Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘hình tượng rồng’

Con rồng Việt Nam qua tác phẩm điêu khắc nghệ thuật “Ông Rồng”

Nhân dân Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình xây ngôi miếu trong khu đền thờ Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh, đặt rồng đá khai quật từ lòng đất lên bệ thờ, quanh năm hương khói, tôn vinh là “ông Rồng”

Một ngày cuối năm 1992, cụ Phan Đình Phô (mất 1993 hưởng thọ 78 tuổi) người Bảo Tháp dọn gạch vỡ, đá quanh đền, thấy một hòn đá dưới gốc cây bàng trước cổng đền nhô lên, liền lấy xà beng đào bới. Lạ thay, cụ Phô đào bới hồi lâu, mở rộng miệng hố thấy lộ ra khối đá lớn được đẽo, chạm đường nét tinh sảo, cụ lấy làm mừng, cố sức khoét sâu, mở rộng miệng hố thì thấy lộ nguyên hình đầu rồng. “Tiếng lành đồn xa”, bà con trong xóm kéo đến giúp sức và báo hiện tượng lạ với ủy ban nhân dân xã Đông Cứu. Trai tráng lực lưỡng nườm nượp kéo đến hợp sức, người dùng đòn tre khiêng, người dùng xà beng, thanh gỗ làm đòn bẩy, chẳng mấy chống rồng đá ước chừng 3 tấn được chuyển lên sân đền.

Rồng đá được đẽo, chạm miêu tả đầu, hai chân trước và một phần thân. Từ mặt đất lên đỉnh sọ rồng cao 0,76 mét, chiều ngang từ phải sang trái rộng 1,12 mét; chiều dọc từ trước ra sau dài 0,96 mét (xin lưu ý: số đo chia hết cho 8). Rồng được chạm vẩy; tai phải đặc, tai trái rỗng, hai chân trước gân guốc, mỗi chân xoè rộng 5 ngón nắm chặt hai khúc thân kéo vào trước ngực; đầu gục xuống, mắt trợn tròn, miệng há rộng để lộ hàm răng lởm chởm ngoạm khúc thân, quằn quại. Về tầm cỡ rồng đá, ông Lê Viết Nga – Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh khẳng định: “Rồng đá to nhất khu vực Đông Nam á”. Về thời điểm lịch sử và ý tưởng của nhà Điêu khắc gửi gắm qua tác phẩm này, có nhiều giả thiết khác nhau. Song về thời điểm lịch sử qua hình tượng rồng Việt Nam, sách đã từng chép như sau: Rồng thời Lý “Mào, mũi và bờm là những thành phần cơ thể được cấu tạo rất sinh động, bằng những nét độc đáo và được mang theo một ý thức nhất định: Mào thoát ra từ môi đến đường sống quyện với răng nanh, xoắn xuýt, rung rinh bốc lên như ngọn lửa; bờm ở sau gáy cuồn cuộn bốc lên nhiều đợt từ cổ họng, cùng với túm râu ở hàm dưới đều uốn lượn nhịp nhàng như làn sóng và bay lướt tựa lá cờ đuôi nheo được gió, mũi cấu tạo bằng những đường cong xếp chồng nhau phập phồng gây ra ấn tượng về nguồn nước…”. Rồng Thời Trần “Thành phần cấu tạo của đầu rồng không chặt chẽ như trước: Văn dạng xoắn ốc đôi không thể vắng ở bất cứ con rồng nào thời Lý, thì nay mất dần, bờm và râu kém nhịp nhàng, mào không linh lợi, dần mọc thêm cái tai và cặp sừng cùng kiểu với cái mũi biến dạng đều thuộc về loại thú bốn chân”. Rồng thời Lê “Đầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, tai thú, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón”. Rồng đời Cảnh Hưng (1740-1786) “Thể hiện yếu ớt, mảnh khảnh, đi vào công thức cân đối khô khan kết hợp với chạm nông, nên hình bẹt và cứng, lại bị biến dạng rắc rối. Râu rồng thường bố trí đều đặn, đuôi cong xoắn lại hình xoáy ốc”. Rồng nhà Nguyễn “Gượng gạo, ngơ ngác, chắp vá, vụn vặt, cố làm ra vẻ nghiêm chỉnh mà không đường hoàng được, bộ mặt trở thành gớm ghiếc, đe dọa… thường xuất hiện với phượng, lân, rùa để hợp thành bộ “Tứ linh” (Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo, Chu Quang Chứ – NXB Mỹ thuật 2001, trang 307, 309, 310, 314, 315). Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển con rồng có một tính cách riêng, phù hợp yêu cầu thời điểm lịch sử xã hội. Nó chính là thứ ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình, giúp chúng ta nhận biết tương đối chính xác thời khắc ra đời của các công trình kiến trúc, điêu khắc, và hội họa được sáng tạo không ghi niên hiệu.

Con rồng trong dân gian gắn với cội nguồn nòi giống “Con rồng cháu tiên”. Về nguồn gốc người Việt sách chép rằng “Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con trai của Kim Dương Vương. Vua lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh ra trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: Ta là giống rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về miền Nam (có bản chép về Nam Hải). Phong con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi vua (Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập I – NXB Văn học, trang 63). Mặt khác, rồng còn hàm chứa ý nghĩa của sự phồn thực, những mong mưa thuận gió hoà, rồng phun nước tưới cho cây trồng tốt tươi, bởi cư dân nông nghiệp. ý nghĩa xã hội của con rồng trong dân gian dần mờ nhạt, khi mà ý thức hệ nho giáo phong kiến nhà Lê giữ địa vị độc tôn thì vua chúa lấy con rồng làm biểu tượng uy nghiêm của ngôi báu, điều này được các sách chép, như sau “Con rồng truyền thống Việt Nam bị ức chế, phải tiếp nhận nhiều chi tiết ở rồng Trung Quốc và lộ rõ tính tượng trưng cho uy quyền nhà vua” (Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ Thuật Phật giáo, Chu Quang Chứ – NXB Mỹ Thuật, trang 309). “Từ đời Hán Cao Tổ, con rồng 5 móng là biểu tượng cho uy quyền nhà vua – thiên tử. Hình tượng rồng có ở trên áo bào, ngai vàng và các vật khác. Hoàng tử, con trai trưởng kế vị ngai vàng cũng được sử dụng hình tượng rồng 5 móng” (Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ, Tiến sĩ Nguyễn Văn Cung – NXB Văn hóa Thông tin, trang 216).

Quá trình miêu tả và phân tích trên, cho phép chúng ta nhận định rồng đá được đẽo chạm vào thời Lê. Nhà Điêu khắc tài hoa đã gửi gắm ý tưởng sâu sắc qua rồng đá khái quát hình tượng vua Lý Nhân Tông đớn đau, quằn quại tự giầy vò cõi lòng sâu thẳm về sự đã rồi, bởi vua chỉ bằng một tai nghe lời đường mật của kẻ xiểm nịnh lỡ đầy đọa thầy học của mình, dập vùi hiền tài của đất nước (Trạng nguyên Lê Văn Thịnh hầu Lý Nhân Tông học thuở nhỏ, khi xảy ra nghi án hồ Dâm Đàm, ông ở cương vị Thái Sư, bị Lý Nhân Tông bắt đi đầy ở trại Thao Giang). ý tưởng và giá trị nghệ thuật của rồng đá của nhà Điêu khắc xem như lời nhắn gửi các bậc vua chúa, quan lại và người đời, khi giải quyết bất kỳ công việc lớn, nhỏ đều phải thận trọng nghe bằng hai tai, phải xuất phát từ thực tế khách quan, công tâm, sao cho thấu tình, đạt lý.

“Ông Rồng” – tác phẩm nghệ thuật Điêu khắc độc đáo, một chứng tích lịch sử, một thông điệp gửi người đời để thấy mù sương Dâm Đàm tan biến, thấu hiểu Lê Văn Thịnh trung thần oan nghiệt.


Nguyễn Thượng Luyến – Hội Mỹ Thuật Việt Nam

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Rồng phương Đông và Rồng phương Tây

Rồng, ra đời ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của con người, nhằm nhận thức và khám phá thế giới. Cả phương Đông và phương Tây đều có biểu tượng rồng, song do đặc điểm của mỗi nền văn hóa mà rồng phương Đông có những nét khác rồng phương Tây.

Nguồn gốc và các truyền thuyết về rồng; ý nghĩa tượng trưng của biểu tượng rồng; Việc tìm hiểu những nét khác biệt của biểu tượng này ở phương Đông và phương Tây tuy có được nhắc đến trong một số nghiên cứu, nhưng chưa được làm rõ một cách hệ thống và toàn diện. Chính vì truyền thuyết cũng như hình tượng rồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, nên có thể sử dụng nó như một cứ liệu để tìm hiểu về truyền thống văn hóa phương Đông và phương Tây; cũng như sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Phương pháp sử dụng là so sánh type, motip của truyền thuyết; tính chất biểu tượng rồng; hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình.

orientaldragon

1. Sự nhìn nhận của phương Đông về rồng

Rồng, một biểu tượng văn hóa, ra đời từ sự nỗ lực của con người trong việc tìm hiểu và nhận thức thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, ở hai nền văn hóa Đông và Tây, sự nhìn nhận về rồng lại được quyết định bởi bản chất và đặc thù của mỗi nền văn hóa. Nếu phương Tây coi rồng là biểu tượng cho sự xấu xa, độc ác, là đối tượng mà con người cần phải chinh phục; thì ngược lại phương Đông lại xem rồng là biểu tượng cho sự tốt đẹp, may mắn và thịnh vượng. Rồng trong truyền thuyết, huyền thoại phương Đông thường được mô tả khác với rồng của phương Tây cả về dáng dấp và tính khí.

Ở phương Đông, rồng là biểu tượng của bản nguyên tích cực và sáng tạo, là sức mạnh của sự sống. Nguồn gốc sâu xa của biểu tượng này là do điều kiện tự nhiên (địa lý – khí hậu) và xã hội (lịch sử – kinh tế) qui định. Môi trường sống của các cộng đồng cư dân ở phương Đông là xứ nóng, mưa nhiều, tạo nên những vùng đồng bằng nằm trong các lưu vực các con sông lớn. Yếu tố sông nước quan trọng với người phương Đông, vì vậy họ đã sáng tạo rồng với ý nghĩa đầu tiên là biểu tượng cho nước – sự phong đăng, mùa màng bội thu. Cả hai mặt hoạt động có lợi cũng như phá hoại của nước đều được xem là do rồng thúc đẩy. Cũng chẳng có gì là lạ khi những vị thần đầu tiên trong tín ngưỡng xa xưa của phương Đông là những vị thần có liên quan đến nước. Mùa màng bội thu hay không là phụ thuộc vào yếu tố nước. Do đấy, thần nước cũng chính là thần Rồng. Quan niệm của phương Đông về rồng trong buổi đầu là: Đấng tối cao của không khí/ Hơi thở mầu nhiệm của người toả khắp/ Điều khiển mây/ Chứa đựng khí ẩm ướt/ Làm mưa dịu mát trái đất (1). Theo Ernest Ingersoll: “Khái niệm nằm trong chữ “rồng” có từ lúc bắt đầu những suy nghĩ được ghi lại của con người về những điều bí ẩn của nhà tư tưởng và thế giới của anh ta. Nó gắn liền với những quyền lực và hành động của các vị thần đầu tiên, và giống như những quyền lực cùng hành động đó, nó mơ hồ, dễ thay đổi và mâu thuẫn trong các thuộc tính của nó, chỉ duy trì từ đầu đến cuối một đặc điểm có thể xác định – kết hợp với nước và kiểm soát nước”(2).

Sau này, trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc phương Đông, rồng dần được gán thêm các ý nghĩa mới phù hợp với tính chất của thời đại như biểu tượng nguồn gốc dân tộc, vương quyền, cao sang, may mắn, thịnh vượng,…

Ở Trung Hoa xưa, người ta xem rồng là tinh linh núi, là thần linh bảo hộ năm vùng, nghĩa là bốn phương và vùng trung tâm; là kẻ bảo vệ năm hồ bốn biển (có nghĩa là mọi hồ, mọi biển). Về khả năng của rồng, trong dân gian Trung Hoa có rất nhiều truyền thuyết cho rằng rồng có khả năng hô gió gọi mưa, có thể đội sông lật bể, gọi mây che mặt trời. Đối với người Nhật, con rồng là chủ yếu trong những vật lý tưởng ở Nhật Bản. Đối với người Triều Tiên, rồng là một trong bốn con vật siêu tự nhiên có phép lạ. Nó là hiện thân của mọi sức di động, thay đổi và năng lực để tiến công. Về mùa xuân, nó bay lên trời, và về mùa thu nó náu mình dưới đáy nước sâu. Ngày xưa người Triều Tiên tin là các sông suối cũng như các đại dương bao quanh Triều Tiên là nơi ở của một con rồng, và người dân thường cứ đúng kỳ lại thờ cúng quyền lực này. Sự quan trọng của việc biểu lộ niềm tôn kính hình thức lớn đến thế với rồng là do rồng kiểm soát mưa và cần được người ta làm cho vui vẻ để cho mùa màng khỏi bị nguy hiểm vì mưa không đủ, hơn nữa nó có khả năng làm phiền nhiễu nhiều cho những người chèo thuyền và những thủy thủ ở biển khơi trừ khi nó được người ta làm cho dịu lòng một cách thích đáng. Do đó, không những các người dân nông thôn và người làm ruộng ở nông trại, mà cả chủ tàu bè muốn có thời tiết thuận lợi để đi xa, đều làm lễ cầu an; không những các chiến thuyền lớn, mà cả các thuyền chở hàng hóa, thuyền đánh cá, đò, phà,… đều mỗi loại làm một thứ lễ riêng để đảm bảo an toàn. Lễ đó được coi như một thứ cống nộp cho thần nước. Đối với người Việt Nam, trong ký ức dân gian thần mưa và thần nước mang hình hài một con rồng to thường xuyên ra biển Đông hút nước mang vào đất liền tưới tắm cho đất đai.Rồng là nguồn nước tưới cho ruộng đồng tốt tươi và giúp nhà nông hình thành kinh nghiệm dân gian: Rồng đen lấy nước thì nắng/ Rồng trắng lấy nước thì mưa…

Được xem là vua của tạo sinh động vật, nên dễ hiểu rồng là biểu tượng của điềm lành, sự may mắn và tốt đẹp đối với phương Đông. Trong truyền thuyết, thần thoại của phương Đông, dù cốt truyện có khác nhau nhưng rồng bao giờ cũng ẩn chứa ý nghĩa là một biểu tượng cho sự cao quý tốt đẹp. Đối với một số quốc gia phương Đông, rồng là biểu tượng cho nguồn gốc dân tộc. Người Việt xưa tự hào mình là “Con Rồng cháu Tiên”. Tộc Hạ có tô tem rồng và cũng xưng là “Tộc rồng”(3). Bà mẹ thủy tổ của dân tộc Khơme là con gái vua huyền thoại Naga, một động vật huyền thoại có tính cách như rồng. Nữ thần Pônaga (còn gọi là Pô Nưga) là bà tổ của người dân Chămpa. Các vị thần nói trên vừa mang ý nghĩa biểu tượng của sông nước, vừa mang ý nghĩa phong đăng gắn với các nghi lễ nông nghiệp, vừa mang ý nghĩa về nguồn gốc dân tộc. Rồng hiện lên là điềm báo đất nước sẽ có vị minh quân hay hiền nhân, hoặc tôn phong những triều đại tốt đẹp. Thế kỷ XI, vua Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La và đã đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long để thể hiện khát vọng và tư thế vươn lên của một dân tộc. “Thế kỷ XV, vua Xêthathilat cho dời kinh đô từ Luông Pha băng ra Viêng Chăn và đặt tên thủ đô là Xỉ Xattanahutta, có nghĩa là kinh đô của hàng triệu con rồng nhằm biểu dương sức mạnh của vương quốc (4).

Đối với phương Đông, rồng được xem là con vật nằm trong cung hoàng đạo, trong số 12 con vật. Rồng hiện diện trong nhiều loại hình nghệ thuật như trong múa, kịch; trang trí trên điêu khắc, kiến trúc… Múa rồng là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của phương Đông, nhất là ở các vùng nông nghiệp trồng lúa nước. Hầu hết các quốc gia phương Đông đều có điệu múa rồng vào các ngày lễ Tết cổ truyền. Rồng mang màu sắc rực rỡ, uốn lượn theo nhịp trống rộn rã tạo không khí hội hè, biểu thị niềm vui sướng, hạnh phúc cho tất cả mọi người, cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu… Ngày đầu năm mới ở Inđônêxia, một đoàn người trẻ tuổi đội lốt rồng bằng giấy nhảy múa trên đường, trong khi những người dân đổ dồn ra ở các cửa sổ dâng lên rồng những mớ rau cải xanh mà nó nhai ngốn trong niềm vui lớn của mọi người. Bộ phận người Inđônêxia ở Hà Lan vẫn duy trì nghi lễ hàng năm này trên các đường phố Amsterdam.

Quan niệm rồng là cao quý, tốt đẹp đã dẫn đến ở phương Đông thời kỳ xa xưa có nơi người ta coi những xương hóa thạch từ lâu là bộ xương cũ kỹ của những con rồng và đã sử dụng chúng như một dược liệu để chữa bệnh.

Cho đến ngày nay, theo thói quen khi nói về các quốc gia phát triển với ý nghĩa khen ngợi người ta vẫn sử dụng chữ “rồng”, chẳng hạn: Nhật Bản, Singapo, Đài Loan… được gọi là những con rồng châu á, hàm ý chỉ về khả năng tiềm ẩn, sự vượt trội…

Nhìn chung, rồng mang ý nghĩa tốt lành ở phương Đông, tuy nhiên đôi khi cũng có những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn với người Nhật, rồng bên cạnh ý nghĩa nguồn nước, mùa màng phong đăng, thì còn là biểu hiện của cái xấu. Thần Fudô khuất phục một con rồng chính là đã thắng sự ngu dốt và tối tăm. Đó là biểu hiện về sự pha trộn, ảnh hưởng của biểu tượng rồng phương Tây với biểu tượng rồng phương Đông.

Về hình dạng, rồng phương Đông là sự hỗn hợp của nhiều loài động vật khác nhau: đầu lạc đà, sừng của hươu, tai của bò, mắt của thỏ, mình rắn phủ đầy vẩy cá, vẩy theo hàng xương rồng cho tới quanh mồm, đuôi rắn tận cùng bằng vây sắc nhọn, chân phối hợp giữa chân hổ và gót móng chim ưng, phần phụ ở vai và háng như những tia lửa, hơi thở của rồng bao gồm mây và nước. Số móng của rồng bình thường có bốn hàng, riêng rồng của nhà vua thì có năm hàng (5). Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có sự sáng tạo riêng của mình trong đề tài rồng. Chẳng hạn, mô típ Cửu long của Trung Hoa là dựa theo truyền thuyết Chín rồng giỡn nước. Tương truyền, thời xa xưa việc làm mưa gió là do một con rồng điều khiển. Nhưng nó không có cách nào để làm cho nơi nơi đều mưa thuận gió hòa. Rồng tâu với Ngọc Hoàng cử thêm mấy con rồng nữa để cùng nó điều khiển gió mưa. Ngọc Hoàng chuẩn tấu, sai tám con rồng nữa xuống hạ giới và phong cho con rồng ấy làm đầu đàn. Nhân dân khắp nơi vui mừng đón tiếp. Chín con rồng ăn uống thoả thích, say túy lúy, hăng hái làm gió mưa khiến khắp nơi lụt lội, nhấn chìm làng mạc. Rồi chín con rồng rủ nhau bay lên núi cao, rừng sâu ngủ một giấc dài. Khi nạn lụt qua đi, vào vụ mùa, người dân cầu có mưa thì chẳng được, kéo dài triền miên mấy tháng đại hạn không một giọt nước. Khi con rồng đầu đàn tỉnh giấc, nó cố sức gọi gió kêu mưa, còn tám con kia không con nào chịu hành động. Lụt lội, hạn hán làm cho nhân dân khắp nơi đau khổ, họ đồng thanh ta oán trời. Tiếng kêu của họ làm náo động cả Thiên đình. Ngọc Hoàng sai triệu chín con rồng về Thiên Đình, nhưng vẫn còn những con rồng đang chìm đắm trong giấc ngủ. Ngọc Hoàng tức giận truyền chỉ sai tám con rồng bay tám hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc và cử con rồng đầu đàn ở chính giữa, kiểm soát tám hướng. Từ đó, trần gian tuần hoàn theo bốn mùa xuân hạ thu đông.

Người Nhật Bản khi tạo hình rồng lại dựa theo quan niệm dân gian về các loại rồng. Họ cho rằng mỗi kỳ sinh nở con rồng cái đẻ ra chín con. Rồng thứ nhất ưa ca hát và thích mọi âm thanh êm ái, do đó đỉnh các chuông Nhật Bản được đúc hình con vật này. Rồng thứ hai thích âm thanh của nhạc cụ nên đàn koto hoặc đàn thụ cầm nằm ngang (horizontal harp) và trống suzumi – một thứ trống con gái đánh bằng ngón tay, được trang trí bằng hình con rồng này. Rồng thứ ba ưa uống và thích mọi thứ rượu, vì thế nó được dùng tô điểm cho cốc chén. Rồng thứ tư thích những chỗ cheo leo nguy hiểm, nên đầu hồi nhà, ngọn tháp, cùng các dầm mái chìa ra của đền chùa chạm hình tượng của nó. Rồng thứ năm hay giết hại các sinh vật nên được dùng trang trí cho các thanh gươm. Rồng thứ sáu ham học thích văn chương, hình nó dùng trang trí cho bìa sách. Rồng thứ bảy nổi tiếng về thính tai, nghe được những âm thanh êm đềm của lá cây, nên tất cả những lá cây dùng để chữa bệnh được bỏ vào chai ngoài vỏ có vẽ hình rồng. Rồng thứ tám ưa ngồi nên ghế thường chạm hình nó. Rồng thứ chín ham mang vật nặng, vì thế thường được tạo hình ở chân bàn. Như vậy, vị trí tạo hình của các con rồng là do quan niệm của người Nhật Bản quy định.

Đối với người Hàn Quốc, rồng là biểu tượng của sức mạnh tâm linh, của may mắn, phước báu và kiết tường. Trong ngôi chùa ngoài chức năng bảo vệ ngôi tam bảo, nó còn đem lại sự bình yên, giàu có và thịnh vượng cho con người. Biểu hiện riêng của rồng Hàn Quốc là thường cắp ngọc đỏ trong miệng hay trong lòng bàn chân tượng trưng cho trí tuệ và chân lý.

Hình tượng rồng của Phương Đông thường được thể hiện kết hợp với một vật hình cầu, mà người ta thường gọi nó là viên ngọc quý của rồng, có khả năng điều khiển được nước triều, chứa đựng thực chất tinh thần hoặc nguyên lý của vũ trụ. Do đấy rồng luôn tìm kiếm viên ngọc đó. Người ta cho rằng, viên ngọc phát triển từ trạng thái hơi qua trạng thái nước kết tinh thành ngọc sáng chói vô cùng. Viên ngọc là đặc trưng của thần thánh, có thể thâu lượm được nhưng phải trải qua quá trình khổ hạnh hàng thế kỷ. Thông thường trong nghệ thuật tạo hình, viên ngọc được trình bày như một vật hình cầu lơ lửng ngay gần miệng rồng để diễn tả ý rồng nhả ngọc, rồng chầu ngọc, hay rồng tranh ngọc… Cũng có ý kiến nêu lên giả thiết đó là hình mặt trăng. Bởi, “Trăng và nước thường gắn chặt nhau trong các thần thoại, do đó trăng có quan hệ chặt chẽ với những tác động gây màu mỡ nói chung”(6).

Nguyên nhân cơ bản khiến hình ảnh của rồng xuất hiện rộng rãi trong nghệ thuật tạo hình của nhiều dân tộc phương Đông, đó là: sự diễn tả ý nghĩa của rồng đã mang lại lý do tinh thần cho người nghệ sĩ và sự khao khát được thể hiện vẻ đẹp của rồng. Tất cả các khả năng hoàn hảo đều được gán cho rồng. Người ta tin rằng nó có thể sống và vận động trong cả ba môi trường: nước, không khí và đất. Hơi thở của rồng bao gồm lửa và nước, nhưng thường được cải biến thành mây xoáy trôn ốc. Sự khôn ngoan của rồng và quyền lực của nó vượt trội tất cả những con vật khác. Do đó, trong trí tưởng tượng của con người phương Đông rồng có thể biến hóa vô cùng, nó có thể thu mình nhỏ lại như con tằm hoặc trải rộng che kín cả mặt đất. Đấy chính là cơ sở để người nghệ sĩ tạo hình cho rồng. Những đặc điểm như thân dài lượn sóng, cuộn theo hình mây xoáy trôn ốc, nửa hiện hình, nửa không đã khiến cho người nghệ sĩ phương Đông xưa khi xử lý hình tượng rồng luôn có ý thức về vẻ đẹp của đường nét và giá trị của mảng đặc – rỗng. Đây là cơ hội đặc biệt để tạo ra những hình tượng nghệ thuật đẹp. Do đấy, trong mỹ thuật truyền thống phương Đông, rồng được sử dụng như một họa tiết trang trí phổ biến, mang tính chủ đạo trên công trình điêu khắc, kiến trúc hay các đồ dùng sinh hoạt…

Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, hình rồng có những sáng tạo riêng tùy theo tâm lý và văn hóa của dân tộc. Các dị biệt về hình tượng rồng tạo thành 2 cấu trúc chính: rồng có thân bò sát như cá sấu, hay rắn…; rồng có thân thú như hổ, sói…

Sự phân loại như vậy dựa theo cách thức xây dựng hình tượng rồng. Còn cách thức xây dựng hình tượng lại phụ thuộc vào yếu tố văn hóa. Khi dấu ấn văn hóa nông nghiệp mạnh mẽ thì phổ biến hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình thường gắn với kiểu 1 rồng có thân bò sát, khi tính chất giai cấp phân hóa mạnh thì gắn với kiểu 2 rồng có thân thú. Điều này có nguyên do là yếu tố nước gắn với văn hóa nông nghiệp, nên rồng thân bò sát phù hợp để diễn tả độ mềm mại, tính chất lượn sóng của nước, còn rồng thân thú lại biểu đạt được tính chất áp chế để đề cao uy quyền của giai cấp thống trị.

Từ đầu thế kỷ XX, các dân tộc phương Đông không còn quá chú trọng vào việc xây dựng hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình. Nhưng dù vậy biểu tượng rồng vẫn nằm sâu trong tiềm thức người phương Đông. Rồng vẫn là đề tài nghiên cứu thú vị. Ở khía cạnh nào đó, rồng vẫn là sự kích thích trí tưởng tượng đem lại tinh thần và cảm hứng cho con người.

2. Sự nhìn nhận của phương Tây về rồng

Trong khi phương Đông do tính chất văn hóa nông nghiệp mà xem rồng là chủ nguồn nước, canh giữ các suối, sông, biển, hồ; rồi sau này trở thành ý nghĩa nguồn gốc dân tộc, ý nghĩa vương quyền, ý nghĩa tượng trưng cho những gì cao quý tốt đẹp nhất trong đời sống con người; thì ở phương Tây, nơi mà người ta không quan tâm lắm tới việc có đủ nước mưa hay không cho vườn tược và đồng cỏ của mình, rồng lại mang ý nghĩa ngược lại, đó là sự phá hủy, độc ác và xấu xa. Trong văn hóa phương Tây, rồng được trình bày như thần linh của độc ác và phản Chúa trong đạo cơ đốc giáo.

occidentaldragon1

Vết tích cổ xưa nhất về rồng ở phương Tây nằm trong truyền thuyết Hy Lạp nói về Cadmus. Khi di dân đi khai khẩn, Cadmus được một con bò thần dẫn tới một địa điểm ở Boeotia. Khi ông ta phái người của mình đi lấy nước ở một con suối, tất cả mọi người bị một con rồng canh giữ ngọn suối giết chết. Sau đó, Cadmus đã giết chết con rồng, nhổ răng của rồng và gieo xuống mảnh đất. Một toán người có vũ trang mọc ra từ mỗi chiếc răng được gieo. Họ đánh và giết lẫn nhau cho đến khi chỉ còn năm người sống sót. Những người này giúp Cadmus xây dựng một tòa thành. Cuối cùng, tòa thành đó phát triển thành thị trấn Thebes. Năm người kia trở thành tổ tiên của tầng lớp quí tộc thành Thebes. Trong số đó có một người, mệnh danh là “con trai của rắn”, tên là Echion, cưới con gái của Cadmus làm vợ. Sau nhiều vụ rối loạn, vua Cadmus rút về Illyria, ở đó ông cùng vợ là Barmonia biến thành rắn, về sau chết đã được các thần đem lên cõi cực lạc.

Nhìn chung, huyền thoại về rồng của Hy Lạp là mẫu hình chung cho các câu chuyện về rồng của phương Tây. Thần thoại Hy Lạp mô tả rồng dưới nhiều dạng: có con rồng bảy đầu, có con rồng chín đầu chuyên ăn thịt con gái đẹp, có con trăm đầu mắt trợn trừng… Các chuyện kể về rồng hòa lẫn với những chuyện về người khổng lồ và quái vật. Các tích truyện về rồng phương Tây đều có một mô típ như sau: rồng có nhiều đầu, chuyên gieo giắc tai họa, chỗ ở trong hang, rồng bị chặt đầu, người anh hùng giết rồng để cứu cả một dân tộc hay nàng công chúa. Nhiều dân tộc châu Âu đều có tích truyện tương tự. Cổ nhất là tích tế sinh rồng có nội dung na ná như ở Hy Lạp. Trung tâm của tích truyện là: một tráng sĩ phát hiện có một cô gái đẹp (hay một nàng công chúa) sắp bị tế sinh cho rồng, chàng trai bèn giết con quái vật, chặt đầu nó, cắt lấy lưỡi rồi ra đi sau khi đã nói cho cô gái biết rằng chàng còn phải đi chu du khắp thiên hạ trước khi cưới nàng làm vợ. Qua nhiều năm xa cách, người tráng sĩ này trở về giữa lúc nàng công chúa này sắp bị gả cho một kẻ xấu, bởi lẽ tên này đã nhận rằng chính hắn là người đã giết được rồng. Người anh hùng đã chứng tỏ cho mọi người biết mình là ai bằng cách đưa lưỡi rồng ra và lắp từng lưỡi khớp với đầu rồng rồi kết hôn với công chúa. Từ truyền thuyết này đã tạo nên một tâm lý đối với người đàn ông phương Tây: tất cả các điều khủng khiếp trong cuộc đời được xem là những con rồng cần phải chiến thắng, nàng công chúa đang chờ mong thấy anh ta đẹp đẽ và quả cảm.

Trong truyền thuyết và thần thoại Hy Lạp, rồng còn là kẻ canh giữ Bộ lông Cừu Vàng và Khu vườn của các nàng Hespesride. Mô típ truyện này cũng rất phổ biến ở phương Tây và ngày nay vẫn được nhắc lại trong các bộ phim thần thoại về chủ đề đi tìm kho báu. Sự chiến thắng rồng mang ý nghĩa chinh phục một thế lực đen tối để mang lại nguồn của cải dồi dào.

Như vậy, nét nổi bật của rồng trong thần thoại phương Tây không phải là biểu tượng của điềm lành, chẳng dính dáng gì đến mưa cũng như sự sinh sản của đất đai. Song các câu chuyện về rồng vẫn thực sự hấp dẫn qua các cuộc phiêu lưu của những vị anh hùng để chinh phục con quái vật. Ý nghĩa ẩn đằng sau tích các truyện về rồng của phương Tây là coi rồng như hiện thân của sự xấu xa, độc ác, cần bị trừng phạt…; đối lập với rồng là nhân vật chính: các anh hùng địa phương, những người đã lừng danh trong nhiều huyền tích và thần thoại khác. Chuyện tiêu diệt rồng đã thêm vào kho công tích của các nhân vật này nhằm đẩy tầm thước anh hùng của họ lên cao nữa. “Nổi tiếng nhất trong những nhân vật hạ sát rồng có Persée, Mardouk, Hercule, Apollon, Sieg Fried, Saint Michel, Beowulf, Arthur và Tristan (7).

Trong tư duy người phương Tây, rồng mang dáng dấp kinh sợ, dọa nạt con người. Nó có thể phun ra lửa và phá hủy tất cả. Sức mạnh của rồng ở trong miệng và đuôi của nó. Các câu chuyện về rồng bay trên không lúc đêm và có khả năng khạc ra lửa rất phổ biến ở Na Uy, Đan Mạch, cũng như vương quốc Anh. Công trình của Ernest Ingersoll cung cấp cho ta một ví dụ về hình ảnh và quan niệm của người phương Tây về rồng với ý nghĩa lửa – sự hủy diệt qua câu chuyện thượng đế huấn thị anh chàng Job buồn phiền (8).

Khi đạo Kitô ra đời, trong huyền thoại cơ đốc giáo, rồng phương Tây trở thành hiện thân của quỷ dữ hoặc là đầy tớ của quỷ dữ. Các đầu rồng bị đập vỡ, các con rắn bị tiêu diệt là hình ảnh vĩnh cửu về cuộc chiến giữa cái thiện với cái ác trong quan niệm phương Tây. M.Drake nêu lên trong cuốn sách Các thánh và các biểu hiện của họ: “các con rồng xuất hiện ba mươi lăm lần gắn liền với ba mươi vị tử vì đạo và những người khác (9). Ngoài các tranh hình rất nổi tiếng về thánh Misen hay thánh Georges diệt rồng, chính Đức Kitô đôi lúc cũng thường được biểu hiện chân dẫm xéo xác con rồng. Sự khuất phục rồng của các vị thánh trở thành biểu tượng chiến thắng của cái thiện.

Hình tượng rồng phương Tây trong nghệ thuật tạo hình thời Trung cổ được thể hiện có cánh hoặc không có cánh, thân phủ đầy vẩy, trên lưng có gai nhọn, dáng tựa như một con cá sấu. Đến thời kỳ Phục hưng, trong một bức họa của Léonard de Vinci, rồng lại được mô tả như một con thú có thân hình của sói, miệng nhe nanh đe dọa, các lông trên thân khá dài hướng về phía sau.

Đối với họa sĩ phương Tây, rồng được vẽ ra trên tinh thần tạo một hình tượng mang dáng vẻ hung dữ và ác độc, là mối đe dọa đối với con người. Cách tạo hình rồng phương Tây đối lập với hình rồng phương Đông, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự xấu xa, ác độc, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự cao quý tốt đẹp.

Từ những điều đã trình bày, ta có thể nhận thấy những khác biệt về quan niệm và cách tạo hình rồng của phương Đông và phương Tây.

Các dân tộc phương Đông gắn bó với nền văn hóa nông nghiệp, thì thường tạo hình rồng trông hiền hòa bởi tâm lý ứng xử với tự nhiên là tiếp nhận và mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó; còn các dân tộc phương Tây gắn bó với nền văn hóa du mục lại tạo hình rồng hung dữ do tâm lý ứng xử độc tôn trong tiếp nhận và cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó.

occidentaldragon

Trong thái độ ứng xử với tự nhiên, người dân nông nghiệp phương Đông do phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, dẫn đến coi trọng rồng, đề cao rồng; còn người dân du mục phương Tây do cuộc sống nay đây mai đó, không cố định, có tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên đã dẫn đến tâm lý xem rồng là một biểu tượng cho những thế lực xấu xa cần được khuất phục.

Cũng cần phải thấy rằng đó là những nét khu biệt mang tính chất chung. Bởi lẽ, sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, khu vực, giữa phương Đông và phương Tây không thể không dẫn đến những ảnh hưởng về quan niệm cũng như cách tạo hình về hình tượng con rồng.

Biểu tượng rồng là vật thay thế, là chiếc cầu nối để con người có thể nhận thức và khám phá thế giới. Để diễn đạt biểu tượng, con người đã chọn lọc các bộ phận của nhiều loại động vật xây dựng nên hình tượng rồng – một động vật huyền thoại bí ẩn, hay nói cách khác là con người thông qua nghệ thuật tạo hình để nói lên những ước muốn và khát vọng của mình.

Với các dân tộc phương Đông, rồng là biểu tượng của sự cao quý tốt đẹp, thăng hoa và thịnh vượng, rồng xuất hiện là để thể hiện sự vươn tới cái đẹp chân – thiện – mỹ. Với các dân tộc phương Tây, rồng là biểu tượng của sự xấu xa, phá hoại,… tiêu diệt rồng có nghĩa là chiến thắng cái xấu, cái ác, cái tối tăm… qua đó biểu hiện một cách khác về vẻ đẹp của con người.

Cả hai cách nhìn nhận về rồng của phương Đông cũng như phương Tây đều góp phần thúc đẩy xã hội, giúp con người nhận thức và khám phá thế giới.

Bùi Thị Thanh Mai

_______________

1, 5. Katherine Ball, Những mô típ trang trí trong nền nghệ thuật Đông Phương, tập 1, tư liệu dịch của Viện Bảo tàng Mỹ thuật, 1974, tr.2.

2, 6, 8, 9. Ernest Ingersoll, Rồng và những hiểu biết về rồng, Đỗ Trọng Quang dịch, tư liệu của Viện Bảo tàng Mỹ thuật, 1928, tr.2, 54, 66, 87.

3. Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, Tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, tr.1061.

4. Võ Quang Nhơn, Thần thoại rồng trong cộng đồng Đông Nam Á, Tạp chí Văn hóa dân gian, 1982, tr.22-25.

7. E.T.C. Werner, Rồng (a dictionary of Chinese mythology), Nguyễn Từ Chi dịch, Tư liệu của Viện Mỹ thuật, 1980, tr.4.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Hình tượng rồng trong các triều đại Lý,Trần, Lê, Nguyễn

Là biểu tượng của sự cao quý, của sức sống vĩnh hằng và sức mạnh vũ trụ nên hình tượng rồng được sử dụng nhiều trong kiến trúc cung đình, đình chùa, trang phục vua chúa. Hình tượng con rồng cũng thay đổi theo dòng lịch sử qua các triều đại. Việc xác định phong cách thể hiện con rồng qua các thời kỳ sẽ là một căn cứ để xác định niên đại công trình kiến trúc nào đó.
Hình tượng rồng thời Lý

rong-thoily

Trên các hiện vật điêu khắc đá và gốm còn truyền cho đến nay, các nhà khoa họcchỉ thấy rồng tạc dưới dạng phù điêu, không thấy chạm chìm và chạm tròn. Đó là nhưng con rồng thân tròn lẳng, khá dài và không có vẩy, uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, rất nhẹ nhàng và thanh thoát. Các nhà nghiên cứu gọi đây là rồng hình giun hay hình dây và điều đập vào mắt mọi người là nó mang hình dạng của một con rắn.
Rồng thời Lý thường ngẩng đầu lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối. Một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên, có trường hợp răng nanh rất dài, uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc với vòi lên bao lấy viên ngọc.
Thân rồng dài, dọc sống lưng có một hàng vảy thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Bụng là đốt ngắn như bụng rắn, có bốn chân, mỗi chân có ba ngón phiá trước, không có ngón chân sau. Vị trí của chân bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau bao giờ cũng ở gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân đều có khủy phía sau và có móng giống chân loài chim.

Hình tượng rồng thời Trần

rongthoitran

Từ nửa cuối thế kỷ XIV, con rồng đã rời khỏi kiến trúc cung đình để có mặt trong các kiến trúc dân dã, không những chỉ có trên điêu khắc đá và gốm, mà còn xuất hiện trên điêu khắc gỗ ở chùa. Rồng cũng không chỉ có ở các vị trí trang nghiêm mà rồng còn có mặt ở các bậc thềm (như ở chùa Phổ Minh).

Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý, với các đường cong tròn nối nhau, các khúc trước lớn, các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đuôi rắn. Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau như rồng thời Lý. Có khi vảy lưng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi khi từng chiếc vẩy được chia thành hai tầng. Chân rồng thường ngắn hơn, những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng trống trên bức phù điêu. Và có sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay

Đầu rồng không có nhiều phức tạp như rồng thời Lý. Rồng vẫn có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng không uốn nhiều khúc. Chiếc răng nanh phía trước khá lớn, vắt qua sóng vòi. Miệng rồng há to nhưng nhiều khi không đớp quả cầu.

Rồng thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát, mạnh mẽ. Thân rồng thường mập chắc, tư thế vươn về phía trước. Cách thể hiện rồng không chịu những quy định khắc khe như thời Lý.

Hình ảnh rồng chầu mặt trời sớm nhất là trong lòng tháp Phổ Minh ( Nam Định) có niên đại khoảng 1305 -1310. Đôi rồng ở đây được bố trí trong một ô tròn, chạy ngược chiều kim đồng hồ, đầu ngoái lại chầu một vòng tròn nhỏ ở giữa. Thể hiện mặt trời dưới dạng một vòng tròn đơn giản.


Hình tượng rồng thời Lê

rongthoile1

Đến thời Lê, rồng có sự thay đổi hẳn, rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Mép trên của miệng rồng vẫn kéo dài nhưng được vuốt gần như thẳng ra, bao quanh có một hàng vải răng cưa kết lại như hình chiếc lá. Răng nanh cũng được kéo dài lên phía trên và uốn xoăn thừng ở gốc. Lông mày vẫn giữ hình dáng biểu tượng ômêga, nhưng được kéo dài ra và đuôi vuốt chếch lên phía sau. Trên lông mày và chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại. Rồng có râu ngắn và một chân trước thường đưa lên đỡ râu, tư thế thướng thấy ở các con rồng đời sau. Cổ rồng thường nhỏ hơn thân, một hiện tượng ít thấy ở những con rồng trước đó. Như vậy rồng mang dạng thú xuất hiện cuối đời Trần đã thấy phổ biến ở đời Lê Sơ nhưng vẫn còn mang dáng dấp truyền thống của loài rắn.
Hình tượng rồng thời Nguyễn
rongthoinguyen

Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
Ngày nay, hình tượng rồng tuy không còn mang tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật… Dù ở bất cứ thời điểm nào, rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.

Theo Non nước Việt Nam

Các bài đã đăng :

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »


Khái lược về Hình tượng Rồng các triều đại Nguyên – Minh – Thanh

“Rồng vốn là hình con Đằng của người Hạ, vốn là hình tượng đính ước, khi đi vào cuộc sống rồi trở thành vật tốt lành của giai cấp thống trị, đưa vào một nơi tối cao, tối quí.” Và trong Quảng Nhã Thích hỗ giải thích: “Long, quán dã – Rồng, bao trùm tất thảy” và Rồng đã vĩnh viễn trở thành hình tượng của hoàng đế hay hoàng quyền…

1. Rồng và Vương vị:

Rồng, hay đúng hơn là Hình tượng Rồng từ khi xuất hiện dường như đã được gắn liền với sự tôn quí. Một cuốn cổ thư là Dịch kinh viết: “Phi long tại thiên”. Ý nghĩa của lời này cũng có nhiều cách hiểu, nhưng hãy xem một lời giải thích gần gũi nhất: Sớ giải thích: “Phi long tại thiên, do thánh nhân chi tại Vương vị – Rồng bay lên trời, bởi bậc Thánh vương đang tại vị”. Sự biến chuyển ý nghĩa từ lấy sự biểu hiện (Có vua tốt thì có Rồng hiện hình) sang nghĩa hình tượng của Vua là Rồng (để xứng với vai vị Thiên tử) đã trở thành lề lối cho nhiều đời thống trị phong kiến về sau. Tuy vậy, những nguyên nghĩa của ý nghĩa này vẫn được thể hiện trong cách gọi một số niên hiệu của các bậc đế vương. Gần đây nhất, năm 1802, khi Vua Gia Long lên ngôi, ngoài việc Ngài lấy chữ Gia long đặt cho niên hiệu của thời đại mình cai trị mà còn có cách gọi khác là “Long phi”. Tất nhiên, cũng có thể thấy cách sử dụng này được dùng riêng trong hai đời đầu của một triều đại (Thái tổ, Thái tông) nhưng chủ yếu là sự tôn xưng của những thế hệ sau và cũng là niềm khao khát hy vọng cho mỗi triều đại – một vương triều Thánh trị. Nhà văn hóa lớn của Trung Quốc là Văn Nhất Đa cũng đã từng khảo chứng: “Rồng vốn là đồ đằng (biểu tượng) của người Hạ, trở thành hình tượng của sự đính ước, sau đi vào cuộc sống để trở thành vật may mắn tốt lành của giai cấp thống trị, được tôn lên nơi tối cao, tối quí.” Và trong Quảng Nhã Thích hỗ giải thích: “Long, quán dã – Rồng, bao trùm tất thảy” và Rồng đã vĩnh viễn trở thành hình tượng của hoàng đế hoặc hoàng quyền cho tới tận ngày nay.

2. Sự uy nghiêm của Rồng:

Lịch sử dài 5000 năm của dân tộc Trung Hoa luôn sùng thượng Rồng, rắn và luôn lồng cho chúng những sức mạnh siêu nhiên, với sự uy nghiêm thần bí bởi hình tượng của chúng là sự thể hiện của các hoàng đế. Nguyên sử qui định: “Nghiêm cấm mặc đồ có thêu hình Kỳ lân, loan phượng, thỏ trắng, linh chi, rồng hai sừng năm móng)” và đời Minh, Thanh thì vẫn như vậy. Hình tượng Rồng không chỉ được đại diện cho khuôn mặt của đức vua (Long nhan), mắt (Long nhãn), thân thể của đức vua (Long thể), … hay ân đức của ông (Long ân) khi ban phát cho triều thần, và còn được áp dụng vào cả những thứ mà đức vua thường sử dụng như áo (Long bào), giường (Long sàng),… đã được nhiều triều đại phong kiến phương Đông ứng dụng. Trong Minh sử, thiên Thực hóa chép: “Thời Minh Tuyên Đức, lấy hoa văn hình rồng làm đồ sứ tế khí”. Trong Văn minh hội điển cũng chép: “Năm Tuyên Đức thứ 8 (1433) cho tạo đồ sứ có trang trí hình long phượng 443.500 chiếc”… và cho tới Thời Chính Thống, triều đình cũng đã ban những sắc lệnh tạo tác trên đồ ăn bằng sứ có hình Cửu long, Cửu phượng, và lại còn tạo ra những bình hoa có rồng xanh nền trắng.

Như thế, hình tượng Rồng đã được tuyệt đối hóa cao độ. Hình tượng Rồng đã được vị trí tối cao tối quí trong quan niệm trị quốc của người phương Đông và đối với nghề gốm sứ, hình tượng Rồng đã được sử dụng một cách cao độ với những giá trị siêu hình, và tất nhiên, mặt trái của nó là sự trả giá bằng cái chết của những ai vi phạm vào điều cấm kị như sự việc năm 1599 (Minh Vạn Lịch thứ 27), chỉ vì sơ xảy khi sử dụng chiếc lọ sứ thanh hoa vẽ Rồng của anh thợ lò Đồng Tân đã bị viên hoạn quan Phan Trương được cử đến quản lý lò ngự diêu ở Cảnh Đức Trấn, thúc bách khiến anh thợ chỉ còn biết tìm cái chết trong lò nung ngàn độ.

3. Khái lược về Hình tượng Rồng các triều đại Nguyên – Minh – Thanh:

Cho dù là xuất thân là một con vật huyền thoại (hoặc được khái quát hóa của loài cá sấu, hay kì nhông nào đó) thì Rồng vẫn phải có một cái vỏ vật chất, và theo sự kéo dài mãi của lịch sử, sự biến dạng của Hình tượng Rồng đã khiến không mấy ai còn biết tới hình dạng ban đầu của chúng. Qua việc tổng hợp các tư liệu của chúng tôi về các hình trạng được các họa sĩ cổ đại thể hiện, chúng ta có thể thấy, sự biến dạng của Rồng qua từng thời đại là có sự khác nhau khá rõ rệt. Mõm rồng ngày càng ngắn lại tỉ lệ với thân ngày càng được dài ra (do ý thức hệ của các họa công từng thời). Sơ khởi, có lẽ Đồ hoạ kiến văn chí là một tư liệu cổ nhất có những ghi chép về hình trạng của Rồng: “Sừng như sừng hươu, đầu giống đầu lạc đà, mắt như mắt quỉ, hàm rắn, bụng trăn, vảy cá, móng ưng, chưởng tay như hổ, tai như trâu”… và hình tượng này luôn là những căn cứ cơ bản nhất để các họa công các thời kì thể hiện.

Hình tượng Rồng trên đồ gốm sứ có thể thấy là rất lâu, nhưng nếu chỉ tính là đồ chuyên biệt cho một triều đại thì rõ nhất bắt đầu từ thời Nguyên. Đặc điểm nhận dạng của Rồng đời Nguyên là chiếc đầu nhỏ mà tròn (nhỏ hơn đầu rồng đời Tống), số lượng của bờm rồng đời Nguyên thường là nhiều, nhưng cũng có thể ít. Do nanh tương đối dài mà hàm lại nhỏ khiến miệng rồng như được chia thành hình dài hoặc hình tròn, mép trên cong, nếu miệng há thì lưỡi vươn dài, mảnh, thân dài, móng dài mà cong móc vào trong, thường là ba, nhưng cũng có khi có bốn hoặc năm móng. Nếu năm móng thì tương đối nhỏ, đuôi dài nhưng nhọn, sắc màu đậm, đơn giản, ít khi có vẽ cùng hình ảnh nước, hình vẽ rất sinh động, bút pháp mạnh mẽ, khí thế rất uy dũng.

Thời Minh, sự biến chuyển hình trạng của Rồng có lẽ rõ nhất là từ thời Vĩnh Lạc, Tuyên Đức (1403-1434). Đầu rồng to hơn thời Nguyên, sắc màu đều đặn, mõm dài, mũi như mũi lợn nên còn gọi là Chư Bà long, răng nanh không những rất dài mà còn được phân hóa với nanh dưới và còn cong lên. Chiếc lưỡi dài vươn ra từ cái mồm khá rộng, ở thời kì đầu, lưỡi thường dài và nhọn, ở thời kỳ sau thì lưỡi đã nhỏ mà cong lại gần giống với Rồng thời Thanh, hai râu gập cong đối xứng hai bên mũi, ở hàm thường có hai hoặc ba chòm râu, bờm như những bó lông kết lại, ở thời kỳ đầu bờm ít, sau thì nhiều hơn, cong mà bay lên. Vẻ mặt Rồng được biểu lộ sự giận dữ đầy uy lực. Mắt rồng lúc này như mắt cá, trên đồ án thường được vẽ về một phía. Bộ phận móng như móng của chim ưng, thường là ba, bốn móng. Nếu năm móng thì đã là đồ chuyên biệt của quan diêu, thân đã được cách điệu, có vẻ to khoẻ hơn rồng thời Nguyên. Ở dân diêu, rồng phải vẽ rất giản dị, đuôi rồng thường to mà ngắn. Những họa tiết bổ trợ thường là sóng biển, lửa, mây hay hoa dây.

Ở thời Thanh sơ, sự chuyển biến của Hình dạng Rồng trở nên rõ rệt. Do nhan liệu và chất liệu đã có sự tinh chế và tính toán kĩ nên các đồ hoạ rất tinh mỹ, bút pháp nhuần nhuyễn, hình thức rất đa dạng, màu sắc tươi tắn, lớp lang rõ rệt. Do đại diện của một bộ tộc ngoài Trung Nguyên khiến quan niệm về Rồng đã được thay đổi. Sự biến chuyển ý nghĩa của hình tượng từ biểu tượng cho Hoàng đế đã nhập hẳn vào hình tượng của Hoàng đế. Tính nhân hóa của Rồng được nhấn rất mạnh. Đầu rồng rất to, đầu vuông trán rộng, mồm nhọn mà ngắn. Lưỡi tuỳ theo hướng của môi dưới mà cuộn lên, hàm trên hàm dưới đều có râu. Râu rồng thời Khang Hy thường như hình răng cưa, về sau thì phân ra hai chòm râu như râu dê, bờm thì tung ra sau hướng lên trên, hai râu dài cuộn xoắn hai bên mũi. Thân rồng thường theo nguyên tắc Tam ba cửu chiết (Lượn ba lần, cuộn chín khúc), móng rồng tựa như móng gà, năm ngón xoè như cái chong chóng, không còn cảm thấy sự dữ tợn của thời Nguyên và Minh. Cho đến cuối Thanh thì hình Rồng đã biến dạng, nanh dài, thân rồng vặn khúc tùy hứng, vảy không còn lớp lang mà tựa như mắt lưới.

Dưới đây là một số sản phẩm gốm sứ ngự dụng ( imperial ceramics) trong ba triều đại Nguyên – Minh – Thanh minh họa mà bạn có thể xem tham khảo nhằm phân biệt. Click vào hình để xem full size:

 

Hoặc bạn có thể xem hình trong ” album hình toàn tập gốm sứ cổ TQ 5 & 6 ” để so sánh và phân biệt.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC


Read Full Post »