Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘giả cổ’

Tặng em Nguyễn Chí Hiền người đam mê cổ vật với hoài bão lớn .

 

Đồ cổ , như ta đã biết , được làm ra từ hàng trăm năm về trước , càng lâu đời càng quý , lâu đời và chất liệu độc đáo , làm đơn chiếc , hiếm thấy lại càng quý giá hơn .Một pho tượng cổ , một bức tranh cổ có thể trị giá bằng cả một tòa nhà . Một bộ tam đa cổ ( ba ông ) bằng gốm có thể bán tới 4-5 cây vàng .

Do đồ cổ là thứ hàng xưa đều rất đắt nên người ta tìm mọi cách để làm giả . Làm giả đồ cổ trở thành một loại nghề nghiệp hốt bạc , khá phổ biến ở Việt Nam , cũng như trên thế giới .Những vật dụng được sản xuất hôm nay không thể coi là đồ cổ , nếu làm giống như đồ cổ thì chỉ là thứ đồ giả cổ .Tuy giả cổ , song chúng rất được giá . Đương nhiên , làm đồ giả cổ phải rất công phu , như đồ gỗ , đồ gốm , đồ đồng giả cổ  chẳng hạn . Hiện nay , nghề làm đồ giả cổ phát triển mạnh . đem lại nguồn thi khá lớn cho ngân sách nhà nước , giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động trong cả nước , có ý nghĩa tích cực về đời sống kinh tế – xã hội , đáp ứng nhu cầu ngày càng tang của người tiêu dung trong và ngoài nước .Điều đó giải thích vì sao hàng giả cổ chẳng những không bị cấm mà còn khuyến khích sản xuất , trong khi các loại hàng giả khác đều bị cấm sản xuất và buôn bán .

Tuy vậy , lợi dụng tính hợp pháp của việc sản xuất , kinh doanh các mặt hàng giả cổ , một số người đã làm đồ cổ giả để đánh lừa khách hàng . Bằng các thủ pháp kỹ thuật , họ làm cho đồ giả ‘’ có màu thời gian ‘’ , biến đồ giả thành đồ cổ thật và bán cho những khách hàng cả tin với giá cắt cổ . Việc sản xuất , kinh doanh kiểu ấy được coi là hoạt động phi pháp , cần phải nghiêm trị , bởi vì nó làm phương hại đến lợi ích chính đáng của người tiêu dung , gây hậu quả xấu về kinh tế , xã hôi .

1/ ĐỒ GIẢ CỔ VÀ ĐỒ CỔ – THẬT GIẢ LẪN LỘN

Trên thế giới , việc làm đồ cổ giả đã diễn ra khá phổ biến ở bất cứ thời kỳ nào . Không hiếm những người thành thạo trong lĩnh vực này , mà một đại diện trong số họ V.Migio ( Meegere ) .

Năm 1947 , tãi Amsterdam , thay vì lãnh án tù chung thân về tội thông đồng với phát xít Đức chống lại lợi ích quốc gia , V.Migio chỉ bị tòa kết án một năm tù vì tội mạo chữ ký của danh họa Hà Lan Van Vermeer . Nguyên do là V.Migio đã từng bán cho Gocring một tên trùm phát xít Đức bức kiệt tác Chúa Cứu Thế và con dâm  phụ  do Van- Vec-mia  sang tác từ thế kỷ XVII . Nhưng trước tòa V-Migio đã chứng minh bằng tài nghệ của mình – kiệt tác mà ông bán cho Gocring chỉ là một bức tranh giả của kiệt tác kia … và đến lúc ấy , người ta mới biết rằng : từ năm 1936 đến khi phải ra tòa , V-Migio đã làm và bán trót lọt  8 bức tranh giả cổ , mỗi bức 60- 120 nghìn livres , cho một số nhà bảo tàng lớn và giới sưu tập tranh chuyên nghiệp .

Để qua được con mắt các nhà chuyên môn , nói cách khác là ‘’ qua mắt thiên hạ ‘’, là V-Migio phải bỏ ra  ba năm khổ luyện tay cọ cho nét vẽ giống hệt bút pháp của Van Vermeer . Sau đó , ông sưu tầm những tranh cùng cỡ , cùng thời với tranh của Van Vermeer , đem tẩy rửa sạch lớp sơn dầu cũ cho thật khéo để có các tấm vải nền cùng thời với vải nền các tranh vẽ vào thế kỷ XVII . Tranh giả khi vẽ xong lại phải làm lại cho cũ đi , giới làm đồ giả gọi  ‘’ nhuốm màu thời gian ‘’ . Tranh sơn dầu cũ thường có vết ran . V.Migio đã dung loại dầu đặc biệt để pha sơn , để sao cho khi sấy nóng tranh không đổi màu mà vẫn rạn mặt , đó là cách làm giả rất tinh vi của ông .

Người ta thán phục V.Migio bởi  các tranh giả cổ của ông tinh xảo và hoàn thiện đến mức , những chuyện viên sừng sỏ trong nghề giám định , có sự giúp sức của các thiết bị hiện đại , chuyện dụng trong thẩm định cũ , mới cũng phải bó tay . Những người làm đồ cổ giả cỡ như V.Migio tuy không nhiều , nhưng ở đâu và thời nào cũng có . Một lần , có nhà nghiên cứu đem đến một bức tranh có chữ ký của Picasso để hỏi nhà danh họa có phải tranh của ông không . Picasso nhìn kỹ tác phẩm rồi thốt lên : đúng là chữ ký của ông , nhưng chính ông cũng không biết đấy có phải tranh của mình hay tranh giả !

Những người làm tranh giả , tranh cổ giả và đồ cổ giả nói chung , phần lớn đếu là nghệ nhân vô danh , đầy tài năng ,am tường về đồ cổ . Họ có tài , lại thừa hưởng kho kinh nghiệm quý báu trong các nghề thủ công truyền thống do các thế hệ trước tích lũy , lưu truyền .Trong số họ phải kể đến các chuyên gia phục chế cổ vật của các viện bảo tàng . Nghề phục chế cổ vật có vai trò quan trọng trong việc trả lại cho hiện vật bộ mặt ban đầu của nó , nhân bản cổ vật quý hiếm để trưng bày , nhằm bảo vệ cổ vật gốc trước nạn đánh cắp gia tăng , đồng thời để cung cấp bản sao cổ vật cho các bảo tàng và có thể bán cho các nhà sưu tầm .

So với đồ cổ thật , sản phẩm được làm giả vừa phải đúng về chất liệu , kích cỡ , trọng lượng , vừa phải có ‘’ màu thời gian ‘’ và phải hệt như bản gốc ngay cả những vết sứt sẹo , rạn nứt nhỏ nhất .

Ở Việt Nam , nghề làm đồ cổ giả cũng có lịch sử lâu đời , với không ít nghệ nhân vô danh và lưu danh .

Năm 1903 , thành lập trường Mỹ Nghệ Thực Hành  Biên Hòa , người Pháp đặt vào đó hy vọng đào tạo những lớp thợ giỏi để có thể sản xuất hàng loạt đồ gốm giả cổ Trung Quốc , bởi họ biết rõ thế mạnh của các nghệ nhân Việt Nam ( khéo tay , cần cù , óc sáng tạo , tính nhạy bén tiếp thu cái mới … ) Thế nhưng phải mất 18 năm nghiên cứu , thực nghiệm với sự hỗ trợ của chuyên viên cao cấp người Pháp về gốm  , trường này mới tìm ra kỹ thuật sản xuất gốm cổ – đó là cách chế men gốm cổ , loại đất sét làm xương gốm và độ lửa nung gốm cần thiết xưa .

Đầu những năm 60 của thế kỷ XX , hang Thành Lễ , một cơ sở tư nhân chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại Thủ Dầu Một ( Sông Bé ) đã khá nổi tiếng , cũng bắt đầu chập chững đi tìm kỹ thuật làm đồ gốm giả cổ .Phương pháp tìm tòi , thể nghiệm của hang Thành lễ được tiến hành như sau :

-Bước đầu tiên là sưu tầm , hãng cử người đi khắp nơi săn lung , tìm mua các loại đồ gốm cổ của Việt Nam và của Trung Quốc .

-Bước hai – nghiên cứu và thẩm định , khi có số lượng đồ cổ cần thiết , hãng mới mời chuyên viên về gốm ( đa số đã tốt nghiệp Phân ban Gốm của trường Mỹ Nghệ Thực hành Biên Hòa ) và các họa sĩ có tài đến xem xét kỹ lưỡng kiểu dáng , hoa văn , họa tiết , thẩm định chất liệu gốm ( xương gốm , men , độ nung .. .) xác đinh niên đại và xuất xứ từng loại , từng thứ cổ vật .

-Bước cuối cùng là thử nghiệm , sản xuất . Khi đã nghiên cứu , phân tích mọi mặt , nắm vững về chất liệu và kỹ thuật hãng bắt tay vào sản xuất thử nghiệm và thử mãi đến khi thành công mới tiến hành sản xuất hàng loạt để bán ra thị trường . Ở cơ sở Thành Lễ , việc nghiên cứu gốm cổ tiến hành trên cả hai mặt , đó là tìm hiểu các kiến thức gốm trong sách vở , tài liệu va phân tích sâu sắc từ trên sản phẩm gốm xưa, đem kết quả thu được đưa vào thử nghiệm sản xuất .

Do tiến hành nghiên cứu , sản xuất rất công phu , có phương pháp khoa học như thế , nên trước năm 1975 hãng Thành Lễ đã làm ra nhiều chủng loại gốm giả cổ : đồ đất nung , gốm thô , gốm men ngọc , men hoa nâu , men Celadon .vv…Nghĩa là , Thành Lễ trên thực tế đã làm được hàng loạt đồ cổ giả như đồ cổ thời Lý , Trần , Lê , Nguyễn của Việt Nam , cũng như giả đồ cổ các đời Xuân – Thu chiến quốc , Khang Hy , Càn Long … của Trung Quốc .

Sự kinh doanh  đồ cổ  kéo theo việc săn tìm đồ cổ . Kinh doanh đồ cổ phát triển rầm rộ còn lôi cuốn những người làm đồ giả cổ và cả đồ cổ giả . Ngoài kết quả sản xuất đồ gốm giả cổ của cơ sở Thành Lễ , các nghệ nhân có tay nghề cao ở nhiều địa phương trong nước đã tìm cách làm ra các đồ gỗ giả cổ , các sản phẩm khắc đá , đúc đồng giả cổ …. Được khách hàng rất ưa chuộng .

Tuy kỹ thuật làm cho các sản phẩm giả cổ có ‘’ màu thời gian ‘’ nhiều khi rất thô sơ , nhưng nhờ khéo tay , một số ‘’ nghệ nhân ‘’ đã làm cho đồ giả y như đồ cổ thật .Hoạt động này đã gây rất nhiều khó khăn trong  xã hội , làm cho người mua bị mắc lừa , thậm chí ngay cả các chuyên viên giám định đồ cổ ở các cửa khẩu cũng không phân định rạch ròi đâu là đồ cổ , đâu là đồ cổ giả , nếu họ thiếu kinh nghiệm và sự thận trọng cần thiết .

Mấy năm gần đây , tham gia vào  việc làm đồ cổ giả còn có một số xí nghiệp , công ty và một số cơ quan nhà nước . Các cơ sở sản xuất gốm sứ Bát Tràng đua nhau làm đồ gốm sứ giả cổ . Một số hộ đúc đồng Ngũ Xá ( Hà Nội ) làm nhiều đồ đồng giả cổ . Nhìn chung các đơn vị chế tạo đồ giả cổ đang cố gắng thực hiện chương trình nghiên cứu một cách nghiêm túc về đồ cổ .Mục đích cuối cùng của họ là làm được các loại sản phẩm hoàn hảo . Để làm được các sản phẩm giả cổ chất lượng cao , các nghệ nhân , các chuyên gia đang cố gắng kế thừa những kinh nghiệmcổ truyền , kết hợp kinh nghiệm quý báu ấy với các thành tực khoa học – kỹ thuật hiện đại , khắc phục dần nhược điểm , yếu kém trong nghề làm đồ giả cổ ở nước ta .Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng  : sản xuất các mặt hàng giả cổ hiện đang là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam , xuất khẩu và tiêu thụ hàng giả cổ trên thị trường trong nước đã thu cho ngân sách nhà nước khoản tiền lớn .Nhưng , ngay ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh này rõ ràng vẫn có sự lấn cấn ít nhiều giữa giả và thật . Hơn nữa , một số người đã và đang chế tạo ra những đồ cổ giả rồi tung vào ‘’thị trường ngầm ‘’ càng làm cho tình hình quản lý , mua bán đố cổ phức tạp hơn .

2/KỸ THUẬT LÀM ĐỒ CỔ GIẢ – ĐỒ ‘’ THẬT GIẢ ‘’ TRÊN THỊ TRƯỜNG

Đồ cổ vốn đắt giá . Vì thế , đồ cổ giả thường đem lại những khoản lợi kếch xù cho người làm ra và người kinh doanh nó . Song công việc làm đồ cổ giả đến mức tinh xảo và hoàn thiện thì không phải là dễ dàng . Quá trình tìm đạt các yếu tố cần và đủ để món đồ giả được chấp nhận như đồ cổ thật là quá trình đầy gian nan , tốn phí nhiều thời gian , công sức , tiền bạc … kinh nghiệm trong lĩnh vưc  này vì vậy luôn luôn là bí quyết , bí mật , nhiều khi vĩnh viễn thất truyền .

Đồ cổ tức là các vật dụng ,   hiện vật xưa , phải lâu đời , phải mang cái màu đặc trưng “’màu thời gian ‘’ . Vậy mà những đồng tiền cổ thời Hồng Đức , tiền đồng thời Minh Mạng , thới Vạn Lịch … đậm nét dấu vết tàn phá của thời gian , được bày bán trong các hộp nhỏ hoặc trong tủ kính dọc đường Đồng Khởi ( TPHCM ) thường là ‘’ đồ cổ ‘’ mới làm hôm qua !Giới làm đồ cổ giả ( đồ dởm ) biết cách tạo ra ‘’màu thời gian ‘’ đơn giản mà rất nghệ thuật , đống và thau hóa ra màu rỉ xanh đặc biệt , kẽm hóa ra màu xám , xỉn , đồng đỏ hóa đồng đen , giấy mới tinh hóa thành giấy cũ ố vàng … Thực sự kỹ thuật này không có gì phức tạp .

Để có ‘’ màu thời gian ‘’, biến vật mới thành cũ , người ta chỉ việc ngâm đồ kim khí vào a- xít trong một thời gian cần thiết , lâu hay mau tùy ý . Không cần cọ rửa kỹ , rồi để chừng vài giờ , vật kim khí bị ăn mòn ít nhiều ấy sẽ có màu xỉn và trở nên u ám như đã chon vùi hàng thế kỷ .

Muốn có một văn bản cổ ư ? người ta dung loại giấy dó thủ công , đem viết bằng bút long , mực tàu một bài văn bản cổ bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm ,hoặc kiếm loại giấy khá dày ( chọn giấy sản xuất thủ công càng tốt ) đem viết một văn tự chuyển nhượng nào đó bằng loại ngòi bút cũ như loại ngòi là tre , ngòi búp đa , ngòi viết rông (rond) , với mực gói pha và kiểu  chữ  gô –tích ( gothique ) chứ tuyệt đối không dung bút bi , bút dạ là các loại bút viết và loại mực mới xuất hiện gần đây . Văn bản được nhúng qua nước Javel cho phai nhạt bớt màu giấy mực mới , rồi phơi khô .Xong đem nhuộm ‘’ màu thời gian ‘’bằng … nước trà đặc . cần cho chỗ đậm nhạt chỗ nhạt chỉ việc tạo bằng cách điểm xuyết cho văn bản vài giọt javel vài giọt nước trà .Để tạo giấy nhăn nheo , người ta kiên trì ngồi xếp lại thành tập rồi mở ra hàng trăm lần . Muốn cho nó mềm nhũn thì lấy ống sắt mà cán .

Văn bản thời trước , nhất là thời Pháp thuộc ,thường có dấu rỉ sắt đinh ghim . Người ta dùng kim ghăm , kẹp sắt ngâm acid loãng rồi đem ghim tập văn bản đã xử lý trên . Còn con dấu và chữ ký chỉ là việc vặt vãnh của những người có tay nghề làm giả . Các văn bản cổ giả như vậy dễ dàng gây cho ta niềm tin rằng chúng vừa được lấy ra từ một ván khố cổ của kho lưu trữ nào đó và đấy là một tài liệu gốc!

Các tranh giả mới vẽ , mới sao chép hôm qua mà trông như đã để hàng trăm năm trong các bảo tàng hay trong các bộ sưu tập tư nhân .Kỹ thuật khá đơn giản : cho tranh vào lò sấy như lò bánh mì . Chừng vài giờ sau thì cả khung gỗ , cả mặt tranh đều có những vết rạn đầy nghệ thuật . Bụi thời gian ư ? có gì khó . Qua một số công đoạn kể trên , tức khắc nó được liệt vào loại tranh cổ . Còn giá bán tranh thì tùy đối tượng cần mua .

Đồ gốm , sứ cũng không thoát khỏi cảnh bị làm giả . Làm một chiếc bát cổ , lọ cổ rạn vỏ trứng , rạn vảy rắn , rạn hột mè cũng không phải là chuyện khó . Người ta làm cho nó nóng nguội đột ngột là men bị rạn ngay . Rồi đem ngâm nó vào nước trà đặc . Cách này có  thể tạo ra các đồ gốm men rạn y như đồ được làm từ thời Lý , Trần , Lê vậy .Chỉ có điều làm gốm men rạn giả , sau khi tạo vết rạn trong môi trường nhiệt bất thường , người ta nhúng nó trong chậu mực xanh để mực ngấm vào sâu trong men gốm theo các vết rạn nứt , rồi mới nhúng vào nước trà để tạo ‘’ màu thời gian ‘’ .

Nhiều loại tượng gỗ , tượng đá , tương đồng cổ được làm giả không chỉ bằng trình độ cao về kỹ thuật mà còn bằng các thủ thuật . Chẳng hạn trường hợp pho tượng cổ Chăm bằng đá được làm giả bằng  xảo thuật :những công đoạn cuối cùng hoàn chỉnh pho tượng cổ giả vừa hoàn thành , người nghệ nhân suy nghĩ một lát và bỗng cầm búa chặt mạnh vào cổ pho tượng , làm nó gãy đôi , đầu một nơi , thân một nơi .Bạn đọc đừng vội ngạc nhiên . Ông ta  làm như thế là làm theo yêu cầu của chủ hàng . Cách đây vài năm , chính ông đã sơ ý làm vỡ một pho tượng giả cổ do mình tạo .Chưa kịp gắn lại thì có một du khách mua ngay phần thân tượng  . Gần đây , người khách ấy quay lại cửa hàng bỗng thấy đầu tượng .ông ta thích quá mau ngay đầu tượng với giá đắt gấp ba lần thân tượng trước đó . Thế là mỗi pho tượng do nghệ nhân này làm xong , chủ cửa hàng đều đề nghị ông đập gãy đôi , gãy ba , gãy bốn …

Đó là kiểu khá phổ biến trong kinh doanh đồ giả cổ ở thị trường nước ta hiện nay ,tìm đủ cách , dung cả kỹ thuật lẫn xảo thuật để bán đồ giả với giá của đồ cổ thật .

Người kinh doanh đồ cổ giả không chỉ lừa những kẻ ‘’gà mờ’’. Họ còn qua mắt người sành chơi đồ cổ .

Người sành đồ cổ , sính đồ cổ hay có cái hiếu kỳ muốn cho món đồ cổ của mình có lai lịch , càng ly kỳ càng tốt .

Họ còn phân biệt đồ cổ và đồ cổ giả theo những nguyên tắc  nhất định .Tính hiếu kỳ và các nguyện tắc ấy không phải là bí mật tuyệt đối , giới làm đồ cổ giả cũng nắm vững và tìm ra đối sách hữu hiệu .Các chủ hiệu đồ cổ , nhất là những tay bán đồ cổ dởm cũng dán cho hàng mình môt lai lịch , thậm chí còn ‘’sáng tác’’ra lai lịch ly kỳ nữa .Có tới hàng ngàn ví dụ thực tế về điều ấy , như một bình vôi vô danh ( thuộc loại vứt gốc đa , sau miếu , lăn lóc không ai thèm nhặt ) đã được bán với giá bằng cả một căn nhà khang trang , nhờ được gắn một lai lịch ‘’  bình vôi của Ngài Ngự ‘’ – bà Từ Cung Thái Hậu thời nhà Nguyễn (! ). Một viên ngọc ( hay đá ? ) màu trắng đục , bên trong có hai vân đá quấn lấy nhau , được chủ buôn gắn cho cái lai lịch ‘’ viên ngọc rắn ‘’ . Ly kỳ hơn nữa , người ta bảo : đem ngâm viên ngọc ấy trong sữa của bà mẹ có con so sẽ thấy ngọc trong hơn và hai con rắn cựa quậy ( ! ) . Rắn có ngọc là phi lý và phản khoa học . Song có nhiều người chơi đồ cổ cố tin vào câu chuyện hoang đường ấy . Theo họ , con gì cũng có ngọc , miễn là tu luyện lâu năm , kể cả con người . Ở Hà Nội , không mấy ai chơi đồ cổ lại không nhớ câu chuyện hoang đường gắn liền với ông Hoàng Cao Khải có ‘’huệ nhỡn ‘’đã biết trước trong đầu cậu bé ( đầu to khác thường ) có viên ngọc to …bằng trứng gà con so (!) .

Người sính đồ cổ thì mê đồ cổ . Đã mê thì dễ tin . Dễ tin thì dễ bị lừa gạt . Cái lô-gich nghìn đời vẫn thế .

Hiện nay , thật khó đoàn định chính xác số lượng , chủng loại đồ cổ giả đã và đang lưu hành trên thị trường , khó có thể thống kê số đồ giả được coi như các bảo vật đã được sưu tập trong các gia đình hay đang trôi nổi trên thương  trường trong và ngoài nước . Chỉ biết rằng , sản xuất và kinh doanh đồ cổ giả , dù công khai hay ngấm ngầm , thì từ lâu đã thành nghề và nghiệp sống còn của không ít người .

Bên cạnh lấy tân làm cổ , còn có nghề tân trang – lấy cổ làm tân . Thượng vàng hạ cám , bất cứ cái gì cũ làm cho mới thì đều có giá . Đó là những nghề tân trang đồng hồ , máy hát , ti vi , tủ lạnh , máy giặt , ô tô , xe máy , xe đạp , dây chuyền công nghệ và thiết bị cũ , kể cả con người ( như tân trang sắc đẹp , chỉnh hình ) mà phần lớn đều mới xuất hiện ở Việt Nam .Nếu như những năm trước việc tân trang đồng hồ cũ hỏng thành đồng hồ mới ( đồng hồ dởm , đồng hồ cốp ) dễ thu lợi thì bây giờ  , khi thị trường TP HCM rộ lên việc mua bán cao giá đồng hồ cổ , đồng hồ cũ của Thụy Sĩ , của Pháp , đã kéo theo sự phát triển việc làm đồng hồ cổ giả , tức là làm cho đồng hồ mới có hình thức tương tự biến thành đồng hồ cổ , như chúng ra đời hàng trăm năm trước .

Ngành bảo tồn bảo tàng có khoa phục chế , dạy cho người ta các phương pháp làm đồ cổ giả .Nhưng trong giới sản xuất , chế tác đồ cổ giả , ngoài các chuyên gia và nghệ nhân giỏi , rất am tường đồ cổ cả về lý thuyết lẫn thực hành , còn khá nhiều người không hề qua trường lớp nào , không được kế thừa kinh nghiệm gia truyền , nhưng tay nghề của họ có khi rất cao , sản phẩm của họ có thể qua mặt các chuyên gia trong ngành giám định cổ vật . Quả thật , những tay nghề cỡ ấy rất đáng khâm phục , song xét về mặt kinh tế – xã hội thì không khuyến khích các hoạt động của họ , bởi nó gây nên và để lại hậu quả tiêu cực nhiều khi hết sức phức tạp .

Ngăn chặn và làm giảm hẳn nạn làm đồ giả , cần có nhiều biện pháp quản  lý , kiểm tra . Giám định là một biện pháp kiểm tra hữu hiệu trong việc chặn đứng nạn ‘’chảy máu đồ cổ ‘’ , phân định đâu là đồ cổ thật , đâu là đồ cổ giả .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng .

 

 

Xin  giải thích theo cách hiểu của tôi :

– Đồ cổ : đồ nguyên bản có tuổi (original )

– Đồ giả cổ : là đồ sao chép chính xác từ nguyên vật liệu đến hình dáng của món đồ nguyện bản ( theo luật định của Việt Nam phải được sự đồng ý của chủ sở hữu món đồ cổ đó mới được tái bản và món đồ đó được gọi là đồ giả cổ và phải xin phép cơ quan quản lý cổ vật )

– ĐỒ CỔ GIẢ  : là đồ giả cổ nhưng không được sự đồng ý hoặc chủ sở hữu không biết đến việc sao chép lại món đồ cổ đó hoặc không xin phép cơ quan quản lý cổ vật

-Đồ phỏng cổ : cũng là đồ sao chép nhưng không chính xác từ nguyên vật liệu cho đến hình dáng do đó không cần xin phép chủ sở hữu món đồ đó .

Do vậy về giá cả đồ phỏng cổ không đắt bằng đồ giả cổ , đồ cổ và ĐỒ CỔ GIẢ có thể bạn sẽ mua ngang giá vì bị lừa .

tùy theo sự hiểu biết và cảm nghĩ của mỗi người mà có thể diễn đạt ngôn ngữ có khác biệt và gây nhầm lẫn đôi chút

 

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Advertisements

Read Full Post »

 Vài phiên bản giả cổ (copies) gốm Từ Châu (Cizhou) thời Tống, Nguyên.

Những nghệ nhân gốm tại Pengcheng đã phục hồi thành công những kỹ thuật làm gốm của dòng lò Từ  Châu cổ thời Tống Nguyên. Thực tế đã có những tác phẩm lảm rất chuẩn có thể so sánh với các tiêu bản của quá khứ . Trong số các nghệ nhân bậc thầy gốm Từ Châu ngày nay , Ông Liu Lizhong (刘立忠)là nghệ nhân nổi tiêng nhất. Bên cạnh việc làm ra những tác phẩm theo khuôn mẫu phong cách cổ Từ  Châu thời Tống Nguyên, ông cũng làm những đồ gốm bằng phương pháp cổ truyền nhưng dưới chủ đề và cách tạo dáng tân thời.

Ông Liu Lizhong đang thao tác quy trình sản xuất vẽ men hoa đen chứa chất sắt và thực hiện motif hoa văn cào bằng lược.

Một vài sản phẩm gốm Từ Châu trong xưởng của ông Liu. Một số là phiên bản nhái lại motif gốm cổ Từ  Châu thời Tống Nguyên. Tuy nhiên cái ở hàng dưới cùng góc phải làm bằng phương pháp cổ truyền nhưng dưới chủ đề và cách tạo dáng tân thời.

Đồ nhái thời Tống, kỹ thuật sgrafito

Motif thời Tống , dáng bình hiện đại.

Vài bản nhái gối gốm vẽ men hoa đen sắt thời nhà Kim, Nguyên được các nghệ nhân khác thực hiện cũng được xử lý tốt và chất lượng mỹ thuật khá tốt.

(Tư liệu của NH Koh – KhanhhoaThuynga sưu tầm và dịch.)

Ghi nhận riêng: một số trong số gốm Từ Châu phỏng cổ trong bài này đã thấy có tại Việt Nam và cả một số bản motif khác nữa.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Nhấn trên tựa bài để xem:

Cụ già làm tượng cổ Champa

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Nhấn vào tựa bài để xem:

Nghề “nhân bản” tượng Chăm ở thị trấn Bình Định

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

JinDeZhen FanJiaJing chợ mua bán hàng gốm sứ giả cổ lớn nhất thế giới

Đặc tính của đồ sứ (porcelain) Cảnh Đức Trấn có thể mô tả như sau: Trắng như ngọc, mỏng như giấy, tinh khiết như thủy tinh, và gỏ vào thì nghe trong như tiếng khánh (bell). Vậy khi đã du lịch đến Cảnh Đức Trấn – Giang Tây, thành phố của niềm tự hào có đến 800.000 người làm việc liên quan đến ngành gốm sứ, bạn có thể mua những đồ sứ có đặc tính như trên ở đâu:

“Phố đồ sứ” Cảnh Đức Trấn
“Phố đồ sứ” Cảnh Đức Trấn là nơi các thương nhân bán đồ sứ tụ hội. Ngay từ thời Minh, Thanh đã có một đường phố bán đồ sứ nổi tiếng có tên là Ma-shi-xia Long. Ngày nay có hai phố bán đồ sứ là : Lian-she Lu ở phía nam của khu trung tâm thành phố và phố San-he gần khu vực Cidu-Da-Dao.

Chợ gốm sứ giả cổ FanJiaJing
Khác với
chợ Laochang tập trung bán hàng gốm sứ với mức độ trang trí và chất lượng trung bình hoặc thấp, chợ gốm sứ FanJiaJing chuyên biệt hơn trong việc chỉ bán hàng phỏng cổ. Chợ gốm sứ FanJiaJing tọa lạc ở phía đông thành phố. Có một trạm xe lửa ở phía đông của chợ, và công viên thành phố ở về phía tây chợ ( Laochang nói ở trên là chợ gốm sứ lớn nhất thành phố nằm trong công viên này). Chợ gốm sứ giả cổ FanJiaJing bắt đầu hoạt động vào năm 1990. Vì địa điểm thuận lợi và giá phòng Hotel rẽ nên thương nhân tấp nập ra vào khu vực này. Có vào khoảng 400 thương nhân và nghệ nhân bán hàng phỏng cổ và đồ sứ trang trí vẽ tay với giá bình dân tại đây.

Mời các bạn du lịch qua hình ảnh để xem hàng hóa và sinh hoạt tại chợ FanJiaJing chợ mua bán hàng gốm sứ giả cổ với chất lượng tương đối lớn nhất thế giới:

click trên hình để xem ảnh lớn.

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

 


Read Full Post »

Khi nào thì một bản sao mô phỏng trở thành một cổ vật giả mạo?

Jan – Erik Nilsson

Tôi vừa mới nhận một tấm hình của một bản sao đồ sứ thời Vạn Lịch, tôi thấy món hàng đẹp, được làm rất tốt khá thu hút và hoàn toàn không có ý định lừa dối ai. Điều này hoàn toàn tương phản với chiếc đĩa vẽ hình cá dưới đây – 100% là đồ giả với ý đồ xấu.Tôi nhận thấy vấn đề “lúc nào một bản sao trở thành một món hàng giả ?” là đáng đặt ra.
Việc sưu tầm cổ vật thật giống nhiều với trò chơi trí tuệ: Ai gạt ai?

Đĩa cổ giả mạo

Đĩa cổ giả mạo


Đây là một trong những món đồ giả thú vị mà tôi từng gặp.
Chiếc đĩa vừa mới được làm cho trông giống một cái đĩa lõm đế thời Minh mạc ( cuối đời nhà Minh). Bạn có thể thấy là nó khá mới do có vết mạt đen bám vào viền ngoài đế đĩa, ánh hơi xanh hơn của men trên phần lõm của đế đĩa so sánh với màu men ở phần bên ngoài rìa. Và nếu có thể cầm trên tay, bạn có thể nhận thấy vẽ “rực rỡ tân thời” của lớp men này.
Cái đĩa nàyđã được xử lý hóa chất để trông có vẻ là một món đồ vớt được từ tàu đắm. Trang trí đỏ và xanh lá để nhìn giống như dòng đồ “Swatow” đã được thêm vào, và được mài, chà nhám cho mờ đi lớp men để trang trí men trông như mòn theo năm tháng. Vết tích của vật liệu mài có thể nhìn thấy sót lại tại các lổ kim nhỏ trên men, khi xem xét kỹ qua kính lúp 10x.
Một con cá được vẽ thêm vào rồi mới đến bước xử lý lớn – bằng keo dán hay chất dẻo nào đó tạo các đường sọc hơi nâu nham nhở. Tại sao người ta phải trải qua các bước rắc rối này để tạo một chiếc đĩa vẽ hình cá giả?
Một chiếc đĩa Thời Minh mạc ” swatow lõm đáy, men đỏ và xanh lá vẽ hình cá” có giá 50 – 100 USD ngày nay nên được trả giá, một phần vì trước kia chưa từng có hiện tượng này. Tuy nhiên có đáng không khi chỉ sản xuất một cái đĩa? Không chắc lắm, nhưng với 1000 cái loại này với giá 100usd/cái thì bài tính thương mại là hoàn toàn khác.

Thông thường sẽ không có vấn đề gì khi ta gặp một món đồ mà ngay lập tức nhận thấy ” dường như là đúng đời”. Nếu không phải như thế thì việc trả lời ” vậy nó được làm ra khi nào, trong trường hợp này” sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều.
Ngay cả khi được sản xuất tại những thời điểm khác với hình thức món đồ thể hiện, chúng vẫn có thể hấp dẫn và sưu tập được. Những bản sao mô phỏng lúc nào cũng được làm ra, một số cổ vật xuất sắc thời “Minh” được sản xuất vào thời Ung Chính và một số đồ vật đẹp thời “Ung Chính” được làm trong thập niên 1920.
Vậy khi nào thì một bản sao mô phỏng trở thành một cổ vật giả mạo? Có lẽ chúng ta phải tìm hiểu ý đồ khi mua bán.Nếu nó được sản xuất, bán hay trao đổi chỉ với ý định là lừa gạt, tôi nghĩ chúng ta nên cho chúng là đồ giả (fake). Trường hợp giả mạo tồi tệ nhất mà tôi nhận xét là việc sử dung những biện pháp nhân tạo để làm sản phẩm trông già tuổi. Có nhiều sản phẩm phủ men được chà xát, đánh bóng, xử lý bằng acid, cố tình làm bể, nứt để trông được già tuổi, giống như chiếc ” đĩa trang trí cá” tội nghiệp này.
Chúng ta có nên nhìn vào quy mô của việc thương mại này theo một cách khác? Tại Trung Quốc việc làm và bán các bản sao mô phỏng cổ vật ( antique replica) thật sự là một nghành kinh doanh xuất khẩu lớn, vì việc xuất khẩu cổ vật chính hiệu là hoàn toàn nghiêm cấm.
Theo tôi, nghành thương mại “cổ vật” này được tổ chức rất tốt.
Những đồ gốm Đường Tam Thái ( Tang sancai) quan trọng và những cổ vật kỳ quặc khác đã được dùng mánh khóe để vượt qua TL Test ( phương pháp thử phát xạ huỳnh quang nhiệt). Thật ra chỉ là việc sử dụng đúng thiết bị với một vài sự cân chỉnh. Ở đâu đó chắc chắn có người biết phải mất bao nhiêu lần cho một ” tượng ngựa thời Đường” đi qua máy dò an ninh phi trường để ion hóa vừa đủ và trở thành 1250 tuổi khi được test.
Mặt hàng kinh doanh thuộc mọi triều đại và mọi loại chất liệu như đồ gỗ, thủy tinh, sơn mài, đồng, đá, ngọc, cẩm thạch, vải vóc, tranh vẽ, đồ sứ và mọi loại gốm khác. Ngay cả những hàng sứ mỹ nghệ được sản xuất muộn mãi 1920 – 1930 vẫn được làm nhân bản.
Những mảnh rời và có thể nguyên một sản phẩm triều đại Hán được điêu khắc từ những viên gạch thời Hán thật sự nhưng vô giá trị được lật lên từ những công trình làm đường. Chính bản thân tôi đã mua phải một “mảnh rời cổ vật thời Hán” với giá 25 USD tại một hội chợ. Những mảnh này là không thể phân biệt với đồ thật bằng thử TL test vì viên đá thật sự 2000 năm tuổi. Tuy nhiên quan sát kỹ có thể phân biệt được.
Một trò lừa khác là nghiền nát các mảnh vỡ của các cổ vật thật và trộn với keo dán với mục đích sửa chữa. Trò này cũng vượt qua TL test, một lần nữa đồ vật bị làm vỡ rồi được “sửa chữa” thành đồ thật nhưng hư hỏng.
“Đào phá lăng mộ” trộm qua đêm để tạo ấn tượng “giống như đồ vật thật sự” cho những thứ dĩ nhiên đã mới được chôn trước đó là trò lừa ở mức độ tinh vi hơn.Mới đây, nhiều tô gốm sứ lớn gọi là “Jun” được tuồn vào Singapore bởi một nhóm người và khẳng định hoàn toàn là đồ “đào” trộm. ( Trên các diễn đàn cổ vật Việt Nam, khi giới thiệu hàng cho cộng đồng thuật ngữ “đồ đào” vẫn thường xuyên được dùng cũng với ý nghĩa như trên nhằm gây ấn tượng là đồ thật)
Bằng những cách tương tự, những cuộc khảo sát “dò tìm cổ vật tàu đắm” cũng được tổ chức mà ở nơi đó người mua vớ phải những đồ cổ ướt nhẹp sau khi nó được “tuồn” về nhà nhưng khi khám nghiệm kỹ lưỡng hơn thì không được “cổ” như thế. Ngay bây giờ trên bàn tôi cũng có một số món như thế được gửi từ Đông Nam Á.
Theo kinh nghiệm của tôi, một số đồ cổ thật với chất lượng kém thường được chào chung với những món hàng giả mạo nhằm củng cố cho khả năng là đồ thật cho những món còn lại là chiêu chào hàng nhắm vào khách hàng tiềm năng. Xảo thuật này cũng dùng cho nhiều “lô” hàng lớn và nhỏ.

Sau tất cả những điều này việc gì phải làm? Từ bỏ và sưu tập mặt hàng khác? Tôi sẽ trả lời là không dù ngay cả đôi khi tôi thấy thật mệt mỏi với chuyện này.Nền công nghiệp làm hàng giả, tôi muốn nói, là mối đe dọa lớn đối với việc kinh doanh cổ vật hơn là các nhà sưu tầm cổ vật.

KhanhhoaThuynga lược dịch.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

 

Nghề làm đồ sứ tại Cảnh Đức Trấn – Hình ảnh

Sử sách ghi lại, vào đời vua Càn Long, tại Cảnh Đức trấn có 3000 lò chuyên về đồ gốm và đồ sứ. Thợ thầy trên mấy trăn ngàn người, mỗi người mỗi nghề riêng, không ai xâm phạm nghề ai, người lo vận tải đất và vật liệu, người chuyên nắn đúc, người thì trang trí vẽ vời, người khác coi về lò lửa…

I – Chọn và nhồi đất


Cao lanh và Bạch Đôn tử trong bảo tàng gốm sứ Cảnh Đức trấn

Việc chọn đất và nhồi đất là một khâu quan trọng trong nghề gốm sứ. Trung Quốc vốn hơn thiên hạ về đồ sứ là nhờ có sẵn hai nguyên liệu không thay thế được, đó là chất Bạch đôn tử (chinastone) và Cao lanh (đất sét trắng).

Cao lanh là đất sét trắng riêng biệt của vùng Giang Tây, các nước khác tuy có nhưng không tốt bằng và không thay thế được. Ngày nay, vùng Giang Tây vẫn lấy đất tại đây để làm đồ sành sứ nhưng không thể đẹp bằng đồ sứ cổ năm xưa. Bạch đôn tử cũng là đất nhưng rắn vô cùng. Khi lấy trong mỏ ra là một khối đá, có bọc một lớp đất đỏ ngoài da. Đem về, cho vào cối đá giã thành bột, xong phải dùng nước để lọc bỏ sạn và tạp chất. Đãi thêm vài lần rồi vớt phần mịn nhất, trộn cùng cao lanh, nhồi kỹ rồi dùng để nắn đồ.

Bạch đôn tử có bán sẵn đúc thành khuôn như viên gạch có đóng dấu nhà và nơi sản xuất. Nhưng loại này có trộn nhiều tạp chất, mua về phải ngâm nước và đãi cho thật kỹ để lấy ra những chất độn, phần tinh vi lọc được sẽ nhồi chung với cao lanh, tuỳ theo số lượng, tốt thì nửa phần thứ này, nửa phần thứ kia, hoặc nhồi theo “tứ lục”, tức 4/10 hoặc 6/10. Sành rẻ tiền thì ít bạch đôn tử hơn sứ ngự dụng.

Vật liệu đầy đủ rồi, còn một việc quan trọng là nhồi bã đất. Cần phải nhồi kỹ và đúng phương pháp. Trước, đảo bằng lưỡi cuốc lưỡi mai, vừa đảo vừa lắng nghe tiếng dội qua lưỡi thép của khí cụ quen tay từ nhiều năm. Khi thấy được thì chuyển sang nhồi bằng chân để dò lại một lần nữa những vật lạ có thể sót lại. Công việc này tuy xem tầm thường nhưng sự thành công sau này tuỳ thuộc vào khâu này rất nhiều. Sau khi nhồi đất công việc chuyển sang cho “e kíp” nắn đồ.

Ngày nay, hầu hết các lò gốm đều trộn đất bằng máy móc, tuy tiết kiệm được nhiều công sức của con người nhưng vì thế mà cũng làm giảm đi vẻ đẹp tinh tế của món đồ.

II – Tạo hình


Đào công Cảnh Đức trấn say mê tạo hình

Ngày nay, khi đến thăm các lò gốm như Lái Thiêu hay Biên Hoà…nơi các lò gốm người Tàu làm chủ, ít nhiều vẫn còn giữ cổ truyền, như lò đốt bằng củi, cách nhồi đất và nắn đồ vẫn còn na ná như xưa…Muốn làm một ống tròn, một cái hũ, hay một cái bình…trước tiên người thợ móc một cục đất đã nhồi kỹ, đặt lên bàn quây. Cái bàn này có từ xưa, gồm hai tầng, tầng dưới vừa với chân thợ, đạp vào thì bàn chạy vòng tròn và lôi theo cái mặt trên, làm vừa với hai tay người thợ, mặc tình uốn nắn cục đất tuỳ sở thích. Cục đất lướn bằng cái gối, mềm dẻo, khi bàn quây di chuyển từ cục đất vô hình đã biến thành món vật tuỳ ý người nặn. Khi tạo xong, muốn lấy ra phơi, người thợ dùng dao cắt – đó là chiếc dao làm riêng để cắt đất, gọi là dao cung, cần bằng tre và căng một sợi chỉ thép hoặc thép dùng cắt đất rất tài tình.

Thời Minh, khi món đồ phơi khô se se, tiếp tục đặt lên bàn quây để o bế lại và cạo gọt giồi mài cho thêm láng. Vì vậy ngày nay thường nhìn thấy nơi đáy món đồ khi gặp món nào đáy không tráng men, có dấu vòng cùng một trung tâm, thì đó là khu khoanh măng. Và nếu xung quanh chân bình có dấu nhu lằn dao thì ta có thể nói món đồ có triệu chứng thuộc về thời Minh. Vả lại, đáy vật cổ nào cũng giữ lại dấu vết khi nó ở trên bàn quây hay khi nó vào lò hầm, những dấu vết đó có khi còn quý hơn chữ ký hay chữ hiệu vì chữ ký còn giả được chứ những dấu ấy là dấu tự nhiên mỗi món, người nào có kinh nghiệm thấy một lần là biết liền.

Vào buổi sơ khai, những khuôn làm gốm đều được tạo từ tre trúc (khuôn giỏ tre), sau này chế ra khuôn bằng đá đất, bằng thạch cao hay gốm. Những bình nào có hình thù lạ, khi vuông, khi không đều góc thì làm bằng khúc rời rồi ráp lại, gắn bằng đất sét pha lỏng. Những chỗ ráp này cong thô sơ dễ nhìn thấy, đến thế kỷ XVII thì đã khéo léo hơn, ít người nhận biết được. Những choé thật lớn thì làm thành hai khúc rồi ráp lại, thoa men mất dấu. Những hình tượng nhân vật, cầm thú, các vật nhái trái cây, các quai bình, vòi ấm hay các hình đắp nổi thì được nắn rời bằng tay , cho vào khuôn dọn sẵn theo kiểu thức nhất định.

Khi làm xong xuôi, các món đồ đất sét đều để phơi se ngoài gió dịu cho đến khô thật khô. Các món quý như đồ ngự chế dâng vua, đồ đặt làm riêng cho sứ thần các nước chư hầu mang về đều để cho khô ngót một năm tròn. Sau khi phơi khô đúng thời gian quy định, các món ấy đều được sửa lại, vì bị cứng nên phải ra vóc  bằng cây đục sắt, dao thép. Các chỗ như miệng, hông của cái bình thì dồi lại cho trơn tru, cái chân phải khoét lại cho thật vững, thật sát mặt bàn, những chỗ nào đắp nổi thì đều o bế cho dễ coi.

Hoàn tất các việc ấy thì món đồ đã sẵn sàng cho vào lò nung. Nung lần một, hoặc được lót một nước men làm áo hoặc món ấy là một sứ trắng men lam hay sứ trắng men hồng thì để vậy chưa tráng men, để các hoạ công vẽ lên cốt thai những đồ án sơn thuỷ hay hoa điểu…

III – Lò nung


Mô hình lò gốm cổ – Bảo tàng cổ diêu Cảnh Đức trấn

Người Trung Hoa đã chế tạo ra nhiều loại lò nung, tuy nhiên có hai loại lò thông dụng: Kiểu lò miền Bắc Trung Hoa, là loại lò chỉ có một gian phòng và có mui nóc khum khum, chỉ có một lỗ thông hơi sau lò (Lò Màn thầu – NT). Còn có loại lò miền Nam gọn và tiện lợi hơn kiểu trên: Lò xây nằm dài theo chiều dốc và chia thành nhiều ngăn, vừa hẹp bề ngang vừa dài, một nửa nổi lên trên, một nửa lò chôn ngập phía dưới mặt đất, nhờ vậy khói theo chiều gió dễ thông (Lò Giai cấp – NT). Kiểu lò này sau được các nước Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam học theo.

Tại Cảnh Đức trấn, thủ đô ngành gốm sứ Trung Hoa, tạo lập từ đời Tống, người ta quen dùng loại lò một gian độc nhất, rộng lớn, giống hình chai rượu vang đặt nằm dài, nơi sau chót cái chai là lỗ thông khói. Củi thông dụng đốt lò cổ là củi tùng lấy ở các khu rừng lân cận. Trong lò, những món không quý lắm thì đặt nơi miệng lò và gần lỗ thông khói. Hai khoảng này có cái bất lợi là khi lửa quá già làm khét món đồ, khi lại không đủ sức nóng làm sống sượng món đồ cũng không tốt. Nơi trung tâm lò là nơi thuận lợi nhất dành cho những đồ vật quý, ngự dụng hoặc đồ do sứ thần chư hầu đặt làm. Tuỳ theo món lớn nhỏ để nung lâu hay ngày hay ít ngày.

Dưới triều Minh, những chiếc thống dùng nuôi cá lia thia hay chậu to để trồng cây cảnh thường nung trong lò liên tiếp 19 ngày ròng rã: bảy ngày lửa dịu dịu, hai ngày lửa hoả hào, mười ngày lửa đốt liên tiếp và giảm độ lần lần. Nếu nung chén trà và các vật nhỏ thì khoảng năm ngày là đủ.

Người thợ có kinh nghiệm là người biết sắp đặt các món đồ nung trong lò: vật nào chịu được hoả độ cao (gốm da đá, đồ sành, đồ nung hai lần; nơi kím lửa hơn thì đặt các món yếu chịu đựng, còn các loại sử dụng men (é mail é maux), men thường thì nung ở lò nhỏ hơn…

IV – Cách nung


Diêu thần

1 – Cách nung thu bớt thoáng khí (cuisson en réduction): Với phương pháp này thoáng khí (gió) lọt vào lò rất ít và làm cho củi cháy chậm đi. Hễ cháy chậm thì có nhiều khói, theo khoa học cắt nghĩa, chất hoá vật đơn chất (monoxyde de carbone) của thán khí sẽ hoà hợp với dưỡng khí (oxygene) do các dưỡng hoá vật (oxdes) tiết ra của đất sét và của chất màu vẽ. Tự nhiên, các da sành trắng “bạch chảng” vào lửa và gặp khói sẽ trở nên đậm đà và đổi màu duyên dáng hơn; chất bạch kim (cobalt) khắc lửa sẽ trở nên màu xanh biếc trong suốt tinh ba hơn (blue de Hue, blue de China); chất đồng, biến thể hoá màu đỏ (những biến thể này khó tốt tươi và rất tuỳ vào sự khéo léo và may rủi), vì dưỡng khí gặp đồng ưa biến chứng bất thường; chất sắt vào lò sẽ làm ra các loại gốm xanh nước biển celadon…

2 – Cách nung thứ hai là “nung thả cửa”, cứ để thoáng khí tha hồ chung vào lò (cuisson en oxydation) và tha hồ cho các chất đụng chạm nhau mặc tình biến hoá; biến hoá lúc còn trong lò lửa đỏ; biến hoá lúc “khai môn” là khi thợ lấy trong lò ra để các món đồ mau nguội, khi ấy mới là biến hoá một cách tự nhiên. Kết quả của phương pháp này hơi đột ngột: những da men trắng có thể biến ra ngà ngà, da kem, chất bạch kim có thể đổi ra sắc đen hơn (do đó có nhiều khi ta thấy trên đồ sứ Khánh Xuân, Nội Phủ, men xanh mịn màng bỗng có đôi chỗ lốm đốm thâm thâm). Đồng biến ra màu xanh lục. Sắt đổi sắc và biến màu khi vàng, khi vàng sậm, khi lại đen.

(Lược thuật theo “Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa” của Vương Hồng Sển)

Quang cảnh làm việc tại một xưởng gốm sứ phỏng cổ ngày nay ở Cảnh Đức Trấn – Giang Tây

click trên hình để xem full size


 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Older Posts »