Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘Huế’

Lãng quên những di vật quý của tiền nhân

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

Đáng tiếc là ở Thừa Thiên Huế, tiền nhân đã để lại báu vật, nhưng con cháu lại đã và đang thờ ơ, lãng phí với những báu vật đó.

Huế một thời là đất của trăm nghề với việc triều Nguyễn thành lập chế độ Tượng cục (công xưởng triều đình), tập hợp và quy tụ tất cả những người thợ thủ công tài hoa và giỏi nhất của cả nước về Huế để phục vụ cho việc xây dựng vương triều. Những sản phẩm tinh tuý nhất của họ hiện vẫn còn lưu giữ ở các cung điện, đền đài, lăng tẩm…, đặc biệt là ở Bảo tàng cổ vật cung đình. Đáng tiếc là tiền nhân đã để lại báu vật, nhưng con cháu lại đã và đang thờ ơ, lãng phí với những báu vật đó.

Mất phương hướng

Hôm rồi dạo một vòng quanh các quầy bán hàng thủ công mỹ nghệ ở thành phố Huế, thấy có nhiều nơi “bỗng dưng” có những mặt hàng bằng gỗ, đồng… rất đẹp và tinh xảo. Hỏi mấy người bán: “Hàng này ai làm mà đẹp thế này?”, cô nào cũng nhanh nhẩu: “Huế mình làm chớ ai nữa!”.

Hỏi tiếp, Huế mình làm, cụ thể là ai làm, ở đâu thì người đối diện lúng túng ậm ờ. Hỏi mãi một chủ quầy hàng ở trong Đại Nội mới thành thật tâm sự: “Nói thiệt với anh, hàng ở đây và nhiều nơi khác trong thành phố toàn là hàng về từ Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, thậm chí cả Trung Quốc. Khách hỏi thì phải bấm bụng mà nói là Huế làm cho dễ bán, chớ Huế mình tài mô mà làm được hàng đẹp như ri!”.

Huế là một trung tâm dịch vụ du lịch hàng đầu của Việt Nam, là nơi trong quá khứ đã từng làm ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đẹp nhất, tính xảo nhất, trong đó có nhiều sản phẩm thuộc hàng quốc bảo. Nhưng nghịch lý là suốt mấy chục năm nay, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Huế, đặc biệt là sản phẩm phục vụ du lịch lại phát triển èo ọp, lay lắt vì không tìm được đầu ra.

Không phải đến bây giờ, mà từ nhiều năm trước, nhiều người có trách nhiệm ở Huế đã lên tiếng rằng việc phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống Huế đã và đang mất phương hướng do các yếu tố: Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, thiếu sự liên kết. Những người làm nghề luôn có tư tưởng giấu nghề, sợ người khác giỏi hơn mình. Và đặc biệt là mẫu mã hàng thủ công mỹ nghệ giá thành luôn cao, nhưng lại quá xấu so với những mặt hàng tương tự ở các địa phương khác, thậm chí cả Trung Quốc.

Đáng nói là nhiều năm nay, năm nào tỉnh, thành phố cũng có tổ chức các cuộc thi sáng tác mẫu mã hàng thủ công mỹ nghệ, nhưng hiệu quả và sự tác động của những cuộc thi này nhìn từ góc độ thị trường là không nhiều.

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

Một trong hơn 9.000 cổ vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế.

“Tôi có cảm giác rằng đó là những cuộc thi tài, để xem giữa chúng tôi, ai là người có tay nghề cao hơn, chứ không phải là thi thiết kế mẫu mã, bởi nó thiếu tính ứng dụng, cũng như chưa xác định được đối tượng khách hàng, nhu cầu thị trường…” – một nghệ nhân (xin giấu tên) đã nhiều năm tham gia những cuộc thi thiết kế mẫu mã hàng thủ công mỹ nghệ ở Huế – tâm sự.

Song song với những cuộc thi là hội thảo. Đã có không biết bao nhiêu cuộc hội thảo để bàn cách vực dậy, tìm hướng đi cho các nghề và làng nghề truyền thống trong nhiều năm qua. Thế nhưng, thực tế rất đau lòng là “hết xôi rồi việc”, xong hội thảo là xong chuyện, bởi thiếu một sự kết nối đáng ra phải có giữa những nhà khoa học, nghiên cứu và những người làm quản lý.

Một hướng đi đầy hứa hẹn

Tại cuộc Hội thảo “320 năm Phú Xuân – Huế, nghề truyền thống bản sắc và phát triển”, tổ chức vào năm 2007, TS Trần Đức Anh Sơn, lúc đó là Giám đốc Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế đã đưa ra một gợi ý rất hay để góp một giải pháp cho việc phục hồi các nghề thủ công thất truyền của xứ Huế thông qua việc khai thác hiệu quả nguồn hiện vật mà bảo tàng đang lưu trữ, trưng bày.

Theo TS Trần Đức Anh Sơn thì hiện tại, Bảo tàng cổ vật cung đình đang lưu trữ gần 9.000 cổ vật với 16 sưu tập hiện vật tiêu biểu đang trưng bày ở nội thất và ngoại thất điện Long An. Trong số đó, có nhiều tác phẩm thủ công mỹ nghệ xứng đáng liệt vào hàng quốc bảo của Việt Nam như những món pháp lam Huế; những bộ cành vàng lá ngọc; những đồ gỗ chạm khảm và sơn son thếp vàng: Các cổ vật bằng đồng do Chú tượng ty và do các nghệ nhân ở Phường Đúc xưa thực hiện…

Với nguồn cổ vật hiện có và với những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật, mỹ thuật, phong cách, niên đại… các cổ vật này của đội ngũ bảo tàng viên ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế, TS Trần Đức Anh Sơn cho rằng, bảo tàng có thể đóng góp vào chiến lược phục hồi và phát huy các nghề thủ công truyền thống ở Huế, đặc biệt là các nghề đã thất truyền theo các hướng sau: Giới thiệu các mẫu cổ vật là những tuyệt tác thủ công mỹ nghệ ngày trước cho các nghệ nhân tham khảo, lấy mẫu để phục chế.

Cung cấp các kết quả nghiên cứu về các sản phẩm này cho các nghệ nhân để họ có thêm các chứng cứ khoa học, kỹ thuật trong việc phục chế, tân tạo các dòng sản phẩm thủ công mỹ nghệ danh tiếng của Huế xưa…

Những mặt hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ hai đầu đất nước và tận Trung Quốc đang bày bán ở Huế.

Những mặt hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ hai đầu đất nước và tận Trung Quốc đang bày bán ở Huế.

Theo TS Trần Đức Anh Sơn thì: “Trong việc phục hồi và tái tạo nguồn hàng thủ công mỹ nghệ để phục vụ khách du lịch và để duy trì, phát triển bền vững các nghề thủ công ở Huế, cần phải xây dựng một quy trình dài hạn mang tính khoa học, khôn ngoan và cùng hưởng lợi”. Cụ thể phải “cần có 4 đối tượng tham gia quy trình này, gồm: Các nhà nghiên cứu; những người sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; các cơ quan hữu quan; các công ty du lịch”.

Theo đó, giới nghiên cứu có nhiệm vụ chỉ ra những sản phẩm đặc trưng và nổi tiếng của từng nghề và làng nghề để tư vấn và cung cấp mẫu mã cho các nghệ nhân những sản phẩm tiềm năng nhất.

Nghệ nhân là những người có tay nghề cao, biết chuyển những thành quả nghiên cứu của các học giả và những kinh nghiệm do tổ tiên trao truyền cho họ để làm ra những sản phẩm chất lượng cao, giá thành hợp lý, liên quan đến truyền thống, lịch sử (chính sử và huyền sử) của địa phương.

Các cơ quan hữu trách phụ trách công tác giám sát chất lượng, giá cả gắn biển chứng nhận uy tín và chất lượng cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đồng thời, phải bảo vệ tác quyền tác giả cho những mẫu mã, những sản phẩm có đăng ký bảo hộ quyền tác giả, tránh tình trạng sao chép, làm hàng nhái, hàng giả.

Các công ty lữ hành, thông qua hệ thống hướng dẫn viên, đưa khách đến những cửa hàng hay làng nghề có hàng hoá tốt, mẫu mã đẹp, chất lượng dịch vụ đảm bảo và được hưởng tiền hoa hồng từ lợi nhuận do du khách mang đến qua việc mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ lưu niệm…

Còn nhớ lúc đó, tham luận của TS Trần Đức Anh Sơn được đồng thuận và đánh giá rất cao, bởi đó là một trong những giải pháp mang tính bản lề đối với việc phục hồi và phát triển ngành thủ công truyền thống Huế.

Tuy nhiên, hai năm trôi qua, khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đi dò hỏi từng “nhà” một xem có “nhà” nào quan tâm đến, dù chỉ một phần nhỏ trong những ý kiến rất hay và tâm huyết của TS Trần Đức Anh Sơn hay không. Nhưng tiếc là đến đâu cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Thậm chí có “nhà” còn ngạc nhiên và không hề nhớ rằng cách đây hai năm đã từng có một cuộc hội thảo như vậy, dù “nhà” nọ đã có người tham gia hội thảo và tất cả các tham luận đã được in thành kỷ yếu (!?).

————————————————————————————–

Trong tờ dụ của Vua Khải Định ban hành ngày 24.8.1923 về việc thành lập Bảo tàng Khải Định – tiền thân của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế bây giờ, có đoạn viết: “Thiên tài của một dân tộc được biểu hiện qua các tác phẩm mỹ thuật, phản ánh những sinh hoạt xã hội, lễ nghi, chính trị và cuộc sống nội tâm của họ… Nước ta đã tiếp nối được những kiểu thức đẹp đẽ về mỹ thuật của các thế hệ tiền bối từ những thế kỷ trước. Nền mỹ thuật này cần phải được bảo tồn để hình thành và duy trì sở thích và tình cảm của các thế hệ mai sau…

Chúng ta hôm nay thành lập trong kinh thành Huế một bảo tàng khả dĩ thu thập và bảo tồn những kiểu thức đẹp đẽ về nghệ thuật và kỹ thuật An Nam để các nghệ sĩ và nghệ nhân tương lai có thể thấy được những sản phẩm của tiền nhân và phỏng theo đó một cách hữu ích”.

————————————————————————- ————-

Tháng 3.2009, UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt đề án khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, làng nghề và ngành nghề TTCN tỉnh TT- Huế đến năm 2015, với tổng kính phí một năm 100 tỉ đồng. Tuy vậy, trong phần giải pháp thực hiện, UBND tỉnh TT-Huế cũng chỉ đề ra các giải pháp về thị trường; khoa học công nghệ, môi trường; phát triển làng nghề gắn với du lịch…và không đề cập gì đến việc yêu cầu hoặc khuyến khích việc khai thác vốn cổ của tiền nhân hiện đang lưu giữ trong Bảo tàng cổ vật cung đình, cũng như gợi ý về sự kết hợp “4 nhà” như đã dẫn.

Nguồn báo Lao Động

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Hồi sinh pháp lam Huế

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Ngoài trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam còn có giá trị trong nghệ thuật trang trí tranh, phù điêu. Pháp lam cùng với gốm và sơn mài là ba nghề được chọn tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009.

Đây là một nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Tuy nhiên do biến động lịch sử, pháp lam đã thất truyền gần 200 năm. Thời gian thất truyền quá lâu, ngay cả người dân Huế cũng cảm thấy xa lạ.

Gần 200 năm thất truyền bí ẩn

Pháp lam là kỹ thuật tráng men nhiều màu lên cốt đồng đỏ và nung chín tạo nên tác phẩm mỹ thuật hay chi tiết trang trí trong kiến trúc với họa tiết rực rỡ màu sắc.

Sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước Công nguyên khi thợ kim hoàn vùng Mycenaean (Hy Lạp) tráng men thủy tinh trên khuyên tai bằng vàng.

Ở Việt Nam, kỹ nghệ này du nhập vào đầu thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đưa một số công nhân Việt Nam sang học nghề chế tác pháp lam ở Trung Quốc.

Sau đó, nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục (xưởng sản xuất pháp lam đặt ở khu Canh nông trong Thành nội) gồm 15 người do ông Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình).

Pháp lam Huế phát triển đến thời vua Tự Đức thì phôi pha dần rồi thất truyền một cách bí ẩn. Trong 60 năm tồn tại, từ năm 1827, pháp lam Huế đã sản xuất rất nhiều vật phẩm có giá trị để trang trí, cúng tế theo yêu cầu của triều đình, trong đó phục vụ cho nhu cầu trang trí nội ngoại thất, tế tự và nhu cầu thường nhật trong cung đình.

Cách đây 10 năm, ba nhà nghiên cứu khoa học ở Huế gồm tiến sĩ dược học Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế), kỹ sư chuyên ngành silicat Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Thừa Thiên-Huế) và thạc sĩ vật lý Đỗ Hữu Triết (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) đã cùng nghiên cứu để phục hồi pháp lam Huế.

Tuy ba người với ba trường phái khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung là cùng tạo ra được màu men, phục hồi thành công pháp lam Huế sau gần 200 năm vắng bóng.

Những người hồi sinh pháp lam

Trong hai năm 2003-2004, tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất pháp lam phục chế tu bổ di tích Huế” và thu được thành công khi tạo ra được ba mẫu phục chế hoàn hảo theo nguyên mẫu của di tích Huế.

Đóng góp lớn nhất, có giá trị thiết thực của tiến sĩ Đức cùng cộng sự của ông là làm sống lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc, niềm tự hào một thời của mỹ thuật cố đô Huế. Những sản phẩm do ông và cộng sự làm ra đã được ứng dụng vào việc trùng tu các công trình di tích Huế như trang trí chùa Thiên Mụ, điện Thái Hòa, hai nghi môn tại hoàng thành Huế.

Kỹ sư Trần Đình Hiệp thì hoàn thiện được kiểu tráng men trên mặt phẳng với độ bền màu trong nhiều môi trường khác nhau, hồi sinh loại pháp lam mỹ thuật trang trí và ngói âm dương.

Còn với Đỗ Hữu Triết, sau những năm tháng nghiên cứu về phục dựng bảo tồn di tích Huế, anh đã kết duyên với đề tài về phục hồi pháp lam. Niềm đam mê và ước vọng hồi sinh pháp lam Huế đã được anh truyền vào công trình luận án thạc sĩ với đề tài “Men và màu cho đồ gốm sứ ở di tích Huế” năm 2005.

Luận án được đánh giá rất cao khi người thực hiện đã phục hồi thành công men màu trong pháp lam mỹ nghệ, pháp lam trang trí nội thất và được ứng dụng vào sản xuất pháp lam.

Sau thành công đó, Triết thành lập Công ty pháp lam Sao Khuê (nay là Công ty TNHH Thái Hưng) để phục hồi kỹ nghệ sản xuất pháp lam, quy tụ 15 thợ có tay nghề giỏi về làm.

Anh Triết cho biết: “Pháp lam bị thất truyền là một mất mát quá lớn đối với nghệ thuật kiến trúc, nhất là những công trình pháp lam ở các di tích Huế bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng cần phải trùng tu. Ngoài giá trị trong việc trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam hồi sinh còn có giá trị to lớn trong nghệ thuật trang trí các sản phẩm như tranh, phù điêu. Đặc biệt, thành công trong việc phục hồi pháp lam đã tạo ra một loại tranh có chất liệu mới trong hội họa và được ứng dụng vào ngành mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất, đồng thời phục hồi và phát triển một nghề truyền thống đặc biệt của Huế đã bị thất truyền từ lâu”.

Tại Festival nghề truyền thống Huế 2009, anh Đỗ Hữu Triết đã cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trưng bày các sản phẩm pháp lam và mở một quy trình sản xuất pháp lam để du khách có thể tự tay vẽ lên pháp lam làm sản phẩm lưu niệm cho mình.

“Mặc dù đạt được những thành công bước đầu trong việc hồi sinh pháp lam Huế, tuy nhiên Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế mới chỉ làm được có ba loại hình kỹ thuật pháp lam, trong khi đó thế giới có đến 17 loại hình. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là đạt trình độ của pháp lam thế giới” – anh Triết tâm sự.

Theo http://www.phapluattp.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

NHỮNG MÓN ĐỒ SỨ TÂN KÝ KIỂU

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

1. Tôi đến với đồ sứ ký kiểu từ cuối năm 1988, khi thực hiện luận văn tốt nghiệp đại học về dòng đồ “cha Việt, mẹ Hoa” này. Sau khi ra trường, tôi được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nhận vào làm việc và đến năm 1995 thì được bổ nhiệm làm phó giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, nơi lưu giữ hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu của triều Nguyễn. Dạo ấy dòng đồ này còn khá nhiều trên thị trường cổ vật trong nước nên ít ai nghĩ đến chuyện có đồ sứ ký kiểu giả. Một hôm, có người mang đến bảo tàng mấy món đồ sứ hiệu đề Nội phủ thị trungNội phủ thị hữu, bảo đó là đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và nhờ tôi giám định. Vì chỉ chuyên về dòng đồ sứ do triều Nguyễn ký kiểu, chưa tiếp xúc nhiều với đồ thời Lê – Trịnh nên tôi phải “cầu cứu” các đồng nghiệp ở Sài Gòn và ở Pháp, bằng cách gửi hình ảnh kèm theo khảo tả chi tiết cho họ. Ít lâu sau tôi nhận được câu trả lời từ Sài Gòn: “Đó là đồ mới, do một người buôn bán đồ cổ ở phố Lê Công Kiều đặt làm tại lò Cảnh Đức Trấn bên Trung Quốc theo đúng cách thức ký kiểu thời xưa. Nhiều người không rành tưởng là đồ Lê – Trịnh thật”. Nhận được thông tin, rồi xem xét kỹ các món đồ sứ mà người ta đang nhờ tôi giám định, tôi chỉ có thể nói được hai chữ: “Bái phục”.

Cũng từ đó, tôi chú tâm tìm kiếm thông tin về nhân vật đang đi âm thầm đi “ký kiểu” đồ sứ này. Đến năm 2001, một hôm giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế gọi điện bảo tôi sang phòng ông bàn chút việc. Đến nơi, giám đốc giới thiệu với tôi một vị khách: “Đây là anh Trần Quốc Thái, người chuyên phục chế đồ sứ cổ. Trung tâm muốn hợp tác với anh Thái phục chế đồ sứ để đưa vào trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, thay thế cho những hiện vật gốc, mà vì nhiều lý do nên không thể đưa ra trưng bày được. Anh là người chuyên nghiên cứu đồ sứ nên tôi mời anh sang bàn cách thức hợp tác với anh Thái để làm dự án này”. Tôi phản ứng tức thời: “Theo nguyên tắc, bảo tàng không trưng bày đồ giả, huống chi mình còn hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu chưa mang ra trưng bày vì không có chỗ. Sao lại phải làm đồ giả cổ làm gì?”. Tôi vừa dứt lời thì vị khách lên tiếng: “Tôi đồng ý với anh là trong bảo tàng không nên bày đồ giả. Tuy nhiên, trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế hiện đang trưng bày và thờ tự nhiều món đồ gốm Bát Tràng và đồ sứ rẻ tiền của Trung Quốc đấy thôi. Dự án mà tôi muốn hợp tác với các anh là nhằm tạo ra một dòng đồ sứ, phỏng theo đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, từ kiểu dáng, màu men đến hoa văn, họa tiết, để trưng bày trong các lăng tẩm và cung điện, cả nội thất lẫn ngoại thất, thay thế cho những cổ vật đã bị mất mát, hư hỏng hoặc vì lý do nào đó mà các anh không thể đưa hiện vật gốc ra trưng bày và thờ tự được. Đồng thời loại bỏ hoàn toàn những món đồ gốm rẻ tiền đang làm nhếch nhác cảnh quan di tích”. Nghe đến đây thì tôi chợt thấy mình hơi cạn nghĩ, nên kéo ghế ngồi xuống và bắt đầu bàn phương án hợp tác phỏng chế đồ sứ ký kiểu với vị khách nọ, cũng là bắt đầu mối giao hảo với anh Trần Quốc Thái.

2. Trần Quốc Thái có một cửa hàng đồ cổ ở phố Lê Công Kiều (Quận 1, TP Hồ Chí Minh). Cửa hàng của anh bán đủ thứ: đồ gốm sứ, đồ đồng, đồ đá…; cả đồ ta lẫn đồ Tàu, đồ Tây. Song món chủ lực của anh vẫn là dòng đồ sứ xanh trắng do vua chúa các triều Lê – Trịnh (ở Thăng Long) và triều Nguyễn (ở Huế) đặt làm ở Trung Hoa trong các thế kỷ XVII – XIX. Việc buôn bán trở nên khó khăn do cổ vật ngày càng khó kiếm, trong khi, những món đồ sứ ký kiểu quý hiếm thì cứ theo nhau ra nước ngoài. Tiếc vì không đủ tài lực để giữ lại cho mình những món đồ tâm đắc, Trần Quốc Thái chợt nghĩ ra một chiêu thức: phỏng chế đồ sứ theo đúng phương thức mà các sứ thần triều Lê – Trịnh và triều Nguyễn đã đi ký kiểu ở bên Tàu thuở trước, nhằm giữ lại cho mình những món đồ ưng ý.

Năm 1994, gom được một số tiền, lận theo mấy chiếc dĩa Nội phủ – Khánh xuân và mấy món đồ lam Huế, Trần Quốc Thái ra Móng Cái, rồi sang Đông Hưng, nhờ một người Hoa dắt đi Cảnh Đức Trấn để “ký kiểu” đồ sứ. Đó là một hành trình vô cùng gian nan và tiềm ẩn nhiều bất trắc. Ba tuần lang thang ở Cảnh Đức Trấn, thủ đô gốm sứ của Trung Quốc, Trần Quốc Thái tiếp xúc với hàng chục chủ lò nhưng không ai dám nhận lời phỏng chế đồ sứ theo yêu cầu của anh, chỉ vì một lý do: “Khó quá”. Đúng lúc thất vọng nhất thì Trần Quốc Thái gặp được Sào Hải Thanh, một “ông trùm” về dòng đồ thanh hoa (men trắng vẽ lam) của Cảnh Đức Trấn. Sau khi nghe yêu cầu của Trần Quốc Thái và ngắm nghía những món đồ mẫu mang từ Việt Nam sang, ông Sào cho hay phải mất hai tuần để phỏng chế những chiếc đĩa này và cam đoan sẽ làm giống đến 90%. Vậy là Trần Quốc Thái leo lên Lư Sơn ngắm cảnh suốt hai tuần để đợi kết quả. Hơn chục ngày sau, anh trở về Cảnh Đức Trấn, sung sướng đón nhận những món đồ phỏng chế do Sào nghệ nhân thực hiện.

Chuyến đi “phá băng” của anh đã mở ra cho anh một cơ hội kinh doanh dòng đồ sứ tân ký kiểu. Anh liên tục sang Cảnh Đức Trấn, hợp tác với Sào Hải Thanh phỏng chế  dòng đồ Nội phủ – Khánh xuân thời Lê – Trịnh đưa về bày bán trong cửa hàng của mình. Không chỉ đặt làm như nguyên mẫu, Trần Quốc Thái còn lựa chọn những hoa văn, họa tiết đẹp nhất và đặc trưng nhất của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh, vẽ lên những tấm sứ kích thước lớn, dùng để làm mặt bàn hay lưng ghế tựa. Anh cũng đặt làm nhiều bức tranh sứ, vẽ các motif rồng phụng thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Những tác phẩm phỏng chế của anh được đưa ra trưng bày tại Đại Nội nhân dịp Festival Huế tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000. Và đó chính là cơ duyên đưa anh đến với dự án hợp tác phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn để trưng bày trong các lăng tẩm, cung điện, đền miếu của vương triều Nguyễn ở Huế.

3. Dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn tiến hành trong các năm 2004 – 2006. Tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu hiện vật gốc đang bảo quản trong kho của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế và đang trưng bày, thờ tự trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế, rồi “ra đề bài” cho Trần Quốc Thái tiến hành phục chế. Không yên tâm với những bản vẽ do họa sĩ của bảo tàng sao chép từ hiện vật gốc, Trần Quốc Thái mời nghệ nhân Sào Hải Thanh từ Cảnh Đức Trấn đến Huế, tự tay can họa lại tất cả các hoa văn trang trí và đo đạc kích thước, sao vẽ kiểu dáng, mang về Trung Quốc để thợ gốm tuân thủ phỏng chế. Trần Quốc Thái cũng mời tôi và các chuyên gia của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế sang tận Cảnh Đức Trấn để giám sát quy trình phục chế đồ sứ ký kiểu: từ khâu làm đất, tạo cốt đến khâu trang trí, viết chữ và nung đốt sản phẩm. Đến tháng 5.2006, hơn 700 món đồ sứ tân ký kiểu từ Cảnh Đức Trấn đã về đến Huế và được đưa vào bài trí trong hầu khắp các cung điện, lăng tẩm, đền miếu của triều Nguyễn ở Huế, góp phần đẩy lui không gian hoang phế trong các khu di tích và phục vụ đắc lực cho Festival Huế 2006.

Kết thúc dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, Trần Quốc Thái vẫn tiếp tục gắn bó với niềm đam mê đồ sứ tân ký kiểu của mình. Anh tham khảo những kiểu thức và trang trí của hai dòng đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn, lựa chọn những dáng kiểu đẹp nhất và những họa tiết đặc sắc nhất, đặt cho Sào nghệ nhân chế tác thành những món đồ sứ tân ký kiểu, không thuần Lê – Trịnh, cũng chẳng là đồ Huế, mà tôi vẫn thích gọi là đồ Thái blue.

Anh mua một ngôi nhà cổ từ ngoài Bắc đưa về Sài Gòn dựng lại, rồi trưng bày hàng trăm món đồ Thái blue, vừa để chơi, vừa để kinh doanh. Anh tâm sự: “Nhiều người nói tôi đặt làm đồ giả cổ để kiếm lợi. Nhưng làm đồ giả cổ thì phải làm giống 100% hoa văn, họa tiết và kích thước; sản phẩm làm xong còn phải dùng các thủ pháp làm cho lạc tinh để cho giống với đồ xưa. Nhưng đồ tôi làm thì kết hợp tất cả hoa văn của các đời, từ Lê – Trịnh cho đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… Kích thước thì lớn hơn và kiểu dáng cũng phong phú hơn rất nhiều. Vì thế, không thể nói đó là đồ giả cổ, mà phải gọi là đồ sứ tân ký kiểu mới chính xác”.

Miệng lưỡi thế gian khó ai ngăn cấm. Với riêng tôi, những món đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue là những tác phẩm nghệ thuật thực sự. Ở đó chứa đựng những tinh hoa của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Đó cũng là nơi Trần Quốc Thái gửi gắm niềm đam mê của mình với dòng đồ xanh trắng. Đó cũng là những trang nhật ký bất thành văn ghi lại tân hành trình ký kiểu đồ sứ đầy gian truân của anh, mà tôi đã từng là một chứng nhân.

Trào lưu “chơi nhà cổ” đang thịnh hành khắp cả nước. Nhiều người bỏ tiền phục dựng những khu nhà rường tinh xảo và lộng lẫy ở Sài Gòn, Bình Dương, Hà Nội, Huế… Tuy nhiên, điều làm nên cái hồn của nhà rường xưa chính là những thứ bày biện trong ngôi nhà đó: hoành phi, đối liễn, bàn ghế, sập gụ, cổ vật, gốm sứ… Thị trường cổ vật trong nước ngày một khan hiếm, lấy đâu ra những bình, chóe, hũ, lọ… thời xưa để bài trí trong những ngôi nhà thênh thang ấy. Vì thế, đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue có lẽ là một lựa chọn hợp lý mà chủ nhân các ngôi nhà rường tân tạo này nên nghĩ đến.

Click trên hình để xem phóng lớn.

T.Đ.A.S. (covathue)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

`
 

 

Read Full Post »

CỔ VẬT TRONG CÁC DI TÍCH TRIỀU NGUYỄN Ở HUẾ

Sưu tập cổ vật gốm sứ

Sưu tập cổ vật gốm sứ

Trong 16 địa điểm di tích triều Nguyễn do Trung tâm Bảo tồn Di Tích Cố đô Huế(TTBTDTCĐ Huế) quản lý có 12 di tích đang bảo quản và trưng bày khoảng 2400 cổ vật. Ngoài ra, Huế còn có Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế), được coi là nơi cất giữ phần hồn của cổ tích, tập trung hơn 8300 cổ vật, phần lớn được sưu tập từ các cung điện, lăng tẩm của triều Nguyễn. Đó là những vật dụng từng gắn bó mật thiết với cuộc sống của các bậc đế hậu; những đồ dùng cho các nhu cầu sinh hoạt, lễ nghi, tín ngưỡng và quốc phòng của hoàng gia và triều đình nhà Nguyễn; những tặng phẩm, thương phẩm phản ánh các quan hệ ngoại giao, thương mại giữa Việt nam với các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Anh, Thái lan…trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XX.

Ngoài BTMTCĐ, Huế là nơi tập trung nhiều nhất những cổ vật của triều Nguyễn, các di tích như: lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Khải Định, Thế Tổ Miếu, điện Thái Hòa, điện Huệ Nam, khu lưu niệm Đức Từ Cung… là những nơi đang thờ tự và trưng bày những cổ vật quý giá nhất của triều đại này.

Điện Biểu Đức ở lăng Thiệu Trị hiện đang trưng bày những bức tranh gương có kích thước lớn nhất Việt Nam ghi lại những bài ngự chế thi và hai bức trướng bằng gỗ khắc cẩn hai bài ngự chế văn Cơ Hạ viên và Điện khai văn án của vua Thiệu Trị bằng xà cừ rất tinh xảo.

Kim chi ngọc diệp

Kim chi ngọc diệp

Điện Hòa Khiêm trong lăng Tự Đức có nhiều cổ vật quý bằng ngà như bộ xăm hường hay bộ ấn triện của vua Tự Đức; những chiếc chóe bằng pháp lam ngũ xắc xứng đáng được mệnh danh là những lưu vật thiên sót của nghệ thuật pháp lam thời Nguyễn. Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ sưu tập tranh gương gần 20 bức, vẽ cảnh minh họa những bài thơ ngự chế của vua Thiệu Trị. Đó là những bài thơ trong Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập, được nhà vua tuyển chọn, giao cho chánh sứ Trương Hảo Hợp, khi đi sứ sang thanh vào năm 1845, thuê thợ Trung Hoa đề thơ lên kính và vẽ tranh minh họa. Điện Lương Khiêm, nơi thờ Đức Từ Dũ, bà Thái hậu sống thọ nhất trong số các phi tần thời Nguyễn, cũng là nơi trình bày nhiều tự khí và cổ khí gắn bó với thân thế của 3 nhân vật: vua Tự Đức, Đức Từ Dũ và vua Kiến Phúc.

Điện Ngưng Hy ở lăng Đồng Khánh là một trong những nơi trưng bày nhiều cổ vật nhất. Phần lớn những cổ vật này có niên đại từ triều Tự Đức đến triều Khải Định. Trong đó, đáng chú ý là sưu tập những vật dụng từng gắn bó thiết thân với vua Đồng Khánh như chiếc nón găng có chóp bịt đồi mồi, bộ cung tên vua dùng khi đi săn; cả những hiện vật có nguồn gốc ngoại lai nhưng phản ánh một cách trung thực sở thích, thói quen của vị vua thân Pháp này như: lọ nước hoa eaux de Cologne, chiếc ba-tông, bức tranh in cảnh chinh chiến của Napoléon Đệ nhất…

Khay đựng mứt bằng pháp lam

Khay đựng mứt bằng pháp lam

Tuy nhiên, nơi trưng bày và thờ nhiều cổ vật nhất ở Huế chính là điện Huệ Nam, ngôi điện thờ Thiên Y ANa Thánh Mẫu lớn nhất miền Trung Việt Nam. Những cổ vật nơi đây chủ yếu là tặng vật của các triều vua, từ Đồng Khánh đến Khải Định, dâng tặng Thánh Mẫu, ngoài ra là những tự khí do các con tôi, đệ tử của Mẫu dâng cúng. Cổ vật ở đây phong phú về loại hình, đa dạng về chất liệu và có kỹ thuật tạo tác tinh tế, ghi dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo của vua quan và binh dân xứ Huế một thời. Đến thăm nơi này, du khách có thể chiêm ngưỡng những đồ sức do vua quan triều Nguyễn ký kiểu từ Trung Hoa đưa về dùng làm đồ tự khí như những chiếc bát nhang, độc bình, những bộ trà, đồ dâng rượu cúng, hay chiếc võng dùng để cung nghinh Thánh Mẫu từ đình làng Hải Cát về điện Huệ Nam trong những dịp lễ hội vía Mẫu hàng năm.

Một nơi thờ cúng khác có số lượng cổ vật nhiều không kém điện Huệ Nam là Thế Tổ Miếu. Ngôi miếu này tọa lạc bên trong Đại Nội, được xây dựng từ đầu niên hiệu Minh Mạng. Đây là nơi thờ tự chính thức 10 vị vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định, Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân. Mỗi gian thờ bài trí một bộ gồm: án thờ. kỷ thờ, sập thờ, khám thờ…Tất cả đều được làm bằng gỗ, bạc, tơ lụa, đồ sứ…rất có giá trị. Bên trong các khám thờ là thần vị các bậc đế hậu của vương triều Nguyễn. Đó là những cổ vật vô giá được lưu giữ muôn đời.

Lư đồng

Lư đồng

Điện Thái Hòa, ngôi điện quan trọng bậc nhất trong các cung điện ở Huế, là nơi chứng kiến sự đăng quang và trị vì của tất cả các vị vua nhà Nguyễn, là nơi đình thần diện kiến thiên tử trong các ngày sóc, vọng. Nơi đây, hiện đang trưng bày chiếc ngai vàng, là biểu tượng quyền uy của vương triều Nguyễn cùng các án thờ, các tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ, bằng đồng, bằng gốm sứ hơn hai trăm năm tuổi. Khu lưu niệm Đức Từ Cung, một di tích chỉ có gần 50 năm tuổi, nhưng lại là nơi ghi dấu nhiều nhất về cuộc sống, sinh hoạt của các bậc vương hầu, phi tần trong cung Nguyễn.

Nhiều di tích kiến trúc khác, sau khi được trùng tu, tôn tạo, cũng được TTBTDTCĐ Huế chú ý đầu tư nghiên cứu, sử dụng nguồn hiện vật đang lưu giữ ở BTMTCĐ Huế để tái trưng bày nội thất như đã từng được bài trí trong quá khứ. Đó là các công trình như Hưng Tổ Miếu, Cung Diên Thọ, Khương Ninh Các(Đại Nội), Điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), Điện Chấp Khiêm (lăng Tự Đức)…

Có thể nói, nguồn cổ vật đang hiện diện trong các di tích thời Nguyễn ở Huế là những sử liệu vô giá ghi lại những dấu tích sống động của triều đại này, giúp cho việc nghiên cứu một giai đoạn nghiên cứu một giai đoạn lịch sử đầy biến động và vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Đó là những vật chứng để người đời sau hiểu thêm về đời sống trong cung đình Huế; về thân thế và sự nghiệp của các bậc đế vương triều Nguyễn; về các quan hệ ngoại giao, thương mại giữa Việt Nam với các nước khác thời phong kiến; về lễ nghi và đời sống tôn giáo, tin ngưỡng thời Nguyễn.

Trên phương diện kỹ thuật- nghệ thuật, thông qua các hoa văn, họa tiết, kỹ thuật chế tác, các cổ vật này đã giúp cho các nhà nghiên cứu và du khách hiểu thêm về trình độ kỹ thuật, sự tồn tại và hoạt động của các nghề thủ công truyền thống trong dân gian và các quan xưởng nhà Nguyễn.

Một gian trưng bày cổ vật ở nội thất điện Long An

Một gian trưng bày cổ vật ở nội thất điện Long An

Về mặt kinh tế, chúng là những cổ vật có giá trị kinh tế cao, là nguồn tài sản vô giá của di sản văn hóa Việt.

Đối với hoạt động du lịch, sự hiện diện của các cổ vật trong các di tích đã tạo ra cho những không gian lịch sử, không gian văn hóa, không gian tri thức vốn là những cái đích cần hướng đến của một tour du lịch văn hóa loại hình du lịch được coi là thế mạnh của cố đô Huế nói riêng và Việt Nam nói chung. Không thể hình dung được cảnh tượng một khu di tích, dù được trùng tu hoàn mỹ, đúng nguyên trạng nhưng lại thiếu vắng những cổ vật, những tự khí bài trí ở nội và ngoại thất. Khi ấy, đó sẽ là những di tích chết vì chúng đã thiếu mất những dấu ấn xưa cũ của quá khứ mà cổ vật chính là thứ chứa đựng cái cũ quý giá đó.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác trưng bày cổ vật trong các di tích triều Nguyễn, trong nhiều năm qua, TTBTDTCĐ Huế, cơ quan quản lý các di tích này đã có nhiều nỗ lực trong việc tu bổ, phục hồi di tích kiến trúc kết hợp với việc tái hiện các không gian lịch sử trong các di tích thông qua việc trưng bày cổ vật. Triển khai thực hiện Dự án Bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, trong giai đoạn I(1996-2000), đã có 16 địa điểm di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được tổ chức trưng bày mới (hay chỉnh lý trưng bày từng phần) theo xu hướng ” tái hiện không gian lịch sử để nâng cao giá trị văn hóa Việt Nam cho khu di tích”. Đó là các di tích: điện Long An, điện Thái Hòa, Thế Tổ Miếu, cung Diên Thọ, Tả Vu(Đại Nội); điện Huệ Nam; điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Lương Khiêm, điện Hòa Khiêm, điện Chấp Khiêm (lăng Tự Đức); điện Ngưng Hy ( lăng Đồng Khánh); cung Thiên Định (lăng Khải Định) và khu lưu niệm Đức Từ Cung.

Ngai Thái Tử

Ngai Thái Tử

Trong giai đoạn hai (2001-2006), TTBTDTCĐ Huế đang xúc tiến các dự án chỉnh lý trưng bày tại các di tích: Thế Miếu(giai đoạn 2), Khương Ninh Các, Duyệt Thị Đường, Thái Bình Lâu, Tịnh Minh Lâu, cung Trường Sanh (Đại Nội); điện Long An (giai đoạn 2), Cơ Mật Viện (Kinh Thành); điện Minh Thành (lăng Gia Long); điện Lương Khiêm, nhà Ôn Khiêm, nhà Chí Khiêm (lăng Dục Đức); điện Long Ân (lăng Dục Đức); Trai Cung (đàn Nam Giao)…

Nhìn chung, việc trưng bày cổ vật trong thời gian qua đã thể hiện những nổ lực đáng khích lệ của các nhà nghiên cứu và các nhà bảo tàng học đang làm việc trong TTBTDTCĐ Huế. Từ những nguồn hiện vật đang được lưu giữ tại các điểm di tích và tại BTMTCĐ Huế, dựa trên những hình ảnh tư liệu, các nguồn tư liệu hồi cố của các nhân chứng từng sống, làm việc và từng viếng thăm các di tích Nguyễn trong thời hoàng kim, những người làm công tác trưng bày ở TTBTDTCĐ Huế đã cố gắng tái tạo cho các khu di tích những cảnh trí như đã từng hiện hữu. Ở những di tích này, việc trưng bày chủ yếu sử dụng nguồn hiện vật phong phú, với các thủ pháp trưng bày truyền thống, tự nhiên, nhằm mang đến cho du khách cảm giác đang được hiện hữu trong những không gian cổ xưa. Họ tận mắt chiêm ngưỡng những cổ vật một thời gắn bó với các bậc vua chúa chính trong môi trường và không gian mà chúng đã tồn tại gần 200 năm qua. Đây là những lợi thế của việc bài trí cổ vật trực tiếp ở các di tích lịch sử – văn hóa, là điều mà các bảo tàng hiện đại không thể có được.

TĐAS

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

 

Read Full Post »

Hồ Tấn Phan và cổ vật dưới các dòng sông Huế

Đã hơn 30 năm rồi, nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan lặng lẽ và cũng lặng câm theo đuổi ý tưởng sưu tầm đồ gốm dân gian từ đáy các con sông Huế với hy vọng đọc được từ chúng cái gì đó. Cơ duyên lại bắt đầu từ một ngày vợ ông đi đỡ đẻ một ca khó trên chiếc đò lênh đênh trên sông Hương. Sau khi mẹ tròn con vuông, chủ thuyền không biết lấy gì để trả ơn. Bà nhìn thấy mấy cái hủ sành khá đẹp người ta vớt lên từ đáy sông và hỏi xin đem về vài cái. Thế là từ đó ông bắt đầu để ý đến các lọai lu hủ sành sứ người dân vớt lên từ các con sông. Ông linh cảm rằng, ở đáy các con sông Huế đang cất giữ những kho tàng văn hóa vô giá. Bởi hơn ai hết, ông hiểu rất rõ tầm vóc quan trọng của đồ gốm với công việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa. Chỗ nào có đồ gốm là chỗ đó xuất hiện giai đọan thời kỳ đồ đá mới. Đồ gốm liên tục hiện diện cho nền văn minh của nhân loại từ xưa cho đến nay, cả trước và sau Công nguyên và vẫn sẽ tiếp tục trường tồn. Nên nhớ một điều rằng, khi chưa có chữ viết thì đồ gốm chính là trang sử. Bởi vì đồ gốm cùng song hành lâu hơn với nhân loại so với nhiều thứ khác, nên hàm lượng nội dung khoa học mà chúng cho thấy rất lớn. Nhìn vào đồ gốm, có thể đọc được những nét văn hóa, lịch sử của nền văn minh các thời tiền sử, sơ sử, thậm chí nó cũng có thể xem là tư liệu và thư tịch cổ…

Bởi vậy, đã hơn 30 năm qua ông lần mò theo các “đồ gốm dân gian” có ở các sông Huế, bởi hai lẽ. Thứ nhất, “đồ gồm dân gian” có ở các sông Huế so với các “đồ gốm quý tộc” nó có hàm lượng nội dung gắn với cộng đồng xã hội nhiều hơn. Nó gắn với số đông cộng đồng người từ khi sinh ra cho đến khi mất đi, gắn với bao sự kiện quan-hôn-tang-tế của đời người. Thứ hai, là bởi ông nghèo, đồng lương hưu của ông chỉ khỏang ngoài 300.000đ/tháng, không đủ cho ông có thể sở hữu những thứ đồ gốm đắt tiền hiểu theo cách nghĩ của đời sống thị trường chung…

hotanphan1

Ông lần mò dọc theo các con sông và nhận thấy kho tàng vô giá dưới đáy sông bao nhiêu năm qua bị phá vỡ một cách rất đáng tiếc. Ban đầu là từ “phong trào” đi vớt phế liệu, người ta lặn xuống sông để vớt phế liệu rồi “trục vớt” luôn cả những chum, hủ, nồi, niêu…bằng đồ gốm nằm ở đáy sông. Ban đầu họ vớt về quăng quất khắp nơi ngoài hàng rào, để lăn lóc ở vỉa hè cho con nít chơi. Về sau, khỏang những năm 80, có một ông lão nọ chiều chiều bày một cái thùng trước Phu Văn Lâu ngồi kiên nhẫn bán vài thứ đồ gốm dân gian cho du khách. Thấy vậy, người ta bắt đầu chú ý vớt nhiều đồ gốm từ dưới sông lên. Nhưng sự tàn phá bắt đầu lại từ khi xuất hiện những cỗ máy khai thác cát sạn trên sông. Những cái máy cẩu xúc ào ạt một lúc hàng khối cát dưới đáy sông, khiến nhiều đồ gốm đang nguyên lành bị bể. Tuy nhiên, chính các cỗ máy này lại là vật dụng đào được nhiều đồ gốm nhất. Vào những năm tháng đó, người ta đào cát sạn lại vớt được đồ gốm cả hàng chục đò, cái nào nguyên để lại bán, cái nào sứt mẻ vứt lại xuống sông. Cũng đã có những người mua cả hàng đò các thứ đồ gốm ấy về để bán lại…Nhìn thấy người ta “khai thác” vô tội vạ mà ông đau lòng, giá như thật sự có một siêu dự án nào đó để trục vớt cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu thì hay biết mấy. Nhưng cũng thật khó để mơ ước như vậy, vì để vớt các thứ đồ gốm dưới đáy các con sông Huế như sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, cần biết bao nhiêu là công sức, tiền đâu mà trả cho được. Vậy là tuy đau lòng, nhưng ông cũng tự trào mà cho rằng đây là cuộc khảo cổ vô tiền khóang hậu mà ông là người quan tâm gần như là duy nhất. Ông tranh thủ mua được một ít trong số hàng chục, hàng trăm chuyến đò đồ gốm người ta vớt lên từ đáy sông. Cái chuyện ông già Hồ Tấn Phan lẩn thẩn đi mua đồ gốm mà nhiều người vất lăn lóc cũng thật nhiều chuyện đáng nói. Một phần vì ông hết sức yêu quý những người đi vớt, đi mua về cho ông những món đồ gốm; một phần vì người ta quý ông, biết ông mua chỉ để nghiên cứu, lại rất nghèo nên khi vớt được cái gì, mua được cái gì, đều mang đến cho ông. Họ tạo nên một lực lượng “cộng tác viên” hùng hậu mà không phải bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có được. Mỗi khi cầm lên tay một món đồ gốm nào, ông đều cẩn thận hỏi về việc đồ gốm ấy được vớt lên ở đâu, khúc sông nào và những ngư dân thật thà đều trả lời cho ông đầy đủ. Cũng không phải là ông không gặp lúc bị làm eo, có khi ông rất quý một miếng mẻ sành nhưng đã phải mua cả một đống đồ gốm, lại có khi biết là quá đắt song cũng phải dốc hầu bao ra mua bởi sợ không kịp giữ lại cho mình thì người ta đem đi bán lung tung, mất cả di vật lịch sử thì tiếc…Chao ôi, làm cái nghiệp đọc sử nơi đáy sông như ông, sao mà gian truân thế!

Có gì nơi đáy sông sâu?

Đến nay ông đã có trên 10.000 hiện vật đồ gồm, nguyên có, mẻ có, đủ các thứ, có cái nhiều người đã biết, có cái chưa ai biết…Nếu lập một bảo tàng thì các thứ đồ gốm dân gian của ông đủ sức để thiết lập một bảo tàng. Khi còn sống, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã đôi lần ghé lại thăm nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan và đã đánh giá rất cao bộ sưu tập này của ông. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn cũng đã phải thốt lên ngạc nhiên khi ông cho xem các loại đồ gốm Chu Đậu nổi tiếng của Việt Nam mà ông có, được vớt lên từ đáy sông Huế. Theo ông, đồ gốm Chu Đậu trên các sông Huế có hàm lượng nội dung rất lớn. Bởi vì, nếu so sánh với các cuộc khai quật trong nước, ngay cả ở Cù Lao Chàm thì chỉ gói gọn là đồ gốm của vài mẻ sản xuất, gói gọn một thời gian nào đó, còn đồ gốm Chu Đậu có ở trên các sông Huế có tính liên tục trong một thời gian dài, có nhiều diện mạo và giá trị khoa học lớn hơn, do chúng từng góp mặt vào cuộc sống dân gian liên tục hàng ngàn năm, mang hàm lượng nhân văn cao.

Theo nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan, gốm Việt có trên các sông Huế có cả đồ gốm từ thời Đông Sơn cho đến Lý ,Trần, Lê. Trong thời kỳ theo gót Huyền Trân Công Chúa đi mở đất phương Nam, người Việt không quên mang theo những vật dụng vốn mang đậm truyền thống văn hóa Việt của mình. Và cũng dưới đáy các sông Huế, cũng có rất nhiều di chỉ của nền văn hóa Sa Hùynh, các đồ gốm của văn hóa Chăm pa. Thời gian gần đây, dân Huế bắt đầu quan tâm nhiều đến đồ cổ, hình thành nên xu hướng chơi đồ sứ ký kiểu. Song sứ ký kiểu suy cho cùng cũng chỉ là gốm sứ do Trung Quốc sản xuất và chỉ mới có ở triều Nguyễn, tức cách đây chỉ hơn 100 năm, nằm ở giai đọan đồ gốm của Trung Quốc đang thóai trào, với lại đồ sứ ký kiểu cũng chỉ do vua quan sử dụng. Trong lúc đó, đồ Chăm pa, đồ gốm Việt có ở trong các sông Huế lại đa chủng loại, có niên đại rất cao, có cái hàng ngàn năm và đã qua bàn tay sử dụng của đông đảo nhân dân. Nói nôm na, khi người Việt Nam tiến, đã mang theo các vật dụng, các của gia bảo và chúng cũng có tuổi vài trăm năm trước đó, còn từ khi người Việt có mặt ở châu Ô, châu Lý đến nay cũng đã 700 năm rồi…

hotanphan

Thế nhưng trong bộ sưu tập của nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan cũng có rất nhiều thứ rất hiếm, thậm chí có thứ chưa ai có. Ông đưa cho tôi xem một chiếc bình gốm cổ có 2 cái lỗ nhỏ. Ông kể ban đầu ông suy nghĩ mãi không biết nó là cái gì. Sau đọc tạp chí Xưa Nay số 211 phát hành tháng 5.2004, bài “Di tích Kim Lan làng gốm Bát Tràng xưa” của Nguyễn Văn Đòan có in hình chiếc Ống nhổ thời Trần khai quật từ di tích Kim Lan (Gia Lâm-Hà Nội) ông mới biết đo slà cái ống nhổ, điều thú vị là cái ống nhổ của ông còn nguyên vẹn hơn cái đã được khai quật tại Kim Lan. Có một chuyện thú vị khác, trong cuốn Cơ sở Khảo cổ học của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Diệp Đình Hoa (NXB Đại học và THCN, Hà Nội 1978) trang 298 có giới thiệu ảnh một chiếc bình gốm Đông Sơn do Viện Khảo cổ học cung cấp, ông xem ra thì ông cũng có một cái hình thù giống như vậy, song theo ông, cái của ông lại thuộc về văn hóa Sa Hùynh và ông lý giải, đây là hiện tượng “đồng quy văn hóa” vô cùng kỳ thú…Có khá nhiều bộ sưu tập quý như vậy trong “kho tàng” của nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan, chẳng hạn bộ bình vôi có hàng trăm loại; bộ nồi tiêu biểu cho thời kỳ Sa Hùynh, tiền Chàm, sơ sử Huế; bộ ấm đất chưa xác định của Chăm pa hay Việt…Còn lu, ghè, hủ…thì vô số…

Đọc thấy gì từ các “trang thư tịch gốm”?

Nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan Nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan cho biết ông chỉ mới dừng ở bước sưu tầm các hiện vật gốm dưới đáy các con sông Huế, chưa hệ thống được một cách khoa học, bởi vậy ông chưa có thể nói được gì nhiều. Tuy nhiên, có một số nhận xét ban đầu cũng rất dễ thấy rõ từ các đồ gốm ông sưu tập được từ đáy sông Huế. Thứ nhất, địa bàn Huế cũng là nơi có nền văn hóa Sa Hùynh rất dày, không như quan niệm xưa nay cho rằng ở vùng Huế có mà ít so với vùng phía Nam Trung Bộ. Thứ hai, những hiện vật về đồ gốm có thể giúp tìm hiểu rõ hơn về văn hóa Chăm pa trước khi người Việt vào chứ không chỉ căn cứ vào kiến trúc Chăm pa, điêu khắc Chăm pa như lâu nay thường làm. Theo các đồ gốm hiện có, ông đã dần nghiên cứu xem phong tục tập quán của người Chăm pa xưa như thế nào? Từ cách họ ăn uống đến giao tế xã hội. Cũng có thể từ các hiện vật gốm, đọc được những trang sử đầu tiên, lúc người Việt Nam tiến vào vùng Huế. Ví dụ bình vôi gắn liền với tục ăn cau trầu theo người Việt vào đây (hiện ông có trên 1000 chiếc bình vôi các loại), thể hiện khá rõ các tập tục tế tự, việc làng việc nước, giao tế xã hội…Thứ ba, đến nay, chưa thấy các con sông ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình…xuất hiện các loại đồ gốm dày đặc như các con sông ở Huế, từ đó có thể thấy rằng, từ thời kỳ Chăm pa cho đến nay, vùng Huế luôn là một trung tâm văn hóa. Bởi chỉ có một trung tâm kinh tế văn hóa mới tập trung đông người, giao thương buôn bán  trong đó có đường thủy phát triển…Còn vì sao các đồ gốm ấy lại nằm dưới đáy sông? Có thể thử lý giải là vì thuyền bè chở đồ gốm chìm trên sông, lụt lội các loại bình trôi theo dòng nước ra sông, và tập quán dân Huế xưa nay cái gì bể vỡ cũng đem ra đôi ngoài sông…

Chỉ chừng đó thôi, đã thấy “những trang thư tịch bằng gốm” của nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan là đồ sộ và quý giá biết nhường nào. Ông đang mơ ước đến một chuyến đi thăm tất cả các bảo tàng cổ vật trong nước, tiếp xúc với các trang thư tịch về khảo cổ để có thể đối chiếu với những gì ông đã đọc. Ông nói bây giờ ông đang đọc lại nhiều sách và đọc cả những hoa văn trên gốm xưa, nhiều khi ông có cảm giác đang bị ma lực thu hút ghê gớm hơn cả những ngày bé thơ xưa đọc chuyện 1001 đêm. Bởi ông vừa đọc, vừa nhìn, liên tưởng đến người xưa đã từng đặt tay lên những đồ gốm cách đây cả ngàn năm, đó quảlà một cảm giác thật tuyệt vời.

Bảy mươi tuổi, ông còn mơ ước một chuyến đi để đọc cho hiểu hơn lịch sử, văn hóa Việt nói chung, vùng Huế nói riêng. Tôi viết những dòng này lúc thời gian đang trôi về những ngày cuối năm Ất Dậu. Thời gian trôi đi nhanh quá, liệu con người có vóc dáng gầy gò ấy có kịp làm tất cả để hậu thế còn có cơ hội để hiểu hơn lịch sử cha ông? Lòng tự nhiên mong sao nay mai, ông có những chuyến đi chân cứng đá mềm…

theo Hội đồng hương Huế

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm Phước Tích

Gốm Phước Tích trưng bày trong Viên bảo Tàng

Gốm Phước Tích trưng bày trong Viên bảo Tàng

Đi từ phía Bắc vào hay trong Nam ra, trên tuyến Quốc lộ 1A đến ngã ba chợ Mỹ Chánh, theo Quốc lộ 49 khoảng 800m, qua cầu Phước Tích rẽ tay phải là đến làng Phước Tích. Làng Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập vào năm 1470 và nổi danh khắp kinh thành Huế về nghề gốm. Nghề gốm ở Phước Tích đã có bề dày hơn 500 năm tuổi, từng là vật phẩm tiến vua, từng nuôi sống bao thế hệ người dân ở ngôi làng bé nhỏ nép mình bên dòng Ô Lâu trong xanh, hiền hòa.

Cụ Nguyễn Duy Mai – một trong 15 nghệ nhân còn sót lại của làng kể: “Gốm Phước Tích từng là một đặc sản nổi tiếng khắp miền Trung. Không chỉ sản xuất dưới dạng các loại gia dụng như trách, chậu, om, niêu, ấm, tộ, cối tiêu, bình vôi, chum, ghè, thạp, thống… . gốm Phước Tích còn được trưng dụng trong hoàng cung triều Nguyễn với nhiều cổ vật tinh xảo một thời, đến nay còn được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế”.

Cũng theo lời cụ Mai, thời hoàng kim của nghề gắn chặt với thời điểm làng thành lập. Trong làng có cả thảy 12 lò sấp, lò ngửa chẳng bao giờ tắt khói. Sản phẩm làm ra đến đâu, tiêu thụ đến đó. Dưới sông, trên bờ ngược xuôi tấp nập tàu thuyền đưa gốm của làng đến tận Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Quy Nhơn…

Chất liệu chính của sản phẩm gốm Phước Tích khai thác ở vùng Diên Khánh (Quảng Trị), đất sét – người thợ thường gọi là kẻ được chia thành nhiều loại: kẻ tốt, kẻ màu… Trong quy trình sản xuất gốm, kẻ tốt được dùng để sản xuất những sản phẩm có thành mỏng, hình khối lớn, kẻ màu dùng làm những đồ vật không yêu cầu về mặt ngoại hình. Sản phẩm gốm, qua các công đoạn làm đất, chuốt, làm nguội… với sự hỗ trợ của các công cụ: thêu, nề đất, bàn chuốt, bàn xên, gót chân, vòng vá nhắm, dợ sát, trang, cái lù, tre dồn… và nung trong những dạng lò sấp hay lò ngửa. Đôi tay của người thợ Phước Tích cho ra đời nhiều sản phẩm từ hàng trăm năm nay có mặt trong mọi gia đình Huế dưới dạng các loại đồ đựng như: lu, hông, ảng, hủ, độc, trình, thống…; các loại đồ nấu như om, siêu, nồi, ấm; dụng cụ sinh hoạt khác như: bình vôi, bình hoa, dĩa dầu chuồng…; hay chiếc oa ngự dụng (om ngự) dùng trong buổi ngự thiện của nhà vua mà dân gian thường gọi là om cồi luôn là niềm kiêu hãnh của người dân xứ Cồn Dương.

Ngày nay, trước sự cạnh tranh của hàng nhựa công nghiệp, trên những gian hàng xén của làng quê miền Trung đã vắng dần hình ảnh thân quen của mặt hàng độc Phước Tích. Tuy nhiên, Phước Tích vẫn là ngôi làng được nhiều người biết đến, bởi sản phẩm thủ công của họ vẫn là vật gần gũi với mọi người trong một thời gian dài và cả trong ký ức.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phố đồ cổ vỉa hè tại Huế – 2
Khách đến xem đồ cổ
Huế có những hàng đồ cổ bình dân trên phố. Người ta có thể tìm thấy ở đây nhiều món đồ từ bình dân tới cao cấp.
Đến Huế, nếu tò mò, đành phải gạt “tâm hồn ăn uống” sang một bên, ta ghé lại đoạn vỉa hè ven phố Trần Hưng Đạo ấy xem người ta bày bán thứ gì mà lặt vặt, mà tỉ mỉ nhường kia. Hóa ra bên cạnh mấy món đồ bình, lọ bằng đất nung còn có thật nhiều chén bát, đồ đồng, đồ sứ… Giọng Huế của chàng trai bán hàng khiến ta không thể không dừng xe, tắt máy: “Vô coi đồ cổ đi mấy chú! Toàn đồ nội phủ đó!”…
Đồ cổ bình dân
Những món đồ cổ được bày bán trên vỉa hè
Đoạn vỉa hè râm mát, những món đồ cũ kỹ, nhỏ xinh nằm im lìm làm không khí chung quanh đoạn phố càng như yên tĩnh thêm. Chỉ có hai “cửa hàng” như thế trên phố Trần Hưng Đạo trên vỉa hè của thành phố Huế. Bày bán ngay trên những tấm nilon cách nhau một quãng chừng 500m, hai ông chủ trẻ dường như thèm người để nói chuyện. Vừa nhác thấy bóng người dừng xe, không kể già hay trẻ, là tiến tới thuyết minh liền: “Cách đây hơn 400 năm, tức năm 1601 đó chú, tiên chúa Nguyễn Hoàng đã không nhầm khi quyết định dừng vó ngựa bên bờ Linh Giang. Linh Giang chính là con sông Hương đằng ni kìa…” Thật kỳ lạ, lịch sử của một xứ Đàng Trong mà ngay một người dân bình thường cũng thuộc như thuộc đường chỉ trên lòng bàn tay. Chàng thanh niên khoảng 27, 28 tuổi cười hiền lành: “Giỏi giang chi mô, chú. Con làm nghề này thì phải đọc sách, phải tìm hiểu thôi, con còn có thể kể cho chú lai lịch của từng món đồ ở đây kìa…” Trên nền gạch lát vỉa hè cũ xỉn, trong thấp thoáng bóng nắng chiếu qua vòm lá, những chén, đĩa, bát, lọ, bình, ấm, âu, liễn, nậm, hũ… tỏa ra một thứ sức hút kỳ lạ, sức hấp dẫn của thời gian và những thăng trầm lịch sử. Rồi còn cả bình vôi, điếu bát bằng gốm bịt đồng tinh xảo, những thứ mà thanh niên thời nay có nhìn thấy chưa chắc đã biết gọi tên. Khiêm tốn hơn, ở một góc là “đồ cổ của Tây” bao gồm tẩu thuốc, huân chương, mặt dây chuyền, thìa đĩa, bật lửa…, hầu hết là bằng đồng.
Giá cả tùy từng loại, có mặt dây chuyền hình nữ thần mặt trời giá 40.000 đồng, có những chiếc đĩa lam vẽ hình hoa cúc, chuồn chuồn, chữ Thọ… giá từ 300.000 – 500.000 đồng. Đôi khi, chỉ thỉnh thoảng thôi, anh chủ hàng tìm được một chiếc bình quý của người Chăm, hay bình men ngọc của đời Lý, bán được tới gần chục triệu. “Đồ cổ thiệt chứ không phải là đồ giả mô chú! Món “trẻ” nhất của con ở đây cũng trên trăm tuổi rồi, con không nói giỡn chơi đâu. Giá rẻ bèo vậy là có lý do. Đây là những món đồ lâu đời, nhiều tuổi, nhưng là những vật dụng của người dân thường, những đồ dùng sinh hoạt của người dân trong cuộc sống hàng ngày, hoặc là đồ nội phủ, tức là đồ dùng trong những gia đình quan lại, chứ không phải là đồ Ngự dụng, không phải đồ trong cung cấm. Những đồ dùng của vua chúa, hoàng hậu, hoàng phi đó bày bán trong các cửa hiệu to, giá cả cũng “to” luôn đó chú…”. Bên cạnh chúng tôi,  một cụ già tóc bạc dường như không để tâm lắm đến lời giới thiệu của cậu bán hàng trẻ tuổi. Cụ đang nâng trong tay một chiếc điếu bát có viền bằng đồng chạm, soi lên trong nắng. Trước đôi mắt mờ đục đang nheo lại xa xăm, món đồ dường như lung linh, bí ấn…
Góc phố ngược thời gian
Đợi lúc vắng khách, chàng trai kể: Nhà anh có 10 chiếc ghe, thuê một đội thợ để chuyên đi mò đồ cổ. Ghe thuyền đi khắp nơi, có chiếc ngược lên tận Hải Dương,  Vân Đồn, có chiếc chuyên quanh quẩn ở vùng Cửa Đại… Người thợ lặn đeo kính, tay cầm một mảnh thiếc, lặn xuống thiệt sâu ở những nơi có nước xoáy, hy vọng mảnh thiếc chạm vào được vào một vật gì phát ra tiếng kêu thanh thanh… Bán những món đồ cổ bình dân này, lời lãi không cao, chỉ đủ chi trả cho ghe thuyền và đội thợ. Muốn bán có lời thì phải thuê được cửa hiệu, phải có đường dây chuyên giới thiệu khách ham sưu tầm. Nhiều người rất thích đồ cổ của thường dân, nhưng những nhà sưu tầm lớn, những người lắm tiền thì lại chỉ tìm mua đồ ngự dụng thôi. Với lại, khách hàng toàn là người am hiểu, hoặc là khách quen, nên anh không dám nói thách… “Nhưng cái nghề này cũng ngộ lắm đó chú. Con đọc nhiều sách, đọc cả tạp chí Cổ vật tinh hoa, riết rồi hình như… thông minh ra,” chàng trai cười và ngượng nghịu gãi đầu. “Có nhiều lúc, kiếm được chiếc bình hay lọ hoa quý mà bị bể, bị khuyết một miếng, con ngứa chân ngứa tay đem sửa lại. Con mài đi cho bớt sứt sẹo, hay mang đi bịt đồng, hoặc nhờ thợ gốm vá lại… Tưởng vậy thì ngon ăn hơn, ai dè khách mua lại chê. Họ thích những món đồ còn nguyên vết thời gian, còn chân thật kia. Chỉ “giả” một chút là cũng không ai thích đâu, chú ạ…”.
Lục lại chút kiến thức lịch sử còn sót lại trong đầu, chúng tôi nhớ rằng gốm sứ Đại Việt nổi tiếng với ba dòng gốm men chính, là: gốm men ngọc thời Lý, gốm men mầu ngà hoa nâu thời Trần và gốm men trắng hoa lam thời Lê. Tại góc vỉa hè dường như bị thế gian lãng quên này, những đại biểu bình dân của một thời quá khứ xa xưa ấy vẫn hiện diện. Có những chiếc đĩa trang trí hoa dây, hoa mẫu đơn hay hoa sen nét vẽ rất giản dị mà tinh xảo, lòng đĩa hơi rạn vết chân chim. Những chiếc bình của người Chàm, không hiểu ngày xa xưa nó có công dụng chính là gì mà kích thước nhỏ xíu xiu, bằng đất nung mầu còn nâu tươi như mới. Các kiểu bật lửa, tẩu thuốc theo những chuyến tàu viễn dương đầu tiên đến Việt Nam, giờ vẫn còn lấp lánh ánh kim loại, trông như bằng vàng. Những món đồ cũ kỹ, mờ xỉn, sứt sẹo, những chiếc bát mà hàng trăm năm trước có một người dân bình thường nào đó đã dùng sao thấy chúng đáng quý, đáng trân trọng đến thế.

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »