Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘họa tiết trong mỹ thuật An Nam’

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 12: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON CÁ

Ở Trung Hoa, chữ ngư 漁 (con cá) phát âm giống chữ dư 輿 (dư thừa). Do vậy hình ảnh con cá biểu tượng cho sự trù phú, thường vẽ thành hình một đứa bé cầm con cá với nghĩa “Phú, hữu dư” (giàu, có dư)[1].

Ở An Nam không thể có lối chơi chữ này vì chữ “” và chữ “” không trùng âm. Nhưng có thể do ảnh hưởng Trung Hoa mà vào lễ tết Trung thu người Hà Nội hay mua con cá làm bằng giấy dầu cho trẻ em chơi. Tập tục này không thấy ở Huế và vùng phụ cận, nhưng vào ngày đầu năm người ta lại hay mua hình con cá làm bằng giấy màu treo ở trước bàn thờ tổ tiên gay đâu đó trong nhà để cầu may.

Ở Bắc Kỳ trong các đền chùa thảy đều thấy hình con cá ở các gờ mái như loại trang trí dấu nhấn. Tôi nghe nói rằng đó là biểu tượng “cá hóa rồng”, đuôi của cá được cách điệu hình cuộn thanh thoát và trang nhã. Ở Huế hiếm thấy họa tiết này ở đền chùa, chỉ thấy ở dinh phủ: khi thì nguyên hình con cá thật tự nhiên (hình CCIV), khi thì được cách điệu giống như ở Bắc Kỳ (hình CCV). Có một số món bằng gốm tráng men có vẽ hình cá hình như từ Trung Hoa mang sang (hình CCIII).

Con cá làm thành hình miệng máng xối có nét tự nhiên vì được hiểu nước là một yếu tố sống còn của cá (hình CCII). Trang trí ở giá đỡ chậu rữa mặt cũng theo nghĩa này (hình CCI), nhưng truyền thống An Nam thích chạm hình đầu phụng hay rồng mềm mại và tinh tế hơn.

Cá ngoài biểu tượng cho sự giàu sang như đã nói, nó còn là biểu tượng cho sự đăng khoa của nho sĩ: cá hóa rồng. Đó là tích Long Môn Điểm Ngạch 龍門點額 của Trung Hoa, nghĩa là chúc thi đậu. Con cá đó người An Nam gọi là con cá gáy[2], nó vượt long môn thành rồng. Chính vì vậy ở mặt tiền Quốc Tử Giám Huế có khắc hình tượng con cá đang hóa thành rồng.

Cá còn được trang trí thành cái mõ (hình CC) nhưng hiếm thấy ở Huế (xem thêm hình CXXXI, CXXXII).


Các  tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(Hết)


[1] Nghiên cứu về sự mê tín ở Trung Hoa (Recherche sur les superstitions en Chine), P. Henri Doré, trang 475.

Read Full Post »

Họa tiết trong Mỹ thuật An Nam

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 10: Họa tiết hình thú – sư tử[1]

Trong mỹ thuật An Nam sư tử có hai tên: sư và nghê. Đầu tiên nói đến con sư tử có bờm xoắn, lông uốn lượn, đuôi tỏa cuộn, vuốt cứng; nhưng dáng vẽ hiền lành. Con vật này luôn được thể hiện với một trái cầu có dãi lụa dài xé tơi hay gút lại một cách mỹ thuật. Dĩ nhiên toàn bộ chủ đề này chỉ là ước lệ, nhất là bộ lông.

Mô-típ này thường dùng trang trí các góc: con sư tử có dáng như bước xuống thềm cửa, hai chân trước chạm vào ngạch tam cấp nối liền với khung cửa. Trong trường hợp này chỉ thấy có một con sư tử cùng với quả cầu gọi là sư tử hí cầu.

Đôi lúc thấy trên bình phong có trang trí hình 5 con sư tử gọi là ngũ sư hí cầu (hình CXCV), hoặc thấy chỉ một hay nhiều con sư tử ở trên nắp bình vôi hay lư hương (hình CXCVI). Thế nhưng gặp khi không có quả cầu thì người An Nam kẻ thì bảo đó là con lân, người thì nói là sư tử. Quả có nhiều mơ hồ trong tên gọi hình thú của An Nam.

Hình thái khác của con sư tử là con nghê hay toan nghê[2] (hình CXCVII). Cả từ điển Trung Hoa lẫn An Nam đều định nghĩa nghê là ‘sư tử nhanh’ (lion rapide), ‘ngựa hoang’ hay ‘sư tử Tây Tạng’, luôn mơ hồ. Nhưng hình dáng nói chung có khác biệt với sư tử ở phần đầu, móng vuiốt, lông và mõm có nanh nhọn cong vui61t; tức thiên về nét con hoẵng và con ngựa hơn. Theo truyền thuyết con nghê mỗi ngày đi được 500 dặm hay mỗi cú nhảy của nó xa 500 dặm; nó vồ cả cọp để ăn.

Con nghê được trang trí ở Điện Thái Hòa, hai con đặt hai bên điện. Con vật này bằng đồng thau, đặt trong chiếc tủ bằng thủy tinh kê cao 1 thước và có đầy đủ dáng vẽ con nghê. Trước nhà bia lăng Thiệu Trị cũng có hai con nghê bằng đồng đỏ, kích thước cũng cỡ đó. (hình CXCVII)

Một số lư đồng lớn thể hiện hình con sư tử ngồi trên bốn chân của nó cũng gọi là kim toan nghê (lư hương đặt trên lưng con vật này). Hình này hoàn toàn khác hình con nghê trong cung điện, nhất là có thêm cái sừng ở giữa trán.

Chúng ta nhớ con lân cũng có một sừng như vậy. Thế nhưng có những món đồ nhỏ trang sức cho lư hương hay vật dụng nào khác có dáng giống con nghê đến kỳ lạ, từ bộ long đến răng nanh và vuốt, nhưng dưới con mắt nghệ sĩ An Nam lại gọi đó là con lân. Có lẽ là do nhầm lẫn (hình CLXIII).

