Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm’

Festival làng nghề Huế 2009
Ông Nguyễn Duy Hiền – Giám đốc Trung tâm Festival Huế nói: “Việc thành phố Huế tổ chức festival (liên hoan) nghề vào các năm lẻ như lâu nay không phải là những cuộc trình diễn nghề. Cái mà chúng tôi đang hướng đến là tham vọng làm những cuộc tái trưng tập các nghệ nhân về Huế…”.
Gốm, sơn mài và pháp lam
Những ngày này, thành phố Huế đang hối hả chuẩn bị cho festival Nghề truyền thống lần thứ 3 năm 2009 (từ ngày 12 đến 14. 6.2009) với chủ đề “Nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, gồm 3 nghề: Gốm sứ, sơn mài, pháp lam.
Theo thông tin từ Ban tổ chức đến nay đã  khẳng định được các nghệ nhân và làng nghề gốm sứ, sơn mài, pháp lam ở Huế và trên cả nước đăng ký tham dự, gồm: (Chu Đậu – Hải Dương; Bát Tràng, Nhung – Hà Nội; Phù Lãng – Bắc Ninh; Hạ Thái – Hà Nội; Thổ Hà – Bắc Giang; Biên Hoà, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh; Bàu Trúc -Ninh Thuận; Gọ – Bình Thuận; Gò Sành – Bình Định; Thanh Hà – Hội An; Châu Ổ – Quảng Ngãi…).
Festival còn có mặt các nhà sưu tầm cổ vật trong cả nước từ Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh, Tuy Hoà, Đà Nẵng, Bình Định, Huế…với các cổ vật gốm sứ, sơn mài, pháp lam độc đáo từ nhiều niên đại, trong đó có nhiều cổ vật quí hiếm được xem là bảo vật.
Lần đầu tiên các cổ vật quý hiếm sẽ được trưng bày và phô diễn bằng các triển lãm “Bộ sưu tập đồ sứ ký kiểu và bộ sưu tập pháp lam”; “Bộ sưu tập các cổ vật Cung đình”; “Chuyện kể từ kho báu dưới lòng sông”; “Dặm dài đất nước qua những cổ vật”. Triển lãm tranh sơn mài của cố hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng, các cuộc triển lãm sơn mài của các nghệ sĩ Huế, Hà Nội; Ảnh tư liệu và nghệ thuật “Cây cầu, dòng sông” của các tác giả Pháp và Huế.
Gốm trục vớt dưới dòng sông Hương.
Lễ hội còn có nhiều chương trình nghệ thuật và chương trình hỗ trợ với sự tham gia của các nghệ sĩ Huế, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Chương trình khai mạc đầy sắc màu và ấn tượng trong không gian lãng mạn của cầu Trường Tiền, Sông Hương. Chương trình bế mạc là đêm hội lung linh với lễ rước tôn vinh nghệ nhân và các làng nghề diễn ra trên đường phố Huế…
Đặc biệt năm nay, không gian tôn vinh nghệ nhân và làng nghề không tổ chức trong khuôn viên trường Hai Bà Trưng như mọi năm mà được trải dài dọc bờ sông Hương với những hoạt động nghề sống động, các nghệ nhân sẽ giới thiệu sản phẩm, giao lưu với khách tham quan và thao diễn sản xuất, sáng tạo.
Không phải chỉ là trình diễn nghề…
Festival nghề 2009 còn có hội thảo “Nghề và làng nghề truyền thống Huế, tiềm năng và những trở lực phát triển” với sự tham gia tâm huyết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các nghệ nhân nhằm đánh giá sâu tiềm năng, thực trạng, những trở lực và triển vọng cho sự phát triển của nghề và làng nghề truyền thống của một vùng đất vốn là xứ kinh kỳ.
Đặc biệt, lần đầu tiên Hội chợ Triển lãm Làng nghề Việt Nam được tổ chức tại Huế với các hoạt động trưng bày và bán sản phẩm làng nghề, trưng bày chuyên đề “Không gian văn hoá Tre Việt”, hội thảo xúc tiến thương mại và các hoạt động nghệ thuật dân gian 3 miền ở công viên Thương Bạc từ 10 đến 14-6-2009.
Festival nghề truyền thống Huế đã được tổ chức đến lần thứ 3, và đã xuất hiện không ít ý kiến nghi ngờ về tính hiệu quả của lễ hội, nhất là khía cạnh khôi phục các làng nghề đang mai một và thu hút khách du lịch đến Huế.
Theo ông Nguyễn Duy Hiền – Giám đốc Trung tâm festival Huế, đơn vị phối hợp với thành phố Huế tổ chức festival nghề năm 2009, quan điểm cho rằng việc tổ chức các festival nghề “không có tác động tích cực tới các làng nghề trên địa bàn tỉnh TT-Huế” là không chính xác. Bằng chứng là sau khi tổ chức festival nghề nón, thêu vào năm 2005, sau đó hai nghề này đã có những chuyển biến đáng kinh ngạc. Mới đây, Sở KHCN tỉnh TT-Huế đã làm một đề tài khoa học về nón Huế, cũng như lập dự án trồng lá nón để phát triển nghề nón và làm tour phục vụ du lịch.
Hay như trước đây, Huế chỉ còn tồn tại nghề bán vàng, còn nghề làm kim hoàn mỹ nghệ gần như biến mất, tuy nhiên, sau festival nghề kim hoàn và đúc đồng vào năm 2007, nghề kim hoàn ở Huế đã phát triển trở lại, tiêu biểu là nghề đậu của gia đình ông Nguyễn Hữu Nhơn, hay, khu “Tịnh Tâm Kim Cổ” của Duy Mong với các hoạt động du lịch trình diễn nghề.
Rồi nghề mộc Mỹ Xuyên ở xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, cũng nhờ festival nghề 2007 mà từ chỗ suy tàn, ngắc ngoải đã hồi sinh, trở thành một trong những địa chỉ mộc nổi tiếng không chỉ ở trong nước như hiện nay…
Festival làng nghề truyền thống Huế được tổ chức vào các năm lẻ, bắt đầu từ năm 2005 với các nghề: Thêu, nón lá; năm 2007 với: Chạm khắc, đúc đồng, kim hoàn.
Festival nghề năm nay với các nghề: Gốm sứ, pháp lam, sớn mài, còn gắn với sự kiện 110 năm cầu Trường Tiền và Chợ Đông Ba được xây dựng ở địa điểm hiện nay.
Ông Nguyễn Duy Hiền khẳng định: “Chúng tôi tổ chức festival nghề không phải để trình diễn, mà nhằm tôn vinh và thúc đẩy nghề phát triển. Trước đây trong lịch sử, triều Nguyễn đã không ít lần trưng tập tất cả những nghệ nhân giỏi nhất của toàn quốc về Huế để xây dựng làng nghề và phục vụ cho vương triều. Bây giờ, chúng tôi lại có tham vọng làm những cuộc tái trưng tập các nghệ nhân về Huế thông qua việc tổ chức festival nghề vào các năm lẻ để góp phần, làm nên sức sống mới cho quần thể di tích Huế đồng thời thu hút khách du lịch”.
Theo ông Hiền, đó mới là mục tiêu sâu xa nhất của việc tổ chức festival nghề. Trên thực tế, việc “tái trưng tập nghệ nhân” về Huế đã được thực hiện trong nhiều năm qua, và đã thu được những kết quả rất khả quan. Điển hình là việc nghệ nhân Trịnh Bách phục dựng trang phục vua chúa thời Nguyễn; Trung tâm BTDTCĐ Huế phục chế, sản xuất thành công ngói lưu ly và pháp lam…
Theo Nhân dân
Advertisements

Read Full Post »

Gốm Lái Thiêu – Gốm gia dụng miền nam

Nhân kỷ niệm 34 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2009) và chào mừng ngày Quốc tế lao động 1/5. Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các nhà sưu tập cá nhân giới thiệu trưng bày chuyên đề: “Gốm Lái Thiêu – Gốm gia dụng miền Nam

Gốm Lái Thiêu” là cách gọi phổ biến (đã định danh) để chỉ chung các loại sản phẩm gốm được sản xuất từ các làng nghề ở đất Thủ Dầu Một xưa, nay là tỉnh Bình Dương gồm có: Lái Thiêu, Chòm Sao/Hưng Định (huyện Thuận An), Bà Lụa/Chánh Nghĩa (thị xã Thủ Dầu Một), Tân Khánh (Tân Uyên)…

Từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX, Lái Thiêu đã là nơi tập trung và phân phối sản phẩm gốm đi tứ xứ qua phương tiện vận tải đường sông và đường bộ. Vì vậy, tên gọi “Gốm Lái Thiêu” được nổi danh khắp cả hai miền Nam, Trung và sang cả vùng Cambodia và một số nước khu vực Đông Nam Á.

Đây là lý do, cũng là dịp để Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh và các nhà sưu tập yêu sản phẩm “Gốm Lái Thiêu” góp phần thiết thực vào hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị cũng như bảo tồn những giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Trưng bày diễn ra từ ngày 28/04/2009 đến ngày 25/05/2009 tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề sẽ đáp ứng một phần nào về đời sống tinh thần của người dân cũng như đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn, nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu sưu tầm về sản phẩm “Gốm Lái Thiêu” vang danh “Gốm gia dụng miền Nam” như một câu ca dao cổ xưa:

“Chiều chiều mượn ngựa ông Đô,

Mượn ba chú lính đưa Cô tôi về

Đưa về chợ Thủ: bán hũ, bán ve,

Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu”


* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN



Read Full Post »

Gốm Sài Gòn xưa – tư liệu khảo cổ

Kể từ mùa xuân Mậu Dần 1698 khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào nam kinh lược, ” lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn…” đến nay đã hơn 300 năm. Ba trăm năm với bao biến cố thăng trầm, dấu tích của Sài Gòn xưa đã dần nhạt phai dưới lớp bụi thời gian. “Vật đổi sao dời”, đây đó còn lưu lại một vài ngôi đình, chùa miếu, lăng mộ … đã qua sửa chữa tu bổ nhiều lần dù có làm mất dần nét cổ kính nhưng phần nào còn thể hiện sự lưu tâm gìn giữ. Lần theo sử sách và một vài dấu tích, chúng tôi đi tìm lại một “Sài Gòn Xưa” lâu nay chưa được nhiều người biết đến. Đó là một làng nghề nổi tiếng đã từng góp phần cho sự phát triển của vùng đất này: Xóm Lò gốm.
Là trung tâm của lưu vực Đồng nai rộng lớn và trù phú, Sài Gòn – Bến Nghé ngay từ khi mới hình thành đã sớm mang dáng vẻ của một đô thị sôi động bởi hoạt động thương nghiệp và sản xuất của nhiều ngành nghề thủ công. Khoảng cuối TK XVIII tại đây đã có 62 ty thợ do nhà nước quản lý và hàng trăm phường thợ trong dân gian. Nhiều ngành nghề tập trung trong các khu vực nhất định để rồi xuất hiện những địa danh như Xóm Chiếu, xóm Cốm, xóm Lò Rèn, xóm Dầu, xóm Chỉ, xóm Vôi, xóm Bột… riêng xóm Lò Gốm vẫn còn để lại một số địa danh như đường Lò Gốm – đường Lò Siêu – đường Xóm đất – bến Lò gốm – rạch Lò gốm – kênh Lò gốm – khu lò lu… thuộc khu vực quận 6,8,11 ngày nay. Sử liệu sớm nhất nói đến nghề làm gốm ở Sài Gòn xưa là sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức viết khoảng năm 1820. Đoạn viết về Mã trường Giang-kênh Ruột Ngựa như sau: “Nguyên xưa từ cửa Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền không đi lại được.Mùa thu năm Nhâm Thìn (1772) cho đào con kênh thẳng như ruột ngựa nên mới đặt ra tên ấy…”. Kênh Ruột Ngựa đã giúp cho ghe thuyền đi lại giữa Sài Gòn với miền Tây thêm thuận lợi. Bản đồ Thành Gia Định do Trần Văn Học vẽ từ cuối năm 1815 đã có ghi địa danh Xóm Lò Gốm ở khoảng làng Phú Lâm- Phú Định (ngày nay là khu vực quận 6 tiếp giáp quận 8). Bài “Phú cổ Gia Định phong cảnh vịnh” sáng tác khoảng đầu TK XIX miêu tả “Lạ lùng xóm Lò Gốm, chân vò vò bàn cổ xây trời…”. Trong 62 ty thợ tập trung tại Sài Gòn làm việc cho nhà nước vào cuối TKXVIII đã có các ty thợ Lò chum, ngói mộc, gạch mộc, lò gạch…

Một vài tài liệu của Pháp, tuy tản mạn và có phần phiến diện, cũng phản ánh về việc sản xuất gốm ở Chợ Lớn vào cuối TK XIX: Tại Chợ Lớn có khoảng 30 lò gốm tập trung ở Hòa Lục, Phú Định, Cây Mai… vùng Chợ Lớn sản xuất lu và các đồ gốm thông dụng như chậu vịm, siêu ấm, nồi trách, hũ khạp, cà ràng… vùng Cây Mai có một lò sản xuất đồ sành. Các lò này lấy nguyên liệu tại chỗ, tuỳ chất đất mà sản xuất thành các loại sản phẩm. Mỗi lò gốm hàng năm có thể sản xuất hàng trăm ngàn sản phẩm. Đến đầu TK XX vẫn còn nhiều lò gốm nổi tiếng như lò Tín Di Hưng, Quảng Di Thành, Hiệp Hưng, Bửu Nguyên, Đồng Hòa, các lò chuyên sản xuất lu, khạp và đồ gia dụng…Theo Vương Hồng Sển thì : “Từ khi lấp rạch Chợ Lớn thì rạch Lò gốm, kinh Vòng Thành không thông thương và lò gốm chỉ còn sót lại cái tên trơn và không sản xuất đồ gốm nữa…”.
Từ những tư liệu lịch sử trên và qua khảo sát thực tế có thể nhận biết địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Sài Gòn cũ-nay là Chợ Lớn: một vùng thấp trũng chằng chịt kênh rạch lớn nhỏ, mọi sự đi lại đều dùng ghe xuồng. Kênh Ruột Ngựa và rạch Lò Gốm còn nối liền rạch Chợ Lớn với rạch Cát (Sa Giang)và rạch Bến Nghé. Từ ngã ba “Nhà Bè nước chảy chia hai” xuồng ghe theo rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hũ qua kênh Ruột Ngựa ra sông Cát về miền Tây. Ngày nay rạch Chợ Lớn không còn nữa, nhiều đoạn rạch Lò Gốm biến mất – nhất là khu vực Gò Cây Mai hầu như không còn dấu tích con đường thuỷ quan trọng này. Kênh Ruột Ngựa không còn thẳng như tên gọi do bị bồi lấp lấn chiếm hai bên bờ. Kênh Lò Gốm ngày càng cạn hẹp dù đã nạo vét nhiều lần… Tuy nhiên ghe xuồng vẫn theo con nước mà xuôi ngược, dù nơi đây đã phát triển hệ thống đường bộ chằng chịt như mạng nhện, dù các làng nghề-phố nghề ven kênh rạch không còn nữa… đủ biết trước đây trước đây tuyến đường thủy này quan trọng như thế nào.

Dấu tích vật chất của xóm Lò Gốm ngày xưa nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), nằm ven kênh Ruột Ngựa. Đối diện là làng Phú Định cách đây vài năm còn một số gia đình làm nghề “nặn ông lò” – bếp gốm. Di tích là gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu… Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm kiểu lò ống (lò Tàu) là loại lò thông từ bầu lửa đến ống khói, dốc và hẹp, nền lò được gia cố nhiều lần, thành lò đắp dày bằng phế phẩm. Các đoạn vách lò còn lại được xây bằng loại gạch lớn chảy men dày, lòng lò chứa đầy mảnh sản phẩm mà qua đo có thể nhận biết một số loại sản phẩm đặc trưng của lò Hưng Lợi. Ba lò gốm này sản xuất nối tiếp nhau trong một thời gian khá dài nhưng có thể không liên tục vì lò gốm của giai đoạn sau được xây trên một phần lò cũ hoặc sửa chữa gia cố lại lò cũ.

Giai đoạn đầu khu lò này chủ yếu sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu sành nâu, dáng thuôn vào đáy hoặc bầu tròn, kích thước khá lớn: thường được gọi là “lu 3 đôi” hay “lu 5 đôi” ( mỗi đôi nước-2 thùng- khoảng 40 lít nước). Lu gốm làm bằng phương pháp nặn tay bằng “dải cuộn kết hợp bàn dập, bàn xoa” nên độ dày và dáng tròn đều, bên trong vành miệng lu còn dấu ngón tay để lại khi dùng tay vuốt cho vành miệng tròn và gắn chặt vào thân lu. Trong số hàng ngàn mảnh lu thống kê được thì mảnh nắp chiếm đến gần 2/3, cho biết nắp được sản xuất nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu vì nắp hay bị vỡ hỏng khi sử dụng. Do mảnh lu, nắp lu nhiều nên khu lò này còn được gọi là Lò Lu. Lò sản xuất lu đựng nước có niên đại sớm nhất ở khu lò này, khoảng nửa sau thế kỷ XVIII. Mảnh phế phẩm của lò lu còn phân bố trên một diện rất rộng xung quanh lò, đào sâu xuống hơn 1m vẫn gặp mảnh lu gốm.

Chiếm tỷ lệ lớn nhất là mảnh các loại sản phẩm gốm và sành men nâu, men vàng hoặc không men. Đó là hũ, khạp, hộp, siêu, nồi có tay cầm… dưới đáy có in 3 chữ Hán “Hưng Lợi diêu” (lò Hưng Lợi). Bên cạnh đó là các kiểu chậu bông hình tròn hay lục giác, bát giác phủ men xanh lam hay xanh đồng – màu men đặc trưng của “Gốm Sài Gòn”. Chậu bông phần lớn có kích thước nhỏ, hoa văn in nổi trong các ô không men là hoa mai, hoa cúc hoặc tứ quý, bát tiên… Đây là sản phẩm của giai đoạn thứ hai, giai đoạn có tên lò Hưng Lợi khoảng thế kỷ XIX. Các sản phẩm này vẫn dùng kỹ thuật nặn tay nhưng có kết hợp khuôn in, chất liệu gốm sành nhẹ lửa, không sử dụng “bao nung” (hộp nung) nhưng phổ biến các loại “con kê” trong việc chồng kê sản phẩm trong lò nung. Đặc trưng là “con kê” hình ống có thể chồng lên nhau tạo nhiều độ cao thấp khác nhau nhằm tận dụng thể tích lò nung.

Giai đoạn thứ 3 ở đây sản xuất gốm sứ gồm các loại chén, tô, đĩa, ly, cốc, muỗng, ấm trà, lư hương… men trắng hoa văn men xanh và men nhiều màu, chai men trắng ngà… Sản phẩm làm bằng bàn xoay, có nhiều loại bao nung cho một hay nhiều sản phẩm. Các loại đồ gốm gia dụng tuy đơn giản về kiểu dáng nhưng có nhiều kích thước khác nhau, theo thời gian có sự khác biệt nhỏ ở chi tiết tạo dáng hay hoa văn. Một số sản phẩm có chữ Hán như Việt lợi, Kim ngọc, Chấn hoa xuất phẩm, Nhất phiến băng tâm… các chữ này không phổ biến trên sản phẩm, không có chữ Diêu kèm theo nên chắc hẳn không phải tên lò sản xuất mà rất có thể là tên của vựa gốm lớn hay cửa hàng bán đồ gốm in lên các sản phẩm mà họ đặt lò sản xuất, tức là giai đoạn này lò sản xuất theo đặt hàng cả về số lượng và từng loại sản phẩm. Tình trạng sản xuất theo sự đặt hàng của chủ hàng là người buôn bán cho biết đã có sự chuyên hóa giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa khi nhu cầu của thị trường ngày càng đa dạng và thay đổi thường xuyên. Chất liệu làm gốm là loại đất sét tương đối trắng không có tại chỗ mà chắc phải khai thác từ miền Đông về. Dựa vào loại hình sản phẩm và tính chất sản xuất nói trên có thể nhận thấy lò gốm này có niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ XX.

Tuy có ba giai đoạn với những loại sản phẩm đặc trưng cho từng giai đoạn nhưng kỹ thuật sản xuất ở khu lò cổ này khá thống nhất: Cấu trúc lò gốm (loại lò ống-lò tàu), kỹ thuật tạo dáng (bàn xoay, in khuôn), hoa văn, phương pháp chồng lò và nung gốm, sản phẩm của hai giai đoạn đầu (lu, khạp, siêu, nồi có tay cầm…) đều mang đậm dấu ấn kỹ thuật làm gốm của người Hoa. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nguồn gốc của nghề làm gốm mang tính chất sản xuất hàng hóa ở Gia Định-Đồng Nai là sự kết hợp nghề gốm của lưu dân người Việt với truyền thống kỹ thuật sản xuất gốm mà người Hoa mang vào vùng đất này trong bước đường lưu lạc kiếm sống. Từ khi được các Chúa Nguyễn cho vào định cư tại Cù Lao Phố, vùng Sài Gòn (cũ) và rải rác một số nơi khác, người Hoa sinh sống chủ yếu bằng thương nghiệp và thủ công nghiệp. Tại Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai (nay thuộc thành phố Biên Hoà) cũng có Rạch Lò Gốm, bến Miểng Sành mà qua khảo sát, các loại sản phẩm hầu như không khác biệt với sản phẩm ở khu lò gốm cổ Hưng Lợi. Các phường thợ làm gốm của người Hoa thường gồm những người “đồng hương” và chuyên sản xuất một vài loại sản phẩm: người Hẹ chuyên làm lu, khạp, hũ men nâu và men vàng ( men da lươn, da bò); người Tiều (Triều châu) chuyên làm đồ “bỏ bạch” (không men) như siêu, nồi có tay cầm…; người Quảng (Đông) chuyên làm chén, đĩa có men trắng hay men nhiều màu… Hiện nay truyền thống kỹ thuật này vẫn phổ biến ở những lò lu, lò gốm ở khu vực Quận 9-TP.HCM ( như lò Long Trường), ở Tân Vạn-TP Biên Hòa và Lái Thiệu-Bình Dương… dù các chủ lò có thể không phải là người Hoa. Cần nói thêm rằng, cho đến nay một số dân tộc ở miền Nam ( người Chăm, người Khmer…) vẫn bảo lưu kỹ thuật làm gốm cổ truyền Đông Nam Á là nặn tay, không dùng bàn xoay và nung gốm ngoài trời, sản phẩm là gốm đất nung ít có sự thay đổi về kiểu dáng, số lượng không nhiều, vì vậy sản xuất chỉ mang tính chất tự cung tự cấp.

Đối với nghề làm gốm muốn tồn tại và phát triển thì phải có vị trí thuận lợi : là nơi có hoặc gần nguồn nguyên liệu, có hệ thống đường thuỷ tiện cho việc chuyên chở hàng hóa đi nhiều nơi, gần trung tâm thương nghiệp để nắm bắt nhanh nhu cầu thị trường… Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa đã có những điều kiện thuận lợi đó: nguyên liệu ở đây thích hợp cho việc sản xuất các loại gốm gia dụng và gốm xây dựng. “Nhất cận thị, nhị cận giang”, làng nghề này lại ở giữa Sài gòn – nơi tập trung nhiều phố chợ nhất miền Gia Định khi ấy: “phố xá trù mật buôn bán suốt ngày đêm, là nơi đô hội thương thuyền của các nước cho nên trăm món hàng hóa phải tụ hội nơi đây”. Nam bộ khi ấy là vùng đất đang trong quá trình khai phá nên nhu cầu về đồ gốm gia dụng rất lớn, do vậy thị trường của Xóm Lò Gốm không phải chỉ là Sài Gòn-Bến Nghé mà còn là cả miền Tây rộng lớn. Từ cuối thế kỷ XIX quá trình đô thị hóa diễn ra ở Sài Gòn-Bến Nghé và một số thị tứ ở Nam bộ, sản phẩm của Xóm Lò Gốm có thêm các loại hình mới phục vụ nhu cầu xây dựng, trang trí kiến trúc của Đình, Chùa, Hội quán, phố chợ, công sở, nhà ở… Khảo sát các di tích cổ ở nhiều tỉnh Nam bộ đều thấy phổ biến các loại gốm trang trí, thờ cúng, nhiều di tích nổi tiếng với những quần thể tượng trang trí trên mái nhà hay tượng thờ, đồ thờ trong nội thất… Khu lò gốm ở Gò Cây Mai , qua khảo sát của người Pháp cho biết, bên cạnh gốm gia dụng đã sản xuất đồ gốm mang tính mỹ thuật cao như tượng gốm trang trí, tượng thờ, đồ thờ, đồ gốm lớn như chậu kiểng, đôn… được gọi chung là Gốm Cây Mai. Khu vực Gò Cây Mai cũng chỉ là một trong nhiều khu lò của Xóm Lò Gốm ở Sài Gòn xưa. Vì vậy, chắc hẳn không chỉ có lò Cây Mai sản xuất đồ gốm trang trí mỹ nghệ mà còn có cả những khu lò khác nữa mới có thể đáp ứng nhu cầu rất lớn trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Vì vậy, có thể định danh các loại gốm được sản xuất ở vùng gốm Sài Gòn xưa – bao gồm nhiều khu lò, nhiều loại sản phẩm nhưng đặc sắc nhất là đồ gốm trang trí mỹ thuật – là Gốm Sài Gòn- tên gọi chỉ rõ địa bàn sản xuất một làng nghề thủ công đã từng được ghi vào sử sách và truyền tụng trong dân gian, giống như tên gọi của làng gốm Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng, Hương Canh… ở miền Bắc.

Khoảng giữa thế kỷ XX, cùng với những biến cố chính trị-xã hội, quá trình đô thị hóa nhanh chóng và mạnh mẽ theo một quy hoạch nhất định cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho các làng nghề thủ công ở Sài Gòn- Chợ Lớn không còn điều kiện tồn tại, hoặc phải tìm điạ bàn mới để phát triển ở vùng ven ngoại thành hay xa hơn, đến các tỉnh lân cận. Đô thị hóa làm biến mất cảnh quan tự nhiên, vùng nguyên liệu không còn, kênh rạch bị lấp dần, phố xá mọc lên… Vị trí ưu đãi của một làng gốm không còn nữa, việc sản xuất không còn đáp ứng được những nhu cầu mới của thị trường mới, các lò gốm, lò gạch ngói cuối cùng của Xóm Lò Gốm ngừng sản xuất. Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa phải kết thúc vai trò của mình, nhường bước cho sự phát triển của vùng gốm Biên Hoà – Lái Thiêu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Trịnh Hoài Đức – Gia Định thành thông chí. Sài Gòn, 1972.

– Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc – Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa. Nhà xuất bản Trẻ,1994

– Nguyễn Thị Hậu, Đặng Văn Thắng – Kỹ thuật sản xuất của lò gốm cổ Hưng Lợi, Quận 8 TP.HCM. Tạp chí Khảo cổ học số 2/2001.

TS Nguyễn thị Hậu


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm sản xuất ở miền Đông Nam Bộ

gomsaigon

Quá trình khai phá vùng đất mới Nam Bộ từ thế kỷ XVII cho đến ngày nay cũng là quá trình hình thành một loại gốm mới ở miềm Đông Nam bộ, khác với vùng gốm Bắc bộ (gốm Chu Đậu, Bát Tràng…) và Trung bộ (Gò Sành…). Vùng phân bố của loại gốm này hiện nay nằm trong địa bàn của Thành phố Hồ Chí Minh và hai tỉnh lân cận là Đồng Nai và Bình Dương. Căn cứ vào mối liên hệ cội nguồn và quá trình phát triển của gốm ở khu vực miền Đông Nam bộ, một số nhà nghiên cứư gọi chung loại gốm sản xuất ở đây từ đầu thế kỷ XX trở về trước là gốm Sài Gòn, gồm có sản phẩm của “xóm lò gốm Sài Gòn xưa”, gốm Biên Hòa và gốm Lái Thiêu.

Xóm lò gốm Sài Gòn xưa. Trên bản đồ Phủ Gia Định do Trần Văn Học vẽ năm 1815 có ghi địa danh “Xóm Lò gốm” – một trong những làng nghề nổi tiếng của Sài Gòn xưa. Dựa vào chỉ dẫn trên bản đồ này và từ kết quả khảo sát thực địa, thì những lò gốm bấy giờ gồm các làng Phú Giáo – Gò cây Mai, làng Phú Định – Phú Lâm, làng Hòa Lục sau đó, mà ngày nay thuộc địa phận các quận 11, quận 6, quận 8. Trên địa bàn này còn có kênh – rạch mang tên Lò Gốm và những tên liên quan đến nghề làm gốm như (đường) Lò Siêu, (đường) Xóm Đất… Tên Lò Gốm này thấy trên sách Gia Định thành thông chí (1820) “Từ năm 1772 con kênh Ruột Ngựa được đào để nối liền từ Sa Giang ra phía Bắc đến Lò Gốm”. Như vậy, khu lò gốm chắc chắn đã khởi lập trước năm này, có lẽ từ đầu thế kỷ XVIII đã có những lò gốm đầu tiên sản xuất tại vùng Sài Gòn Xưa, nay là khu vực quận 6, 8, 11 (Chợ Lớn). Dấu tích còn lại là khu vực lò gốm Cây Mai và di tích lò gốm cổ Hưng Lợi (phường 16 quận 8).

Khu lò Hưng Lợi: Sản xuất từ khoảng giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Sản phẩm chủ yếu là đồ gia dụng. Giai đoạn đầu sản xuất lu chứa nước (nên còn có tên là Lò Lu), loại lớn khoảng 200 lít và loại nhỏ khoảng 120 lít (người dân còn gọi là lu 5 đôi nước và lu 3 đôi nước). Ngoài lu chứa nước, khu lò còn sản xuất loại hũ miệng nhỏ và chậu, vịm, chậu bông có nhiều kích thước. Giai đoạn 2, sản phẩm có in tên lò “Hưng Lợi diêu” gồm các loại đồ “bỏ bạch” (bên ngoài không tráng men) như: nồi có nắp và tay cầm (nồi lẩu), siêu nấu nước, gốm trắng mỏng, nắp dày. Bên trong nồi và siêu có tráng men nâu chống thấm. Các loại đồ gốm có men màu như: hộp có men nâu nhiều kích cỡ, nhiều chậu, hũ men nâu, men vàng. Chậu bông bằng sành hình tròn hoặc hình lục giác, lớn nhỏ nhiều kiểu có men nhiều màu, trang trí ô hoa văn “bát tiên” “tùng lộc” “mai điểu”… Giai đoạn 3 sản xuất các loại bát, đĩa, ấm, ly uống trà, chai, thìa, bình rượu, lư hương, thố có nắp… men trắng vẽ men lam; Có những chữ “Kim ngọc”, “Việt Lợi” trên muỗng, bình trà, ly nhỏ… có thể đó là tên tiệm bán đồ gốm đặt hàng.

Các loại lu, hũ, chậu thường nặn bằng tay theo phương pháp dải cuộn tròn kết hợp với bàn dập, không trang trí hoa văn, phủ men nâu hoặc vàng toàn thân. Các loại đồ gốm khác được làm bằng khuôn in và bàn xoay, hoa văn cũng được in từ khuôn và được chạm khắc lại cho sắc sảo, sau đó phủ hoặc tô men nhiều màu, thường là màu xanh đồng hay xanh lam, màu nâu hay đỏ. Loại sản phẩm men trắng vẽ hoa lam hoặc men màu đen (viết chữ trên men). Những sản phẩm này rất phổ biến trong đời sống hàng ngày của cư dân Sài Gòn và cư dân Nam Bộ xưa.

Dấu tích khu lò gốm Cây Mai nằm ở sau chùa Cây Mai. Ngày xưa từ Gò Cây Mai có con rạch nhỏ, nằm trên đường Nguyễn Thị Nhỏ chảy thông ra đường Lê Quang Sung, đổ ra cầu Cây Gõ và chảy vào rạch Lò Gốm, hiện rạch này đã bị lấp. Đây là đường vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm gốm Cây Mai.

Sản phẩm khu lò gốm Cây Mai bao gồm loại đồ gốm thông dụng có kích cỡ lớn, loại sản phẩm có trang trí mỹ thuật, các loại ống dẫn nước và tượng bằng đất nung và đồ sành men màu. Lọai sản phẩm gốm độc đáo và đặc trưng của gốm Cây Mai sản xuất vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là gốm men màu. Đây là loại gốm cao cấp có men màu khá phong phú như trắng, xanh lam, xanh lục, nâu, vàng gồm nhiều kiểu loại phục vụ cho sinh hoạt như tô, chén, dĩa, muỗng…Gốm trang trí như đôn, chậu kiểng; gốm thờ phụng tôn giáo như lư hương, bát nhang, bài vị, tượng thờ; gốm trang trí kiến trúc như long (rồng), voi, ngựa và các quần thể tiểu tượng.

Hiện nay, sản phẩm gốm Cây Mai còn có một khối lượng lớn quần thể tượng trang trí, tượng thờ, vật thờ bằng đất nung, gốm sành còn lưu giữ ở nhiều cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng dân gian và các tư gia. Trên đồ gốm Sài Gòn còn ghi những hàng chữ như năm sản xuất và chữ điếm (tiệm), diêu (lò), như : tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên (quận 11), ở góc dưới bên phải có ghi “Đề ngạn, Nam Hưng Xương, Điếm Tố”, “Canh Thìn Trọng Đông Cát Đán Lập” (1880). Ở miếu Thiên Hậu (Quảng Triệu Hội quán – quận 1) trên quần thể tiếu tượng gốm ở phần sân miếu có những bảng gốm chữ nổi “Lương Mỹ Ngọc Điếm tạo” (tiệm Lương Mỹ Ngọc tạo), “Quang Tự Thập Tam Niên”(1887) và “Thạch Loan Mỹ Ngọc tạo” (lò Mỹ Ngọc ở Thạch Loan tạo), “Quang Tự Đinh Hợi Tuế (1887). Cũng ngay trên quần thể tiếu tượng này còn có những bảng gốm khác ghi “Đề Ngạn Bửu Nguyên Diêu tạo” (lò Bửu Nguyên ở Đề Ngạn làm), “Dân Quốc, Tân Dậu Trùng Kiến” tức trùng tu năm Tân Dậu, Trung Hoa Dân Quốc (1921). Chữ Diêu còn gặp ở một số di tích khác như ở đình Minh Hương Gia Thạnh (Quận 5), trên quần thể tiếu tượng bằng gốm có ghi “Mai Sơn, Đồng Hòa Diêu Tạo” (lò Đồng Hòa – Mai Sơn tạo), “Thiên Liên, Tân Sửu Niên Lập” (1901) hoặc ở miếu Thiên Hậu (Tuệ Thành Hội quán – quận 5) trên những quần thể tiếu tượng gốm trang trí trên nóc miếu có ghi “Bửu Nguyên Diêu Tạo”, “Mậu Thân Niên Lập” (1908); “Đồng Hòa Diêu Tạo” (lò Đồng Hòa tạo), “Quang Tự Mậu Thân”…

Có thể nhận diện gốm cổ Sài Gòn qua loại hình tiếu tượng, tượng tròn, các vật thờ trong các đình miếu, hội quán ở Nam Bộ với các sản phẩm dân dụng như: ơ, siêu, bát, bình, lu, hũ, thống có nắp, khạp có nắp, chậu tròn, chóe có quai, đôn tròn, đôn lục giác, lân, gạch trang trí hình vuông… Có thể nói gốm Sài Gòn đặc biệt phát triển vào nửa sau thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, sản phẩm gốm được sử dụng không những ở Nam Bộ mà còn được ưa chuộng ở khắp mọi miền đất nước.

Truyền thống kỹ thuật – nghệ thuật của “Gốm cổ Sài Gòn” mới được khảo cổ học kiểm chứng qua phát hiện tại lò gốm cổ Hưng Lợi và các khu vực làm gốm mà hiện nay chỉ sản xuất loại bếp lò (ông kiềng) ở quận 6. Kỹ thuật làm gốm thể hiện truyền thống sản xuất gốm Trung Hoa. Kỹ thuật này hiện còn được lưu truyền tại các cơ sở lò gốm ở Quận 9 (TPHCM), Lái Thiêu, Thủ Dầu Một (Bình Dương) và Biên Hòa.

Gốm Biên Hòa . Từ cuối thế kỷ XIX, các nghệ nhân gốm Cây Mai, kể cả những chủ lò lần lượt chuyển về vùng Biên Hòa, Lái Thiêu. Một số nghệ nhân lão luyện đã có mặt ở trường Mỹ nghệ Biên Hòa, thành lập vào năm 1903. Dần dần gốm Biên Hòa trở nên nổi tiếng . Đặc trưng của loại gốm này là kết hợp gốm Trung Quốc, gốm Việt Nam và gốm Limoge của Pháp với sự tham gia của bà Balik cùng một số nghệ nhân từ miền Bắc vào. Gốm Biên Hòa thiên về trang trí hoa văn dày đặc bao quanh sản phẩm bằng phương pháp vẽ nét chìm hoặc lấy nét chìm kết hợp với trổ thủng để tạo hoa văn, sau đó tô men không có sự phân biệt giữa men và màu ve. Sản phẩm gốm Biên Hòa khá đa dạng bao gồm bình, hũ, lọ, chóe, chậu, đôn, đôn voi, đèn lồng, đĩa trang trí, tượng voi, tượng lân, tượng người… Loại chóe men đen hoặc men nâu hoa văn khắc chìm sản xuất ở Biên Hòa còn cung cấp cho các dân tộc Tây Nguyên để đựng rượu cần. Kiểu dáng, quai chóe, màu men và hoa văn hình rồng hình lá đề … thể hiện trên loại chóe Biên Hòa sử dụng ở Tây Nguyên khá gần gủi với loại chóe được sản xuất ở Gò Sành (Bình Định) trước đó.

Mội loại sản phẩm gốm Biên Hòa còn được sản xuất nhiều hiện nay là các loại lu, hũ gốm.

Gốm Lái Thiêu ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Gốm sứ Lái Thiêu có các trường phái gốm như sau: trường phái Quảng Đông sử dụng men nhiều màu chuyên sản xuất các tượng trang trí, các loại chậu, các loại đôn voi; trường phái Triều Châu sử dụng men xanh trắng chuyên sản xuất đồ gốm gia dụng như chén, đĩa, tô và các loại bình; trường phái Phúc Kiến sử dụng men màu đen, men da lươn, chuyên sản xuất chóe, lu, vại, hũ, vịm. Trong đó gốm men nhiều màu Lái Thiêu được sản xuất hàng lọat, hiện nay còn được lưu giữ khá nhiều trong dân gian, trong các Bảo tàng cũng như trong các sưu tập tư nhân. Gốm men nhiều màu Lái Thiêu với nguồn nguyên liệu địa phương kết hợp với kỹ thuật truyền thống của người Hoa và cả người Việt đã tạo nên một dòng gốm men nhiều màu rất bình dị, mang tính dân dã.

Hoa văn trang trí trên gốm Lái Thiêu phong phú, nhiều dạng khác nhau, thường theo xu hướng đồ án hóa, đường nét to, thô nhưng không vì thế mà kém trau chuốt, sinh động. Nội dung tranh vẽ lấy hoa lá làm thể chính, chiếm số lượng nhiều nhất là đồ án hoa mẫu đơn được bố cục chặt chẽ: Mẫu Đơn với chữ Thọ; Mẫu Đơn Kê (hoa mẫu đơn với gà trống) ; Mẫu Đơn Điểu (hoa mẫu đơn với chim hút mật). Ngoài ra còn có các đồ án : Qua Quả, Tùng Hạc, Hoa Lan, Hồng Điệp (hoa hồng với bươm bướm), Lý Ngư (cá chép), và vẽ Sơn Thủy phong cảnh hữu tình… Bên cạnh đó, đồ án tranh vẽ cát tường với hình ảnh con Gà trống (Công Kê) đã đưa gốm men nhiều màu Lái Thiêu tiến thêm một bước là ngày càng đi sâu vào tâm thức của người Việt Nam (khoảng những thập niên đầu thế kỷ XX – đến ngày nay).

Tác giả TS Nguyễn thị Hậu


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Ý tưởng trang trí kệ sách của Garden Gremlin

117225227_0a2b24fd1f

100581020_1c26e0bc1f1

Garden Gremlin là một thiếu niên và đã có ý tưởng trang trí kệ sách của mình thật độc đáo , đầy cá tính, khi dùng bộ sưu tầm nhiều tô lớn đơn sắc làm vật chặn sách trên kệ. Những tô gốm màu này khi đặt lồng vào nhau hay đặt riêng lẻ trên bàn cũng trở thành điểm nhấn trang trí rất hấp dẫn. Thật đơn giản, dễ dàng và hiệu quả phải không các bạn.

Click trên hình để xem bigger size.

 

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

ALBUM HÌNH TOÀN TẬP GỐM SỨ CỔ TQ –

Thời kỳ từ triều đại nhà Đường… cho đến hết triều đại Nam – Bắc Tống, Nguyên

Đây là Album hình mô tả theo trình tự thời gian từ thời kỳ đồ đá mới đến hết triều đại nhà Thanh của các hiện vật gốm sứ  cổ Trung Hoa tiêu biểu nhất được trưng bày tại gallery gốm sứ – Viện bảo tàng Thượng Hải từ ngày 23 -24 tháng 8 năm 2008. Đây là bộ sưu tập xuyên suốt nhất của lịch sử nghệ thuật  gốm sứ Trung Hoa mà tác giả từng biết. (Được chụp bởi Gary L. Todd, tiến sĩ, giáo sư Sử Học tại trường đại học Sias International, Xinzheng, Henan, China.)

Bấm trên hình để xem full-size và rỏ chú thích

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Một số Bleu de Hue minh họa tiêu biểu

Dĩa trà Mai Hạc – thơ lục bát chữ Nôm :

”Nghêu ngao vui thú yên hà

Mai là bạn cũ, Hạc là người quen”

Hiệu Ngoạn Ngọc.

Dĩa trà Mai Hạc – thơ ngũ ngôn chữ Hán

”Hàn mai xuân tín tảo

Tiên hạc đáo chi đầu”.

Dĩa trà vẽ mai hạc – không phải kiểu Huế

Theo kiểu Huế nột bộ trà gồm 5 món.

1 dĩa bàn, 3 chén quân(nhỏ), 1 chén tống(lớn) úp lên trên 1 chén quân

(hình lấy trên internet).

Dĩa và chén trà kiểu ”mắt trâu”

vẽ tích Tam Hữu (Tùng- Trúc-Mai).

Tích Gia Long tẩu quốc

Dĩa trà hiệu Ngoạn Ngọc

”Ngư gia độ hoàng gia

Âm tinh ngộ đế tinh”.

Dĩa trà hiệu Nhã Ngọc và chén hiệu Ngoạn Ngọc

”Bình kiều nhân hoán độ

Xanh xuất tiểu châu lai”.

Dĩa trà Phi Minh Túc Thực

Hiệu Chính Ngọc.

Tô chữ Nhật – đồ ngự dụng

vẽ tích Bá Nha-Tử Kỳ, đề bài thơ Nôm:

”Hai gã bạn tri âm

Vui thay một khúc cầm

Non cao cùng nước biếc

Rằng để ít ai ngâm”.

db_57121

Bát điếu Bleu de Hue

5 hình bên dưới mô tả chi tiết bát điếu này

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »