Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘hiệu đề’

VÀI GIAI THOAI VỀ VỊ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA XUẤT THÂN TỪ ĂN MÀY – CHU NGUYÊN CHƯƠNG

Minh Thái Tổ – Chu Nguyên Chương là người tay không dựng nghiệp lớn, đánh đuổi được người Mông Cổ, giành lại quyền tự chủ của người Hán. Bản thân không có một tấc đất nương thân, nhưng qua tự lực phấn đấu mà khai sáng được giang sơn Đại Minh gần 300 năm. Vì vậy, trong dân gian không chỉ ở Trung Hoa lúc đương thời, mà ở nhiều nước trong khu vực châu Á xưa cũng như nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại lạ lùng về ông.

Chén men đỏ dưới men vẽ hoa dây hoa mẫu đơn thời Hồng Vũ  – Bảo Tàng Cung Điện Quốc Gia Đài Loan.

 

I – Vị hoàng đế xuất thân từ ăn mày

Có thể nói, Chu Nguyên Chương là vị Hoàng Đế có một xuất thân khiêm nhường nhất trong lịch sử Trung Hoa. Xuất thân trong một gia đình bần nông, cha mẹ là những nông dân nghèo. Năm 16 tuổi, ông đi chăn gia súc thuê và không lâu sau thì bị chủ đuổi vì lén thui một con gia súc trong đàn để ăn. Năm 1344, một bệnh dịch tấn công làng nơi ông ở và giết chết cha mẹ cùng những người anh lớn chỉ trong vòng vài tuần. Chẳng bao lâu sau, ông phải tá túc làm sư ở một chùa để tránh nạn hạn hán và đói kém, nhưng chùa cũng không thể đủ sức nuôi hết các sư trong chùa, do đó ông lại phải rời chùa để kiếm sống trong 3 năm bằng cách đi ăn mày. Sau đó, ông lại trở về chùa làm sư trong 3 năm nữa. Chính trong thời gian này ông mới bắt đầu học đọc và viết. Cho đến một ngày khi một trong những sư sãi báo với chính quyền rằng ông có những mối liên hệ với một nhóm  băng đảng phản loạn mang tên Hồng Cân ( Khăn đỏ) khiến ông bỏ trốn và tham gia với chính nhóm phản loạn đó chiến đấu chống lại triều đình nhà Nguyên.

Trước khi nhà Minh được sáng lập, Trung Hoa nằm trong tay Nhà Nguyên (1271 – 1368), do người Mông Cổ cai trị. Dù đã Trung Quốc hóa, triều Nguyên vẫn là triều đại của kẻ chinh phục ngoại tộc, do đó trong thời kì này, xã hội Trung Quốc tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự kỳ thị của người Mông Cổ với người Hán chính là nguyên nhân số một dẫn tới sự chấm dứt của triều đại này. Sự kỳ thị này dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy của nông dân buộc nhà Nguyên phải rút lui về các thảo nguyên Mông Cổ. Tuy nhiên, một số nhà sử học như J.A.G Roberts (giáo sư ngành Lịch sử thuộc Đại học Huddersfield) lại chưa chấp nhận giả thuyết trên. Bên cạnh đó, còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến sự suy thoái của triều Nguyên như dưới thời Nguyên Huệ Tông, tiền giấy được phát hành quá nhiều khiến gia tăng lạm phát lên gấp mười lần. Ðặc biệt cuối đời Nguyên, người Mông Cổ ngày càng xa xỉ, trong khi đó nông nghiệp trở nên trì trệ, đê điều hỏng nặng không sửa chữa, các loại thiên tai thường xuyên xảy ra, dịch bệnh lan tràn, do đó nhân dân càng khốn khổ. Trong hoàn cảnh ấy, các hình thức tôn giáo như đạo Di Lặc, đạo Bạch Liên và Minh giáo đang âm ỉ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà

Năm 1351, đê Hoàng Hà nhiều lần bị vỡ, nhà Nguyên bất đắc dĩ phải điều 15 vạn dân phu đi đắp đê. Nhân cơ hội ấy, giáo trưởng đạo Bạch Liên là Hàn Sơn Đồng cùng đồ đệ của mình là Lưu Phúc Thông mưu tính việc khởi nghĩa. Ðể tranh thủ sự đồng tình của quần chúng, Lưu Phúc Thông phao tin rằng Hàn Sơn đồng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông từ Nhật Bản đem quân về đánh đổ triều Nguyên. Nhưng trong khi chuẩn bị khởi nghĩa thì kế hoạch bị bại lộ. Hàn Sơn Ðồng bị bắt và bị giết chết. Tuy vậy, Lưu Phúc Thông vẫn tiếp tục lãnh đạo khởi nghĩa.
Ðược tin Lưu Phúc Thông dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng, trong đó có những nhóm tương đối lớn như lực lượng của Từ Thọ Huy ở Hồ Bắc, Quách Tử Hưng ở An Huy. Quần chúng khởi nghĩa đều chít khăn đỏ làm hiệu nên gọi là quân Khăn đỏ ( Hồng Cân quân ). Khẩu hiệu đấu tranh của họ là đánh đổ nhà Nguyên, khôi phục nhà Tống.

Lúc đầu lực lượng khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông đã giành được thắng lợi to lớn, đã tôn con Hàn Sơn Ðồng là Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi lên làm vua, và đặt tên nước là Ðại Tống. Nhưng đến năm 1363, Lưu Phúc Thông bị Trương Sĩ Thành, một thủ lĩnh nông dân đã thuần phục nhà Nguyên, đánh bại.

Khi quân khăn đỏ của Lưu Phúc Thông đang tiến quân thuận lợi ở miền bắc thì nghĩa quân do Từ Thọ Huy lãnh đạo cũng thu được nhiều thắng lợi ở vùng lưu vực Trường Giang. Năm 1360, Từ Thọ Huy bị một viên tướng của mình là Trần Hữu Lượng giết chết. Trần Hữu Lượng tự xưng là vua, đặt tên nước là Hán. Năm 1362, một tướng khác của Từ Thọ Huy là Minh Ngọc Trân không phục Trần Hữu Lượng cũng xưng vương ở vùng Tứ Xuyên Vân Nam, đặt tên nước là Hạ.

Cũng trong thời kì này, lực lượng quân khăn đỏ do Quách Tử Hưng lãnh đạo không ngừng phát triển. Trong hàng ngũ họ Quách có một nhân vật về sau trở nên rất quan trọng, đó là Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương tham gia lực lượng khởi nghĩa do Quách Tử Hưng lảnh đạo năm 1352, đến năm 1355, Quách Tử Hưng chết, Chu Nguyên Chương trở thành người lãnh đạo chính của nghĩa quân. Chu Nguyên Chương là thủ lãnh duy nhất trong số các nhóm quân Hồng Cân là người có thể hiểu được ý nghĩa của việc đói khát. Ông không phí phạm bất cứ cái gì, ngay cả khi đã trở thành một thủ lãnh khu vực. Khi bộ đồ mặc ngoài đã quá cũ và rách ông vẫn dùng nó thay làm lớp áo phía trong, khi nó mòn thêm lần nữa ông lại thay vào lớp bên trong nữa cho đến khi nó không thể được dùng trở lại nữa. Khi một yên ngựa được trang hoàng bằng vàng và ngọc được đưa đến ông , ông từ chối và nói: “Tôi chịu trách nhiệm lãnh đạo vùng này, tôi cần binh lính và người dân, lúa gạo và quần áo hơn tất cả những cái khác, tất cả những của cải không phải là ước nguyện của tôi.”
Năm 1356, Chu Nguyên chương thành lập chính quyền ở Kim Lăng ( Nam Kinh ), được Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi  tiến phong làm Ngô quốc công, rồi đến năm 1364 thì xưng làm Ngô vương. Sau khi lần lượt đánh bại các toán quân của Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành… đến năm 1367, Chu Nguyên Chương đã thâu tóm hết miền Nam Trung Hoa rộng lớn.
Ngay năm đó, Chu Nguyên Chương sai tướng đem quân đánh miền bắc, đồng thời truyền hịch nói rõ mục đích của việc tiến quân là để đánh đuổi giặc Hồ, khôi phục Trung Hoa, lập lại cương kỉ cứu vớt nhân dân, khôi phục uy nghi cho quan lại người Hán.
Trong khi quân Bắc tiến không ngừng thu được thắng lợi, năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế ở Kim Lăng, đặt tên nước là Minh. Mùa thu năm đó, quân đội của Chu Nguyên Chương tấn công Ðại Ðô, triều đình nhà Nguyên vội vàng chạy lên phía Bắc, ra khỏi Trường Thành. Nền thống trị của nhà Nguyên ở Trung Quốc kết thúc. Tiếp đó, Chu Nguyên Chương tiêu diệt thế lực cát cứ của Minh Ngọc Trân và các lực lượng còn lại của triều Nguyên, đến năm 1387 thì hoàn toàn thống nhất Trung Hoa

II – Vị Hoàng đế khiêm nhường

Cuộc nổi dậy thành công và nhà Minh được thành lập năm 1368. Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế, tức là Minh Thái Tổ. Ông lấy niên hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu là Minh, xác lập quyền thống trị quốc gia cho gia tộc họ Chu. Ông đã đặt tên tân triều đại Minh của ông với hai lý do

  1.  Để biểu thị sự tôn trọng tất cả các chỉ huy của các nhóm quân phản loạn Hồng Cân – “Tiểu Minh Vương”. Bằng cách này tất cả những người phục tùng Tiểu Minh Vương cũng sẽ sẵn lòng đi theo nhà Minh của Chu Nguyên Chương.
  2. Minh là một Hán tự được  kết hợp từ hai chữ nhật và nguyệt – mặt  trời và mặt trăng. Các học giả Trung Hoa tin tưởng rằng các nhà cai trị đất nước luôn luôn tôn thờ mặt trời và mặt trăng , như vậy từ Đại Minh đã được dùng cho ý nghĩa tôn thờ này. Bằng cách này ông đã có thể chiếm được sự ủng hộ của các học giả cũng như nhiều giới khác .

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Chu Nguyên Chương vẫn giữ lối sống khiêm nhường như xưa. Một lần ông thấy hai thái giám trẻ tuổi trong cung đình mang những đôi ủng đi mưa mới và đi bộ tung tăng băng qua những đống bùn. Ông đã phạt họ với  lý do những người thợ làm giày đã phải tốn rất nhiều thời gian để làm đôi ủng đi mưa. Nếu những người hầu không quan tâm chăm sóc những đôi ủng là họ đã đi ngược lại ý chỉ của Hoàng Đế, ông sẽ phạt đánh gậy họ để họ nhớ không bao giờ quên. Lại một chuyện khác, có lần ông thấy một cung  nữ ném bỏ đi một đoạn lụa, ông đã triệu tật tất cả các cung nữ lại và khiển trách. Ông tính toán cho họ thấy phải tốn biết bao nhiêu thời gian để làm ra một cuộn lụa, bắt đầu từ việc sinh ra một con tằm, tằm nhả tơ cho đến khi hoàn thành được sản phẩm và rồi sau đó ông ra ý chỉ nếu việc này còn tái phạm thì sẽ không tha thứ mà sẽ bị chặt đầu. Liên quan đến các vật dụng nghi thức cho Hoàng Đế, ông đã ra lệnh phải hết sức tiết kiệm tiền bạc và phải tính toán kỹ lưỡng. Chẳng hạn nếu cái kiệu khiêng cần làm bằng kim loại vàng thì thay vào đó chúng được làm bằng đồng. Long sàng của Hoàng Đế chỉ là một giường bình thường với một khác biệt duy nhất là được khảm một con rồng bằng vàng.

Đồ án trang trí hoa cúc trên một đĩa thời Minh Hồng Vũ – Collection of Montague Meyer. Photo Sotheby’s

Một điều thú vị nữa chính là dưới thời Hồng Vũ, đồ gốm trong cung đình mặc dù vẫn được sản xuất nhưng không có sản phẩm nào được mang hiệu đề Hồng Vũ cả. Để chứng minh thêm rằng dưới thời Hồng Vũ không có đồ gốm sứ nào mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ, viện bảo tàng Nam Kinh đã khai quật mở rộng địa điểm cung điện của hoàng đế Hồng Vũ tại Nam Kinh và tìm thấy hàng ngàn mảnh vỡ, nhưng không có cái nào được mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ muốn tìm kiếm. Những món đồ cổ mang hiệu đề Hồng Vũ hiện nay được tìm thấy thực chất là do một nghệ nhân gốm sứ tên Yin-Chou-Sun làm. Yin-Chou-Sun chuyên làm nhái đồ gốm sứ thời đầu Minh vào năm 1937 – 1939. Ông ta đề dòng chữ ” Đại Minh Hồng Vũ niên Chế “‘ lên đồ gốm và trở nên rất nổi tiếng . Vậy nên một món sành sứ với hiệu đề Hồng Vũ thì  có lẽ đến 99,999 % nó là đồ giả. Cách hay nhất và đơn giản nhất để nhận dạng gốm sứ thời Hồng Vũ chính là gốm sứ sẽ mang phong cách nhà Nguyên, nhưng khác với phong cách truyền thống Nguyên. Điều này cũng được phản ánh trong các chính sách pháp trị thời Hồng Vũ, như là luật thuế thời ấy chỉ là ” những luật lệ thuế nhà Nguyên cải tiến ” những chính sách này có một chút xíu phong cách của nhà cai trị Minh.

III – Một vài luồng ý kiến khác về thân phận hoàng đế Chu Nguyên Chương

                                                                                     Xông trầm hình cầu thời Minh Tuyên Đế

 

 Vật dụng kê bút thời Minh Tuyên Đế sản xuất tại nam Giang Tây, mang ký tự Ả Rập nhưng lại có hình dáng liên hệ đến “Ngũ Đại Sơn” của Đạo giáo.

 

Nhiều nguồn cho rằng Hoàng đế Chu Nguyên Chương có xuất thân từ Hồi giáo. Yusuf Chang (Yusuf  là tên thường thấy của người Ả Rập, Chang là họ Trung Quốc), một người Hoa Đạo Hồi tại Đài Loan thừa nhận rằng mình là con cháu xa của Chu Nguyên Chương khi tổ tiên ông đã cưới một vị công chúa nhà Minh. Ông đã trình bày nhiều bằng chứng gây sửng sốt để dẫn chứng cho những  bí mật của tìn ngưỡng đạo hồi trong dòng tộc Đại Minh như sau :

  1. Khi Chu Nguyên Chương còn trẻ gia đình của ông chết vì dịch bệnh và ông đã chôn họ bằng cách cuốn họ trong vải trắng, cuốn người chết bằng vải trắng là phong tục của Đạo Hồi.
  2. Những cận thần gần gũi nhất của Chu Nguyên Chương là những người Đạo Hồi.
  3. Chu Nguyên Chương đã thông qua một đạo luật nghiêm khắc cấm rượu. Có lần Hoàng Đế đã ra lệnh xử tử con của một vị cận thần vì vi phạm luật này. Uống rượu cũng bị nghiêm cấm tại thế giới Hồi Giáo.
  4. Hoàng hậu Ma (vợ Chu Nguyên Chương) là một người Hồi Giáo. Đích thân bà nấu tất cả những bữa ăn cho Chu Nguyên Chương ngay cả sau khi ông trở thành Hoàng Đế.
  5. Màu biểu trưng hoàng gia của triều đại Minh là màu xanh lá, đây cũng là màu biểu trưng của Đạo Hồi .
  6. Chu Nguyên đã ra lệnh xây một ngôi đền Hồi Giáo tại Nam Kinh ngay khi ông lên ngôi và đích thân viết một bài thơ ca tụng Đạo Hồi và giáo chủ Mohamet. Bài thơ này được những người theo Đạo Hồi gọi là “syahada”  – tức tự bạch về lòng kiên trung của họ Chu về Đạo Hồi .
  7. Nhiều người Hồi Giáo đã lên được những thứ bậc cao dưới triều đại nhà Minh. Một ví dụ cụ thẩ nhất là đô đốc Trịnh Hòa. Yusuf Chang công bố rằng Trịnh Hòa được Hoàng Đế nhà Minh gởi đi để thực hiện nhiệm vụ giáo đồ nhân danh ông , bởi vì Hoàng đế không thể làm như thế, và vì ông muốn dấu kín bí mật tín ngưỡng của mình đối với số đông những người không phải là Đạo Hồi. Đạo Hồi cho phép thực hiện theo cách nhân danh này .
  8. Triều Đại nhà Minh đã thiết lập nhựng mối giao hảo tốt với nhiều quốc gia Hồi Giáo.
  9. Lịch Hồi Giáo là lịch được công nhận là lịch chính thức dưới triều đại nhà Minh.

Khánh Hòa – Thúy Nga – Hòa Bình

Việc sử dụng các bài viết trên xin vui lòng liên hệ  : 

thuyngastocks@yahoo.com    –      khanhhoastocks@yahoo.com

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Một số hiệu đề trên gốm sứ thời Quang Tự – Thanh Triều

Quang Tự (1871 – 1908), miếu hiệu là Đức Tông (德宗), thụy hiệu là Cảnh Hoàng đế (景皇帝), tên húy là Tái/Tải Điềm (載湉, Zǎitián), là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Hoa. Ông trị vì từ năm 1875 – 1908 với niên hiệu là Quang Tự. Ông kế vị Đồng Trị. Sau khi ông qua đời ở tuổi 38, Tuyên Thống hoàng đế tức Phổ Nghi kế vị ngai vàng. Phổ Nghi là vị Hoàng đế cuối cùng của triều Thanh. Thụy hiệu đầy đủ của Quang Tự sau khi mất là Thống Thiên Xương Vận Đạt Trung Chí Chính Kính Văn Uy Vũ Nhân Hiếu Duệ Chí Đoan Kiến Khoan Khâm Cảnh Hoàng đế (Tóngtiān Chóngyùn Dàzhōng Zhìzhèng Jīngwén Wěiwǔ Rénxiào Ruìzhì Duānjiǎn Kuānqín Jǐng, 同天崇運大中至正經文緯武仁孝睿智端儉寬勤景皇帝). ( wikipedia )

Một số hiệu đề trên gốm sứ thời Quang Tự – Thanh Triều

..

Guangxu reign markGuangxu
Hiệu đề: “Quang Tự niên chế”
Guangxu
Hiệu đề: “Quang Tự niên chế”
Lingzhi fungus markHiệu đề nấm linh chi trên một đĩa sứ thời Quang Tự

Ký hiệu hình nấm này chủ yếu được dùng dưới thời nhà Minh và triều Thanh Khang Hy, nhưng thông thường là màu lam

Hiệu đề nấm linh chi trên một đĩa sứ thời Quang Tự Ký hiệu hình nấm này chủ yếu được dùng dưới thời nhà Minh và triều Thanh Khang Hy, nhưng thông thường là màu lam
Mark on Guangxu period dishKý hiệu hình trên một đĩa sứ thời Quang Tự

Hiệu đề tiêu biểu của thời Khang Hy được dùng lại dưới thời Quang Tự, Cuối thanh nhái lại hiệu đề thời đầu Thanh.

Ký hiệu hình trên một đĩa sứ thời Quang Tự Hiệu đề tiêu biểu của thời Khang Hy được dùng lại dưới thời Quang Tự, Cuối thanh nhái lại hiệu đề thời đầu Thanh.
Guangxu reign mark Mark on a Guangxu porcelain dish xem ở trên
Late Qing dynasty mark Hiệu đề nội phủ trên đồ sứ thời Quang Tự Hiệu đề nội phủ đã được dùng vào thời nhà Nguyên và thời Minh Hồng Võ; tuy nhiên, hiệu đề ở đây là nhái lại vào thời cuối Thanh
Guangxu Nianzhi mark Hiệu đề trên một đồ sứ thời Quang Tự
(Da Qing Guangxu Nianzhi)
Fangge scratch mark Late Qing dynasty.

Nôi dung hiệu đề:  “Chenghua Nianzhi” (Thành Hóa niên chế).

Frequently found on old Fangge porcelain copies made in the late Qing or early republic period.
Thường gặp trên đồ nhái thời cuối Thanh và thời dân quốc ( trước 1949).
Đơi khi Hán tự không thể đọc được
double ring markGuangxu: hai vòng tròn đồng tâm (mark)  (thời Quang Tự)

Guangxu underglaze blue markGuangxu period mark

Mai bình Blue and White thời Quang TựHình tư liệu lấy từ trang China Museum. Motif trang trí của bình này hay được gọi là “ban mai” (?). Mục đích đăng: tư liệu tham khảo và nhận biết.

Khanhhoathuynga

Hình ảnh và tư liệu từ nguồn http://www.chinese-antique-porcelain.com và Gotheborg.com

__________________ khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Hiệu đề thường dùng trên đồ gốm sứ thời Khang Hy

( Áp dụng cho tất cả các loại gốm sứ bao gồm cả đồ sứ men lam – blue and white )

Ba tranh chân dung Hoàng Đế Khang Hy - Thanh

Ba tranh chân dung Hoàng Đế Khang Hy - Thanh

Tại vị 7 tháng 2, 1661 – 20 tháng 12, 1722

Tiền nhiệm Thuận Trị Đế

Kế nhiệm Ung Chính Đế

Vợ 4 hoàng hậu và 1200 phi tần

Hậu duệ

37 người, bao gồm 25 nam và 12 nữ

Tên đầy đủ

Ái Tân Giác La Huyền Điệp

Niên hiệu

Khang Hi

Thụy hiệu Nhân Hoàng đế

Hoàng tộc Nhà Thanh

Thân phụ Thuận Trị Đế

Sinh 4 tháng 5, 1654

Mất 20 tháng 12, 1722 tại Bắc Kinh, Trung Quốc

Đại Thanh Khang Hy niên chế theo 2 cách viết thường và kiểu triện.

"Đại Thanh Khang Hy niên chế" theo 2 cách viết thường và kiểu triện.

Bên trái là lối viết chữ thường Kaishu ; Bên phải là lối viết theo kiểu chữ triện Zhuanshu mà theo Gotheborg.com cho biết có thể khẳng định không thể hiện diện trên đồ gốm sứ thật sự sản xuất dưới thời Khang Hy. Sir Harry Garner đã có ý kiến cho rằng hiệu đề Khang Hy có thể phân thành ba nhóm theo trình tự thời gian dựa vào sự khác biệt cơ bản trong cách viết tiếng Hán:Thới kỳ đầu: với nét chữ lớn (bold)Thời kỳ giửa: các hiệu đề được viết tự do, (rather loose)Thời kỳ cuối: Chữ viết chính xác, chặc chẻ với cở chữ khá nhỏ lối viết ít tự do hơn hai nhóm khác. Đặc biệt thường thấy ở những đồ vật kích thước nhỏ và chất lượng thượng hạng ví dụ như ở các đồ thuộc dòng men màu mận ‘peach bloom”. Suốt thế kỷ 18 các loại hiệu đề Khang Hy trên đồ gốm sứ dường như chưa bị sao chép. Một lý do khã dĩ giải thích có thể là  cả hai triều đại Ung Chính và Càn Long đã bận bịu trong việc quan tâm về hình ảnh của thời đại riêng của họ và thấy rằng các thiết kế gốm sứ riêng của mình nổi trội hơn những thời kỳ trước.Trong thời kỳ đầu của Hoang Đế Khang Hy sáu văn tự hiệu đề nhà Minh của thời kỳ Hoàng Đế Thành Hóa (Chenghua)  cũng được tìm thấy và đôi khi là Jiajing, nhưng càng về cuối triều đại Khang Hy hiệu đề KH 6 văn tự kiểu Kaishu  là thường được dùng nhất. Các hiệu đề gốm sứ thời Khang Hy thật sự nên là loại có sáu văn tự. Các hiệu đề “Khang Hy niên chế” duy nhất là hiệu đề thật là loại được viết bên trong khung vuông đôi và được độc quyền dùng trang trí trên các vật dụng cung đình, loại đồ sứ ngự dụng cao cấp nhất. Tất cả các hiệu đề Khang Hy bốn chữ không có viền bao đều được làm từ/trong khoảng thời kỳ Quang Tự (1875 – 1908)  vào lúc ấy bốn văn tự kiểu Kaishu được dùng rộng rải nhất.

Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.

Hiệu đề Khang Hy nhưng không phải trên gốm sứ ngự dụng - non-imperial wares

Dưới đây là các hiệu đề thời Khang Hy phần lớn là dân dụng khác do Vermeer and Griggs đề nghị: (click  trên hình để phóng lớn)

KhanhHoaThuyNga (dịch và biên soạn)

Bài viết liên quan:

Đề hiệu (reign marks) trên đồ gốm sứ thời Ung Chính nhà Thanh

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »