Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm’

MỸ THUẬT THỜI TÂY SƠN

Trong Thế kỷ 18 , nước Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê , có danh mà không có quyền hành chính trị . Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình phong kiến , các chúa Trịnh ở phía bắc ,kiểm soát nhà vua và điều khiển triều đình ở Thăng Long và các chúa Nguyễn ở phía nam , đóng đô tại thành Xuân Phú . Hai bên từng đánh lẫn nhau để giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước trong suốt 45 năm va đều tuyên bố trung thành với nhà Lê để củng cố quyền lực cho mình .

Cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kết thúc năm 1672 và cuộc sống của những người nông dân ở phía bắc của các chúa Trịnh khá yên bình .Trong khi đó ở phía nam , các chúa Nguyễn thường gây chiến với Đế Chế Khmer yếu ớt ở bên cạnh và sau đó là với cả một nước khá mạnh là nước Xiêm . các chúa Nguyễn thường thắng trận và mở mang thêm đất đai phía nam . Từ giữa thế kỷ , người nông dân bị bần cùng và họ đứng lên khởi nghĩa cả ở Đàng ngoài lẫn Đàng trong .

Năm 1771 Anh em nhà Nguyễn Nhạc , Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi lên lập đồn ải ở đất Tây Sơn tỉnh Bình Định . Thanh thế của anh em Tây Sơn ngày càng lớn ,họ được hưởng ứng không những của người nghèo mà còn có của người giàu có , các thổ hào nữa. Sự nghiệp oanh liệt mà chớp nhoáng của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792)như kỳ công xóa bỏ nạn phân tranh Trịnh- Nguyễn , rồi võ công BÌnh Xiêm (1786)diệt Thanh (1789).

Kể từ năm 1787 , với sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám Mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc ), Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định . Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó tình hình Bắc Hà , Nguyễn Lữ qua đời , Nguyễn Nhạc bất lực , Ánh nhanh chóng chiếm lại đất đai ở Nam bộ rồi đánh lấn ra Diên Khang ,Bình Thuận – đất của Nguyễn Nhạc .Nguyễn Nhạc già yếu không cứu được chỉ còn lo giữ Qui Nhơn , Quảng Ngãi , Phú Yên . Vua Quang Trung đang định chuẩn bị phối hợp với vua anh đem quân vào nam đánh Gia Định thì qua đời (1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi , tức là vua Cảnh Thịnh . Nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu . Nội bộ xảy ra tranh chấp , giữa năm 1802 Nguyễn Ánh tiến ra chiếm được Thăng Long , Quang Toản không chống nổi , bỏ chạy và bị bắt . triều đình Tây Sơn bị sụp đổ .

BIÊN NIÊN CÁC SỰ KIỆN :

-1771 : Anh em Tây Sơn nổi dậy

-1776: Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương

-1777: Nguyễn Huệ tiêu diệt chúa Nguyễn tại Gia Định

-1778: Nguyễn Nhạc xưng đế , đặt tên hiệu là Thái Đức

-1780: Nguyễn Ánh xưng vương tại Gia Định

-1782: Nguyễn Ánh bị quân tây Sơn đuổi , chạy ra Phú Quốc

-1783: Nguyễn Ánh lánh nạn tại Côn Sơn

-1785 : Nguyễn Huệ đánh bại quân Xiêm tại Rạch Gầm –Xoài Mút , Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm .

-1786:Nguyễn Huệ lật đổ chúa Trịnh

-1787: Nguyễn Huệ trở lại Long Xuyên

-1788:Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế

-1789: Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh , Nguyễn Ánh lấy thành Gia Định

-1792: Vua Quang Trung mất

-1793 :Nguyễn Nhạc mất

-1799: Nguyễn Ánh chiếm thành Qui Nhơn .

-1801: Nguyền Ánh lấy được Phú Xuân .

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Advertisements

Read Full Post »

nhấp vào ảnh nhỏ để xem ảnh lớn .

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC

Tượng Hổ ở lăng Trần Thủ Độ ( Thái Bình ). Trần Thủ Độ là Thái Sư triều Trần , ông là người uy dũng , quyết đoán , người góp phần dựng lên vương triều Trần , người có vai trò quan trọng trong chiến thắng chống quân xâm lược Mông cổ (1258). Khu lăng mộ của ông được xây dựng vào năm 1264 tại Thái Bình , ở lăng có tạc một con hổ .Tượng hổ có kích thước dài gần như thật (dài 1,43m)thân hình thon ,bộ ức nở nang ,bắp vế căng tròn . Tượng đã lột tả tính cách dũng mãnh của vị chúa sơn lâm ngay cả trong tư thế rất thư thái ,nằm xoải chân , chân thu về phía trước , đầu ngẩng cao . Tượng hổ tạo khối đơn giản , dứt khoát , có chọn lọc và được sắp xếp một cách chặt chẽ , vững chãi . Sự chau chuốt , nuột nà của hình khối và đường nét với những đường chải mượt của tóc hổ , những đường vằn đều đặn trên ức tạo nên những hoa văn trang trí tôn thêm vẻ đẹp của hổ . Thông qua hình tượng con hổ , các nghệ sĩ điêu khắc thời xưa đã nắm bắt và lột tả được tính cách , vẻ đường bệ ,lẫm liệt của thái sư Trần Thủ Độ .Bây giờ đến Vũ Thư Thái Bình . Ta vẫn gặp một con hổ đá nằm im lìm giữa hoa hoang cỏ dại trong di tích hoang tàn lăng Trần Thủ Độ . Đây là một tác phẩm nghệ thuật đẹp trong nền nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam.


Tượng quan hầu trong lăng vua Trần Hiến Tông ở xã An Sinh huyện Đông Triều , tỉnh Quảng Ninh .Vua Trần Hiến Tông mất năm 1341 , tuy đã 13 năm làm vua , nhưng lúc ấy mới 23 tuổi . Có lẽ vì thế , trong sự thương tiếc của triều đình , đây là lăng mộ vua Trần duy nhất có các tượng “người đá , ngựa đá ,hổ đá , dê đá ,trâu đá “như các tác giả sách Đại Nam Nhất Thống Chí ở cuối thế kỷ XIX còn thấy > Sau nhiều biến thiên lịch sử , cho đến thập niên 70 của thế kỷ XX , khu lăng đã bụ hủy hoại , song vẫn còn hai tượng quan hầu , chó đá và trâu đá .

Rất tiếc cả hai tượng quan hầu đều bị gẫy mất đầu nhưng may tìm được một đầu tượng chắp lên rất khớp ., và như thế có thể nhận ra một tượng quan hầu khá nguyên . tượng cao 130 cm, đứng trên đế chữ nhật cạnh trước 39 cm cạnh bên 30 cm còn nổi trên đất 10cm . Tượng và bệ liền một khối đá dựng thẳng đứng , tất cả khuôn lại trong một trụ gọn gàng như kiểu tượng mồ tây nguyên , không có những chi tiết nhô ngang dễ gãy . Tượng được diễn tả một viên quan hầu cận đứng nghiêm , hai tay ép sát sườn rồi đưa ngang về trước bụng để nâng một vật như chiếc hộp trước ngực , nhưng bàn tay bị che khuất . Đầu tượng đội mũ bó sát thành băng ngang phía trên trán .Thân mặc áo dài quét đất , gấu áo hơi loe ra , phía trước để lộ hai bàn chân đi giầy , ống tay áo rộng thành khối vuông trước bụng , áo không có trang trí mà chỉ có nếp chảy xuôi , bốn cạnh thân nổi rõ . Như vậy toàn thân tượng cũng như các thành phần chính được quy về các khối hình học có góc cạnh rõ ràng , điều đó làm tăng tính khúc triết , khỏe khoắn , dứt khoát . Đầu tượng hơi dài , mặt thon thả ,mắt , nũi , miệng đều rát thực và ở trạng thái đăm chiêu , bình thản .Trong không gian lăng mộ , giữa lũng hoang cạnh sườn núi , tượng quan hầu trang nghiêm và tĩnh lặng đến tuyệt đối , phảng phất một nỗi ưu tư .

Tượng thú và quan hầu lăng Trần Hiến Tông


Trong chùa Dâu ở gian giữa chùa có tượng Bà Dâu , hay nữ thần Pháp Vân , uy nghi trầm mặc , màu đồng hun , cao gần 2m được bày ở gian giữa . Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ , tới quê hương Tây Trúc , còn hai pho tương rất đẹp là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ chầu hai bên , với khuôn mặt sống động , đứng trong tư thế của một điệu múa cổ xưa , đặc biệt tượng Ngọc Nữ vấn khăn , rẽ tóc mang đậm tâm hồn người Việt . Ngoài ra trong chùa chính còn rất nhiều các pho tượng cổ : Tượng Tổ Sư Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi , tượng Mạc Đĩnh Chi ,các pho Kim Cương , Hộ Pháp . Tượng Phật , Bồ Tát , Thánh Tăng , Đức Ông được bày phía sau cũng là những tác phẩm điêu khắc giá trị .

Một số motif trang trí trên gạch nung của tháp Bình Sơn


Hình cánh sen dẹo hay cánh sen ngửa lại được trang trí trên các hàng gạch mang tính chất như bệ đỡ.


Hình rồng trang trí ở tháp Bình Sơn là rồng có sừng và cuộn tròn mình , đầu rúc vào giữa , chân đạp ra ngoài , sống lưng có vây như răng cưa , một chân trước đưa lên nắm tóc trong tư thế ngộ nghĩnh , dường như đã có sự dân gian hóa .

Đôi rồng đá thành Tây Đô Thanh Hóa


Chùa Thông ở sườn núi đá( Thanh Hóa) ,cách thành nhà Hồ không xa mấy , theo thư tịch được xây năm 1270 . Ngày nay đã bị phá hủy hoàn toàn ,song trên nền cũ còn tượng một con sư tử bằng đá ,dài 125cm nằm trên bệ liền khối chạm những lớp sóng nước chồng chất thường gặp ở giai đoạn cuối thời Lý đầu thời Trần , đầu hơi nghển và hơi quay về phía bên trái , bụng áp sát bệ , toàn thân thành một khối đóng kín .Mặc dù đầu sư tử bị sứt mất cằm trên và mũi song toàn thể vẫn sống động với bờm tóc phủ qua gáy xuống lưng ,chiếc đuôi vắt lên mông , chân trước bên phải đặt lên quả cầu , những ngấn cổ song hành phập phồng .Và điều nổi bật nhất là toàn thân được phủ những bông hoa nhỏ nhiều cánh quen thuộc thường gặp trên nhiều tượng thời Lý .Mảng khối ở con sư tử mập căng , đường nét chải chuốt , các hoa văn tỉa tót như chạm bạc , chuẩn xác và tinh tế.


Bệ Đá (Bệ Tam Thế )

Trong chùa Thầy còn có cái bệ đá đời Trần .Góc bệ chạm hình chim Garuda , nguyên là từ ChămPa truyền sang .Con sư tử ở bệ hoa cũng thế .


Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý , với các đường cong tròn nối nhau ,các khúc trước lớn ,các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đươi rắn .Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc , nhưng không tựa đầu vào nhau như rồng thời lý .Có khi vảy lưng có dạng hình răng cưa lớn , nhọn ,đôi khi từng chiếc vảy được chia thành hai tầng .Chân rồng thường ngắn hơn , những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng trống trên bức phù điêu và có sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay .

Đầu rồng không có nhiều phức tạp như rồng thời Lý .Rồng vẫn có vòi hình lá ,vươn lên trên nhưng không nhiều uốn khúc . Chiếc răng nanh phía trước khá lớn , vắt qua sóng vòi .Miệng rồng há to nhưng nhiều khi không đớp quả cầu .

Rồng thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát , mạnh mẽ .Thân rồng thường mập chắc , tư thế vươn về phía trước .Cách thể hiện rồng không chịu những qui định khắt khe như thời Lý .

Rồng thời Trần .

Ta có thể so sánh đầu rồng thời Lý và thời Trần rất giống nhau , tuy vẫn có thể phân biệt được.

Đầu rồng đất nung thời Trần được trưng bày .





Hiện vật tìm thấy rất nhiều khi khai quật hoàng thành Thăng Long 2002-2004.

Các bài đã đăng :

*GIỚI THIỆU KIẾN THỨC MỸ THUẬT VIỆT NAM

*Mỹ Thuật Thời Lý

*Nghệ Thuật Kiến Trúc Thời Lý

*Nghệ Thuật Điêu Khắc Thời Lý

*Nghệ Thuật Trang Trí Gốm Thời Lý

*Mỹ Thuật Thời Trần

*Kiến Trúc Phật Giáo Thời Trần

*Nghệ Thuật Điêu Khắc Thời Trần

*Nghệ Thuật Trang Trí Gốm Thời Trần

*Mỹ Thuật Thời Lê

*Mỹ Thuật thời Tây Sơn

*Nghệ Thuật Kiến Trúc Thời Tây Sơn

*Hệ Thống Tượng Ở Chùa

*Mỹ Thuật Thời Nguyễn

*Nghệ Thuật Kiến Trúc Thời Nguyễn

*Lăng Tẩm Các Vua Nhà Nguyễn

Read Full Post »

GỐM TRONG TRANG TRÍ NỘI THẤT

Những vật dụng bằng gốm ấy, dù đơn giản là thứ đồ dùng trong nhà hay những đồ trang trí nội thất làm đẹp thêm không gian của chủ nhân thì nó cũng đóng vai trò quan trọng và góp phần không nhỏ làm tăng giá trị cho không gian của bạn.

gốm

Khu vườn sinh động hơn với những sản phẩm gốm đẹp và lạ mắt

Gốm là một chất liệu hiện được sử dụng khá nhiều trong trang trí nhà cửa. Việc sắp đặt, bố trí bình gốm khá đơn giản, nhưng sẽ mang đến hiệu quả tốt về thẩm mỹ. Khi bài trí, cần lưu ý tới kích thước, chất liệu và chủng loại gốm.

Cách bài trí bình gốm thông dụng nhất là trang điểm cho không gian, chứ không phải là lấn át không gian. Nghĩa là căn phòng hay khu vực trưng bày bình gốm phải được “dọn” tương ứng và có mục đích để khi đưa bình gốm vào thì yếu tố thẩm mỹ và điểm nhấn được tăng lên. Bạn cũng cần căn cứ vào kích thước bình để chọn vị trí. Bình lớn nên đặt ở góc cầu thang, góc phòng. Loại trung bình có thể bố trí ở bàn góc salon, tủ lớn. Bình loại nhỏ bày trên kệ, bậu cửa sổ hay hốc âm tường. Chủ đề của bình gốm cũng cần được cân nhắc sao cho phù hợp với thời điểm mà gia chủ sắp đặt, ví dụ như dịp Lễ Tết, Giáng sinh hay sinh nhật đều nên khác nhau.

gốm02

Lựa chọn bình gốm trang trí theo thẩm mỹ để tạo điểm nhấn cho không gian nội thất

gốm01

Chất liệu bề mặt gốm cũng tùy thuộc phong cách nhà. Loại gốm đơn giản tự nhiên, men lì, gốm dân dã kiểu như chum vại thích hợp nhà nhiệt đới truyền thống. Nếu nhà có phong cách hiện đại trẻ trung thì bình gốm nên chọn loại phá cách, màu mạnh, dáng lạ. Có thể bài trí theo bộ hai ba chiếc thành cụm, hoặc dùng cùng tông như “anh em sinh đôi“. Bạn cũng không nên quá lạm dụng gốm trong trang trí nội thất vì nó sẽ biến nhà bạn thành “bảo tàng bất đắc dĩ”.

MỤC LỤC – BÍ QUYẾT , Ý TƯỞNG & GỢI Ý TRONG  TTNT


Read Full Post »

Hồi sinh pháp lam Huế

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Ngoài trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam còn có giá trị trong nghệ thuật trang trí tranh, phù điêu. Pháp lam cùng với gốm và sơn mài là ba nghề được chọn tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009.

Đây là một nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Tuy nhiên do biến động lịch sử, pháp lam đã thất truyền gần 200 năm. Thời gian thất truyền quá lâu, ngay cả người dân Huế cũng cảm thấy xa lạ.

Gần 200 năm thất truyền bí ẩn

Pháp lam là kỹ thuật tráng men nhiều màu lên cốt đồng đỏ và nung chín tạo nên tác phẩm mỹ thuật hay chi tiết trang trí trong kiến trúc với họa tiết rực rỡ màu sắc.

Sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước Công nguyên khi thợ kim hoàn vùng Mycenaean (Hy Lạp) tráng men thủy tinh trên khuyên tai bằng vàng.

Ở Việt Nam, kỹ nghệ này du nhập vào đầu thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đưa một số công nhân Việt Nam sang học nghề chế tác pháp lam ở Trung Quốc.

Sau đó, nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục (xưởng sản xuất pháp lam đặt ở khu Canh nông trong Thành nội) gồm 15 người do ông Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình).

Pháp lam Huế phát triển đến thời vua Tự Đức thì phôi pha dần rồi thất truyền một cách bí ẩn. Trong 60 năm tồn tại, từ năm 1827, pháp lam Huế đã sản xuất rất nhiều vật phẩm có giá trị để trang trí, cúng tế theo yêu cầu của triều đình, trong đó phục vụ cho nhu cầu trang trí nội ngoại thất, tế tự và nhu cầu thường nhật trong cung đình.

Cách đây 10 năm, ba nhà nghiên cứu khoa học ở Huế gồm tiến sĩ dược học Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế), kỹ sư chuyên ngành silicat Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Thừa Thiên-Huế) và thạc sĩ vật lý Đỗ Hữu Triết (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) đã cùng nghiên cứu để phục hồi pháp lam Huế.

Tuy ba người với ba trường phái khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung là cùng tạo ra được màu men, phục hồi thành công pháp lam Huế sau gần 200 năm vắng bóng.

Những người hồi sinh pháp lam

Trong hai năm 2003-2004, tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất pháp lam phục chế tu bổ di tích Huế” và thu được thành công khi tạo ra được ba mẫu phục chế hoàn hảo theo nguyên mẫu của di tích Huế.

Đóng góp lớn nhất, có giá trị thiết thực của tiến sĩ Đức cùng cộng sự của ông là làm sống lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc, niềm tự hào một thời của mỹ thuật cố đô Huế. Những sản phẩm do ông và cộng sự làm ra đã được ứng dụng vào việc trùng tu các công trình di tích Huế như trang trí chùa Thiên Mụ, điện Thái Hòa, hai nghi môn tại hoàng thành Huế.

Kỹ sư Trần Đình Hiệp thì hoàn thiện được kiểu tráng men trên mặt phẳng với độ bền màu trong nhiều môi trường khác nhau, hồi sinh loại pháp lam mỹ thuật trang trí và ngói âm dương.

Còn với Đỗ Hữu Triết, sau những năm tháng nghiên cứu về phục dựng bảo tồn di tích Huế, anh đã kết duyên với đề tài về phục hồi pháp lam. Niềm đam mê và ước vọng hồi sinh pháp lam Huế đã được anh truyền vào công trình luận án thạc sĩ với đề tài “Men và màu cho đồ gốm sứ ở di tích Huế” năm 2005.

Luận án được đánh giá rất cao khi người thực hiện đã phục hồi thành công men màu trong pháp lam mỹ nghệ, pháp lam trang trí nội thất và được ứng dụng vào sản xuất pháp lam.

Sau thành công đó, Triết thành lập Công ty pháp lam Sao Khuê (nay là Công ty TNHH Thái Hưng) để phục hồi kỹ nghệ sản xuất pháp lam, quy tụ 15 thợ có tay nghề giỏi về làm.

Anh Triết cho biết: “Pháp lam bị thất truyền là một mất mát quá lớn đối với nghệ thuật kiến trúc, nhất là những công trình pháp lam ở các di tích Huế bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng cần phải trùng tu. Ngoài giá trị trong việc trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam hồi sinh còn có giá trị to lớn trong nghệ thuật trang trí các sản phẩm như tranh, phù điêu. Đặc biệt, thành công trong việc phục hồi pháp lam đã tạo ra một loại tranh có chất liệu mới trong hội họa và được ứng dụng vào ngành mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất, đồng thời phục hồi và phát triển một nghề truyền thống đặc biệt của Huế đã bị thất truyền từ lâu”.

Tại Festival nghề truyền thống Huế 2009, anh Đỗ Hữu Triết đã cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trưng bày các sản phẩm pháp lam và mở một quy trình sản xuất pháp lam để du khách có thể tự tay vẽ lên pháp lam làm sản phẩm lưu niệm cho mình.

“Mặc dù đạt được những thành công bước đầu trong việc hồi sinh pháp lam Huế, tuy nhiên Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế mới chỉ làm được có ba loại hình kỹ thuật pháp lam, trong khi đó thế giới có đến 17 loại hình. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là đạt trình độ của pháp lam thế giới” – anh Triết tâm sự.

Theo http://www.phapluattp.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đồ gốm trong văn hóa Óc Eo

Văn hóa Óc Eo – một nền văn hóa cổ ở Nam Bộ hình thành và phát triển từ thế kỷ I đến thế kỷ VII và sau đó được bảo lưu như một truyền thống ở nơi đây. Dấu tích cư trú của cư dân cổ được tìm thấy khắp lưu vực các con sông Cửu Long, Vàm cỏ, Đồng Nai. Di vật phổ biến trong các di tích khảo cổ học văn hóa Óc Eo từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn là đồ gốm. Không có vẻ rực rỡ tinh xảo như các loại đồ trang sức, không có vẻ hoành tráng mà diễm lệ như những pho tượng thờ bằng đá, đồ gốm trong văn hóa Oc Eo mang một vẻ đẹp giản dị nhưng không kém phần độc đáo vì đã thể hiện đặc trưng văn hóa tộc người và phản ánh nguồn gốc bản địa của nền văn hóa này.

Đồ gốm trong văn hóa Óc Eo có thể chia làm 3 loại hình chính: Vật liệu xây dựng – kiến trúc (gạch, ngói, điêu khắc, phù điêu trang trí…), công cụ sản xuất (bàn xoa, chì lưới, dọi se sợi, nồi nấu kim loại…), đồ gia dụng (bếp lò, đèn, hũ, bình, nồi lớn nhỏ), đồ thờ cúng (bình Kendi, ly chân cao…). Về chất liệu, gốm Óc Eo hầu hết là đất nung xương gốm khá mịn, gốm màu đỏ hay nâu hồng hoặc xám đen, trừ các chén nhỏ và nồi nấu kim loại cứng chắc như sành do xương gốm pha nhiều sạn sỏi nên có màu xám. Ở đây chỉ xin được giới thiệu một vài loại di vật gốm phản ánh nhiều mặt đời sống của cư dân cổ ở Nam bộ – chủ nhân của nhiều công trình kiến trúc đền tháp đồ sộ mà nay chỉ còn là phế tích.

Phổ biến nhất là các bàn xoa – một dụng cụ của kỹ thuật làm gốm cổ. Dụng cụ hình nấm làm bằng chất liệu sét lọc kỹ khá mịn, màu trắng ngà hay hồng nhạt, cầm không có cảm giác chắc nặng, tay cầm hình trụ hơi thon ở giữa tạo núm cầm ở đầu, một số tiêu bản có những đường gờ ren để cầm cho chắc chắn. Mặt xoa hình tròn cong lồi có hoa văn khắc chìm khá sắc nét kiểu chân chim, dấu nhân haỳ những đường tròn đồng tâm cách đều nhau từ 1mm đến 2-3mm, cũng có tiêu bản mặt để trơn láng. Một lỗ nhỏ 0,5 cm xuyên dọc chính giữa tay cầm đến tâm mặt xoa. Công cụ này được sử dụng để “xoa” làm nhẵn láng bề mặt đồ gốm vì những đường “hoa văn” rất nhỏ có tác dụng khi xoa sẽ làm bề mặt đồ gốm nhẵn đều, mặt cong lồi và lỗ xuyên tâm làm giảm ma sát của mặt tiếp xúc, động tác nhẹ nhàng và nhanh hơn. Những tiêu bản mặt xoa không có hoa văn có chức năng làm nhẵn bóng áo gốm, tăng thêm vẻ đẹp cho sản phẩm. Kích thước phổ biến là chiều cao và đường kính mặt xoa xấp xỉ nhau: 6-8cm. Cá biệt có tiêu bản lớn khoảng 10-12cm nhưng chất liệu cứng chắc gần như sành, màu đỏ nâu hoặc xám đen, không có hoa văn, đó là các bàn dập làm các loại đồ gốm lớn như lu, khạp, nồi lớn… cho xương gốm chắc và mỏng đều. Loại dụng cụ này đến nay vẫn còn được sử dụng tại các lò sản xuất lu gốm ở Tân Vạn (Biên Hòa, Đồng Nai) và nhiều nơi khác.

Bếp lò (cà ràng): Đây là di vật tiêu biểu được tìm thấy trong nhiều di tích. Tuy chỉ còn các mảnh vỡ nhưng có thể nhận dạng di vật này qua sự so sánh với loại bếp lò bằng gốm hiện nay vẫn phổ biến ở Nam bộ. Di vật này có một số kiểu dáng:

– Ở giai đoạn sớm: Bếp lò hình chảo đáy rộng và khá bằng, trong lòng có 3 giá kê (hình trụ đầu hơi nhọn như sừng bò).

– Ở giai đoạn muộn: Bếp lò hình khay thắt ở giữa giống số 8. Có chân đế và thành lò cao, từ thành lò nhô ra 3 giá kê. Phần ngoài có thể để than tro nướng thức ăn.

Dù hình thức nào thì bếp lò gốm đều giống nhau ở chỗ cấu tạo phù hợp để có thể đặt trên nhà sàn hay ghe xuồng mà vẫn an toàn, lại có thể di chuyển dễ dàng. Điều đặc biệt là loại bếp lò gốm này đã được tìm thấy rất nhiều trong các di tích thuộc văn hóa Đồng Nai thời tiền sử (niên đại từ 3000 – 2000 năm cách ngày nay) vừa là vật dụng tìm thấy tại nơi cư trú, vừa là đồ tùy táng trong các ngôi mộ. Như vậy loại bếp lò gốm (cà ràng) này đã tồn tại và phổ biến trong đời sống cư dân vùng sông nước, cư trú trên nhà sàn hay ghe xuồng, suốt từ thời xa xưa. Vì vậy, việc gọi nó là “cà ràng” như cách gọi của người Khmer Nam bộ không có nghĩa là nó là di vật của người Khmer, mà chỉ là sự ghi nhận tên gọi hiện nay của loại bếp lò này.Các loại nắp vung bằng gốm khá đặc biệt vì là nắp đậy ngửa (núm cầm trên mặt lõm của nắp). Loại nắp này đặc biệt thích hợp đậy nồi, bình hũ sử dụng trên ghe xuồng, khi di chuyển tròng trành không bị rơi bể.

Đèn gốm: làm bằng chất đất chắc nặng, đế hình đĩa có vành và đường kình lớn hơn đĩa đèn để hứng tàn bấc. Chân cao để tiện cầm nắm và tạo độ cao cho đèn. Phía trên đặt một đĩa đèn đường kính nhỏ hơn đế, dĩa này có chỗ lõm để gác bấc đèn. Khi cần thì có thể đặt chiếc đĩa đèn này trên sàn nhà, sàn ghe xuồng hay trên bàn cũng được.

Đồ dùng nghi lễ tôn giáo: Bình kiểu Kendi là loại bình có vòi thân hình cầu, phình tròn ở giữa, thu nhỏ ở cổ và đáy bình. Miệng bình loe cong. Kích thước của bình khá lớn, nhiều chiếc có hoa văn khắc vạch tam giác hay sóng nước ở thân. Có chiếc tô màu đỏ (thổ hoàng) hay tô màu đen chì rất đẹp. Điều đáng lưu ý là những bình bình Kendi thường được tìm thấy trong các phế tích đền tháp, hầu hết bị gãy vòi, dấu vết cho thấy sự “cố ý” đập gãy rời vòi khỏi thân bình. Vì vậy nhiều khả năng cho biết đây là di vật dùng trong các nghi lễ tôn giáo Bàlamôn, những chiếc vòi bình mang bóng dáng ngẫu tượng Linga – tượng trưng cho thần Siva.

Được tìm thấy cùng với những chiếc bình là nhiều chiếc ly chân cao trông giống ly uống sâm-banh, kiểu dáng khá “hiện đại”. Ngoài ra còn có những chiếc nắp gốm hình tháp có trổ lỗ, dùng để đậy bình “xông hương”.

Những loại đồ gốm tiêu biểu trên đây của văn hóa Óc Eo chỉ là một phần nhỏ trong kho tàng đồ gốm của văn hóa này. Di vật gốm cổ cho ta nhận biết về đời sống của chủ nhân văn hóa Óc Eo, những yếu tố văn hóa bản địa Đồng Nai – Cửu Long và những yếu tố văn hóa ngoại sinh từ vùng biển và hải đảo mang đến. Tuy nhiên, cũng như “số phận” của những di vật gốm – đất nung trong nhiều nền văn hóa cổ, dù mang vẻ đẹp bình dị mà sâu lắng hồn đất, cổ vật gốm của văn hóa Óc Eo chưa được nhiều người dành sự quan tâm tìm hiểu như đối với cổ vật bằng đá và kim loại quý.

Gốm cổ Óc Eo trong Viện Bảo Tàng

Gốm cổ Óc Eo trong Viện Bảo Tàng

TS Nguyễn Thị Hậu – Văn Nghệ Cửu Long

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Festival Biển 2009: Sẽ có nhiều hoạt động triển lãm
Nguồn: Báo Khánh Hòa
Festival Biển 2009 sẽ có nhiều hoạt động triển lãm văn hóa – nghệ thuật như: tranh, ảnh, cổ vật, đồ gốm… Tuy không phải là chương trình “đinh”, nhưng những hoạt động triển lãm luôn tạo được dấu ấn trong các kỳ Festival, góp phần giới thiệu bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương. Hiện nay, các đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) Khánh Hòa đang tích cực chuẩn bị cho các triển lãm này.

Theo kế hoạch, Festival Biển 2009 sẽ có nhiều hoạt động triển lãm như: Triển lãm gốm và dệt thổ cẩm Chăm (tại Tháp Bà Ponagar), triển lãm gốm mỹ nghệ Chăm (công viên bờ biển đầu đường Nguyễn Chánh – Trần Phú) của Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Gốm mỹ nghệ Nhất Chi Lan, triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương” (công viên bờ biển cạnh Quảng trường 2-4), triển lãm thư pháp (Hội quán Hòn Chồng), triển lãm cổ vật (Bảo tàng tỉnh, 16 Trần Phú, Nha Trang)…

Để chuẩn bị cho triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương”, mới đây, lãnh đạo Sở VH-TT-DL cùng Trung tâm Văn hóa – Thông tin tỉnh đã có buổi họp mặt với các nghệ sĩ nhiếp ảnh xứ Trầm Hương, kêu gọi các nghệ sĩ gửi tác phẩm tham gia triển lãm (hạn cuối gửi tác phẩm là ngày 15/5). Về vấn đề này, ông Nguyễn Hữu Bài – Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL cho biết: “Chúng tôi đã có buổi gặp mặt các nghệ sĩ nhiếp ảnh để nói rõ mục đích, ý nghĩa của triển lãm trong dịp Festival Biển 2009; kêu gọi các tác giả gửi tác phẩm để Ban tổ chức tuyển chọn… Triển lãm ảnh “Nét đẹp xứ Trầm Hương” đã trở thành một thương hiệu của Khánh Hòa, đó là đề tài “mở” nên tác phẩm tham gia triển lãm rất phong phú, có cái nhìn đa chiều về thiên nhiên – con người – văn hóa xứ Trầm Hương. Bởi thế, tôi tin rằng triển lãm sẽ thành công”. Được biết, triển lãm “Nét đẹp xứ Trầm Hương” sắp tới sẽ có khoảng 200 tác phẩm của các nghệ sĩ nhiếp ảnh ở Khánh Hòa. Ngoài ra, triển lãm còn có 50 tác phẩm của các nghệ sĩ nhiếp ảnh đến từ tỉnh Morbihan (Pháp).

Bên cạnh triển lãm nhiếp ảnh, triển lãm cổ vật ở Bảo tàng tỉnh cũng là một hoạt động đáng chú ý. Những năm gần đây, do Bảo tàng tỉnh vẫn đang trong quá trình sửa chữa nên hoạt động trưng bày, triển lãm có phần bị hạn chế. Vì thế, việc tổ chức một cuộc triển lãm cổ vật trong những ngày diễn ra Festival Biển 2009 là một nỗ lực đáng ghi nhận của Bảo tàng tỉnh. Theo ông Nguyễn Hữu Bài: Bảo tàng tỉnh sẽ phối hợp với Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh tổ chức triển lãm. Trong đó, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh sẽ tham gia trưng bày 200 cổ vật quý hiếm được trục vớt từ các con tàu đắm trên các vùng biển Việt Nam; phía Khánh Hòa sẽ có các hiện vật quý được phát hiện qua các đợt khai quật từ các di chỉ khảo cổ học trong tỉnh như: Xóm Cồn, Hòa Diêm, Văn Tứ Đông… và một số trống đồng được tìm thấy trên đất Khánh Hòa.

Một hoạt động triển lãm khá mới ở Festival lần này là Hội chợ tranh nghệ thuật. Theo kế hoạch của Sở VH-TT-DL, Hội chợ tranh nghệ thuật sẽ có khoảng 20 gian hàng tranh của các họa sĩ, nhà điêu khắc xứ Trầm Hương. Ngoài việc trưng bày, giới thiệu mỹ thuật Khánh Hòa, tại Hội chợ tranh sẽ có một số họa sĩ vẽ ký họa chân dung cho khách du lịch. Có thể nói, việc tổ chức Hội chợ tranh nghệ thuật là một nét mới của Festival biển 2009. Đó là tiền đề để Khánh Hòa xây dựng một hội chợ tranh có tầm cỡ quốc gia.

Các triển lãm gốm như: triển lãm gốm mỹ nghệ Chăm của DNTN Nhất Chi Lan, triển lãm gốm và dệt thổ cẩm Chăm của đồng bào Chăm ở Tháp Bà Ponagar cũng góp phần giới thiệu bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương – một vùng đất có sự giao lưu, hòa quyện văn hóa Việt – Chăm. Theo kế hoạch DNTN Gốm mỹ nghệ Nhất Chi Lan trình bày với Sở VH-TT-DL, triển lãm gốm Chăm của DN này sẽ có khoảng 200 sản phẩm được trưng bày theo từng chủ đề: gốm làm tiểu cảnh, gốm trang trí ở sân vườn, gốm trang trí nội thất…

Có thể nói, các hoạt động triển lãm (tranh – ảnh – gốm nghệ thuật – thư pháp) là một mảng quan trọng trong tổng thể các hoạt động Festival Biển 2009. Các hoạt động triển lãm không chỉ tạo nên một điểm vui chơi cho du khách đến với Festival, mà qua đó còn góp phần giới thiệu vẻ đẹp thiên nhiên, con người, bản sắc văn hóa xứ Trầm Hương. Hy vọng, với sự chuẩn bị nghiêm túc, kỹ lưỡng của Sở VH-TT-DL và những đơn vị liên quan, các hoạt động triển lãm sẽ là điểm nhấn của Festival Biển 2009.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »