Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm’

Để chào mừng kỷ niệm 67 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; Nhân ngày truyền thống của Ngành Văn hóa, Bộ VHTTDL và Ủy ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phối hợp với các cơ quan Trung ương và Ủy ban nhân dân Thủ Đô tổ chức “Những ngày Văn hóa Tây Nguyên” tại Hà Nội.

Theo đó, Những ngày văn hoá Tây Nguyên bao gồm các hoạt động: Triển lãm giới thiệu về Tây Nguyên; Hội chợ giới thiệu ẩm thực Tây Nguyên; Hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống; Hoạt động giao lưu, hội thảo và tham quan.

Đây sẽ là chương trình được tổ chức với quy mô lớn về Văn hóa – Con người – Sự kiện của vùng đất Tây Nguyên với mục đích giới thiệu với nhân dân Thủ đô, nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế những giá trị văn hóa và sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam.

Lễ hội còn là dịp tôn vinh các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên, khai thác và phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hóa truyền thống. Động viên, khích lệ nhân dân các dân tộc Tây nguyên trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế, xã hội; xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biết quan trọng của Tây Nguyên trong lịch sử cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tây Nguyên – gồm 5 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng – không chỉ là địa bàn chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng mà còn là vùng văn hoá dân gian đa dạng và đặc sắc của Việt Nam. Các tỉnh Tây Nguyên đang từng bước phục hồi lễ hội cồng chiêng và các lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số như lễ đâm trâu, mừng lúa mới, cúng bến nước, bỏ mả, mừng sức khỏe và cầu mưa, đồng thời tiến hành bảo tồn, sưu tầm, lưu giữ và phổ biến những tư liệu khảo cứu và các hiện vật đặc thù của văn hóa Tây Nguyên. Những lễ hội đua voi, lễ hội cồng chiêng, lễ hội văn hóa Trường Sơn-Tây Nguyên đã trở thành lễ hội truyền thống thường niên của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Đêm khai mạc Những ngày văn hóa Tây Nguyên 28/8/2012 sẽ được truyền hình trực tiếp trên sóng VTV và Truyền hình Hà Nội./.

Nhận lời mởi từ Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật VN  ( Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch )  mừng ngày hội Văn Hóa Tây Nguyên  Khanhhoathuynga tham gia  trưng bày một số  hiện vật đặc trưng sinh hoạt thường ngày và văn hóa của các tộc người Tây Nguyên bằng các chất liệu gốm , da , đồng , gỗ , đá . Những vật dụng này gắn bó với đời sống thường nhật nhưng mang những giá trị tinh thần tâm linh và tính thẩm mỹ của con người vùng đất Tây Nguyên được thể hiện qua các nhóm sản phẩm tiêu biểu như công cụ lao động , săn bắt, nhạc cụ , đồ đựng thực phẩm , đồ trang sức …. Được KhánhHòaThúy Nga sưu tầm tại vùng đất Tây Nguyên .

Chúng tôi sẽ cập nhật hình ảnh của ngày lễ hội sau :

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Advertisements

Read Full Post »

DANH MỤC TỔNG HỢP

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ

 

*Thành Kèn – di tích lịch sử Thành Biên Hòa

*Một ngôi nhà cổ ở thị xã Hội An

*Hoang tàn nhà cổ cụ Vương

*Những ngôi nhà cổ dân gian truyền thống ở TPHCM

*Nhà cổ ở Nam Bộ – tư liệu tổng hợp

*Hai căn nhà cổ ở Sa Đéc

*Nhà rường cổ Huỳnh Phủ – bến Tre

*Nhà cổ trăm  cột ở Long An

*Nhà vườn cổ ở Huế

*Nhà cổ trên lưng đồi vùng Tiên Phước –Quảng  Nam

* Kiến trúc xưa ở Cù Lao Phố

*Những Kiến trúc , công trình xưa nhất Sài Gòn

*Nhà cổ dân gian tại Bà Rịa Vũng Tàu

*Nhà cổ Bình Dương

*Nghệ thuật trang trí trong ngôi nhà cổ tại Bình Dương

* Thú chơi nhà cổ         

*Ngôi nhà cổ đẹp nhất miền Tây

*Ngôi nhà cổ đẹp nhất Miền Tây 2 – nhà cổ vườn lan

* Nguy cơ tuyệt tích nhà cổ ở Sài Gòn

*Những người mê nhà cổ

*Nhà cổ thật & nhà cổ giả ở Hội An

*Bình phong trong kiến trúc truyền thống VN

*Bảo tồn di sản : phải đúng luật & có tầm nhìn xa

*Di sản bốc hơi

*Nhà cổ Diệp Đồng Nguyên – Hội An va các cổ vật sưu tập của gia chủ

*Ngôi đền Pô Kluang Garai ở Phan Rang

*Ngói lưu ly

*Cấu trúc kiến trúc cổ VN

*Nhà rường cổ VN

*Ứng xử tàn bạo với di tích

*Kiến trúc các ngôi chùa xưa & nay

*Ngôi nhà thờ  tộc  Trương ở Hội An

*Nếu Hội An không còn phố cổ

*Nhà cổ ở Huế

*Biến di tích 400 tuổi thành   …1 ngày tuổi

*Viện bảo tàng Khải Định – Bảo tàng cổ vật cung đình Huế

*Những ngôi chùa đẹp tại VN

*Chùa tại Miền Bắc VN p2

*Chùa tại miền Bắc VN p3

*Chùa tại miền Bắc VN p4

*Chùa tại miền Bắc VN p 5

*Di tích đài kỷ niệm ở Biên Hòa

Read Full Post »

Tọa lạc tại số 97 A Phó Đức Chính  – phường Nguyễn Thái Bình – Q 1 – TP Hồ Chí Minh . Bảo tàng Mỹ Thuật  Thành Phố Hồ Chí Minh được thành lập  ngày  05 thánh 09 năm  1987  .

Khu nhà  của Bảo tàng Mỹ Thuật  trước đây là  của dòng họ  Hui  Bon Hoa  –  hay còn gọi là Hứa Bổn Hòa  ( tục gọi là CHú Hỏa  ) , một thương nhân người Hoa  giàu  có và nổi tiếng  nhất  Sài Gòn lúc bấy giờ  . Ngoài ngôi nhà trên  chú Hỏa  còn xây dựng nhiều công trình  nổi tiếng khác như    :  Khách sạn Majestic  , bệnh viện Từ Dũ  , trung tâm cấp cứu Sài Gòn  …..vv

Toà nhà do  ông   Rivea một kiến trúc sư  người Pháp thiết kế  theo phong cách kiến trúc Pháp cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX kết hợp một cách hài hòa của kiến trúc phương Đông trong trang trí bên ngoài, mái ngói, cột ốp gốm và các trang trí bằng gốm trên mái nhà … Trong các toà nhà này đã từng tồn tại nhiều đồ vật có giá trị mỹ thuật bằng nhiều chất liệu và có giá trị thẩm mỹ; từ đồ gỗ cẩn ốc xà cừ, đồ gỗ chạm tinh xảo, đồ gốm …

Khu nhà được xây dựng không phải với công năng của một bảo tàng, mà là nhà ở và làm việc. Đến  năm 1987  ngôi nhà  được cải tạo sửa chữa thành Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và chính thức mở cửa đón khách tham quan vào cuối tháng 5 /1989  cho đến nay .  Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày tài liệu, hiện vật tiêu biểu có giá trị về mỹ thuật và phản ánh  những nét đặc sắc của mỹ thuật cổ Việt Nam , các tác phẩm thế giới, đặc biệt là các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu của khu vực phía Nam.

Bảo tàng Mỹ Thuật thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm mỹ thuật lớn của Việt Nam , tọa lạc trên một diện tích rộng có không gian đẹp ở trung tâm Thành phố .  với tổng diện tích xây dựng là 3.514 m vuông  gồm 03 tầng lầu . Mặt bằng tổng thể khối nhà hình chữ U  được  đúc kiên cố , tường xây dày từ  40 cm – 60 cm  , cấu trúc bên trong tòa nhà gồm : tầng hầm dành cho khối văn phòng làm việc; tầng trệt dành cho các gallery hoạt động triển lãm và kinh doanh tranh  , lầu 1 là nơi trưng bày tranh tượng mỹ thuật; lầu 2 trưng bày các đồ gốm sứ, thủ công mỹ nghệ truyền thống  .

Ngoài các khu vực trưng bày cũ   , hiện nay  Bảo Tàng mở rông thêm khu trưng bày mới  có diện tích 1500 m vuông là nơi dành riêng để giới thiệu trưng bày các bộ sưu tập mỹ thuật  đặc trưng ,  khu trưng bày mới  này được xây dựng ngay cạnh Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, vẫn thuộc quần thể kiến trúc chung của bảo tàng.

Tháng 5 năm 2012 Bảo tàng đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố .

Một số hiện vật được trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ Thuật  Thành phố Hồ Chí Minh :

1/ Nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ

Tại phòng trưng bày nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ  gồm có các tác phẩm điêu khắc như các tượng  thần Ấn Độ Giáo và Phật Giáo có niên đại từ thế kỷ IV – XI

Tượng Thần Ấn Độ Giáo : gồm tượng  Vishnu, Surya, Laksmi, Uma, Ganesa, các nam thần và nữ thần có niên đại từ thế kỷ V-XI  với chất liệu sa thạch mịn

tượng Phật có niên đại từ thế kỷ IV – X, chất liệu gỗ bằng lăng và sa thạch mịn. Ngoài ra, còn có các hiện vật kiến trúc như các bức trang trí tạc nổi hình rắn Naga và chim thần Garuda, nam thần.

2/Nghệ thuật điêu khắc cổ Champa

Nghệ Thuật điêu khắc cổ Champa là một trong những nền nghệ thuật đặc sắc trong kho tàng di sản nghệ thuật Việt Nam , với nền văn hóa đa tôn giáo và đa dân tộc của Việt Nam , góp phần không nhỏ vào nền văn hóa đa dạng đó có văn hóa tôn giáo dân tộc Chăm  với nền văn hóa bản địa  lâu đời   ,  khi  các tôn giáo Ấn Độ du nhập vào Champa cũng giống như một số nền văn hóa trong khu vực Nam Á, Đông Nam Á, ngoài những ảnh hưởng tôn giáo của ấn Độ , người Chăm còn tiếp thu  cả nền văn hóa , phong tục và đặc biệt nghệ thuật kiến trúc , điêu khắc của Ấn độ  và   khi tiếp thu những thành tựu văn minh Ấn Độ  , người Chăm đã bản địa hóa  nhanh chóng và  sớm tạo nên những nét độc đáo hấp dẫn  đặc sắc  riêng của một phong cách Chăm trên  từng tác phẩm  điêu khắc  .

Trưng bày  tại bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh các bức  tượng  , phù điêu, bán phù điêu thần Ấn Độ Giáo, người, động vật như tượng Kinnara – vũ nữ thiên tiên, người cầu nguyện, phù điêu Dvarapala – thần Hộ Pháp, nữ thần, Kala – quái vật canh giữ đền đài, các hiện vật kiến trúc như đài thờ, trụ cửa, Bán phù điêu nam thần, sư tử. đều có niên đai từ thế kỷ thứ VII – XIV ,      với chất liệu chính là sa thạch thô , đất nung .

Điêu khắc cổ Champa có niên đại chung từ thế kỷ VII – XVI, với các phong cách Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VII – VIII), Hòa Lai (đầu thế kỷ IX), Đồng Dương (cuối thế kỷ IX), Trà Kiệu (thế kỷ X), Tháp Mẫm (thế kỷ XII – XIII), Po Klaung Garai (thế kỷ XIV – XVI).

3/Tượng nhà mồ Tây Nguyên – đầu thế kỷ XX

Điêu khắc nhà mồ và tượng nhà mồ ở Tây Nguyên là một mảng điêu khắc khá độc đáo trong nền nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Tục dựng nhà mồ, tạc tượng gắn bó với người dân Tây Nguyên từ trong lòng xã hội nguyên thủy. Một phần từ các quan niệm tín ngưỡng cổ sơ còn lại cho đến ngày nay.
Cũng chính vì nghệ thuật mang tính nguyên thủy luôn tự do không bị hạn chế của chức năng ma thuật nên tượng nhà mồ Tây nguyên khá đa dạng, đặc sắc và không như những dòng nghệ thuật điêu khắc khác, công cụ để làm nên những pho tượng nhà mồ cũng hết sức đơn giản, đơn thuần là những công cụ sản xuất thuần túy: rựa và dao.Có thể nói đây là một biệt tài của nghệ nhân Giarai và Bana. Theo quan niệm của người Giarai, Bana tượng thay thế người, nên những hình tượng được làm quanh nhà mồ không gì khác hơn là để phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của người chết. Phổ biến là tượng người ngồi khóc, tượng mẹ con, tượng đàn ông hoặc đàn bà khỏa thân, phụ nữ giã gạo…

Tượng nhà mồ ở Tây nguyên (cũng như tượng ở Châu Đại Dương và Châu Phi) đều phát triển theo chiều cao và trong phạm vi hình trụ, vì tất cả tượng đều làm theo thân cây. Ở đây nghệ nhân buộc phải dàn trải ý niệm của mình theo chiều cao và trong khuôn khổ tròn. Cũng do sự giới hạn đó của thân gỗ mà gờ dọc thành mũi, mắt, miệng thường được chạm chìm. Các pho tượng thường có lưng dài, chân ngắn không đúng tỉ lệ, thiếu chi tiết song đều thể hiện khái quát được đặc điểm chính của đối tượng, sự đồng nhất thiên nhiên với con người là sức truyền cảm mạnh mẽ của dòng nghệ thuật này. ( sử dụng nội dung bài trong trang Bảo Tàng Mỹ Thuật TPHCM )

4/Gốm Việt Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử , ngành gốm truyền thống Việt Nam vẫn phát triển và tồn tại . Dưới thời Lý (1010 – 1225), thời Trần (1226 – 1400), thời Lê (1428 – 1527)   nghề gốm phát triển rất mạnh và đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và cả kỹ thuật , các thợ gốm thời bấy giờ đã cho ra đời một loại gốm quý rất đẹp nổi tiếng trên thế giới đó là gốm  men ngọc  , gốm men nâu , gốm men rạn , gốm hoa lam ….  Kéo dài đến cuối thế kỷ XIX , đầu thế kỷ XX , các trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở Việt Nam như Bát Tràng , Thồ Hà , Phù Lãng , Hương Canh , Thanh Hóa , Bình Định , Biên Hòa , Thủ dầu Một  … tiếp tục cho ra đời những sản phẩm gốm hết sức đa dạng và phong phú từ kiểu dáng , chất liệu cho đến những đường net hoa văn được thể hiện trên gốm kết hợp với sự tinh tế điêu luyện và hài hòa  trong kỹ  mỹ thuật chế tác

Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh Trong phần trưng bày gốm Việt  đã giới thiệu một số dòng gốm nổi tiếng để người xem có thể thấy được sự phong phú đa dạng của gốm Việt Nam .

5/Mỹ thuật Nam Bộ thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XVII  vùng đất Nam Bộ – Việt Nam đã được hình thành  , sự gặp gỡ của những di dân người Hoa với người Việt và Khmer trên vùng đất Nam bộ. Đó cũng là cuộc gặp gỡ của những người nông dân, thợ thủ công, những kẻ lưu lạc vì chiến tranh , đành phải rời bỏ quê hương của mình  ,  tìm đến vùng đất mới này để tạo dựng cho mình một cuộc sống mới . Trong số những lớp người di dân đến vùng đất Nam Bộ ngoài những thương nhân có không ít thợ thủ công , những đóng góp của họ không nhỏ đó là mở mang và phát triển  các hoạt động thủ công nghiệp  . Với khối óc sáng tạo , đôi bàn tay khéo léo   vùng đất Nam bộ  thưở ban đầu khai mở tạo điều kiện cho việc phát huy tài năng , tay nghề của các thợ thủ công  , họ đã sớm nhận ra tiềm năng gốm sứ  và biết tận dụng những nguồn nhiên liệu dồi dào , đất sét tốt  cộng với cả kinh nghiệm để làm ra những sản phẩm gốm sứ đáp ứng nhu cầu của người dân Nam Bộ và kỹ thuật chế tác điêu luyện  đã tạo nên một phong cách đặc sắc trong văn hóa gốm sứ của Việt Nam và vùng đất Nam bộ.

Phòng trưng bày giới thiệu khái quát về mỹ thuật Nam Bộ qua các sưu tập đồ gốm, đồ gỗ, đồ đồng… ở Sài Gòn và các vùng phụ cận từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.

 

6/Mỹ thuật đồng Việt Nam thế kỷ XIX – XX

Nghề đúc đồng là một nghề thủ công có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và đặc biệt phát triển khá mạnh vào thế kỷ XIX.

         

     Theo thời gian, đồng chứng tỏ là một kim loại có nhiều ưu thế trong kỹ thuật chế tác cũng như sự bền chắc và trang trọng. Cùng với sự kết tinh của một bề dày kinh nghiệm, điêu luyện trong kỹ thuật, các nghệ nhân đã mang những cảm xúc thẩm mỹ và sự sáng tạo của mình hòa vào hiện vật. Tất cả đã mang lại cho những sản phẩm đúc đồng một sức sống mới với nhiều phong cách nghệ thuật thông qua các bộ sưu tập lư hương, tượng, ấm, bình… mang những đặc điểm truyền thống riêng biệt từng vùng tiêu biểu như: Ngũ Xã (Hà Nội), Phường Đúc (Huế), Tân Hòa Đông (Sài Gòn)…

 

     Các sản phẩm đồng mang một giá trị mỹ thuật cao trong việc tạo hình là những tư liệu quý góp phần vào việc nghiên cứu nghệ thuật và lịch sử của nghề đúc đồng thủ công Việt Nam.

 

     Bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng về loại hình, kiểu dáng, đồ án trang trí.  ( sử dụng nội dung bài trong trang BTMTTPHCM)

7/ Mỹ thuật đương đại:

trưng bày những tác phẩm (tranh và tượng) tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu, đại diện cho các xu hướng sáng tác của:

1.        Mỹ thuật giai đoạn từ đầu thế kỷ XX – 1975.

2.        Mỹ thuật giai đoạn từ 1975 – đến nay.

Thông tin cần biết

  • Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
    97A – Phó Đức Chính – phường Nguyễn Thái Bình – Quận 1 – TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (08) 38.294.441 – (08) 38.216.331
    Fax: (08) 38.213.508
    Web:   www.baotangmythuattphcm.vn
    Email:  btmthcm@hotmail.com
  • Giờ mở cửa
    Bảo tàng mở cửa từ 9h00 đến 17h00 hàng ngày, nghỉ ngày thứ hai hàng tuần.
  • Vé vào cửa
    * Người lớn: 10.000 đồng/1 người.
    * Trẻ em: 3.000 đồng/1 người.
    * Học sinh, sinh viên, quân nhân, các đối tượng chính sách tham quan tập thể, có chế độ miễn hoặc giảm.
  • Hướng dẫn khác
    * Có hướng dẫn, thuyết minh.
    * Không được quay phim, chụp ảnh trong các phòng trưng bày.
  • Nội quy tham quan
    * Mua vé tại phòng bán vé và xuất trình tại bàn trực.
    * Không được sờ vào hiện vật và tác phẩm trưng bày, mọi hư hỏng do khách gây ra phải chịu trách nhiệm bồi thường đúng giá trị hiện vật.
    * Không mang vũ khí, các chất dễ cháy nổ vào Bảo tàng, hành lý mang theo phải gửi vào tủ hành lý theo đúng quy định.
    * Không được chụp ảnh, quay phim các hiện vật trưng bày khi chưa được phép của Bảo tàng.
    * Giữ vệ sinh chung, không mang thức ăn, nước uống vào các phòng trưng bày.

*Theo thông tin từ cô nhân viên soát vé của bảo Tàng : một quý ( 4 tháng ) Các hiện vật trưng bày trong bảo tàng sẽ được thay đổi trưng bày và sắp xếp lại .

Mời các bạn xem :

 

 

Khanhhoathuynga

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

Read Full Post »

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp:

Read Full Post »

Đồ sứ famille rose và một số tên gọi liên quan!
KhanhHoaThuyNga sưu tầm và dịch:

Đồ sứ  famille rose (tiếng Pháp) có nghĩa “dòng hồng” – pink family (tiếng Anh). Men famille rose lần đầu tiên ứng dụng vào đồ sứ vào thới Hoàng Đế Khang Hy (1653 – 1722). Sản phẩm hoàn thiện nhìn lập thể hơn (nổi hơn), đầy màu sắc, thanh lịch và trong sáng. Hầu như mọi chất chứa sắc tố màu tinh túy của thời trước đều được tận dụng, như màu tím, màu đỏ tươi , màu đất son, màu ngọc lục bảo,…

Small cloisonne copper plate (four in a set), L 10cm, H 2 cm. Qianlong period, Qing Dynasty. Collection of the Museum of Macao.

Những đồ sứ xuất khẩu dòng famille rose có chất lượng đẹp nhất đều có niên đại từ thời Ung Chính (1723- 1735). Đa phần những men trong pallete màu thời này có màu mờ đục không trong suốt hoặc hơi đục màu (semi-opaque) và không bị chảy khi nung. Dòng đồ này có tên famille rose từ men có màu hồng là đặc điểm màu chủ đạo trong pallete phối màu. Những màu ý nghĩa khác trong pallete này là màu vàng đục mờ và màu trắng đục không trong.

“Yangcai” (Dương thái)  có nghĩa “men màu ngoại” là một trong những thuật ngữ Trung Hoa dành cho đồ sứ dòng famille rose và từ này đã được dùng dưới thời Càn Long khi nói tới đồ sứ phối màu men theo pallete này. Dưới thời Ung Chính , nó được gọi là “ ruancai” ( soft colors – màu dịu). Fencai (powder colors – phấn thái hay màu bột) là thuật ngữ Trung Hoa vào thế kỷ 19 sử dụng để định nghĩa, phân loại rỏ hơn nhằm đặt tên cho “ đồ sứ trang trí men famille rose trên nền trắng” còn falangcai dung để đặt tên cho cho “ đồ sứ trang trí men famille rose trên nền men màu”.

Fencai Zun with the Pattern of a hundred deer. Qianlong period, Qing Dynasty.

Famille rose – một cách nhìn khác:

Khoảng giữa thế ký 17, tư tưởng Đạo giáo đã khơi dậy hứng thú thời cuối Minh với lối trang trí “năm màu” ngũ thái (wucai) mà sau này được chuyển biến thành những sản phẩm sứ đa sắc chúng ta gọi là “famille verte”, dòng lục, của thời Khang Hy.

Dần dà trong suốt triều đại Mãn Châu Thanh (1644-1911) sự quan tâm đến đồ sứ trang trí màu (thích thú với đồ màu mè) gia tăng. Một trong những động lực gây kích thích là nhu cầu của phương Tây về đồ sứ có thể hòa đồng với đồ lụa thêu đầy màu sắc của Trung Hoa vốn lúc ấy là sự say mê điên cuồng ở Châu Âu và phong cách mỹ thuật Rococo sớm chuộng hoa lá đang trổi dậy ở Pháp cũng là cảm hứng nghệ thuật qua những tiếp cận với Trung Hoa.

Phong cách mới này đòi hỏi màu sắc họa phẩm và  một lối  trang trí phổ thông nhất cho tất cả chúng, những hoa sen lớn màu đỏ và men màu hồng trên nền vàng (gold), đã dẫn đến cái tên famille rose. Theo quan niệm của người Trung Quốc , đa số bây giờ gọi theo cách gọi tên TQ để chỉ màu hay men bột là Fencai.

Link tham khảo một số đồ sứ famille rose triều Thanh:

Famille Rose Porcelain of the Early Qing Dynasty

Famille Rose Porcelain of the Mid-Qing Dynasty

Famille Rose Porcelain of the Late Qing Dynasty

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

HỆ THỐNG TƯỢNG Ở CHÙA TÂY PHƯƠNG

Bộ tượng tam thế Phật với ba pho tượng Phật : Quá Khứ , Hiện Tại , Vị Lai ( còn gọi là Tam Thân : Pháp Thân , Ứng Thân và Hóa Thân ) ngồi ở tư thế tọa thiền , y phục gập nếp đơn giản phủ kín cơ thể , được coi là có niên đại đầu thế kỷ 17 .


Bộ tượng Di Đà Tam Tôn : gồm tượng Đức Phật A Di Đà , đứng hai bên là Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát


Tượng Tuyết Sơn miêu tả Đức Phật Thích Ca trong thời kỳ tu khổ hạnh : mỗi ngày ăn một hạt kê , một hạt vừng ,tự hành xác để vươn lên thế giới tinh thần sáng láng . Tượng màu đen thẫm khoác áo cà sa mỏng , tay chân gầy khẳng khiu , xương nổi lên trước ngực . Toàn bộ cơ thể chìm trong suy tưởng , mắt trũng sâu , hướng về nội tâm .

Hai bên tượng Tuyết Sơn có tượng A Nan và Ca Diếp đứng đầu .


Tượng Đức Phật Di lặc tương trưng cho vị Phật của thế giới cực lạc tương lai . Người mập mạp , ngồi hơi ngả về phía sau , toàn thân toát ra sự thỏa mãn , sung sướng .


Tượng Vă Thù Bồ Tát : Đứng chắp tay , chân đi đất , các ngón chân bấm móng xuống mặt bệ .

Tượng Phổ Hiền Bồ Tát : Chắp tay trước ngực , khuôn mặt sáng rộng nổi lên trên tấm thân phủ đầy y phục .


Tượng Bát Bộ Kim Cương , thể hiện trình độ rất cao về nghệ thuật lắp ghép gỗ và cách bố cục , chuyển động của một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ .


Mười sáu pho tượng tổ với phong cách hiện thực : Đó là Ưu –Ba-Cầu-Đa ,Đê-Đa-Ca, Di-Trà-Ca ,Bà-Tu-Mật, Phật Đà Nan Đề ,Phục-Đa-Mật-Đa, Hiếp Tôn Giả,Thương Na Hòa Tu ,Mã Minh ,Ca-Tỳ-Ma-Na , Long –Thụ -Tôn-Giả , La-Hầu-La-Đa , Tăng Già nan Đề ,Già Gia Xá Đa ,Cưu Ma La Đa ,Chà Dạ Đa .Theo một danh sách tên các nhân vật được tạc tượng trong một tài liệu còn lưu truyền ở chùa thì đây là tượng các vị tổ Ấn Độ trong quan niệm của thiền tong Trung Quốc .

Mười sáu vị tổ người đứng kẻ ngồi , pho thì ngước mặt lên trời chỉ vào mây khói , pho thì hững hờ với ngoại vật , tì cằm trên đầu gối nhếch môi cười một mình nửa tinh nghịch nửa mỉa mai ,có pho vẻ mặt hân hoan tươi tắn , khổ người đầy đặn tròn trĩnh , pho khác có vẻ mặt đăm chiêu lạ thường , lại có pho như đang đắn đo phân bua hay đang thì thầm trò chuyện cùng ai .


Tượng La Hầu La đúng là chân dung cụ già Việt Nam , thân hình gầy gò , mặt dài nhỏ , gò má cao ,môi mỏng vừa phải . Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến thế . Dáng điệu một tay cầm gậy , một tay để trên gối rất thoải mái , đôi bàn tay trông rõ từng đốt xương bên trong .Những nghệ nhân dân gian vô danh thời nhà hậu Lê , thời nhà Tây Sơn đã là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời ấy của nền mỹ thuật Việt Nam .

Năm 1960, nhà thơ Huy Cận đến thăm chùa , đã làm những câu thơ rất sống động và gợi cảm về hình tượng những con người đắc đạo mà lòng vẫn trầm ngâm suy tưởng về những khổ đau quằn quại của chúng sinh .

…Các Vị ngồi đây trong lặng yên

Mà Nghe giông bão nổ trăm miền

Như từ vực thẳm đời nhân loại

Bóng tối đùn ra trận gió đen

…mặt cúi , mặt nghiêng , mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn . không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau .


Chùa Kim Liên có từ thế kỷ 17 , được dựng trên dải đất của làng Nghi Tàm , bên bờ Hồ tây , nay thuộc phường Nghi Tàm , quận Tây Hồ .Tương truyền nơi dựng chùa là nền cũ của cung Từ Hoa có từ thời Lý . Từ Hoa là con gái vua Lý Thần Tông ( 1128-1138). Vua dựng cung Từ Hoa cho công chúa và các cung nữ ở đó để thấu hiểu thêm công việc đồng áng vất vả mà thấy rõ hơn giá trị ngôi tôn quí của mình .Đến đời Trần , trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên . Dân làng dựng chùa Đống Long trẹn nền cung Từ Hoa cũ . Đến năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng , chúa Trịnh sâm sai quan quân dỡ chùa Bảo Lâm ở phía tây Thăng Long đem về tu sửa thêm vào chùa , đặt tên mới là chùa Kim Liên .năm 1792 , đời vua Quang Trung , chùa được tu bổ lại , về diện mạo cơ bản giống như hiện nay .

Tam quan chùa Kim Liên là một công trình kiến trúc hết sức độc đáo , trông như bông sen đang độ nở trên mặt nước Tây Hồ bốn mùa phủ sóng .các chi tiết trên gỗ đều được chạm nổi , chạm lộng hình rồng , hình hoa lá tinh xảo , uyển chuyển .Đầu đao mái uốn cong , gắn hình tứ linh bằng gốm nung . ba chữ sơn son ‘’Kim Tự Liên ‘’nghĩa là ‘’Chùa Sen Vàng ‘’nằm ở chính giữa cửa chùa . Từ tam quan vào chùa , du khách phải đi qua một cái sân rộng . tại sân này , hiện còn lưu giũ tấm bia đá cỡ 0,8m x 1,2m có nhiều hình chạm nổi rất đẹp . theo các nhà nghiên cứu , đây là một trong những bia cổ còn lại ở Hà Nội , được dựng vào năm Thái Hòa thứ 1, đời vua Lê Nhân Tông năm 1443 .

Diện mạo chùa như hiện nay là do lần trùng tu vào năm 1792 với bố cúc theo kiểu chữ tam, gồm 3 nếp nhà chạy song song nhau . ba nếp nhà đều có hai tầng mái theo kiểu chồng diềm , ngói vảy , đầu đao bằng gỗ mềm mại , chạm khắc tinh xảo . Nhìn từ phía hông chùa , hai tầng mái tỏa ra bốn phía với 24 lá mái cao vút vươn lên không trung tạo ra 24 đầu đao , phô diễn sự tài tình trong kiến trúc của người xưa .

TAM QUAN CHÙA KIM LIÊN


CHùa hình chữ tam gồm 3 nếp nhà song song với nhau , tường gạch bao quanh tới tận rìa mái , Ở các đầu hồi nhà có cửa sổ tròn với những dấu hiệu sắc sắc không không mang đậm ý nghĩa triết lý Phật Giáo . nét kiến trúc của chùa Kim Liên gợi nhớ tới chùa tậy Phương( 1794) nổi tiếng .


Các pho tượng Phật được bày thành hai lớp , trên cùng là bộ Tam Thế , tiếp theo là tượng A Di Đà , tượng Quan Thế Âm và tượng Đại Thế Chí ở hai bên cùng Anam , Ca Diếp là hai đại đệ tử của Đức Phật . Lớp dưới là Quan Ậm Chuẩn Đề , tượng Ngọc Hoàng , dưới cùng là tòa Cửu Long . Đáng chú ý nhất là tượng Quan Âm Nam Hải 42 tay ,các bàn tay xếp so le trông rất tinh xảo , tượng cao 1,2m đặt trên tòa sen gỗ hình lục lăng . lại có cả tượng Tôn Ngộ Không phủ sơn cao 1,1m khá sinh động .

Chùa có tượng Trịnh Sâm ( đứng đội mũ miện , cầm hốt , mặc áo cổ tràng , râu mày như vẽ ,chân không mang giầy ) người đã cấp tiền hưng công tu tạo chùa năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771). Chùa kim liên còn lưu giữ một tấm bia cổ , nay dựng phía bên phải cổng chùa , trên bệ đá hình vuông ,dù năm tháng đã làm phai mờ nhiều nét chữ nhưng còn xem được niên hiệu : Thái Hòa Tam niên Ất Sửu –tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông . Đây là tấm bia cổ nhất ở hà nội hiện nay . các pho tượng đều mang phong cách điêu khắc thế kỷ XVIII-XIX , mang tính hỗn hợp thàn Phật . Bức hoành ‘’hoằng uốn ‘’( đạo lý sâu rộng )làm năm 1870

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC .

Chùa Tây Phương (hay Sùng Phúc Tự). Chùa thường gọi là chùa Tây Phương . Tọa lạc trện đỉnh đồi tây Phương , hình cong như lưỡi câu (xưa gọi là núi Câu lậu ) cao chừng 50m , thuộc núi Ngưu Lĩnh ( núi con Trâu ), xã Thạch Xá , huyện Thạch Thất , tỉnh Hà Tây cũ , thành phố Hà Nội ngày nay . Chùa cách trung tâm Hà Nội 40km về hướng tây bắc , cách thị xã Sơn Tây 18km về hướng đông nam .

Từ chân núi , qua 239 bậc lát đá ong thì đến đỉnh núi và cổng chùa .Chùa Tây Phương gồm ba nếp nhà song song : bái đường , chính điện và hậu cung .

Mỗi nếp có hai tầng mái kiểu chồng diêm , tường xây toàn bằng gạch Bát Tràng nung đỏ , để trần , tạo thành một không khí rất thô sơ mộc mạc ,điểm những cửa sổ tròn với biểu tượng sắc và không , các cột gỗ đều kê trên đá tảng xanh trong khắc hình cánh sen . mái lợp hai lớp ngói : mái trên có múi in nổi hình lá đề , lớp dưới là ngói lót hình vuông sơn ngũ sắc như màu áo cà sa xếp trên những hang rui gỗ làm thành ô vuông vắn đều đặn . Xung quanh diềm mái của ba tòa nhà đều trạm trổ tinh tế theo hình lá triện cuốn , trên mài gắn nhiều con giống bằng đất nung , các đầu đao mái cũng bằng đất nung đường nét nổi lên hình hoa , lá ,rồng , phượng ,giàu sức khái quát và khả năng truyền cảm . Cột chùa kê trên những tảng đá chạm hình cánh sen . Toàn bộ ngôi chùa toát ra một tính hoành tráng và phóng khoáng phù hợp với triết lý “sắc sắc không không “ của nhà Phật .

Chùa được dựng từ lâu đời và đã được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVI , XVII, XVIII . năm 1554 , chùa được xây lại trên nền cũ . Năm 1632 , chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian . năm 1660 , Tây Đô Vương Trịnh Tạc cho xây lại chùa mới . Đến năm 1794 , dưới thời Tây Sơn , chùa được đại trùng tu , lấy tên chùa Tây Phương .

Năm 1893, Tỳ Kheo Thích Thanh Ngọc trụ trì đã tổ chức trùng tu chùa , tạc tượng quan âm trăm tay , Thiện Tài Long Nữ ,Bát Bộ Kim Cang , La Hán


Nơi đây còn là nơi tập trung những kiệt tác quý hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ ,phù điêu và tạc tượng . Khắp chùa chỗ nào có gỗ là có chạm trổ . các đầu bẩy , cac bức cổn , xà nách , ván long …đều có chạm trổ đề tài trang trí quen thuộc của dân tộc Việt : hình lá dâu , lá đề , hoa sen , hoa cúc ,rồng , phượng ,hổ phù …rất tinh xảo .

Điện Phật ở cả 3 nếp nhà đều bài trí tôn nghiêm . Hệ thống tượng thờ ở chùa khá đầy đủ , chủ yếu được tạc bằng gỗ mít . Trong chùa có 72 pho tượng cùng với các phù điêu có mặt tại mọi nơi . các tượng được tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng . Nhiều pho được tạc cao hơn người thật như 8 pho tượng Kim Cương và Hộ Pháp , cao chừng 3m , trang nghiêm phúc hậu . Phần lớn các tượng này đều được coi là có niên đại cuối thế kỷ 18 . Một số tượng khác được tạc vào giữa thế kỷ 19 .

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Read Full Post »

Older Posts »