Trên đỉnh cột ở Huế có hình một số con vật mang tên thiếu chính xác như thế. Những con vật này trông thật giống sư tử nên trong cuốn Symboles, Emblèmes et Acessoires du Culte chez les Annamites (Biểu tượng, biểu trưng và đồ tự khí của người An Nam) ông G. Dumoutier gọi là sư tử, nhưng người An Nam ở Huế gọi là con lân. Chính vì điều này mà tôi đưa chúng vào bài viết về con lân (hình CLXI, CLXII).


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 10: Họa tiết hình thú – con cọp)


[1] Thật tế sư tử không có ở Việt Nam và Trung Hoa, nó được du nhập theo con đường Phật giáo với thuật ngữ ‘sư tử hống’.  Do vậy chữ sư (獅) trong sư tử bên phải có chữ sư (師) nghĩa là thầy (chỉ thầy tu Phật giáo) và bên trái là chữ ‘thú’ (狩) chỉ con vật.

Có người viện dẫn Trung Hoa không có sư tử sao có thành ngữ ‘sư tử Hà Đông’. Thật ra là không có mà là một biểu tượng Phật giáo biến thể ra ám chỉ sự chanh chua của người vợ đối với người chồng. Tích này có thuậtt trong cuốn Tầm Nguyên Từ Điển của Bửu Kế. ND

[2] Từ này tác giả dịch là ‘lion rapide’ và chú kế bên ‘nghê’ hay ‘toan nghê’.

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 9: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON DƠI

Dơi có vai trò lớn trong nghệ thuật trang trí An Nam, nó biểu tượg cho chữ ‘phúc’. Là do tiếng Hán Việt dơi là chữ ‘bức’ (蝠) đọc gần giống chữ ‘phúc’ (福), từ đó người ta dùng hình ảnh con vật này để chỉ ‘phúc đức’. Khi minh họa bằng hình 5 con dơi là hàm ý chỉ ngũ phúc: (1) Phú 富 nghĩa là giàu, (2) khang ninh 安寧 là yên lành, mạnh khỏe (3) Thọ 壽 là sống lâu (4) hảo đức 好德 là có đức tốt (5) khảo chung mạng 考終命 là hưởng trọn tuổi trời (hình CLXXX).

Cùng với hình ảnh con dơi các họa tiết thường có lối chơi chữ. Thường nhất là lối chơi chữ ghép với chữ ‘phúc’ nhưng cũng có khi đi với chữ ‘khánh’ (慶 có nghĩa là ‘chúc mừng’) thay cho lời cầu chúc phúc. Khánh lại có thêm âm là ‘khương’ có nghĩa là phúc. Âm khánh lại có chữ viết là 磬, chỉ một món nhạc khí quý trong cung đình, thế là có họa tiết con dơi ngậm chiếc khánh có hai quả tua; hình này có tên ‘phúc khánh’ với ý chúc mừng hưởng phúc an lạc và thịnh vượng (hình CLXXXVI, CLXXXIX, CXC).

Hoặc cũng có khi đi với chữ ‘thọ’, thành ra ‘phúc thọ’, tức cầu chúc vừa hưởng phúc vừa đắc thọ. Trong mô-típ trang trí thành ngữ này được thể hiện bằng hình con dơi ngậm chữ thọ cách điệu. Nhiều lúc chữ thọ được thu gọn thành hình bát giác đơn giản với chiếc lá vươn dài ra và co rúm, biến cách thành con dơi (hình CXCI, CXCII),

Thay cho khánh ngọc hay chữ thọ, con thấy hình con dơi ngậm một giõ hoa. Giõ hoa là một món trong ‘bát bửu’ nên hàm chỉ sự vui hưởng hạnh phúc (hình CLXXXIV).

Về mặt trang trí con dơi hay có kèm theo hai quả tua, gọi là họa tiết ‘dơi tua’, nhưng hình như hai quả tua đó chẳng mang một ý nghĩa sâu xa nào ngoài sự trang trí. (hình CLXXXI, …)

Dơi có thể được biến cách từ lá, họi là lá hóa phúc, từ hoa mai gọi là mai hóa phúc, từ sen gọi là liên hóa phúc, từ quả gọi là quả hóa phúc; nhưng chủ yếu là từ hình hồi văn có tô điểm thêm hia lá gọi là hồi văn hóa phúc. Tùy theo ngẫu hứng người nghệ sĩ còn cho con dơi đi chung với rồng. Một vài chỗ thấy dơi xuất hiện ngay giữa tấm chi tiết của đồ gỗ, nhưng thường thì nằm ở các góc và giang cánh rất trang nhã. Trên đồ kim hoàn con dơi hay hóa thành những hạt tòn ten ở bông tai.


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 10: Họa tiết hình thú – sư tử)

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

 


Bài 8: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON RÙA

Rùa, tiếng Hán Việt là quy (龜), là một trong tứ linh, biểu tượng cho sự trường thọ vì nó sống trên ngàn tuổi. Triều đại nhà Đường có một quan tổng đốc các tỉnh phía nam dâng lên hoàng đế Hiến Tông (806-821) một con rùa có lông cho đó là điềm lành trường sinh, chẳng qua mai của nó bám rong và rêu mà ra.

Vì mai rùa ở trên tròn nên được coi là tượng của trời, ở dưới dẹt tượng của đất, nên rùa ví như sống lâu như trời đất. Từ xưa, người ta dùng mai rùa bỏ vào than hồng đốt để bói toán: nghe tiếng nổ lách tách mà đoán chuyện vị lai. Đời vua Hoàng Đế[1] có một con rùa thần (thần quy) nổi trên sông Lạc có những vằn kỳ bí, vua theo đó mà viết ra Kinh dịch, chuyện giống như vua Phục Hy lấy được vằn trên lưng con Long mã.

Ở Trung Hoa người ta tin rằng rùa cái thường giao phối với con rắn, nên thường cho đó là biểu tượng của sự bất trinh. Khi vẽ hình con rùa vào cột nhà ai là có ý bảo người đó kém phẩm hạnh. Vẽ hình ảnh đó, hay đơn giản viết chữ quy thôi, ở nơi ngõ cụt hay góc phố có nghĩa là ngỏ lời mời khách qua đường ghé lại làm chuyện trăng hoa.[2]

Vì rùa có dáng nặng nề nên được cho là biểu tượng của sự vững trãi nên ở Trung Hoa rùa được thờ làm thần hộ đê[3].

Người An Nam hình như không quan tâm những biểu tượng đó, rùa được dùng làm đế bia với tín ngưỡng tin vào sự trường thọ, cũng như tin vào sự vững bền như biểu hiện nặng nề nơi cơ thể nó (hình CLXXVII).

Người ta cũng thấy rùa làm trang trí dấu nhấn ở gờ bên mái nhà, nhưng trường hợp này hiếm thấy (hình CLVII, CLVIII). Khi nó mang trên lưng cổ đồ, tức bộ sách có buộc dãi lụa, thì nó là thần quy mang Lạc Thư, miệng nó sẽ phun ra cuộn sóng gọi là thủy ba.

Sen hóa rùa (liên hóa quy) là hình tượng: lá sen có mép cong vằn lên thành mai con rùa (hình CLXXIX) thường trang trí giữa đám sen. Cũng theo ngẫu hứng một số nghệ sĩ, các loài quả lá khác cũng biến cách thành rùa.

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 8: Họa tiết hình thú – con dơi)


[1] Như đã chú thích đây là nhầm lẫn của tác giả. Sự việc này xảy ra đời vya Đại Vũ nhà Hạ khi trị thủy.

[2] Henri Doré, sách đã dẫn, trang 400.

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 7:  HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON PHỤNG

Hình CLXIV cho một ý tưởng về các phẩm chất của một con chim phụng, bức hình này được thể hiện ít nhiều hoàn hảo trên tấm bình phong của các ngôi đền[1] thờ nữ thần: đúng theo mô tả của P. Corentin Pétillon “mỏ gà, cổ rắn, trán én, lưng rùa và đuôi cá”. Hình phụng được thể hiện trên sóng cồn ngoài biển, nhưng là một trong tứ linh nên phụng có quyền năng siêu nhiên cỡi trên sóng biển. Ở đây nói qua về truyền thuyết nói về sức mạnh chim phụng: “Tung cánh bay lên từ phương đông, vượt khỏi ngọn núi Côn Lôn, ghé uống nước nơi thác Đế Trụ, rũ cánh tắm ở biển Nhược Thủy, cuối cùng nghỉ cánh ở núi Đơn Huyệt.” Một lần tung cánh của chim phụng xa ngần ấy.

Cánh nó vươn rộng với những cọng lông cứng mà người ta nói cứng như thép, lông đuôi rực rỡ như ngọn lửa, đôi chân vững trãi; đó là biểu tượng cho thao lược và nhân hậu, kiêu hãnh và tôn quý. Phụng ngậm một dải lụa khi thì treo vào đó cuộn giấy, khi thì là cái hộp vuông hay thẻ bài; theo một số người đó là ‘cổ đồ’ huyền thoại của vua Phục Hi nhưng có người lại bảo đó là kinh thư thánh hiền; hình tượng này có tên “Phụng hàm thư” (hình CXIV và các hình kế tiếp). Tôi chẳng rõ ai nói đúng.

Theo truyền thuyết Trung Hoa, chim phụng có nhiều phẩm hạnh cao đẹp: “tiếng hót ngân khắp ngũ âm, lông trang điểm ngũ sắc, thân thể biểu tượng cho sáu thứ: đầu tượng trời, mắt tượng thái dương (mặt trời), lưng tượng thái âm (mặt trăng), cánh tượng gió, chân tượng đất và đuôi tượng tinh tú.” Các vẻ đẹp và phẩm hạnh đó xứng là vua các loài chim, nó thường đậu trên cây ngô đồng. Chim phụng chỉ xuất hiện vào thời thái bình và ẩn mình khi thời loạn lạc. Nên phụng là biểu tượng cho thái bình.

Những tín ngưỡng đó xa lạ đối với người An Nam; họ chỉ biết duy nhất một điều: chim phụng là biểu tượng cho sự kết hợp giữa người nam và người nữ, tức hôn nhân. Chuyện kể có hai người nam và người nữ xinh đẹp tuyệt trần, tâm đầu ý hợp với nhau ; người nam là một vị tiên và người nữ vốn là phụng. Vị tiên từ trời bay xuống hòa duyên cùng phụng.

Hay là tích long phụng hòa duyên[2]; trong bức vẽ long là người chồng và phụng là người vợ. Hình vẽ con rồng và con phụng vờn quanh chữ song hỉ, cũng là biểu tượng của hôn nhân, của hạnh phúc lứa đôi.

Trong ca dao cũng thường thấy biểu tượng này:

Anh như cột mít chạm rồng; Em như kèo phụng gác trong đình chùa” Đẹp tuyệt.

Hay là lời cao ngạo, khinh rẻ:

Trúc xinh không mọc cùng tre; Gà nòi lớn xác chẳng tề phụng loan

Hình ảnh chim phụng dành chỉ người phụ nữ. Chính vì vậy phụng thường trang trí ở các gờ mái những đền thờ nữ thần, và nơi này các bình phong cũng chạm vẽ hình chim phụng thay vì con rồng. Hình phụng cũng thấy trang trí trên trán bia hay viền khung bia mộ của các công chúa, rồi lại thấy ở giường chạm hay hộp đựng ấn của nữ giới (hình CLXVI, CLXVII, CLXVIII). Nhưng cũng chẳng gì ngăn cấm được người nghệ sĩ dùng mô-típ này trang trí đồ gỗ hay dinh thự bình thường như hình trang trí phụ. Nhìn chung khi thấy chim phụng dùng làm họa tiết chính trên đồ vật thì biết đó là món dành cho phụ nữ.

Loài chim này có hai tên gọi: con trống gọi là phụng và con mái gọi là hoàng; gộp lại gọi là phụng hoàng. Nhưng thông thường người An Nam gọi gọn là phụng mà thôi. Chim mái còn có tên khác ‘loan[3], nên gọi là phụng loan. Theo truyền thuyết Trung Hoa và người An Nam đón nhận, tiếng kêu của loài chim này biểu lộ sự ứng họa của cặp tình nhân, của hạnh phúc lứa đôi; cho nên hình ảnh chim phụng vừa là lời cầu chúc vừa nói lên sự gắn bó vợ chồng.

Còn về tổng quan chom phụng là biểu tượng thái bình như đã nói ở trên. Nên trong cung điện cũng có hình chim phụng để phỉnh nịnh ca tụng vua chúa đang sống thời thái bình thịnh trị vì có chim phụng xuất thế.

Như tôi đã trình bày, trong kiến trúc hình ảnh chim phụng được dùng làm trang trí dấu nhấn trên các gờ mái đền thờ nữ thần. Nhưng cũng thấy ở các đền khác và trong cung điện nhưng chỉ là thứ yếu và nhường vị trí chính yếu cho con rồng, phụng chỉ thấy ở đầu hồi. Hoe61m hơn, phụng được thay thế cho vị trí của con dơi (hình CLIX). Ở lăng mộ các công chúa thay vì con rồng người ta dùng hình phụng để trang trí trán bia hay viền quanh bia. Cuối cùng còn thấy vẽ hay chạm trên các tấm chi tiết đồ gỗ, trên nắp hộp, trên bình phong lụa, trên thành bộ ván (hình CLXXII); cũng như làm trang trí dấu nhấn ở đèn, giá đỡ chậu, … (hình CLXXI).

Phụng còn có những biến cách (hóa), thường nhất là đào hóa phụng, nhưng cũng thấy hoa mẫu đơn hóa phụng (hình CLXXII). Hoặc nhánh cúc hay quả na, hoa lan (hình CLXXIII) kết hợp với họa tiết phụng. Hình phụng ít dùng vì khó dát hơn rồng, khó ngang với hình lân, dù rằng tính mảnh dẻ và nét trang trọng hết sức thích hợp.

Ở Bắc Kỳ, trước các ngôi đền thường thấy bốn chim phụng không đuôi trên các đỉnh cột. Rất mỹ thuật, nhưng tôi chẳng biết nó mang ý nghĩa gì đối với người An Nam. Với công dụng trang trí tương tự, dĩ nhiên í trang trọng và nhẹ nhàng hơn, người ta dùng họa tiết cụm lá ô-rô thay vào (hình CXVII, CXVIII).

Có một con chim tương tự khác gọi là hạc. Lưu ý là hình dáng hạc với phụng, cũng như tính biểu tượng, khác xa nhau. Hạc luôn có đôi cánh xếp lại và tạc đứng (thường đứng trên con rùa) dùng làm món đồ thờ. Miệng hạc ngậm một cánh hoa, thường là một đôi trước bàn thờ thần hay bàn thờ tổ tiên. Hạc không thấy dùng làm họa tiết trang trí.

Hình như theo người Trung Hoa có hạc đen, hạc vàng và hạc xanh nữa, nhưng người An Nam chỉ dùng hạc trắng và màu lông trắng đó tượng trưng cho tuối thọ. Người Trung Hoa cũng như người An Nam đều tin chim hạc có tuổi thọ cao, người Trung Hoa cho rằng khi đến 160 tuổi lông hạc biến thành màu đen, lúc đó gọi là huyền hạc. Để chỉ người già người ta hay dùng thành ngữ “da mồi tóc hạc”, nghĩa là tóc bạc trắng như lông hạc và da nhăn nheo như vảy đồi mồi.

Thêm nữa, hạc là vật cưỡi của chư tiên, điều này được đánh đồng là chúng trường sinh bất tử? Vì thế hạc còn có tên “tiên điểu” (chim của tiên) Ở Trung Hoa người ta làm đồ vàng mã có những con hạc giấy để đốt cúng, với lời cầu mong người chết cỡi nó bay lên trời. Rùa là một biểu tượng khác của sự trường thọ nên thường đi đôi với hạc (hình CLXXIV). Chim hạc không có biến cách từ họa tiết khác, nhưng ở Trung Hoa hạc đôi khi được nhân cách hóa thành Thọ Tinh và đi chung với chữ thọ.


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt bạn đọc xin chân thành cảm ơn bạn Đức Chính

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 8: Họa tiết hình thú – con rùa)


[1] Tác giả dùng từ “pagode” có nghĩa là chùa. Đây có lẽ là sự  nhầm lẫn với đền thờ vì chim phụng hầu như chẳng bao giờ xuất hiện trong kinh tạng Phật giáo. Người phương Tây dễ đánh đồng chùa và đền miếu ở Việt Nam. Từ đây về sau mạn phép điều chỉnh cho xuôi ý bài dịch. ND

[2] Tích chuyện tóm lược: Tần Mục Công có một cô con gái tên là Lộng Ngọc rất xinh đẹp, lại giỏi thơ ca âm luật nhất là tài thổi ống sinh. Tiêu Sử có tài thổi ống tiêu đến mức thu hút cả các loài chim về múa hót phụ họa. Hai người sánh duyên cùng nhau. Sống với nhau được gần tròn năm nhân một đêm trăng sáng hai vợ chồng đem tiêu và sinh lên Phượng Đài xướng họa, bổng một con rồng và một con phượng sà xuống phủ phục. Tiêu Sử mới bảo Lộng Ngọc: “Ta vốn là tiên ở thượng giới, vì có tiền duyên cùng nàng nên Ngọc Hoàng Thượng Đế cho giáng sinh vào nhà họ Tiêu mượn ngọc tiêu tác hợp với nàng. Nay rồng và phượng đã đến đón, vậy chúng ta cùng nhau đi.” Đoạn Tiêu Sử cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phượng cùng bay lên trời.Tích này nhằm chỉ sự xứng đôi vừa lứa. ND.

[3] Đây là một nhầm lẫn khác của tác giả, loan là loài chim thần thoại khác. Trên Kiến Thức Ngày Nay, An Chi có vạch rõ sự khác biệt này nhưng lối giải thích ‘loan phụng’ của An Chi chưa thỏa đáng. Thành ngữ này mượn từ hai ngôi sao thường kết đôi với nhau chỉ nhân duyên vợ chồng với nhau trong Tử vi: sao Hồng loan và sao Phượng cát. Theo khoa tử vi khi hai sao này lẻ đôi (tức không cùng cung hay chiếu nhau) thì hôn nhân thường trắc trở.

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 6:   HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON LÂN

Khi người An Nam nói đến kỳ lân thì họ nghĩ đó là một từ duy nhất, nhưng theo các từ điển của Trung Hoa thì đấy là một từ kép:  con kỳ và con lân, kỳ là con đực và lân là con cái. Do vậy, khi một người An Nam chỉ cho bạn xem hình vẽ trên bình phong hay bức chạm trên trụ đá và nói đó là kỳ lân, bạn nên hiểu đó là con kỳ hay con lân, tức con đực hay con cái.

Từ điển của Gibrel ghi: Kỳ lân, “licorne, sphinx” (ngựa một sừng, nhân sư) và chua thêm: “loài chim thần thoại” (oiseau fabuleux). Đó là vi ông muốn diễn tả con đực là kỳ và con cái là lân, điều đó quả chính xác là vậy.[1]

Từ điển của Paulus Của nói cần phận biệt rõ kỳ là con đực và lân là con cái, Nhưng ông lưu ý là hai từ này luôn dùng đi đôi với nhau chứ không tách ra, Dựa vào thư tịch Trung Hoa ông giải thích đó là con vật giống sư tử, có một sừng ở giữa trán và là một trong tứ linh. Đứng về mặt phong tục, kỳ lân là con vật có lòng nhân, tốt bụng; nó chẳng bao giờ dẫm lên cỏ non, chẳng làm hại ai cả; chỉ những vì thánh vương[2] mới được gặp nó. Vì có tính nhân hậu như vậy nên có thành ngữ ‘lân giác’ tức sừng con lân cái, nghĩa là thứ vũ khí vô hại[3].

Từ điển tiếng Hoa của Giles, Eitel, Couvreur cho những thông tin sau: Kỳ lân là con vật thần thoại thiêng liêng, có mình nai, đuôi bò, một sừng, phủ vảy cá, … Chiếc sừng này bằng thịt hàm chỉ tính nhân hậu của con thú này; dù có khả năng chiến đấu và chiến thắng nhưng kỳ lân rất chuộng hòa bình. Tuy nhiên có điểm bất đồng về chiếc sừng này, Eitel và Couvreur đều cho rằng kỳ là con đực không có sừng hay một loài thú nào đó giống con lân mà thôi.

Chi tiết này dù thế nào đi nữa thì kỳ lân có tính nhân hậu như trong truyền thuyết: con vật này chẳng bao giờ đi trên sinh vật sống và chẳng bao giờ ăn cỏ tươi; sừng của nó là biểu tượng cho lòng yêu hòa bình.

Dấu chân của Kỳ lân” dùng chỉ nòi giống vua chúa, và “lân giác” chỉ hoàng thái tử. Trên kiệu cưới người ta hay ghi dòng chữ “Kỳ lân tại thử” (麒麟在此) có nghĩa “kỳ lân ở nơi này[4]”; và câu “Gót kỳ lân mang lại may mắn” là lời chúc dành cho trẻ em.

Còn đây là lời chú thêm của P. Corentin Pétillon[5]: Sự xuất hiện của kỳ lân báo hiệu sự ra đời của thánh vương và luôn luôn là điềm lành. Kỳ lân có dáng vẽ: mình hươu, đuôi bò, đầu sói có một sừng với đầu sừng là núm thịt, móng ngựa. Người ta gọi kỳ lân là nhân thú là vì nó có bản năng tự nhiên khi bước đi cẩn thậm không đạp chết côn trùng hay giẫm lên cây cỏ còn sống dù là vật bé nhỏ nhất. Khó mà đào hầm giăng lưới bắt được kỳ lân vì nó hết sức khôn ngoan tránh được mọi thứ bẫy. Vậy mà kinh thư lại nói chuyện bắt được kỳ lân khiến Khổng Tử ngậm ngùi rơi lệ.

Khổng Tử rơi lệ là vì khi ngài đản sinh có con kỳ lân xuất hiện mang đến nhà ngài tấm thẻ ngọc có ghi câu: “Đứa trẻ khôn ngoan này sẽ là vị vua không ngai vào thời nhà Chu suy tàn”. Mẹ Khổng Tử bắt lấy kỳ lân và dùng vải lụa cột lại; nhưng hôm sau con vật biến mất. Mãi lâu sau có người thợ săn bắt được kỳ lân mang dãi lụa, Khổng Tử nhận ra đó là con kỳ lân lúc ngài đản sinh. Ngài cầm lấy dãi lụa đầm đìa nước mắt vì biết khi kỳ lân xuất hiện lần thứ hai ngài sắp không còn tại thế nữa.

Như tôi đã nói người An Nam quen gọi lân hay kỳ lân, nhưng cũng có khi lại gọi là long mã, nghĩa là con vật vừa có tính chất rồng vừa có tính chất ngựa, thể hiện trên các bình phong. Truyền thống Trung Hoa thì phân biệt rõ long mã với kỳ lân, người An Nam thì không vậy.

Kỳ lân được dùng làm họa tiết trang trí trên các bình phong trong các đền chùa (hình CLV; CLVI, CLVII). Dối với người An Nam khi thì là kỳ lân, khi thì là long mã. Nó luôn mang trên lưng cổ đồ (bức đồ xưa); người An Nam dù là dân giả, nho gia, thợ nề hay nhà điêu khắc đều gọi đó là “cổ đồ”. Chữ cổ đồ Hán Việt này trùng âm với chữ Nôm nên dễ nhầm. Tôi thích hình cổ đồ của vua Phục Hi trên lưng con kỳ lân hơn trên lưng long mã của Trung Hoa. Theo truyền thuyết vị hoàng đế thần thoại này xem bức cổ đồ này mà nghĩ ra âm-dương, từ âm dương chồng lên nhau lập thành bát quái, rồi 64 quẻ. Hình vua thấy đầu tiên đó họi là Hà Đồ (bứcvẽ trên sông Hoàng Hà). Một truyền thuyết khác về bát quái nói vua Hoàng Đế lấy từ lưng con rùa[6].

Dù gì trên các bức bình phong hình con lân thỉnh thoảng có mang trên lưng bánh xe tám cạnh của bát quái. Trong trường hợp này ẩn dụ về vua Phục Hy rõ ràng rồi. Còn với bức đồ cổ thì được thể hiện bằng bó sách hay bằng hai phiến chữ, hoặc cuộn giấy; đôi lúc mấy thứ trên còn được gắn thêm cây bút lông hay cây quạt, hoặc thanh gươm. Chẳng biết như thế là do ngẫu hứng của tác giả hay do không biết mà vẽ như vậy (hình CLV). Tôi chẳng hiểu vì sau mấy món đó lại được diễn giải thành ‘cổ đồ’như đã nói ở trên. Tuy nhiên món chính lai liên quan đến việc viết lách, đến khoa học: cuốn sách, phiến chữ, cuộn giấy, cây bút. Chúng có thể diễn giải thành ‘cổ đồ’ của vua Phục Hy và với ‘bát quái’ . Đó là kinh dịch, cuốn sách kỳ bí làm nền tảng cho thuật bói toán, cho môn biến hóa của muôn vật.

Cổ đồ luôn luôn trang trí thêm dãi lụa, đặt trên tấm thảm rồi mới để lên lưng kỳ lân. Sau này chúng ta lại thấy dãi lụa xuất hiện ở lưng con rùa hay mỏ con hạc. Với con rồng không có dãi lụa. Tuy nhiên ttrên các phiến đồ gỗ chúng ta thấy có con vật biến cách một cách mơ hồ, trông giống con rồng hơn là kỳ lân, cũng mang cổ đồ trên lưng. Tôi cho rằng cáu đó do thiếu hiểu biết hay nhầm lẫn của người nghệ sĩ mà ra.

Đôi khi chúng ta cũng thấy kỳ lân được dùng như loại trang trí dấu nhấn, nhưng lúc này phụ vào con rồng hay con phụng. Bấy giồ lân được xuất hiện ở đầu rìa với tư thế không phóng khoáng cho lắm (hình CLVIII).

Một con vật rất giống nhưng không phải là kỳ lân, đó là con sư tử, nhưng cũng được ngườiAn Nam coi trọng xếp ngang với lân tạc trên các đỉnh trụ đá ở các đên chùa. Bộ lông, đầu, đuôi, móng vuốt (chứ không phải móng đề) quả là sư tử hơn là kỳ lân. Tuy vậy tôi vẫn xếp nó vào nhóm kỳ lân theo như tín ngưỡng của người An Nam (hình CLVI, CLVIII) Đó là vì trên các món đồ trang trí nhỏ bằng đồng hay đồng thau, trên các bộ lư người An Nam gọi con vật trang trí trên đó, trông giống con sư tử thì đúng hơn, là con lân. Ở các bộ lư con lân có công dụng là núm nắp. Người An Nam khi thì gọi nó là lân khi lại gọi là sư (hình CLVIII).  Hình như trong hệ động vật trang trí của người An Nam thiếu sự chính xác tên gọi hay sao đó, ở các con vật khác chúng ta sắp nói đền vậy.

Còn trong biến cách, kỳ lân thường được hóa ra từ nhánh mẫu đơn gọi là mẫu đơn hóa lân. Nhưng cũng thấy có quả lê hóa lân và tôi từng thấy tại một số đền chùa nhiều loại cây trái dùng trong trang trí cổ điển cũng được biến cách thành lân.


Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 7: Họa tiết hình thú – con phụng)


[1] Thực ra lối dịch hay định nghĩa này chẳng chính xác chút nào vì con lân và con ngựa một sừng trong thân thoại phương Tây và nhân sư của Ai Cập hoàn toànkhác nhau. Sự sai lệch này do dùng quen nên mặc nhiên thừa nhận là đúng. Nguồn gốc sự nhầm lẫn này từ Marco Polo fhi lại trong cách sách du ký của ông, Người phương Tây về sau cứ theo đấy mà dùng thành thông lệ. Tương tự con rồng dịch là dragon cũng từ M. Polo và dần dà thừa nhận như vậy, Thật ra trong thần thoại phương Tây dragon là ác thú có cánh và là biểu tượng cho sự tàn ác. Người dịch.

[2] Tác giả dùng chữ “prince vertueux” (bậc vua chúa đức độ), nhưng thói quen người Việt hay gọi là sự ra đời của thánh vương, có lẽ tác giả kẹt từ diễn tả. Người dịch.

[3] Đây cũng là một nhầm lẫn của tác giả. Thành ngữ  ‘lân giác’ ở Trung Hoa chỉ Hoàng Thái Tử.  Paulus Của cũng ghi tích này như vậy nhưng tác giả diễn ra sai và đoạn dưới lại viết thành đúng. Người dịch.

[4] Chữ ‘thử’ có nghĩa là bên ấy chứ không phải bên này.

[5] Trong cuốn Allusions Littéraires (Ẩn dụ văn chương)

[6] Tác giả uôn nói đến Lạc Thư, nhưng xin lưu ý cả hai truyền thuyết này song song nhau chứ không phảo dị bản. Thêm nữa lạc thư liên quan đến vua Đại Vũ chứ không phải vua Hoàng Đế như tác giả nhầm lẫn. Người dịch.

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 5: HỌA TIẾT HÌNH THÚ – CON RỒNG

Trong số các con vật trang trí của người An Nam, bốn con vật siêu nhiên gọi là tứ linh chiếm vị trí đầu tiên.. Đó là long (rồng), ly (lân), qui (rùa) và phụng (phượng). Chúng là một biểu trưng của tín ngưỡng với những phẩm chất huyền bí. Bên cạnh còn thấy những con vật khác như hạc, sư tử, dơi, cá cũng mang ít nhiều đặc điểm tín ngưỡng. Con hổ cũng có tính chất rất đặc thù, nó đôi khi được thắp hương thờ cúng và dùng làm bùa chú để hóa giải và xua đuổi tà ma. Vã lại, chúng ta đã thấy trái cây cũng có tính chất ít nhiều như vậy, dùng làm lời cầu chúc mang mán tín ngưỡng và siêu nhiên.

Con rồng tiếng Hán Việt là long (龍) rất được ưa dùng trang trí mỹ thuật An Nam. Trong cung đình nó có vị trí riêng vì là biểu tượng của hoàng đế, nhưng cũng thấy rồng ở chùa chiềng và tư gia; đặt trên mái nhà, đầu hồi, đòn tay, trên đồ gỗ và hoa văn vải; có cả ở những cấu kiện tàu thuyền, cho đến những miếng ván trang trí cũng chạm khắc hình rồng.

Nói cho đúng, rồng không được người An Nam cúng bái, nhưng chúng lại được cho có một quyền năng siêu nhiên: vừa là long vương vừa là chúa tể trên đất liền, mang lại hạnh phúc cho người sống và sự an lành cho người chết. Trong vô thức người An Nam hẳn xem con rồng như vị thần bảo trợ nên hình ảnh rồng có mặt khắp nơi.

Theo truyền thuyết Trung Hoa rồng “có sừng hươu, đầu lạc đà, mắt quỷ, cổ rắn, bụng cá sấu, vảy cá, móng vuốt chim ưng, lỗ tai bò, sừng chính là cơ quan để nó nghe”. Hình rồng của nghệ sĩ An Nam có nhiều điểm khác nằm ở: sừng, đôi mắt sáng rực, vảy phủ toàn thân, bờm tua tủa, móng sắc, đuôi soắn ốc (hình CXIX, CXXI, …).

Như tôi đã nói rồng là biểu tượng của hoàng đế, ai cũng rõ trong trường hợp này rồng có năm móng. Di vậy khi thấy trên đồ gỗ, rương hòm , gốm sứ, … có rồng năm móng tức là những món đồ ít nhiều trực tiếp do vua dùng (hình CXXIII, CXXVII, …). Còn dành cho những hạng người khác rồng chỉ có bốn móng.

Rồng còn là biểu tượng cho người chồng, vị hôn phu, và thường hơn dùng để chỉ người đàn ông. Phụ nữ được biểu tượng bằng con phụng. Các bài ca dao hay dùng cáchình tượng này để ám chỉ nam giới và phụ nữ; và khi thấy trên tấm biển, tấm thêu có hình con rồng và con phụng thì đó là hôn nhân mà người ta muốn ám chỉ. Thường nghĩa bóng của thể hiện này là chữ ‘hỉ’dính đôi (song hỉ), có nghĩa là chung vui, hạnh phúc lứa đôi.

Rồng được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Khi thì là hình nguyên con rồng nhìn ngang như trên gờ nóc mái nhà, lan can cầu thang, trên vải thêu, trên bức chạm hay bức họa, nói tóm lại trên rất nhiều món (hình CXXIII, CXXV, …) ; khi thì chỉ thấy nguyên mặt nhìn chính diện với đầu và hai chân giạng ra gọi là ‘tàng long’ (rồng trong hang ổ) như ở mặt cổng lớn vườn hoa, đền miếu, dinh thự, …(hình CXXXV). Cũng có khi với đầu rồng và hai cân giạng lại gọi là ‘mặt rồng’ hay ‘mặt nả’ (hình CXXXVI, CXXXVII, …), thường thấy ở đầu hồi tam giác ở chùa chiềng và dinh phủ của người An Nam và để đối với hình con dơi trên trán bia, ở mặt trước khung chân tủ, … Hình đầu rồng chính diện ở trán có chữ vương (vua) như là vết nhăn trên mặt. Cũng có khi đó là chữ ‘thọ’ cách điệu, trường hợp này thường nằm trong nửa hình chữ nhật có góc dưới bẽ quặp xuống, viền vài đường kỷ hà (hình CXXXVIII). Người An Nam gọi hình này là ‘rồng ăn chữ thọ’, một dấu hiệu điềm lành và cũng là sự cầu mong trường thọ.

Trên gờ nóc mái, rồng được thể hiện dạng kỷ hà hai con (song long) ở hai đầu gờ. Ở giữa gờ nóc người ta để hỏa châu đề hi con rồng chầu vào. Toàn bộ hình hai con rồng và hỏa châu gọi là ‘lưỡng long triều nguyệt’ (hình CXXIX, CL). Hình tượng trên gờ nóc này thể hiện một sức mạnh thần bí, sự cầu mong có mưa vì hỏa châu tượng trưng cho sấm sét còn hai con rồng là long vương làm mưa.

Một thể hiện gần gủi với nó là ‘lưỡng long tranh châu’ theo cách gọi của người An Nam. Rất thường hai chủ đề này được trộn lẫn vào nhau, hoặc là theo thiết kế của người nghệ sĩ hoặc là theo lý giải của dân gian. Ở chủ đề sau làm ra vẽ đánh nhau hơn là đánh nhau giành quả châu; và quả châu này không có các ngọn lửa bao quanh (so sánh hai hình CXXI và CXXXIII).

Nếu có điều kiện, dù trong chủ đề nào con rồng cũng có mây bao quanh, mây có dạng trãi ra như dãi lụa hay cuộn lại trang nhã (hình CXXI, CXXV, …) Ẩn trong mây hay kết hợp với mây có những sợi lửa rời rạc (hình CXIX). Cũng thường thấy rồng cỡi trên sóng nước ngoài biển (hình CXLIII). Nhưng sóng, sợi lửa và mây luôn được cách điệu.

Trang trí mây cũng cho ra một thể hiện đặc biệt gọi là ‘long ẩn vân’ (rồng ẩn trong mây); rồng uốn khúc trong các guột mây và lần lượt lộ ra từng phần con rồng. Nhiều chén gốm đời Thiệu Trị có mô-típ này.

Rồng kết hợp với cá cho ra ‘ngư long hí thủy’ nghĩa là rồng và cá đùa nước (hình CXXIX). Con cá ghếch mõm đón luồng nước từ miệng con rồng ẩn trong mây phun ra. Theo dân gian An Nam con cá đó là con cá chép.

Không phải chỉ có một con vật duy nhất gọi là rồng. Ngoài con rồng đúng nghĩa còn thấy có con giao và con cù.

Theo từ điển của P. Couvreur con giao hay giao long là ‘rồng không sừng’ mang dáng dấp con rắn, cái cổ nhỏ nhắn, bốn chân và râu trắng ở dưới cổ. Còn theo Eitel, con giao là ‘rồng uốn gập, có bốn chân’, theo Giles là là ‘rồng có vảy’; cuối cùng theo Génibrel là ‘con cá sấu’.

Con cù hay cù long cũng mơ hồ không kém. Couvreur thì nói đó là ‘con rồng có sừng’, nhiều người lại nói là ‘rồng không sừng’. Với Eitel là ‘rồng non có sừng’, Giles cho dó là ‘rồng vàng’, Génibrel thì là ‘con rồng, con quái vật thần thoại, chẳng ai bảo nó có sừng’. Paulus Của: ‘Loài rồng không có sừng, dân gian cho rằng nó sống dưới đất và khi trồi lên xẻ đất tạo thành sông’.

Các nghệ sĩ An Nam thì xác định một điều: cả giao lẫn cù đều không có sừng. Chúng cũng không có bờm, cũng chẳng có râu như P. Couvreur nói. Tôi cũng cho rằng chúng không có vảy. Vậy có chân không? Điều này còn nghi ngờ vì theo tôi biết giao và cù không bao giờ được thể hiện nguyên hình dạng, lại luôn luôn biến cách; người ta chỉ thấy được đầu và cổ của chúng thôi. Dù thế nào đi nữa giao và cù được xếp vào loại rồng cấp thấp. Một viên quan đại thần nói với tôi về món đồ gỗ lâu đời trong nhà ông ta là nó thể hiện hình con giao chứ không phải con rồng thông thường vì dân gian nhiều lúc không dám thể hiện hình con rồng đích thực.

Tuy nhiên phải thừa nhận người ta hay pha trộn con rồng thông thường với con giao trong họa tiết mỹ thuật. Nhìn vào một bức chạm, người An Nam, thậm chí đó là nhà điêu khắc, có người bảo đó là con rồng và có người bảo đó là con giao. Do vậy tôi chỉ dùng chữ rồng để chỉ một hình ảnh dù đó là rồng hay giao. Tuy nhiên có lúc tôi dịch chữ giao là rồng-rắn (serpent-dragon).

Đối với con cù, nó có nét chuyên biệt, nếu không ở hình dáng hay và thuộc tính thì cũng ở cách dùng và vị trí người ta đặt nó: tay tỳ của ngai đá để ngoài trời dành cho một số nữ thần có trang trí đầu cù long. Chi tiết sườn nhà bên ngoài nối cột và bên trong nối lỗ đòn tay gọi là ‘xà cù’ có thể lấy tên từ con cù, đuôi chi tiết này đôi khi trang trí hình đầu con rồng.

Biến cách của con rồng rất đa dạng.

Rồng nguyên con, hoặc là rồng đích thực hay con giao, thường là hồi văn hóa long (hình XXIII, XXV, ..); lá và dây lá là lá hóa long (hình CXI và các hình kế tiếp); hóa long thấy ở mây và trúc (hình CLII, CLIII) và một số loài cây khác như: tùng, mẫu đơn, cúc, loa kèn[1], … (hình CLV)

Rồng chính diện biến cách gọi là ‘mặt nả’. Người ta hay giải thích mặt nả có nghĩa là mặt rồng., tôi chẳng rõ chữ ‘nả’ nghĩa là gì. Họa tiết tạo mặt rồng nhìn chính diện có nhiều thứ khác nhau tùy theo từng nghệ sĩ. Có khi là lá lật, có khi là hoa mẫu đơn, lại có khi là bông tây, lá hay dây lá (hình CXXXVII). Người ta cũng dung quả phật thủ và hoa sen biến cách thành đầu rồng nhìn chính diện (hình CIX, CIII, CIV). Chùm và tràng hoa biến cách thành họa tiết giao-hoa (hoa hóa giao)

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 6: Họa tiết hình thú – con lân)


[1]Tác giả dùng chữ amaryllis, chữ này có nghĩa là hoa loa kèn đỏ, nhưng phần phụ lục lại chú kế bên chữ Việt là hoa lan. Có lẽ tác giả nhầm lẫn vì hai hoa này khá giống nhau. Trong mỹ thuật Việt không thấy trang trí hoa loa kèn đỏ mà dùng hoa lan rất nhiều. Cây phong lan tiếng Pháp là orchidée. ND

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

Older Posts »