến Tông , Dụ Tông , Nghệ Tông và hoàng đế hậu Trần là Giản Định Đế (Trần ngồi ).

Ở phía sau đền có 3 lăng các vua :Thái Tông , Thánh Tông và Giản Định Đế . rải rác ở suốt dãy núi còn có lăng các vua Anh Tông ( còn gọi là Đồng Thái hoặc Thái Lăng ), lăng vua Minh Tông ( lăng Đồng Mục ) , lăng vua Hiến Tông (Lăng Nghệ Sơn ), lăng vua Dụ Tông , vua Nghệ Tông .

Trải qua thời gian và thăng trầm của Lịch sử , khu vực này bị hư hỏng nặng . ngày nay với ý thức và lòng tự hào dân tộc nên khu đền Sinh và các lăng mộ nhà Trần đang dần được quan tâm khôi phục đúng tầm cỡ của nó để bảo tồn và phát huy một di sản văn hóa quý báu của dân tộc và góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau , tạo thành một khu di tích thu hút du khách bốn phương .


Tượng quan hầu trong lăng vua Trần Hiến Tông ở xã An Sinh huyện Đông Triều , tỉnh Quảng Ninh .Vua Trần Hiến Tông mất năm 1341 , tuy đã 13 năm làm vua , nhưng lúc ấy mới 23 tuổi . Có lẽ vì thế , trong sự thương tiếc của triều đình , đây là lăng mộ vua Trần duy nhất có các tượng “người đá , ngựa đá ,hổ đá , dê đá ,trâu đá “như các tác giả sách Đại Nam Nhất Thống Chí ở cuối thế kỷ XIX còn thấy > Sau nhiều biến thiên lịch sử , cho đến thập niên 70 của thế kỷ XX , khu lăng đã bụ hủy hoại , song vẫn còn hai tượng quan hầu , chó đá và trâu đá .

Rất tiếc cả hai tượng quan hầu đều bị gẫy mất đầu nhưng may tìm được một đầu tượng chắp lên rất khớp ., và như thế có thể nhận ra một tượng quan hầu khá nguyên . tượng cao 130 cm, đứng trên đế chữ nhật cạnh trước 39 cm cạnh bên 30 cm còn nổi trên đất 10cm . Tượng và bệ liền một khối đá dựng thẳng đứng , tất cả khuôn lại trong một trụ gọn gàng như kiểu tượng mồ tây nguyên , không có những chi tiết nhô ngang dễ gãy . Tượng được diễn tả một viên quan hầu cận đứng nghiêm , hai tay ép sát sườn rồi đưa ngang về trước bụng để nâng một vật như chiếc hộp trước ngực , nhưng bàn tay bị che khuất . Đầu tượng đội mũ bó sát thành băng ngang phía trên trán .Thân mặc áo dài quét đất , gấu áo hơi loe ra , phía trước để lộ hai bàn chân đi giầy , ống tay áo rộng thành khối vuông trước bụng , áo không có trang trí mà chỉ có nếp chảy xuôi , bốn cạnh thân nổi rõ . Như vậy toàn thân tượng cũng như các thành phần chính được quy về các khối hình học có góc cạnh rõ ràng , điều đó làm tăng tính khúc triết , khỏe khoắn , dứt khoát . Đầu tượng hơi dài , mặt thon thả ,mắt , nũi , miệng đều rát thực và ở trạng thái đăm chiêu , bình thản .Trong không gian lăng mộ , giữa lũng hoang cạnh sườn núi , tượng quan hầu trang nghiêm và tĩnh lặng đến tuyệt đối , phảng phất một nỗi ưu tư .


Di tích cung điện thời Trần ở làng Tức Mạc : làng Tức Mạc Ở phía bắc ngoại thành Nam Định , cách trung tâm thành phố 3km(1.9 dặm ) .Đây là quê hương của nhà Trần ,nơi sinh ra Trần Hưng Đạo , vị anh hùng dân tộc . Khu di tích rộng tới hang chục hecta , từ đền Thiên Trường , Cổ Trạch thờ các vua Trần và Trần Hưng Đạo đến chùa tháp Phổ Minh . Sử cũ cho biết , vào năm 1239 , nhà vua cho xây hành cung ở làng quê mình để lúc thư nhàn về thăm . Đến năm 1262 , Thượng Hoàng đến chơi hành cung ở Tức Mạc , ban yến tiệc cho dân và thăng làng Tức mạc lên phủ Thiên Trường , dựng tiếp cung Trần Quang để cho các vua đã nhường ngôi( Thái Thượng Hoàng ) về ở .Phía tây cung đình là chùa Phổ Minh , lại dựng một cung riêng cho các vua đương triều mỗi khi về thăm Thái Thượng Hoàng thì về nghỉ tại đó .

700 năm trôi qua , khu cung điện không còn nữa , nay có đền Thiên Trường để thờ 14 vị vua Trần , đền Cổ Trạch thờ Trần Hưng Đạo , và chùa Phổ Minh với cây tháp Phổ Minh nổi tiếng .


MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »