Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘khảo cổ’

Tàu cổ Cà Mau là con tàu được khai quật khảo cổ học năm 1998-1999. Đây là con tàu chở hàng gốm sứ xuất khẩu của Trung Quốc đang trên lộ trình từ Quảng Châu sang châu Âu.

Con dầu bằng đá tìm thấy trong tàu Cà Mau. Nó đã được giải mã vởi tác giả Paul A.Van Dyke của trường đại học Ma Cao. Theo tác giả này, ở thế kỷ 18 có khoảng 30 chiếc thuyền Trung Quốc cập cảng Đông Nam Á và mỗi năm một số thuyền đến Batavia (Jakata ngày nay). Họ tên của một số thuyền Trung Quốc được nhắc tới như Zhang, Ye, Cai, Qiu, Yan, Chen và Pan. Dấu ấn bằng đá trong tàu cổ Cà Mau được gọi là Pan Tingcai, tiếng việt là Phan Đình Thái ấn. Ông này có thể là một chủ hàng hoặc là một người giúp thuyền trưởng tàu Cà Mau

Con dấu bằng đá tìm thấy trong tàu cổ Cà Mau. Nó đã được giải mã bởi tác giả Paul A.Van Dyke của trường đại học Ma Cao. Theo tác giả này, ở thế kỷ 18 có khoảng 30 chiếc thuyền Trung Quốc cập cảng Đông Nam Á và mỗi năm một số thuyền đến Batavia (Jakata ngày nay). Họ tên của một số thuyền Trung Quốc được nhắc tới như Zhang, Ye, Cai, Qiu, Yan, Chen và Pan. Dấu ấn bằng đá trong tàu cổ Cà Mau được gọi là Pan Tingcai, tiếng việt là Phan Đình Thái ấn. Ông này có thể là một chủ hàng hoặc là một người giúp thuyền trưởng tàu Cà Mau. Giáo sư Christiaan J.A. Jorg, trong bài “The Ca Mau porcelain cargo” in trong Aucion Catalogue, đã cho rằng hàng gốm sứ trong tàu Cà Mau thuộc 2 phong cách kangxi và loại phong cách (styles): tiếp nối phong cách kangxi và loại mới theo phong cách Yongzheng. Niên đại của tàu cổ Cà Mau là vào khoảng 1.725.

Niên đại của tàu cổ Cà Mau là vào khoảng năm 1725. Giáo sư Christiaan J.A. Jorg, trong bài “The Ca Mau porcelain cargo” cho rằng hàng gốm sứ trong tàu Cà Mau thuộc 2 phong cách kangxi và loại mới theo phong cách Yongzheng.

Trong hình là gốm sứ Trung Quốc. Đồ gốm sứ trong tàu cổ Cà Mau, chiếm số lượng lớn là đồ sứ xanh trắng. Chúng có kích thước khác nhau, đường kính miệng từ 20,5 cm – 29,2 cm, cao từ 2,6 cm – 3 cm. Những cái đĩa cùng kiểu dáng, miệng loe ngang, lòng phẳng, đế thấp và rộng.

Đĩa sứ Trung Quốc. Đồ gốm sứ trong tàu cổ Cà Mau chiếm số lượng lớn alf đồ xứ xanh trắng. Do nhu cầu của thị trường châu Âu mà các lò sứ xuất khẩu của Trung quốc phải đáp ứng mẫu mã mới, theo yêu cầu đặt hàng và kiểu dáng hoa văn của mỗi món đồ. Bên cạnh các chủng loại và đề tài hoa văn truyền thống Trung Quốc còn xuất hiện thêm văn hoa theo phong cách châu Âu.

Cận cảnh chiếc đĩa gốm sứ. Lòng đĩa vẽ phong cảnh thành lũy, mây, sóng nước, cây thông, 3 người đội mũ, áo khoác, đi ủng cao, một người dắt thú. Viền miệng đĩa in gờ uốn vẽ sóng nước hình lưỡi câu. Thành ngoài đĩa vẽ 3 cành hoa lá.

Loại đĩa này được nhiều người biết đến và trang trí của nó thường được mô tả là hậu cảnh Scheveningen, dù trong quá khứ nó được biết đến là phong cảnh Deshinia, nơi người Hà Lan đã chiếm giữ trong nửa cuối thế kỷ 17 và 18. Từ thế kỷ 18, loại đĩa này được gọi là “phong cảnh Scheveningen” trong một danh bạ bán hàng có niên đại 1778.

Đĩa sứ Nhật Bản. Đĩa sứ Trung Hoa dựa phong cách hoa văn châu Âu theo yêu cầu đặt hàng và vì thế gọi là “hàng đặt Trung Quốc” . Theo tài liệu của nhiều chuyên gia khảo cổ, loại đĩa Nhật Bản có trang trí tương tự được sản xuất tại khu vực lò Arita cho Hà Lan vào khoảng năm 1.700. Những tiêu bản đó quen gọi là đĩa “phong cảnh Scheveningen”.

Đĩa loại này dựa trên một mẫu đĩa của thị trấn Delf ở Hà Lan và được đặt bởi người Hà Lan tại Deshima để sản xuất trên diện rộng. Môtíp hoa văn trên đĩa này khá phổ biến trên các loại cốc, đĩa để đồ ăn và vật dụng đồ bếp khác. Hầu hết những loại hình này có niên đại vào khoảng 1/4 đầu thế kỷ 18 mà không còn thấy một mẫu mã nào sau năm 1730.

Loại đĩa sứ hoa lam trong tàu cổ Cà Mau. Đường kính miệng 29,5cm và 37cm, trong lòng vẽ 2 cành hoa lá, xung quanh bổ ô, bên trong vẽ hoa lá cùng biểu tượng của đồ vật quý, cũng là những kiểu loại đồ sứ xanh trắng truyền thống của Nhật Bản sản xuất theo yêu cầu của người Hà Lan.

Trong tàu cổ Cà Mau còn có loại bình có quai, miệng đứng, cổ hình trụ, thân dưới phình, đáy lõm, quai hình khuyên, đường kính miệng 8,5cm, chiều cao từ 20 đến 20,5cm. Trang trí trên loại bình này là phong cảnh nhân vật theo tích cổ Trung Hoa hay hoa lá. (Xem ảnh tr. 158-159, Nguyễn Đình Chiến, 2002). Ngoài ra còn có loại bình có quai, dáng quả đu đủ, đường kính miệng 4,2cm, chiều cao 15,7cm (The Ca Mau, 2009, tr. 187-188). Trang trí trên bình loại này vẽ phong cảnh sơn thuỷ lâu đài, (Ảnh N.24, tr. 13, Đông Tây giao lưu).

Bình sứ Trung Quốc. Trong tàu cổ Cà Mau còn có loại bình có quai, miệng đứng, cổ hình trụ, thân dưới phình, đáy lõm, quai hình khuyên, đường kính miệng 8,5cm, chiều cao từ 20 đến 20,5cm.. Trang trí trên loại bình này là phong cảnh nhân vật theo tích cổ Trung Hoa hay hoa lá.

Ngoài ra còn có loại bình có quai, dáng quả đu đủ, đường kính miệng 4,2cm, chiều cao 15,7cm. Trang trí trên bình loại này vẽ phong cảnh sơn thuỷ lâu đài.

Ngoài ra còn có loại bình có quai, dáng quả đu đủ, đường kính miệng 4,2cm, chiều cao 15,7cm. Trang trí trên bình loại này vẽ phong cảnh sơn thuỷ lâu đài.

Bình sứ Anh (bên trái) và bình sứ Nhật Bản 9 bên phải) Điều lý thú là khi so sánh về loại hình của loại bình có quai này chúng ta thấy sự tương đồng gần gũi giữa bình có quai Cà Mau, niên đại 1725 với loại bình có quai Imari ware Nhật Bản, thế kỷ 17 (ảnh 29) và Bristol ware của Anh, thế kỷ 18 (ảnh 30) (Xem Đông Tây giao lưu, 1984, tr. 15).

Bình sứ Anh (bên trái) và bình sứ Nhật Bản 9 bên phải). Các chuyên gia khảo cổ so sánh loại bình và nhận thấy sự tương đồng gần gũi giữa bình có quai Cà Mau, niên đại 1725 với loại bình có quai Imari ware Nhật Bản, thế kỷ 17 và Bristol ware của Anh, thế kỷ 18.

Bình sứ Trung Quốc.

Bình sứ Trung Quốc. Trong quá trình tìm hiểu về gốm sứ ở tàu cổ Cà Mau, các nhà khảo cổ cho rằng, dù số lượng hàng hoá gốm sứ trên tàu cổ Cà Mau là rất lớn, trong đó một số chủng loại mang phong cách thị hiếu châu Âu, nhưng không đồng nghĩa rằng toàn bộ số hàng hoá này hướng tới Batavia hay đáp ứng cho khách hàng phương Tây.

Trường hợp này cũng tương tự như hàng hoá trong tàu cổ Hòn Cau, xảy ra trước tàu Cà Mau mấy chục năm trước, có khả năng là chuyến hàng đi tới Batavia đề bán cho khách hàng trung gian. Vì ngoài những chủng loại hàng sản xuất từ khu vực lò Cảnh Đức Trấn hàng gốm sứ tàu cổ Cà Mau còn được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau. Do vậy, theo các nhà khảo cổ, hàng hoá này có thể dành cho thị trường Đông Nam Á.

Tình trạng đặc biệt phong phú các chủng loại chén và đĩa dùng cho uống trà, cà phê xuất hiện trong khối lượng hàng hoá gốm sứ tàu Cà Mau cũng là một dẫn chứng cho thấy hàng Trung Quốc xuất khẩu rất mạnh vào cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18.

Các cổ vật trên hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, và được giới thiệu trong một hội thảo ba ngày qua tại Hà Nội về khảo cổ học. Trong hai năm tới, nhiều báu vật khảo cổ của Việt Nam sẽ lên đường sang Đức triển lãm.

Theo vnexpress

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Nguồn: Tổng hợp

Thiên Y A Na và Tháp Bà – Po Nagar

Bà Thiên Y A Na

Tháp Bà có tên chính thức là Kalan Po Nagar (Tháp Po Nagar), tức đền tháp thờ thần Po Nagar (tiếng Chăm là Yan Po Nagar). Thật ra Po Nagar không phải là một vị thần Ấn giáo, mà là Nữ vương thời Chiêm Thành còn mang tên Hoàn Vương Quốc (646-653). Theo lời truyền tụng Nữ vương có nhiều công lao xây dựng vương quốc phồn thịnh (lúc đó Việt Nam vẫn còn trong thời kỳ Bắc thuộc), theo tập tục tín ngưỡng bản địa được người Chăm tôn lên làm thần chủ về đất đai và nông nghiệp hay Bà Mẹ Xứ Sở. Danh tính này được bác sĩ Trần Văn Ký thừa nhận:: “Trên các bia ký lưu lại ở tháp, nếu ghi bằng chữ Phạn cổ thì tên của Bà là Bhagavati Kautharesvati, và ghi bằng chữ Chàm thì gọi đầy đủ là Yang Po Inư Nagar, theo đó thì “Yang” là Thần; “Pô” là tôn kính, là ngài; Inư là Mẫu, là mẹ; và Nagar: xứ sở, đất nước.” [Tháp Bà Nha Trang và Lược Sử Chiêm Thành], Khi người Việt chiếm đất Chiêm Thành, nữ thần này được thừa nhận tương tự như Chúa Nguyễn Hoàng thừa nhận Bà Thiên Mụ ở Huế vậy. Từ đó Nữ thần có thêm tên là Y A Na (trại từ (Po Nagar) và theo tập quán thời Nguyễn vua sắc phong thêm chữ Thiên nên gọi là Thiên Y A Na.

Bà Đen – Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi

(Tượng thờ ở Tháp Bà Po Nagar – Nha Trang)

Thần tích của Nữ thần theo thời gian được Việt hóa, đến năm 1856 Phan Thanh Giản cho khắc một bia đá được dựng ở tháp, toàn văn bài bia Tháp cổ Thiên Y đã được chép lại vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí, đại ý bài văn như sau: “Xưa trong vùng Đại Điền có hai vợ chồng già trồng dưa hấu sinh sống. Khi dưa chín thì về đêm cứ bị phá trộm. Ông lão rình và thấy một cô gái mới lớn dùng dưa để đùa giỡn dưới trăng. Ông lão vặn hỏi thì biết là trẻ mồ côi bèn đem về làm con nuôi, và hai vợ chồng rất thương yêu cô gái. Một ngày mưa lụt lớn, nhớ chốn cũ ở Tam thần Sơn, cô nhập vào một khúc gổ kỳ nam đang trôi về phương bắc. Dân phương bắc thấy gỗ thơm trôi giạt đua nhau gắng sức kéo về nhưng không nổi. Thái tử đang ở tuổi 20, con của vua cai trị nghe tin liền tìm đến bãi biển và lạ thay một mình khuân được gỗ về cung. Từ đấy thường vỗ về cây kỳ nam và bồi hồi ngẩn ngơ. Bỗng một đêm thấy có bóng một cô gái diễm kiều hiện ra, thái tử vội nắm tay giữ lại gặn hỏi và biết được sự tích. Thái tử tâu rõ mọi chuyện với vua cha và được vua cho kết hôn. Hai vợ chồng sinh được hai đứa con, trai tên là Trí và gái là Quý. Một thời gian sau lại nhớ chốn cũ ở phương nam, vợ thái tử dắt hai con nhập vào gỗ kỳ nam trôi về cửa Cù Huân, rồi lần về núi Đại Điền nhưng ông bà lão trồng dưa đã qua đời. Bà liền lập đền thờ. Từ đó bà dạy dân trong vùng biết cách trồng lúa. Về sau Bà còn cho đục đá ở núi Cù Lao tạc tượng bà, rồi giữa ban ngày bà thăng thiên biến mất. Thái tử mãi sau cho người kéo thuyền đi tìm vợ, nhưng bọn người này khi đến cửa Cù Huân lại hiếp đáp dân lành và khinh miệt linh tượng, nên chợt có một trận cuồng phong nổi lên đánh úp thuyền biến thành một tảng đá to. Từ đó dân làng thấy Bà hiển linh thường cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi với tiếng sấm vang động. Có khi bà cỡi tấm lụa bay giữa không trung hay cỡi cá sấu trong vùng dảo Yến, núi Cù. Dân trong vùng bèn xây tháp thờ trên núi Cù Lao, cầu khấn việc gì cũng linh ứng. Tháp giữa thờ Chúa Tiên (tức Thần Thiên Y), tháp bên trái thờ vợ chồng lão trồng dưa, bên phải thờ thái tử. Phía sau lập đền nhỏ thờ hai người con. Người Chàm tôn Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn phong tặng Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đằng Thần và cử ba người dân làng Cù Lao làm Từ phu.” Triều đình dựa vào đó sắc phong cho Nữ thần với mỹ danh Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng đẳng thần và gia phong Hồng nhơn phổ tế linh ứng Thượng đẳng thần

Linga (ở Tháp Bà)

Thần vật của Tháp Bà giáo

Tập San Bạn Huế Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hué) cũng dịch lại điển tích trên và nói thêm trước các ngọn tháp có một bia ghi chữ tượng hình chính người bản địa vẫn không hiểu viết gì (Bài Histoire de la Déesse Thien-Y-A-Na par Đào Thái Hành). Và cũng trong Tập san này, Sallet (avril-juin 1923) có chú thêm ở Đa Hòa, Điện Bàn, Bà còn có danh hiệu “Chúa Ngọc Ngạn Thượng Sơn Thần”, có hai người con trai là Cậu Quý và Cậu Tài. (dẫn từ Le Culte des Pierres của A. Cadière). Nhưng dân gian ở miền Trung lại hay gọi Bà Đen, tên gọi này dễ có sự nhầm lẫn với một Bà Đen khác ở miền Nam. Bà Đen ở miền Nam được thờ ở núi mang cùng tên thuộc tỉnh Tây Ninh được triều Nguyễn sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Tuy cùng tên gọi nhưng là hai nữ thần khác nhau. Bà Đen ở Tây Ninh, do Lê Văn Duyệt trình tấu xin triều đình sắc phong, có thần tích đại khái như sau: “Xưa trên núi Bà Đen, lúc ấy còn gọi là núi Một vì quanh vùng trơ trọi hòn núi này, có một tượng Phật rất to. Người người thường lên viếng Phật, trong đó có một tiểu thư tên là Lý Thị Thiên Hương, tuy là phận gái nhưng văn hay võ giỏi. Thiên Hương có nhan sắc và trong làng có chàng trai tên Lê Sĩ Triết đem lòng yêu thương. Vì có sắc đẹp, Thiên Hương cũng phải lòng một viên quan, người này dùng gian kế và quyền lực ép duyên may nhờ Lê Sĩ Triết ra tay cứu thoát. Cha mẹ cô cảm nghĩa đồng ý gả cô cho chàng trai nghĩa dũng này. Sau đât nước loạn lạc, chàng trai đi tòng quân. Lúc chồng vắng nhà, một hôm có bọn cướp vây bắt khi đang lễ Phật trên núi, cô chống cự và trốn vào rừng mất tích. Đến đời Minh Mạng, một hòa thượng trụ trì trên núi ứng mộng thấy một người con gái xinh đep, da ngăm đen, xưng tên Lý Thị Thiên Hương bị cướp rượt té xuống vực chết,đã về báo mộng chỉ chỗ cho hòa thượng tìm đến. Thấy có sự hiển linh như thế nên dân gian lập miếu thờ cúng.” Ở đây nói thêm hơi dài dòng nhằm phân biệt cho cụ thể cách gọi hai miền.

Mandapa sau khi trùng tu

Tháp Bà Po Nagar

Theo nguồn Wikipedia tiếng Việt: “Tháp Bà là ngôi đền nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 50 mét so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía bắc, nay thuộc phường Vĩnh Phước. ” và tháp không phải đời sau xây lên để thờ Bà mà chính Nữ vương đã cho dựng lên thờ nữ thần Bhagavati. Tư liệu này cho biết thêm lúc đầu ngôi tháp bằng gỗ nhưng trong thờ “tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng”. Tượng nữ thần này bị quân Nam Đảo (tức Indonesia) cướp đi sau khi tàn phá ngôi tháp vào năm 774. Sau đó được Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Đến đời vua Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III lượt xây dựng thêm 5 tháp nữa (tức 6 tháp).

Cứ liệu này cho thấy thời Nữ vương xây dựng bằng gỗ là chính xác, còn tượng bằng vàng cần xem xét lại. Theo cuốn Lịch Sử Champa được tổng hợp từ nguồn Wikipedia viết “Indravarman III. Vào năm 918, Indravarman III cho đúc tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng dựng tại Tháp Bà, bức tượng này bị quân Chân Lạp cướp vào khoảng năm 945 – 946. Năm 965, Jaya Indravarman I cho dựng lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá ở Kauthara.” (thời kỳ này tương đương nhà Đinh ở Việt Nam).

Như thế việc thờ cúng của tháp chia làm hai thời kỳ: một thời kỳ thờ nữ thần Bhagavatitrong thần thoại Ấn Độ và thời kỳ sau thờ Nữ vương Po Nagar vì được coi là hóa thân của nữ thần Bhagavati. Trong bài The My Son and Po Nagar Nha Trang Santiarues, dựa vào các bản sao văn bia trong đền dang lưu giữa ở Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Trần Kỳ Phương đồng ý quan điểm này: “Qua các văn bia, chúng ta thấy tượng nữ thần Bhagavati được vua Satyavarman dựng lên tại đền năm 784 sau khi vua chiến thắng quân Nam Đảo năm 774. Tượng nữ thần bằng vàng được đặt tại đây từ năm 817 đến năm 918. Năm 950 tượng vàng đó bị quân Khờ-me cướp và đến năm 965 vua Haya Indravarman làm lại bằng sa thạch”.Cứ liệu dựa trên văn bia này đáng tin cậy, như vậy không phải quân Nam Đảo (Java) mà là quân Khờ-me lấy pho tượng vàng này. Một tài liệu khác dựa vào bia ký cũng xác nhận do quân Khờ-me cướp tượng vàng chứ không phải người Nam Đảo: Le Royaume de Champa, của Georges Maspero, 1928: Cuốn sách này có viết: “D8ến năm 945 hay 946 quân của vua Cam-bốt Rajendravarman xâm lược Champa và chiếm đền Po Nagar.”[Trang 118]. Sau đó Trần Kỳ Phương nói thêm: “Năm 1050, vua Sri Paramesvarvarman tôn xưng nữ vương thành thần với danh hiệu Yapu-Nagara/Yang Pu Nagar” Người được tôn xưng và thờ trong tháp chính là nữ vương Po Nagar, trước khi lên ngôi là công chúa Ramavali. [Trang 12]

Theo một nguồn tư liệu khác cho biết thời xây dựng tháp Po Nagar thì Chiêm Thành chia làm 2 nước, đúng hơn là 2 bộ lạc: Bộ lạc Dừa ở phía Bắc và bộ lạc Cau ở phía Nam. Tháp nằm trong lãnh thổ của vương quốc Cau, bị phá hủy nhiều lần bởi người đảo Java (tài liệu trên gọi là Nam Đảo) vào năm 774 và người Khờ-me vào năm 930. Tư liệu này còn cho biết xưa kia có tất cả 10 ngọn tháp mà nay chỉ còn lưu lại có 4 [httpwww.asiedesheritages.comsitechampachampa.htm]. Kiến trúc chính của cụm tháp này có tên gọi là Mandapa, có nghĩa là Phòng cầu nguyện có những cột đá đồ sộ, mà nay vẫn còn và đã được trùng tu lại, Phần kiến trúc này rất quy mô có thể nhận thấy ngay khi đi vào khu di tích. Dữ liệu này hoàn toàn phù hợp với lập luận vừa bàn. Đồng Dương xây dựng ở Quảng Nam tức phía Bắc Nha Trang, thuộc bộ lạc Dừa. Như vậy trước thế kỷ thứ 8 Chiêm Thành có 2 tiếu quốc, phía Bắc chịu ảnh hưởng của Phật giáo và phía Nam là Ấn giáo (cụ thể Thấp-bà giáo). Xứ Cau miền Nam hay bị thủy quân vùng Nam Đảo và quân Khờ-me quấy nhiễu, phía Bắc tiểu quốc Dừa bị Đại Việt đe dọa thôn tính.

Hiện nay, tháp chính thờ Nữ thần Po Nagar nằm ở phía bắc khu di tích, niên đại thế kỷ 12, cao 22,5 m, đỉnh tháp có chạm phù điêu thần Shiva cưỡi bò thần Nandin. Ngoài ra trong tháp còn có nhiều tượng thần khác, chung quanh có tượng các linh thú theo thần thoại Ấn Độ và dĩ nhiên không thể thiếu linga (biểu tượng của thần Shiva, vị thần chính của Chiêm Thành). Dưới đây là một số hình ảnh.


Ngoài Mandapa, cụm di tích này còn có tháp giữa. Tháp này được xây dựng vào thế kỷ thứ 12 từ gạch tháo ra ở những ngôi đền cũ khác. Ngoài ra còn có một số tháp khác nay đã hư nát nhiều. Dưới là bình đồ của cụm di tích này.

Đó chỉ mới là di sản văn hóa, Tháp Bà còn lưu giữ một tài sản hết sức quý báu: di sản lịch sử. Theo các nhà sử học Chiêm Thành gần như không để lại tài liệu ghi chép về lịch sử (hoặc bị mất không chừng?). Những điều này được bù lấp bằng các bia ký ở các đền tháp, đặc biệt ở Tháp Bà Po Nagar lưu lại rất nhiều văn bia có giá trị. Wikipedia tiếng Việt phân loại các bia ký đó nhu sau:

• Nhóm A: Trên bia đá hình lục giác, do vua Satyavarman dựng năm 781 ghi chuyện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774, việc xây dựng tượng thần Sri Satya Mukhalinga vào năm 784.

• Nhóm B: Do vua Vikrantavarman III ghi lại công lao xây dựng của các tiên vương.

• Nhóm C và nhóm D: Do vua Vikrantavarman II ghi các lễ vật dâng cúng chư thần.

• Nhóm E: Ghi việc vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng vào năm 918; pho tượng này về sau bị người Khmer xâm lăng cướp đi, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá vào năm 965.

Bia ký ở Tháp Bà Po Nagar

Bia đá ở hai bên cửa của tháp chính ghi việc cúng ruộng và dân công nô lệ cho nữ thần. Bia ở phía nam của tháp chính ghi việc vua Jaya Harivarman I ca tụng thần Yang Po Nagar vào năm 1178. Bia ở phía bắc tháp chính ghi việc dựng đền thờ thần Bhagavati Matrilingesvara vào năm 1256. Ngoài ra còn bia đá dựng năm 1050 của vua Paramesvaravarman I ghi việc tái lập tượng Bà, việc dâng cúng ruộng đất và nô lệ đủ sắc tộc: người Campa (Chăm), Kvir (Khmer), Lov (Tàu), Pukan (Mã), Syam (Xiêm) vv… Bia của vua Rudravarman III (Chế Củ) dựng năm 1064 ghi việc xây cổng tháp rất tốn kém, và liệt kê những cống phẩm quí giá. Bia năm 1143 ghi lời xưng tụng Bà. Bia năm 1165 của vua Indravarman IV ghi việc dâng cúng một kim mão cho nữ thần Bhagavati Kautharesvati (Dựa vào lời ghi này có thể tạm dịch là “Đức thánh mẫu vùng Kauthara” và so sánh với các bia khác, có thể đoán là người Chăm chỉ thờ thần Parvati như Thánh Mẫu của từng địa phương; ví dụ ở Phú Yên và Ninh Thuận cũng có tháp thờ Thánh Mẫu của vùng đó, chứ chưa hẳn là ở mức độ toàn xứ Chiêm Thành). Các bia sau cùng ở thế kỷ thứ 13 hay 14 tiếp tục ghi những vật dâng cúng Bhagavati. [Wikipedia]

Thực tế cho thấy nhờ những bia đá này mà người ta biết được từng có thời Chiêm Thành chia làm hai tiểu quốc Cau và Dưa; những lần tấn công của quân Nam Đải và quân Khờ-me, các vị vua của những vương triều Champa để đối chiếu với tên phiên âm Hán Việt, … Qua đó nhiều bí mật lịch sử dần hé mở.

Dựa vào các bản sao rập lưu giữ tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp các nhà nghiên cứu đã lần tìm nhiều manh mối lịch sử Champa mà xưa nay chỉ dựa mù mờ vào sử Việt và sử Trung Hoa. Ví dụ:

– Bản số 14, sao rập ở Tháp Bà Po nagar cho biết một chi tiết: cư dân vùng Phan Rang xưa kia xưng tên dân tộc họ là Vrlas;

– Bia Mỹ Sơn số 90 thuật về câu chuyện công chùa Huyền Trân, vợ vua Chế Mân, trốn chạy việc tuẫn táng.

– Bia Tháp Bà Po Nagar số 38 D có ghi lại sự kiện người Khờ-me xâm lăng xứ Champa (mà sử Việt và Sử Trung Hoa không đề cập đến)


Và cả những truyền thuyết về dân tộc và đất nước Chăm. Ví dụ bia Đồng Dương số 66 có chép: “Xưa kia đất nườc này rất huy hoàng và hùng mạnh, thần dân sống ấm no và sinh sôi nảy nở. Trên đất nước này chỉ có một vị vua, Prithivindravarman, giàu có và sống từ đời này qua đời khác, ngài là Đế Thiên (Indra) của mọi vị thần thên cõi thế này”

Nhờ thế mà sai này người ta đối chiếu được rất nhiều vị vua Chăm tương ứng với tên gọi trong Sử Việt như Ba Mỹ Thuếu (tức Parames’varavarman), Ngô Nhựt Hoan (Indravarman II), Băng Vương La Duệ (Sri Harivarman II), Sạ Đẩu (Jaya Sinhavarman II), Chế Củ (Rudravarman III), .Chế mân (Jaya Sinhavarman III), Chế Bồng Nga (Po Bhinethuor),…. Ngược lại vì không có bia tháp mà nhiều vị vua Chiêm Thành không đối chiếu được như: Khu Liên, Phạm Văn, Phạm Hùng Phạm Hồ Đạt, Trà Hoa Bồ Đề, Ma Ha Bí Lai, … thậm chí vào thời cận đại nhà Hậu Lê có hai vị vua vẫn chưa đối chiếu được tên tiếng Phạn-Chăm là Trà Nguyệt và Trà Toàn. Chẳng qua các vị vua này không có dựng tháp và khắc bia kể công tích và sự biến trên đất nước, các sử gia đành dùng tạm tiếng Hán Việt và đó là một lỗ hổng khuyết trong sự thật lịch sử. Bởi lẽ có nhiều tên vị vua bằng tiếng Phạn-Chăm khắc trên bia đá nhưng không thấy nói đến trong sử Việt và sử Trung Hoa như vua Sri Satyamukhalingadeva, vua Sri Paramabuddhaloka, hoàng hậu Haradevi, …, biến sử Champa thành những đoạn rời rạc. Hy vọng sau này những khám phá khảo cổ và nghiên cứu lịch sử sẽ dần khơi tỏ khoảng trống này.

Đức Chính tổng hợp

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm

Read Full Post »

Gốm Sài Gòn xưa – tư liệu khảo cổ

Kể từ mùa xuân Mậu Dần 1698 khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào nam kinh lược, ” lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn…” đến nay đã hơn 300 năm. Ba trăm năm với bao biến cố thăng trầm, dấu tích của Sài Gòn xưa đã dần nhạt phai dưới lớp bụi thời gian. “Vật đổi sao dời”, đây đó còn lưu lại một vài ngôi đình, chùa miếu, lăng mộ … đã qua sửa chữa tu bổ nhiều lần dù có làm mất dần nét cổ kính nhưng phần nào còn thể hiện sự lưu tâm gìn giữ. Lần theo sử sách và một vài dấu tích, chúng tôi đi tìm lại một “Sài Gòn Xưa” lâu nay chưa được nhiều người biết đến. Đó là một làng nghề nổi tiếng đã từng góp phần cho sự phát triển của vùng đất này: Xóm Lò gốm.
Là trung tâm của lưu vực Đồng nai rộng lớn và trù phú, Sài Gòn – Bến Nghé ngay từ khi mới hình thành đã sớm mang dáng vẻ của một đô thị sôi động bởi hoạt động thương nghiệp và sản xuất của nhiều ngành nghề thủ công. Khoảng cuối TK XVIII tại đây đã có 62 ty thợ do nhà nước quản lý và hàng trăm phường thợ trong dân gian. Nhiều ngành nghề tập trung trong các khu vực nhất định để rồi xuất hiện những địa danh như Xóm Chiếu, xóm Cốm, xóm Lò Rèn, xóm Dầu, xóm Chỉ, xóm Vôi, xóm Bột… riêng xóm Lò Gốm vẫn còn để lại một số địa danh như đường Lò Gốm – đường Lò Siêu – đường Xóm đất – bến Lò gốm – rạch Lò gốm – kênh Lò gốm – khu lò lu… thuộc khu vực quận 6,8,11 ngày nay. Sử liệu sớm nhất nói đến nghề làm gốm ở Sài Gòn xưa là sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức viết khoảng năm 1820. Đoạn viết về Mã trường Giang-kênh Ruột Ngựa như sau: “Nguyên xưa từ cửa Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền không đi lại được.Mùa thu năm Nhâm Thìn (1772) cho đào con kênh thẳng như ruột ngựa nên mới đặt ra tên ấy…”. Kênh Ruột Ngựa đã giúp cho ghe thuyền đi lại giữa Sài Gòn với miền Tây thêm thuận lợi. Bản đồ Thành Gia Định do Trần Văn Học vẽ từ cuối năm 1815 đã có ghi địa danh Xóm Lò Gốm ở khoảng làng Phú Lâm- Phú Định (ngày nay là khu vực quận 6 tiếp giáp quận 8). Bài “Phú cổ Gia Định phong cảnh vịnh” sáng tác khoảng đầu TK XIX miêu tả “Lạ lùng xóm Lò Gốm, chân vò vò bàn cổ xây trời…”. Trong 62 ty thợ tập trung tại Sài Gòn làm việc cho nhà nước vào cuối TKXVIII đã có các ty thợ Lò chum, ngói mộc, gạch mộc, lò gạch…

Một vài tài liệu của Pháp, tuy tản mạn và có phần phiến diện, cũng phản ánh về việc sản xuất gốm ở Chợ Lớn vào cuối TK XIX: Tại Chợ Lớn có khoảng 30 lò gốm tập trung ở Hòa Lục, Phú Định, Cây Mai… vùng Chợ Lớn sản xuất lu và các đồ gốm thông dụng như chậu vịm, siêu ấm, nồi trách, hũ khạp, cà ràng… vùng Cây Mai có một lò sản xuất đồ sành. Các lò này lấy nguyên liệu tại chỗ, tuỳ chất đất mà sản xuất thành các loại sản phẩm. Mỗi lò gốm hàng năm có thể sản xuất hàng trăm ngàn sản phẩm. Đến đầu TK XX vẫn còn nhiều lò gốm nổi tiếng như lò Tín Di Hưng, Quảng Di Thành, Hiệp Hưng, Bửu Nguyên, Đồng Hòa, các lò chuyên sản xuất lu, khạp và đồ gia dụng…Theo Vương Hồng Sển thì : “Từ khi lấp rạch Chợ Lớn thì rạch Lò gốm, kinh Vòng Thành không thông thương và lò gốm chỉ còn sót lại cái tên trơn và không sản xuất đồ gốm nữa…”.
Từ những tư liệu lịch sử trên và qua khảo sát thực tế có thể nhận biết địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Sài Gòn cũ-nay là Chợ Lớn: một vùng thấp trũng chằng chịt kênh rạch lớn nhỏ, mọi sự đi lại đều dùng ghe xuồng. Kênh Ruột Ngựa và rạch Lò Gốm còn nối liền rạch Chợ Lớn với rạch Cát (Sa Giang)và rạch Bến Nghé. Từ ngã ba “Nhà Bè nước chảy chia hai” xuồng ghe theo rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hũ qua kênh Ruột Ngựa ra sông Cát về miền Tây. Ngày nay rạch Chợ Lớn không còn nữa, nhiều đoạn rạch Lò Gốm biến mất – nhất là khu vực Gò Cây Mai hầu như không còn dấu tích con đường thuỷ quan trọng này. Kênh Ruột Ngựa không còn thẳng như tên gọi do bị bồi lấp lấn chiếm hai bên bờ. Kênh Lò Gốm ngày càng cạn hẹp dù đã nạo vét nhiều lần… Tuy nhiên ghe xuồng vẫn theo con nước mà xuôi ngược, dù nơi đây đã phát triển hệ thống đường bộ chằng chịt như mạng nhện, dù các làng nghề-phố nghề ven kênh rạch không còn nữa… đủ biết trước đây trước đây tuyến đường thủy này quan trọng như thế nào.

Dấu tích vật chất của xóm Lò Gốm ngày xưa nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), nằm ven kênh Ruột Ngựa. Đối diện là làng Phú Định cách đây vài năm còn một số gia đình làm nghề “nặn ông lò” – bếp gốm. Di tích là gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu… Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm kiểu lò ống (lò Tàu) là loại lò thông từ bầu lửa đến ống khói, dốc và hẹp, nền lò được gia cố nhiều lần, thành lò đắp dày bằng phế phẩm. Các đoạn vách lò còn lại được xây bằng loại gạch lớn chảy men dày, lòng lò chứa đầy mảnh sản phẩm mà qua đo có thể nhận biết một số loại sản phẩm đặc trưng của lò Hưng Lợi. Ba lò gốm này sản xuất nối tiếp nhau trong một thời gian khá dài nhưng có thể không liên tục vì lò gốm của giai đoạn sau được xây trên một phần lò cũ hoặc sửa chữa gia cố lại lò cũ.

Giai đoạn đầu khu lò này chủ yếu sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu sành nâu, dáng thuôn vào đáy hoặc bầu tròn, kích thước khá lớn: thường được gọi là “lu 3 đôi” hay “lu 5 đôi” ( mỗi đôi nước-2 thùng- khoảng 40 lít nước). Lu gốm làm bằng phương pháp nặn tay bằng “dải cuộn kết hợp bàn dập, bàn xoa” nên độ dày và dáng tròn đều, bên trong vành miệng lu còn dấu ngón tay để lại khi dùng tay vuốt cho vành miệng tròn và gắn chặt vào thân lu. Trong số hàng ngàn mảnh lu thống kê được thì mảnh nắp chiếm đến gần 2/3, cho biết nắp được sản xuất nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu vì nắp hay bị vỡ hỏng khi sử dụng. Do mảnh lu, nắp lu nhiều nên khu lò này còn được gọi là Lò Lu. Lò sản xuất lu đựng nước có niên đại sớm nhất ở khu lò này, khoảng nửa sau thế kỷ XVIII. Mảnh phế phẩm của lò lu còn phân bố trên một diện rất rộng xung quanh lò, đào sâu xuống hơn 1m vẫn gặp mảnh lu gốm.

Chiếm tỷ lệ lớn nhất là mảnh các loại sản phẩm gốm và sành men nâu, men vàng hoặc không men. Đó là hũ, khạp, hộp, siêu, nồi có tay cầm… dưới đáy có in 3 chữ Hán “Hưng Lợi diêu” (lò Hưng Lợi). Bên cạnh đó là các kiểu chậu bông hình tròn hay lục giác, bát giác phủ men xanh lam hay xanh đồng – màu men đặc trưng của “Gốm Sài Gòn”. Chậu bông phần lớn có kích thước nhỏ, hoa văn in nổi trong các ô không men là hoa mai, hoa cúc hoặc tứ quý, bát tiên… Đây là sản phẩm của giai đoạn thứ hai, giai đoạn có tên lò Hưng Lợi khoảng thế kỷ XIX. Các sản phẩm này vẫn dùng kỹ thuật nặn tay nhưng có kết hợp khuôn in, chất liệu gốm sành nhẹ lửa, không sử dụng “bao nung” (hộp nung) nhưng phổ biến các loại “con kê” trong việc chồng kê sản phẩm trong lò nung. Đặc trưng là “con kê” hình ống có thể chồng lên nhau tạo nhiều độ cao thấp khác nhau nhằm tận dụng thể tích lò nung.

Giai đoạn thứ 3 ở đây sản xuất gốm sứ gồm các loại chén, tô, đĩa, ly, cốc, muỗng, ấm trà, lư hương… men trắng hoa văn men xanh và men nhiều màu, chai men trắng ngà… Sản phẩm làm bằng bàn xoay, có nhiều loại bao nung cho một hay nhiều sản phẩm. Các loại đồ gốm gia dụng tuy đơn giản về kiểu dáng nhưng có nhiều kích thước khác nhau, theo thời gian có sự khác biệt nhỏ ở chi tiết tạo dáng hay hoa văn. Một số sản phẩm có chữ Hán như Việt lợi, Kim ngọc, Chấn hoa xuất phẩm, Nhất phiến băng tâm… các chữ này không phổ biến trên sản phẩm, không có chữ Diêu kèm theo nên chắc hẳn không phải tên lò sản xuất mà rất có thể là tên của vựa gốm lớn hay cửa hàng bán đồ gốm in lên các sản phẩm mà họ đặt lò sản xuất, tức là giai đoạn này lò sản xuất theo đặt hàng cả về số lượng và từng loại sản phẩm. Tình trạng sản xuất theo sự đặt hàng của chủ hàng là người buôn bán cho biết đã có sự chuyên hóa giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa khi nhu cầu của thị trường ngày càng đa dạng và thay đổi thường xuyên. Chất liệu làm gốm là loại đất sét tương đối trắng không có tại chỗ mà chắc phải khai thác từ miền Đông về. Dựa vào loại hình sản phẩm và tính chất sản xuất nói trên có thể nhận thấy lò gốm này có niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ XX.

Tuy có ba giai đoạn với những loại sản phẩm đặc trưng cho từng giai đoạn nhưng kỹ thuật sản xuất ở khu lò cổ này khá thống nhất: Cấu trúc lò gốm (loại lò ống-lò tàu), kỹ thuật tạo dáng (bàn xoay, in khuôn), hoa văn, phương pháp chồng lò và nung gốm, sản phẩm của hai giai đoạn đầu (lu, khạp, siêu, nồi có tay cầm…) đều mang đậm dấu ấn kỹ thuật làm gốm của người Hoa. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nguồn gốc của nghề làm gốm mang tính chất sản xuất hàng hóa ở Gia Định-Đồng Nai là sự kết hợp nghề gốm của lưu dân người Việt với truyền thống kỹ thuật sản xuất gốm mà người Hoa mang vào vùng đất này trong bước đường lưu lạc kiếm sống. Từ khi được các Chúa Nguyễn cho vào định cư tại Cù Lao Phố, vùng Sài Gòn (cũ) và rải rác một số nơi khác, người Hoa sinh sống chủ yếu bằng thương nghiệp và thủ công nghiệp. Tại Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai (nay thuộc thành phố Biên Hoà) cũng có Rạch Lò Gốm, bến Miểng Sành mà qua khảo sát, các loại sản phẩm hầu như không khác biệt với sản phẩm ở khu lò gốm cổ Hưng Lợi. Các phường thợ làm gốm của người Hoa thường gồm những người “đồng hương” và chuyên sản xuất một vài loại sản phẩm: người Hẹ chuyên làm lu, khạp, hũ men nâu và men vàng ( men da lươn, da bò); người Tiều (Triều châu) chuyên làm đồ “bỏ bạch” (không men) như siêu, nồi có tay cầm…; người Quảng (Đông) chuyên làm chén, đĩa có men trắng hay men nhiều màu… Hiện nay truyền thống kỹ thuật này vẫn phổ biến ở những lò lu, lò gốm ở khu vực Quận 9-TP.HCM ( như lò Long Trường), ở Tân Vạn-TP Biên Hòa và Lái Thiệu-Bình Dương… dù các chủ lò có thể không phải là người Hoa. Cần nói thêm rằng, cho đến nay một số dân tộc ở miền Nam ( người Chăm, người Khmer…) vẫn bảo lưu kỹ thuật làm gốm cổ truyền Đông Nam Á là nặn tay, không dùng bàn xoay và nung gốm ngoài trời, sản phẩm là gốm đất nung ít có sự thay đổi về kiểu dáng, số lượng không nhiều, vì vậy sản xuất chỉ mang tính chất tự cung tự cấp.

Đối với nghề làm gốm muốn tồn tại và phát triển thì phải có vị trí thuận lợi : là nơi có hoặc gần nguồn nguyên liệu, có hệ thống đường thuỷ tiện cho việc chuyên chở hàng hóa đi nhiều nơi, gần trung tâm thương nghiệp để nắm bắt nhanh nhu cầu thị trường… Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa đã có những điều kiện thuận lợi đó: nguyên liệu ở đây thích hợp cho việc sản xuất các loại gốm gia dụng và gốm xây dựng. “Nhất cận thị, nhị cận giang”, làng nghề này lại ở giữa Sài gòn – nơi tập trung nhiều phố chợ nhất miền Gia Định khi ấy: “phố xá trù mật buôn bán suốt ngày đêm, là nơi đô hội thương thuyền của các nước cho nên trăm món hàng hóa phải tụ hội nơi đây”. Nam bộ khi ấy là vùng đất đang trong quá trình khai phá nên nhu cầu về đồ gốm gia dụng rất lớn, do vậy thị trường của Xóm Lò Gốm không phải chỉ là Sài Gòn-Bến Nghé mà còn là cả miền Tây rộng lớn. Từ cuối thế kỷ XIX quá trình đô thị hóa diễn ra ở Sài Gòn-Bến Nghé và một số thị tứ ở Nam bộ, sản phẩm của Xóm Lò Gốm có thêm các loại hình mới phục vụ nhu cầu xây dựng, trang trí kiến trúc của Đình, Chùa, Hội quán, phố chợ, công sở, nhà ở… Khảo sát các di tích cổ ở nhiều tỉnh Nam bộ đều thấy phổ biến các loại gốm trang trí, thờ cúng, nhiều di tích nổi tiếng với những quần thể tượng trang trí trên mái nhà hay tượng thờ, đồ thờ trong nội thất… Khu lò gốm ở Gò Cây Mai , qua khảo sát của người Pháp cho biết, bên cạnh gốm gia dụng đã sản xuất đồ gốm mang tính mỹ thuật cao như tượng gốm trang trí, tượng thờ, đồ thờ, đồ gốm lớn như chậu kiểng, đôn… được gọi chung là Gốm Cây Mai. Khu vực Gò Cây Mai cũng chỉ là một trong nhiều khu lò của Xóm Lò Gốm ở Sài Gòn xưa. Vì vậy, chắc hẳn không chỉ có lò Cây Mai sản xuất đồ gốm trang trí mỹ nghệ mà còn có cả những khu lò khác nữa mới có thể đáp ứng nhu cầu rất lớn trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Vì vậy, có thể định danh các loại gốm được sản xuất ở vùng gốm Sài Gòn xưa – bao gồm nhiều khu lò, nhiều loại sản phẩm nhưng đặc sắc nhất là đồ gốm trang trí mỹ thuật – là Gốm Sài Gòn- tên gọi chỉ rõ địa bàn sản xuất một làng nghề thủ công đã từng được ghi vào sử sách và truyền tụng trong dân gian, giống như tên gọi của làng gốm Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng, Hương Canh… ở miền Bắc.

Khoảng giữa thế kỷ XX, cùng với những biến cố chính trị-xã hội, quá trình đô thị hóa nhanh chóng và mạnh mẽ theo một quy hoạch nhất định cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho các làng nghề thủ công ở Sài Gòn- Chợ Lớn không còn điều kiện tồn tại, hoặc phải tìm điạ bàn mới để phát triển ở vùng ven ngoại thành hay xa hơn, đến các tỉnh lân cận. Đô thị hóa làm biến mất cảnh quan tự nhiên, vùng nguyên liệu không còn, kênh rạch bị lấp dần, phố xá mọc lên… Vị trí ưu đãi của một làng gốm không còn nữa, việc sản xuất không còn đáp ứng được những nhu cầu mới của thị trường mới, các lò gốm, lò gạch ngói cuối cùng của Xóm Lò Gốm ngừng sản xuất. Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa phải kết thúc vai trò của mình, nhường bước cho sự phát triển của vùng gốm Biên Hoà – Lái Thiêu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Trịnh Hoài Đức – Gia Định thành thông chí. Sài Gòn, 1972.

– Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc – Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa. Nhà xuất bản Trẻ,1994

– Nguyễn Thị Hậu, Đặng Văn Thắng – Kỹ thuật sản xuất của lò gốm cổ Hưng Lợi, Quận 8 TP.HCM. Tạp chí Khảo cổ học số 2/2001.

TS Nguyễn thị Hậu


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »