Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘kiến trúc cổ’

Cấu trúc kiến trúc cổ Việt Nam

Hình ảnh ban đầu

Kiến trúc cổ Việt Nam còn lại không nhiều và không phải là những công trình tiêu biểu nhất. Tinh hoa của kiến trúc cổ Việt Nam đã bị chôn vùi sau các cuộc tàn phá triệt hạ văn hóa phương Nam của Trung Hoa và quy luật thời gian (đa số những công trình cổ còn hiện hữu, có niên đại từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn). Người ta hiện còn biết rất ít (và cũng nhiều điều người ta chưa biết gì) về kiến trúc các cung điện thời Lý-Trần, được xem là thời kỳ văn minh nhất của Đại Việt và được sử sách khen ngợi là trước đó chưa hề có, sánh ngang cùng Trung Hoa phương Bắc. Những nền đất còn lại của các ngôi chùa thời kỳ này như chùa Phật Tích, chùa Dâu… có thể chứng minh được những lời này. Tuy vậy, những gì còn lại trên tại Việt Nam ngày nay cũng để người ta biết cách thức xây dựng trong dân gian và những quy định trong cấu tạo kiến trúc thời xưa, được gọi là “thức kiến trúc cổ Việt Nam”.

thuc-kien-truc-co-vn (3)

thuc-kien-truc-co-vn (7)

Phương đình Đền Đô ở Bắc Ninh

Khi nói về kiến trúc cổ Việt Nam, nhiều người lầm tưởng nó là kiến trúc Trung Hoa. Nhưng thật ra kiến trúc cổ Việt Nam khác nhiều so với hệ kiến trúc Trung-Nhật-Hàn (3 nước này khá tương đồng nhau). Kiến trúc cổ Việt Nam cũng lấy gỗ làm vật liệu xây dựng cơ bản và tạo đặc trưng riêng cho nền kiến trúc của mình, tương phản với kiến trúc gạch đá của các vùng còn lại trên thế giới.

Nét đặc trưng

thuc-kien-truc-co-vn (6)

Thức kiến trúc cổ Việt Nam: dốc mái thẳng

Có 3 nét đặc trưng của kiến trúc cổ Việt Nam làm ta phân biệt trong nền kiến trúc gỗ cổ phương Đông:

– Dốc mái thẳng

– Dùng bảy, kẻ đỡ mái hiên

– Cột mập to, phình ở phần giữa thân dưới

Nếu so sánh với thức kiến trúc cổ Trung Quốc sẽ thấy được sự khác nhau:

– Dốc mái võng xuống

– Đỡ mái hiên bằng hệ đấu-củng (còn gọi là con sơn chồng đấu)

– Cột thanh mảnh, tròn đều

Triền mái của kiến trúc cổ Việt Nam thẳng, không cong, nhưng hếch lên ở góc mái tạo sự thanh thoát, lấy cảm hứng từ mũi thuyền của nền văn hóa sông nước. Phần mái lớn và thường chiếm tới 2/3 chiều cao mặt đứng công trình. Trong khi kiến trúc Trung Hoa mái cong và chỉ hơi hếch ở góc mái. Ngói lợp mái truyền thống Việt Nam là ngói mũi hài còn gọi là ngói vẩy rồng trong khi ngói lợp Trung Hoa là ngói âm dương hay ngói ống. Trang trí trên mái cổ thường có các phần đặc trưng như những con giống gắn trên đầu đao, trong đó con giống luôn là hình tượng thể hiện tinh thần ngôi nhà, được làm từ đất nung hanh vữa truyền thống. Tiếp theo là các bờ nóc có đặt gạch hoa chanh, đỉnh mái gắn con kìm, con sô, con náp, hay lạc long thủy quái. Khu đĩ thường để trống thông thoáng và có chạm yếm trang trí gọi là vỉ ruồi.

Trang trí mái lưỡng long chầu hổ phù

Trang trí mái lưỡng long chầu hổ phù

Đỡ mái hiên bằng kẻ, hay bảy, một thanh chéo đỡ mái hiên vươn ra bằng nguyên tắc đòn bảy rất hay. Không dùng hệ đấu – củng rất nhiều chi tiết như Trung Hoa.

Cột là phần đỡ chính của công trình, toàn bộ khối lượng công trình đều đặt lên các cột. Cột tròn và to mập, phình ở giữa.

Chi tiết giằng cột chuẩn

Chi tiết giằng cột chuẩn

Sức nặng công trình được đặt lên cột, cột đặt lên các đế chân cột chứ không chôn xuống nền và chính sức nặng của công trình làm công trình ổn định và vững vàng.

Trong thức kiến trúc cổ Việt Nam chạm trổ là phần rất quan trọng, nó thể hiện tinh thần công trình. So với kiến trúc Trung Hoa thích vẽ hình và sơn mầu sặc sỡ, kiến trúc cổ Việt Nam thường để mộc mầu gỗ hay quét sơn ta bảo vệ có mầu nâu, thích chạm trổ.

Trong thức kiến trúc cổ Việt Nam, tất cả các kích thước tính của công trình đều dựa theo Thước Tầm, một cây thước được tính theo kích thước cơ thể gia chủ. Đây là một điều độc đáo, theo cách phân tích cái đẹp tỷ lệ thì thước tầm là modulor của kiến trúc cổ Việt Nam như modulor của kiến trúc Hy Lạp, tạo ra vẻ đẹp hình học tinh tế như độ dốc mái, tỉ lệ chiều cao mái với phần chân cột, sự thích hợp với người gia chủ.

Thước Tầm

Thước Tầm

Căn nhà được xây dựng theo các vì nhà, sau đó các vì được dựng lên và nối với nhau bằng các xà ngang và xà ngưỡng tạo thành một hình hộp, sau đố là lợp mái và làm tường nhà. Vì nhà chính là đơn vị cơ bản khi nói đến kích thước ngôi nhà, giữa hai vì gọi là “gian”. Vì nhà cũng là đặc trưng cho lối kiển trúc theo từng địa phương và từng thời kỳ, tuy rất trung thành với thức kiến trúc cổ Việt Nam.

Khung nhà phân không gian nhà thành các gian nhà, thường có các bộ phận sau:

Tên gọi các cấu kiện bộ vì nhà và hệ mái

Tên gọi các cấu kiện bộ vì nhà và hệ mái

Cột là kết cấu đứng chịu nén, thường có các loại cột:

– Cột cái: cột chính của nhà đặt ở hai đầu nhịp chính

– Cột quân hay cột con: cột phụ nằm ở đầu nhịp phụ hai bên nhịp chính;

– Cột hiên: nằm ở hiên nhà, phía trước.

Liên kết đầu cột

Liên kết đầu cột

Liên kết đầu cột

Liên kết đầu cột

Liên kết cột - kẻ nóc

Liên kết cột - kẻ nóc

Liên kết chân cột

Liên kết chân cột

Xà là các giằng ngang chịu kéo, liên kết các cột với nhau, gồm có các loại xà nằm trong khung và các loại xà nằm ngoài khung vuông góc với khung. Xà nằm trong khung, thường đặt ở cao độ đỉnh các cột quân để liên kết được cả cột cái và cột quân, gồm:

– Xà lòng hay chếnh: liên kết các cột cái của khung;

– Xà nách hay thuận: liên kết cột quân vào cột cái, trong khung.

Kẻ là các dầm đơn đặt theo phương chéo của mái nhà, gác lên các cột bằng liên kết mộng, thường có các loại kẻ sau:

– Kẻ ngồi gác từ cột cái sang cột quân, trong khung;

– Kẻ hiên gác từ cột quân sang cột hiên, trong khung. Một phần kẻ hiên được kéo dài conson qua cột hiên để đỡ phần chân mái.

Chi tiết hiên

Chi tiết hiên

Bẩy hay bẩy hậu hoặc bẩy hiên: là dầm conson nằm trong khung liên kết vào cột quân phía sau nhà, đỡ phần mái vẩy phía sau. Đối với nhà ở thì tiền kẻ, hậu bảy. Đối với các công trình công cộng như đình làng, thường bốn mặt xung quanh đều có hiên thoáng không có cột hiên, nên thường dùng bẩy hiên.

Câu đầu là dầm ngang chính đặt trên cùng, khoá các đầu trên của các cột cái trong khung (gác lên các cột cái).

Con rường là các đoạn gối đỡ mái dạng dầm gỗ hộp để đỡ hoành mái, được đặt chồng lên nhau. Chiều dài của chúng thu ngắn dần cân theo chiều vát của mái, càng các con rường bên trên càng ngắn. Ở vì nóc các con rường nằm chồng lên câu đầu.

Con lợn còn gọi là rường bụng lợn: là con rường trên cùng, gối lên con rường bên dưới qua hai đoạn cột ngắn gọi là trụ trốn, và làm nhiệm vụ đỡ xà nóc (thượng lương). Bên dưới rường bụng lợn (giữa hai trụ trốn) là ván lá đề thường để điêu khắc trang trí. Con lợn có thể được thay bằng giá chiêng.

Rường cụt là loại rường nằm ở vì nách (giữa cột cái và cột quân), chúng nằm chồng trên xà nách, chúng cũng đỡ hoành và vẫn thu dần chiều dài khi lên cao theo độ dốc mái.

Các loại xà nằm ngoài khung gồm có:

– Xà thượng liên kết đỉnh các cột cái giữa các khung với nhau.

– Xà hạ hay xà đại liên kết các cột cái giữa các khung, tại cao độ đỉnh cột quân, gần sát vị trí liên kết xà lòng, xà nách vào cột cái.

– Xà tử thượng (xà trên của cột con): liên kết các cột quân của các khung ở bên trên.

– Xà tử hạ (xà dưới của cột con): liên kết các cột quân của các khung ở bên dưới, tại mức độ cao ngay trên hệ cửa bức bàn.

– Xà ngưỡng nối các cột quân ở vị trí ngưỡng cửa. Xà này đỡ hệ thống cửa bức bàn.

– Xà hiên liên kết các cột hiên của các khung.

Thượng lương, còn gọi là đòn đô ông hay Xà nóc đặt trên đỉnh mái.

Các kết cấu mái:

Hoành là các dầm chính đỡ mái đặt nằm ngang theo chiều dài nhà, vuông góc với khung nhà.

Dui là các dầm phụ trung gian, đặt dọc theo chiều dốc mái (trực giao với hoành), gối lên hệ thống hoành.

là các dầm phụ nhỏ, đặt trực giao với dui, song song với hoành, gối lên hệ dui. khoảng cách giữa các mè là nhỏ nhất, vừa đủ để lợp ngói. Việc sử dụng hệ kết cấu hoành – dui – mè, nhằm phân nhỏ nhịp của kết cấu đỡ mái thành hệ lưới vừa đủ để lát lớp gạch màm và lợp ngói bên trên.

Gạch màn là một loại gạch lá nem đơn bằng đất nung, có tác dụng đỡ ngói đồng thời tạo độ phẳng cho mái, chống thấm dột và chống nóng. Gạch màn ngồi trực tiếp trên lớp mè.

Ngói mũi hài hay còn gọi là ngói ta hay ngói vẩy rồng, bằng đất nung, trực tiếp chống thấm dột và chống nóng, lợp trên lớp gạch màn và cũng có thể có lớp đất sét kẹp giữa.

Chi tiết đỡ mái

Chi tiết đỡ mái

Các chi tiết kiến trúc khác:

– Cửa bức bàn

– Con tiện

– Dạ tàu

– Đầu đao

Cửa dân gian

Cửa dân gian

Nhà Việt cổ có thể làm theo:

– Hình thức hai mái, hai đầu hồi bít đốc

– Hình thức bốn mái, với hai mái phụ hai đầu hồi gọi là hai chái nhà. Mỗi chái nhà gồm có một hàng cột quân (có thể thêm một hàng cột hiên), các hàng cột này xoay vuông góc với các hàng cột trong các gian chính.

– Hình thức 8 mái chồng diêm.

Modulor trong thức cổ Việt Nam

Modulor trong thức cổ Việt Nam

Truyền thống người Việt thường làm theo nhà theo cơ số lẻ:

– Phương đình 1 gian chính giữa, bốn xung quanh hệ cột quân đẳng hướng

– Nhà 3 gian

– Nhà 5 gian hay nhà 3 gian 2 trái

– Nhà 7 gian hay nhà 5 gian 2 trái

– Nhà 9 gian hay nhà 7 gian 2 trái

Cơ sở tỷ lệ hài hoà giữa con người và kiến trúc

Cơ sở tỷ lệ hài hoà giữa con người và kiến trúc

Một số hình ảnh tham khảo và so sánh

Hà Nội

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột

Nghi môn Chùa Láng

Nghi môn Chùa Láng

Văn Miếu Môn

Văn Miếu Môn

Tỷ lệ của Khuê Văn Các

Tỷ lệ của Khuê Văn Các

Mặt đứng Khuê Văn Các

Mặt đứng Khuê Văn Các

Chùa Kim Liên

Chùa Kim Liên

Bắc Ninh

Phối cảnh góc Đình Bảng

Phối cảnh góc Đình Bảng

Mặt đứng, mặt bên, mặt bằng Đình Bảng

Mặt đứng, mặt bên, mặt bằng Đình Bảng

Tỷ lệ Đình Bảng

Tỷ lệ Đình Bảng

Gác chuông chùa Bút Tháp

Gác chuông chùa Bút Tháp

Thái Bình

Chùa Keo

Chùa Keo

Mặt cắt gác chuông Chùa Keo

Mặt cắt gác chuông Chùa Keo

Huế

Mặt cắt Đoan Môn

Mặt cắt Đoan Môn

Triều Miếu ở kinh thành Huế

Triều Miếu ở kinh thành Huế

Theo kientruc360

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Advertisements

Read Full Post »

Những kiến trúc, công trình xưa nhất Sài Gòn

Continental – khách sạn cổ nhất Sài Gòn

alt
Khách Sạn Continental đầu thế kỷ

Là một trong năm di tích lịch sử của Sài Gòn, khách sạn (KS) Continental tọa lạc ở góc ngã tư Công trường Quốc tế – Đồng Khởi.  KS được xây dựng vào năm 1880, do KTS người Pháp thiết kế, và mang tên Continental ngay từ những ngày đầu. Sau 1975, có lúc KS đổi tên thành Hải Âu. 1989, sau khi chỉnh trang, nâng cấp, KS đã lấy lại tên cũ. Continental có diện tích tổng thể 3.430m2, cao 3 tầng. Tuy số phòng không nhiều, nhưng diện tích mỗi phòng ở đây cũng thuộc vào loại kỷ lục, có phòng rộng tới 80m2 và cao tới 4m! Continental từng đón tiếp Tổng thống Pháp J. Chirac, Thống đốc bang California, người mẫu Kate Mode và nhà văn Mỹ nổi tiếng Gramham Green. Tác phẩm “Quiet American” (Người Mỹ thầm lặng) đã ra đời tại phòng 214 của khách sạn Continental.

Thảo Cầm Viên, công viên lâu đời nhất TP

alt
Thảo Cầm Viên Sài Gòn

Đến tháng 3.2005, Thảo Cầm Viên (TCV) được 141 năm tuổi! Khởi công xây dựng vào tháng 3.1864, ban đầu TCV là một công viên rộng 12 ha, do Nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp J.B.Louis Pierre sáng lập và làm Giám đốc đầu tiên. Năm 1865, TCV được mở rộng thêm 8 ha nữa, và là vườn ươm nhiều giống cây du nhập có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, ca cao, măng cụt, vú sữa, sầu riêng, xà cừ, dầu rái… đồng thời người Pháp cũng phát triển ở đây một số chuồng nuôi thú hoang dã, vì vậy công viên này còn được gọi là Sở Thú. 1924, TCV được mở rộng thêm 13 ha. 1956, chính quyền Sài Gòn cho tu sửa, tái thiết lại và năm 1966 lấy tên gọi chính thức là Thảo Cầm Viên. Từ năm 1989, TCV lại được cải tạo, mở rộng và du nhập thêm nhiều giống mới, trồng thêm một số loài cây quý. Tổng diện tích chuồng trại của TCV lên đến 21.352m2, có 1.823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại hoa cây kiểng quý. Năm 1990, TCV là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. TCV cũng là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.

Nhà máy điện xưa nhất Sài Gòn

alt
Nhà máy đèn Chợ Quán

Chợ Quán là nhà máy điện đầu tiên được xây dựng ở Sài Gòn vào năm 1896, tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5. Khởi đầu, nhà máy cung cấp điện công cộng bằng dòng điện ba pha, với công suất chưa tới 120 MW. Máy phát điện chạy bằng hơi nước, có năm lò hơi với 150m2 chứa nước luân lưu. Một máy phát chính công suất 1000 ampères/giờ chuyển động bằng vòng quay để phân phối điện bảo vệ an toàn và kiểm soát dòng điện. Hiện nay nhà máy đã được trang bị hiện đại, cung ứng điện cho lưới điện TP và lưới điện quốc gia.

Ngôi đình lâu đời nhất TP Sài Gòn

alt
Đình Thần Chí Hòa

Đó là đình Thần Chí Hòa tại 475 đường Cách Mạng Tháng 8, phường 13, quận 10. Đây là ngôi đình dù chưa xác định được chính xác năm xây dựng, nhưng các nhà nghiên cứu đều khẳng định đình vào khoảng 300 năm tuổi. Ngôi đình cổ kính và lâu đời này từng được Vua Tự Đức ban sắc phong ngày 29.11 năm Nhâm Tý (1852).

Nơi đây, Cụ Võ Trường Toản đã từng dạy học, ông đã đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước, đến nay di bút của ông còn in sâu trên cặp liễn treo trước chính điện đình. Phan Xích Long cũng từng mượn võ ca của đình để làm nơi dạy võ chống thực dân. Ngày 16.2.1997 (Âm lịch) đình Thần Chí Hòa được Nhà nước CHXHCN Việt Nam công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.

alt
Cúng thần ở Đình Thần Chí Minh

Khi mới ra đời đình Chí Hòa được làm bằng đá và trước khi được vua Tự Đức ban sắc phong mới được xây dựng lại như ngày nay. Tại Sài Gòn, đình Thần Chí Hòa được xếp hạng nhất trong tất cả các đình hiện có và cũng đứng đầu danh sách 10 đình Chùa cổ và lâu đời nhất của thành phố.

Lê Quý Đôn: Ngôi trường cổ nhất

alt
Trường Lê Quý Đôn ngày nay

Trường Lê Quý Đôn được xây dựng vào năm 1874, hoàn tất vào năm 1877. Ban đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học Bản xứ) rồi đổi tên thành Collège Chasseloup Laubat. Sau 1954, trường mang tên là Jean Jacques Rousseau và vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường mới được giao lại cho chính quyền Sài Gòn. Từ 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, trường mang tên Trung học Lê Quý Đôn. Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu vẫn được giữ như xưa, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ “khẩu”. Khuôn viên nguyên thủy của trường gồm cả diện tích của hai trường PTCS Lê Quý Đôn và PTTH Lê Quý Đôn, có hai cổng chính: một quay ra đường Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng T6ạp Tự cũ) và một hướng về Võ Văn Tần (Trần Quý Cáp cũ). Rất nhiều cựu học sinh của trường đã trở thành những nhân vật nổi tiếng như nhà trí thức Cao Triều Phát, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, giáo sư Trần Văn Giàu, nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển…

Nhà Bảo tàng lâu năm nhất TP

alt
Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam

Là Nhà Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nằm trong khuôn viên Thảo Cầm Viên ngày nay. Ngày 24.11.1927, người Pháp cho xây dựng Viện Bảo tàng Blanchard De La Brosse trong khuôn viên Sở Thú theo thiết kế của kiến trúc sư Delaval, với kiểu kiến trúc độc đáo hơi giống tháp cung điện mùa hè Bắc Kinh. Đến năm 1956, chính quyền Sài Gòn đổi tên thành Viện Bảo tàng quốc gia Sài Gòn, trưng bày mỹ thuật của Việt Nam, Chàm, Khmer, Trung Quốc, Nhật Bản và các sắc tộc thiểu số. Năm 1970, bảo tàng được xây dựng mở rộng thêm phần phía sau một dãy nhà hình chữ U do Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế. Năm 1979, Viện bảo tàng lại được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và tồn tại đến ngày nay, với 15 phòng trưng bày nhiều hiện vật cổ, phản ánh nền văn hóa của đại gia đình dân tộc VN suốt 4.000 năm dựng nước và giữ nước. Ngoài ra, còn có 6 phòng trưng bày chuyên đề giới thiệu các giai đoạn lịch sử văn hóa ở miền Nam.

Cây cầu lâu năm nhất TP Sài Gòn

Có người cho rằng chiếc cầu lâu năm nhất tại Sài Gòn là cầu Móng (nối quận 1 với quận 4). Nhưng cây cầu này lại không có hồ sơ lưu trữ, nên khó xác định độ tuổi chính xác. Hiện tại TP có nhiều người nhất trí cho rằng có một cây cầu lâu năm nhất hiện còn tồn tại, đó là Cầu Sơn. Cầu Sơn được xây dựng từ cuối thế kỷ 18 dưới thời nhà Nguyễn. Trước đây vùng này chuyên sống bằng nghề trồng cây sơn lấy nhựa cung cấp cho nhu cầu của nhà nước phong kiến đương thời, nên cầu khi được xây dựng cũng mang luôn tên cầu Sơn. Cầu Sơn dài 19m, rộng 11m và mỗi bên lề rộng 0,5m. Hiện cầu Sơn thuộc ranh giới hai phường 25 và 26 quận Bình Thạnh nằm trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh.

An Bình – Bệnh viện cổ nhất

alt

Bệnh viện miễn phí An Bình tọa lạc trên một khu đất rộng 17.361m2 ở đường An Bình, quận 5. Ban đầu, đây là một ngôi chùa của người Hoa, được xây cất từ năm 1829. Tại đây đã có những hoạt động y tế nhân đạo, khám và điều trị miễn phí cho dân dựa vào nền tảng y học cổ truyền. Do nhu cầu về dịch vụ y tế của nhân dân ngày càng tăng, vào năm 1916 bệnh viện được chính thức xây dựng. Đến 1945 bệnh viện đưa vào sử dụng và có tên là Bệnh viện Triều Châu. Sau nhiều lần sửa chữa, nâng cấp, bệnh viện đã có bộ mặt như ngày nay. Năm 1978, bệnh viện được công lập hóa trở thành bệnh viện đa khoa với tên gọi An Bình. Ngày 19.5.1994, bệnh viện An Bình lại nhận một trách nhiệm mới “chăm sóc sức khỏe cho nhân dân lao động nghèo của thành phố”. Từ đó đến nay bệnh viện mang tên “Bệnh viện miễn phí An Bình”.

Ngôi nhà cổ nhất Saigon

Ngôi nhà cổ nhất Sài Gòn nằm trong khuôn viên Tòa Giám mục, tọa lạc tại số 180 Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi nhà này đã được tu sửa nhiều lần. Lần cuối vào năm 1980, nhưng hình dáng và vẻ ngoài nguyên thủy của nó cách đây 200 năm vẫn không thay đổi. Cuối thế kỷ 18, các quan lại triều Nguyễn thường sống trong những ngôi nhà với kiểu dáng như thế. Ngôi nhà với ba gian, hai chái. Hệ thống rường ngắn và mái ngói lợp âm dương đã hình thành một kiến trúc gỗ Việt Nam truyền thống với những bức vách là những thanh gỗ mỏng được xếp vuông góc. Những vách gỗ này không chỉ giữ vai trò bảo vệ tốt cho ngôi nhà mà còn là hệ thống thông gió tuyệt vời.

Sau năm 1945, những bức vách gỗ bị mối mọt ăn đã được thay thế bằng gạch. Trong lần tu sửa vào năm 1980, những người thợ đã thay phần lõi bên trong của những cột gỗ bị mối mọt ăn bằng cách đổ bê tông vào. Phần mặt ngoài những cột gỗ này vẫn được giữ nguyên nên chúng trông vẫn có vẻ cổ xưa. Đồng thời, những người thợ này cũng đã nâng phần đế cột lên 30cm.

Năm 1790, Nguyễn Ánh, vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn, đã cho xây dựng ngôi nhà này để Giám mục xứ Adran, Pierre Pigneau de Behaine trú ngụ. Vị Giám mục này đã giúp đở Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh chống lại những người nông dân áo vải Tây Sơn. Chính trong ngôi nhà này, Vị Giám mục này đã dạy học cho Hoàng tử Cảnh, con trai của Nguyễn Ánh.

Khởi thủy, ngôi nhà tọa lạc gần kênh Thị Nghè, nằm trong khu vực Thảo cầm Viên hiện giờ. Năm 1799, sau khi Pierre Pigneau mất, một Giám mục Pháp khác đã đến thay thế và ở trong ngôi nhà, nhưng giữa những năm 1811 và 1864, do triều đình Huế cấm đạo Công Giáo, ngôi nhà bị đóng cửa. Trong triều đại Tự Đức, ông Vua này đã ký hòa ước với Pháp và ngôi nhà được chuyển lại cho Tòa Giám mục và di chuyển về đường Alexandre de Rhodes, gần nhà thờ Chánh tòa. Năm 1900, cùng với Tòa Giám mục, ngôi nhà được di chuyển về địa điểm hiện tại. Hiện nó được sử dụng như nhà nguyện.

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

« Newer Posts