Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm Việt Nam’

Ngày 27 tháng 12 năm 2012 Bảo tàng Lịch sử TPHCM  đã giới thiệu đến  công chúng bộ sưu tập Dương Hà . đây là bộ sưu tập tư nhân lớn nhất tại VN từ trước đến nay .

Sưu tập Dương Hà , từ lâu đã được biết đến như là một bộ sưu tập cổ vật có thời gian xuất hiện lâu năm nhất , thời gian sưu tầm dài nhất , số lượng lớn nhất Việt Nam với gần 3400 hiện vật , vào tháng 03 năm 2011 đã chính thức đượ gia đình trao tặng cho nhân dân và nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa VN mà Ủy ban nhân dân TP.HCM là người đại diện .

Đó là bộ sưu tập cổ vật thuộc sở hữu của một gia đình nhân sĩ trí thức Nam bộ sinh sống tại Sài Gòn ( nay Là TPHCM ) , được gây dựng cách đây 80 năm : Vào khoảng thời gian nửa cuối những năm 30 của thế kỷ 20 , trong lúc Nam Bộ nước ta còn dưới ách thuộc địa của nước Pháp đế quốc , khi thấy nhiều cổ vật bị đưa ra nước ngoài mà không bị ngăn chặn , giáo sư Collège Chasseloup ( nay là Trường PTTH Lê Quý Đôn – Q1 – TpHCM ) Dương Minh Thới ( 1899 -1976 ) và phu nhân là bà Hà Thị Ngọc ( 1902 – 1979 ) với ý định muốn bảo vệ những cổ vật Việt Nam đã bắt đầu tiến hành sưu tầm , tìm mua những hiện vật đầu tiên – khởi đầu cho bộ  sưu tập sau này mang họ của hai  ông bà . Xuất phát từ lòng yêu quý những gì do tiền nhân để lại , công cuộc sưu tập được tiến hành không ngừng nghỉ trong sự hao tổn rất nhiều tài lực , tâm lực , trí lực mà ông bà Dương Hà sãn sang đánh đổi để có được quyền sở hữu cổ vật . Có thể nói , việc một mình âm thầm hành động bằng cách ‘’ thu gom ‘’ cổ vật chống lại việc ‘’ chảy máu cổ vật ra nước ngoài ‘’ của ông ông bà Dương Hà  bấy giờ là một nghĩa cử mang đậm tính cách Nam bộ .

Tuy tiến hành sưu tầm một cách lặng lẽ , không ồn ào nhưng sưu tập Dương Hà mau chóng được nhiều người biết tiếng , đặc biệt là những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước . Như vậy , song song với những hoạt động về sưu tầm , bảo vệ và truyền bá tình yêu đối với cổ vật của học giả Vương Hồng Sển , bộ sưu tập Dương Hà lúc bấy giờ đã góp phần cổ vũ cho phong trào tìm hiểu và sưu tập cổ vật ở miền Nam ta những năm 60 – 70 của thế kỷ trước , trong đó không ít thế hệ các nhà sưu tập được tham quan ‘’ sưu tập Dương Hà ‘’ đều đánh giá cao bộ sưu tập này . Sưu tập Dương Hà cũng góp phần trang bị kiến thức về cổ vật  cho các nhà sưu tập , nhà nghiên cứu nếu không nói rằng đã góp phần ‘’ đào tạo ‘’ nên một số nhà sưu tập , nhà nghiên cứu trong đó nổi tiếng là Philippe Trương  – việt kiều Pháp , ngoại tôn của chủ nhân bộ sưu tập . Mặc dù ý định là được thành lập bảo tàng để bảo vệ cổ vật mạnh mẽ hơn nữa của ông Dương Minh Thới  năm 1948 cuối cùng đã không được nhà nước thuộc địa chấp nhận nhưng ông bà Dương Hà đã có người nối chí .

Từ năm 1966 . Bà Dương Quỳnh Hoa ( 1930 – 2006 ) , người con xuất sắc của ông bà Dương Hà , trong hoạt động cách mạng đã tham gia mặt trận dân tộc giải phóng  miền Nam ( 1960 – 1977 ) và làm nên sự nghiệp lớn ( Thứ trưởng bộ y tế nước CHXHCNVN nhiệm kỳ 1976 – 1981 ) cũng đã kế thừa tấm lòng yêu cổ vật và dù phải tập quan tâm đến việc gìn giữ cổ vật , đã được ông bà Dương Hà  lúc này già yếu , giao cho cùng với người chồng là ông Huỳnh Thanh Nghị toàn quyền quản lý bộ sưu tập . Điều đặc biệt là ông Huỳnh Văn Nghị – nguyên ủy viên thường vụ lien minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình VN ( 1968 – 1977 ) cũng là người vô cùng yêu cổ vật . Thế hệ thứ hai nhà họ Dương với sự chung sức của người bạn đời đã tiếp tục gìn giữ , phát triển bộ sưu tập , đưa số lượng và chất lượng bộ sưu tập lên đến mức độ cao nhất như chúng ta thấy hiện nay .

Khoảng những năm 1996 – 1997 , John Stevenson  và Jon Guy , hai nhà nghiên cứu cổ vật người Anh đã được phép tiếp cận sưu tập Dương Hà , sau đó một số hiện vật trong sưu tập cũng được phép đưa vào giới thiệu trong cuốn sách nổi tiếng in tại Singgapore và xuất bản cùng năm tại Mỹ  ‘’ Vietnamese ceramics : A separate tradition ‘’ ( Gốm Việt Nam : một truyền  thống biệt lập ) góp phần khẳng định trên lĩnh vực khoa học cũng như thị trường toàn cầu một dòng gốm Việt Nam thanh lịch mượt mà trong lịch sử đại gia đình gốm sứ thế giới .

Sauk hi bà Dương Quỳnh Hoa mất , ông Huỳnh Thanh Nghị nhận thấy cơ quan bảo tàng của nhà nước XHCNVN là nơi có thể quản lý , phát huy bộ sưu tập tốt nhất theo đúng với ước nguyện của ông bà Dương Hà và bà Dương Quỳnh Hoa lúc sinh thời nên ông đã đại diện gia đình hiến tặng bộ sưu tập cho TP. HCM

Sưu tập Dương Hà là một bộ sưu tập cổ vật đồ sộ , phong phú và đa dạng , có nhiều tiêu bản lạ lung , quý hiếm gồm nhiều chất liệu , xuất xứ từ nhiều quốc gia Châu Á , Châu Âu , cò niên đại từ thời Tiền – Sơ sử đến TK XX , bộ sưu tập còn phong phú đa dạng trong việc thể hiện các đề tài sinh hoat của cuộc sống con người từ các hiện vật phục vụ tôn giáo tín ngưỡng , đồ trang sức , đồ phục vụ các thú thưởng ngoạn xưa như ăn trầu , uống trà , uống rượu , trò chơi , đầu hồ ( ném que lọt miệng bình ) thời Nguyễn , nhạc cụ , đồ dùng văn phòng , đồ trang trí nội thất , đến đồ dùng ẩm thực trong nhà bếp …. Đáng chú ý là trong sưu tập đồ kỷ niệm , đồ tặng biếu có 1 chén trà Nhật Bản ghi dòng chữ Hoa “ Nhật Bản cộng sản đảng sang lập ngũ thập chu niên ‘’ mà bộ trưởng bộ thương binh và xã hội của chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam VN – Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa được tặng nhân dịp bà sang Nhật dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Nhật Bản ( 1922 – 1972 ) … sưu tập Dương Hà còn nổi bật hơn nữa với các sưu tập ngọc – ngà , sưu tập gốm Bát Tràng , gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , sưu tập đồ sứ Trung Quốc với đề tài long ẩn , với những câu răn dạy gia đình trong ‘’ Chu tử trị gia cách ngôn ‘’ ( của Chu Bá Lư thời Minh – Trung Quốc ) , các bài thơ Đường và nhiều đề tài khác …tất cả cung cấp cho người xem những kiến thức lịch sử – văn hóa vừa rộng về địa lý , vừa ẩn sâu trong sâu sắc , vừa sâu sắc về nhân sinh …hấp dẫn và vô cùng sinh động .

Với sự hiến tặng sưu tập Dương Hà cho nhà nước , nhiều kỷ lục mới đã được lập . Riêng TP.HCM đã lập được kỷ lục về sự tin cậy của người dân chỉ trong vòng 15 năm tính từ năm 1996 đến năm 2011 , đã 2 lần được người dân trao tặng những tài sản văn hóa lớn có giá trị kinh tế cao với tinh thần vô vị lợi . Bảo tàng lịch sử có thêm khối tài sản , tư liệu quý . có thêm cơ hội nghiên cứu , tìm hiểu và phát huy di sản văn hóa của tiền nhân . Bộ sưu tập Dương Hà được bảo tàng giới thiệu cho ra mắt trước công chúng trong và ngoài nước nhằm tim hiểu thêm người xưa , càng thêm trân quý di vật người xưa để lại  , đồng thời hết sức trân trọng công lao một đời của ông bà Dương Hà & bà Dương Quỳnh Hoa , ông Huỳnh Thanh Nghị trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc .

Với tất cả ý nghĩa trên . Hy vọng các bạn sẽ có được những phút giây đáng nhớ về buổi tham quan lý thú bộ sưu tập này .

Bài viết : TS .PHẠM HỮU CÔNG ( PGĐ – BTLS TPHCM )

Hình ảnh : KHANHHOATHUYNGA .

Một số hình ảnh hiện vật trong ngày khai mạc giới thiệu bộ sưu tập Dương Hà

This slideshow requires JavaScript.

*MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Advertisements

Read Full Post »

Nghệ nhân nghề gốm Biên Hòa.Họ khác nhau về tuổi tác, tập quán sinh sống và chưa từng biết nhau, song những con người ấy lại có cùng một ước mơ, một mong muốn cháy bỏng là lưu giữ nghề truyền thống của quê hương. Không ít người đã chấp nhận cuộc sống bần hàn để vui buồn cùng nghề.

* HƠN 60 NĂM GẮN BÓ VỚI NGHỀ GỐM

Đã 78 tuổi nhưng nghệ nhân Trần Văn Là ở Biên Hòa vẫn còn khá minh mẫn khi hồi tưởng lại quá khứ, từ những ngày tóc còn để chỏm đã mê nghề làm gốm. Theo lời ông Là, thì 16 tuổi ông đã tập tành theo nghề gốm tại các cơ sở gốm ở Tân Vạn. Lúc đó trong ông luôn ấp ủ một mơ ước sau này sẽ trở thành thợ gốm chuyên nghiệp có thể tạo ra các mẫu gốm đặc sắc mang sắc thái riêng của Biên Hòa – Đồng Nai. Để thực hiện ước mơ, năm 1948 ông Là đã theo học Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa (nay là Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai). Sau 4 năm tốt nghiệp ra trường, ông Là trở thành thợ thiết kế mẫu cho nhiều cơ sở gốm nổi tiếng ở Biên Hòa.

Ông Trần Văn Là thiết kế mẫu rồng.

Với tài hoa vốn có và lại được đào tạo bài bản nên ông Là đã sớm nổi danh trong làng gốm vì đã thiết kế ra nhiều mẫu mã, hoa văn đặc sắc trên bình hoa, chậu hoa được khách hàng trong và ngoài nước rất ưa thích. Gốm Biên Hòa trước năm 1975 rất thịnh, lúc đó các lò gốm đa số tập trung ở phường Tân Vạn, xã Hóa An (TP.Biên Hòa). Gốm xuất xưởng bao nhiêu đều hết và được xuất khẩu sang nhiều nước như: Pháp, Mỹ, Nhật… Nét đặc trưng riêng của gốm Biên Hòa là dùng tro rơm, tro than củi làm nguyên liệu pha chế và đốt bằng củi để tạo màu sắc riêng biệt. Khoảng thời gian sau năm 1980, nhiều xưởng gốm bắt đầu nhập các nguồn nguyên liệu mới về và đổi mới một số quy trình công nghệ, khiến gốm Biên Hòa mất dần nét đẹp truyền thống. Ông Là cho hay: “Hiện nay chỉ còn lò gốm Kim Long, Phong Sơn ở TP. Biên Hòa là giữ được nhiều nét gốm xưa, các lò gốm khác phần lớn đã thay đổi, các mặt hàng tuy phong phú, nhiều màu sắc nhưng không còn nét đẹp bí ẩn riêng biệt nên giảm dần sự thu hút khách hàng sành chơi gốm”. Do đó, đầu ra của gốm hiện rất hạn chế và gốm Biên Hòa xưa đang dần bị mai một.

Sau hơn 60 năm gắn bó với nghề, ông Là đã thiết kế ra hàng ngàn mẫu gốm và ông là một trong số ít người gắn bó lâu năm nhất với nghề gốm.

Gốm Biên Hòa.

Ông Trần Văn Là thiết kế mẫu rồng.
Gốm Biên Hòa.

Rất cần những bàn tay của các nghệ nhân

để tạo ra những sản phẩm ưng ý

Mất dần bản sắc

Lịch sử nghề gốm sứ của Việt Nam có hơn 10.000 năm trước đây, từ thời tiền sử, thời đồ đồng, thời Lý, Trần… cho đến nay gốm sứ đã đạt những đỉnh cao về kỹ thuật và mỹ thuật. Nhiều trung tâm gốm sứ đã hình thành trong cả nước với những sản phẩm đặc trưng riêng như gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Bàu Trúc, Bình Dương, Vĩnh Long… Trong tiến trình hội nhập, phát triển gốm sứ Việt không chỉ gặp những khó khăn do quy mô nhỏ lẻ, phân tán, mẫu mã chậm cải tiến, công nghệ chậm đổi mới, ô nhiễm môi trường còn nặng nề mà điều đáng quan tâm nhất là nhiều làng nghề đang dần mai một hoặc những đặc trưng, nét độc đáo đã không còn.

“Điều gì đã xảy ra với làng nghề gốm Đồng Nai?” là câu hỏi đầy tâm trạng của ông Huỳnh Dũng Nghĩa- Chủ tịch Hiệp hội Gốm mỹ nghệ tỉnh Đồng Nai. Làng nghề gốm sứ Đồng Nai trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử 300 năm phát triển. Tại triển lãm quốc tế ở Paris năm 1925 gốm Biên Hòa đã được nhiều nước trên thế giới biết đến nhưng nay gốm Biên Hòa đang trở nên mờ nhạt. So với năm 2000, số cơ sở làm gốm hiện nay giảm hơn 60%, “Điều may mắn là vẫn còn khoảng 40 cơ sở đang hoạt động”, ông Nghĩa cho biết. Đặc trưng của gốm sứ Biên Hòa là loại gốm màu men xanh trổ đồng không lẫn với bất kỳ dòng gốm của các địa phương khác. Nhưng loại men xanh trổ đồng đặc trưng của gốm Biên Hòa đã mất đi và loại gốm đất đen đặc trưng của Biên Hòa cũng dần mai một. Liệu có cách nào phục hồi, một khi những nghệ nhân am tường kỹ thuật chế tác cũng mất đi?

Theo Tiến sĩ Phạm Quốc Quân- Giám đốc Bảo tàng cách mạng Việt Nam thì khu vực làng nghề của các trung tâm sản xuất gốm sứ Việt Nam không được bảo tồn. Bát Tràng thì đang bị đô thị hóa, Thủ Dầu Một, Biên Hòa đang phát triển theo hướng khu công nghiệp. Những làng gốm nhỏ như Phù Lãng, Hương Canh, Thổ Hà đang phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu định hướng. Phải chăng đây là hướng đi thiếu bền vững và ít lưu tâm đến giá trị truyền thống?

Cần một chương trình hành động

Ông Vũ Quốc Tuấn- Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam nhận định: Công việc chúng ta cần làm là nhận diện và xác định rõ các nghề gốm truyền thống trong di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên toàn quốc và mỗi địa phương cần được bảo vệ. Nhà nước cần có chính sách phát huy vai trò của nghề gốm thủ công truyền thống trong xã hội và lồng ghép việc bảo vệ loại hình di sản này vào các chương trình, quy hoạch, chỉ định cơ quan đủ năng lực bảo vệ nghề gốm thủ công truyền thống trên địa bàn.

Trong chuỗi giá trị của gốm sứ thì khâu nguyên liệu, chế tác và nung gốm tạo ra bản sắc riêng của từng dòng gốm, phong cách gốm. Đất làm gốm của từng vùng miền khác nhau và được chế tác theo bí quyết riêng tạo nên sự khác biệt. Vì vậy trong quy hoạch, vùng có nguyên liệu tạo bản sắc riêng cho gốm cần được bảo vệ. “Cần phải xem xét và cải thiện vấn đề quy hoạch nguyên liệu cho sản xuất gốm sứ, mà theo tôi giữ tài nguyên còn quan trọng hơn tăng trưởng. Nguyên liệu đất làm gốm và tạo sự khác biệt giữa các dòng gốm không phải là vô tận và về lâu dài không thể nhập khẩu đất như châu Âu”, ông Nguyễn Lực-Trưởng đại diện Hiệp hội làng nghề tại TP. Hồ Chí Minh phân tích.

Một số tỉnh thành đã bắt đầu chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị phi vật thể và khai thác tiềm năng kinh tế của làng nghề gốm sứ như tỉnh Ninh Thuận đang xây dựng chiến lược maketting cho gốm Bàu Trúc. Tỉnh Bình Dương đã công nhận cơ sở sản xuất gốm Lò Lu hơn 150 năm tuổi là di tích văn hóa, lịch sử cấp tỉnh. Nơi đây giữ nguyên từ kiến trúc, diện tích khuôn viên, đến các công trình bên trong và kỹ thuật sản xuất, Lò Lu còn là một điểm đến trong tour du lịch sinh thái của tỉnh.

Ngoài ra để vững bước trên con đường hội nhập, bản thân các cơ sở ở những làng nghề gốm sứ phải thực hiện việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh. Để tăng sức cạnh tranh cần tăng cường liên kết, liên doanh giữa các cơ sở sản xuất với nhau, giữa sản xuất với tiêu thụ. Đây là điều cốt lõi để nâng cao năng lực của cơ sở nhưng vẫn còn là khâu rất yếu của các làng nghề.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

ĐỒ GỐM VIỆT NAM VÀ CĂN CƯỚC VĂN HÓA:

BẰNG CHỨNG TỪ CÁC NHÀ LÝ VÀ NHÀ TRẦN

John S. Guy

Tiến Sĩ, Phụ Tá Quản Thủ, Phòng Ấn Độ, Bảo Tàng Viện Victoria and Albert Museum, London

 

Ngô Bắc dịch

***

Dẫn Nhập

Các đồ gốm men bóng của Việt Nam tượng trưng cho sự biểu lộ tinh tế và bền bỉ nhất của nghệ thuật đồ gốm tại Đông Nam Á, song chúng có lẽ ít được am tường nhất trong số các truyền thống đó.  Sự thiếu sót việc điều nghiên phê phán vào tính chất đặc biệt của đồ gốm Việt Nam là kết quả của một khuynh hướng nhìn chúng, cùng với các khía cạnh khác của sự biểu hiện văn hóa Việt Nam, như là một “chủ nghĩa địa phương kỳ lạ” (curious provincialism), 1 một sự phản ảnh mờ nhạt của văn hóa Trung Hoa. Lịch sử đồ gốm Việt Nam, nói một cách tổng quát, song hành với sự tiến hóa của đồ gốm Trung Hoa từ thời nhà Hán trở đi, về mặt hình dáng và thể điệu.  Tuy nhiên, điều cũng đúng là nhà làm đồ gốm Việt Nam đã đem lại sự biểu lộ các thành tố của căn cước văn hóa mang bản chất Việt Nam.  Sự kiện này được nhận thấy trong sự vận dụng độc đáo các hình dáng đồ gốm và, đáng kể hơn, trong sự phát triển danh biểu trang trí nhằm hội nhập các chủ đề và phần tử họa tiết không có trong truyền thống Trung Hoa.  Hơn nữa, nhiều đề tài vay mượn được tái giải thích với một sự tự tín và tinh tế thường tạo ra các kết quả thấm nhuần với một sự vẻ tươi mát và năng lực không hề có trong nguyên bản Trung Hoa.  Trong bài nghiên cứu này tôi muốn khảo sát danh biểu trang trí của họa kiểu đồ gồm trong thời nhà Lý và nhà Trần, và để lập luận rằng sự lựa chọn và giải thích các chủ đề được nhận thấy trên các sản phẩm đồ gốm của thời kỳ này cấu thành các sự phát biểu có ý thức về căn cước văn hóa Việt Nam.

Sự tiến hóa của đồ gốm men bóng tại Việt Nam phản ảnh các yêu cầu biến đổi của xã hội Việt Nam qua thời gian.  Các sản phẩm sớm nhất được sản xuất để đáp ứng với các nhu cầu của các thành phần Hán hóa của xã hội Việt Nam xuất hiện trong thời chiếm đóng của nhà Hán vào các thế kỷ thứ 1 và 2 sau Công Nguyên.  Các chiếc thuyền [bằng gốm] này , được khai quật từ các ngôi mộ bằng đất nung thời nhà Hán, tương tự như các đồ vật mai táng của Trung Hoa thời nhà Hán.  Bằng chứng đương thời chỉ cho thấy vùng châu thổ sông Hồng và tỉnh Thanh Hóa, ngay sát phía nam, là các miền chính yếu cho sự sản xuất ban đầu các đồ gốm tại Việt Nam.  Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên, châu thổ sông Hồng đã sẵn hỗ trợ cho khối đông đảo dân cư của Bắc Phần, một khuôn mẫu còn kéo dài đến ngày nay. 2 Một khoảng trống hiện diện trong bằng chứng đồ gốm từ sự sụp đổ của sự kiểm soát trực tiếp của nhà Hán trong thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên cho mãi đến lúc khởi đầu thế kỷ thứ 10.  Mặc dù bằng chứng khảo cổ còn thiếu sót cho đến nay, một số sự phát triển quan trọng trong đời sống văn hóa của miền bắc Việt Nam cho thấy rằng sự sản xuất đồ gốm địa phương đã được duy trì.  Nhu cầu chính yếu cho các sản phẩm đồ gốm men bóng có lẽ phát sinh từ các chương trình xây dựng sâu rộng đề xướng bởi các nhà lãnh đạo để phục vụ cộng đồng tu viện Phật Giáo có ảnh hưởng ngày càng gia tăng.  Sự xây cất các ngôi đền, các tu viện và các ngôi chùa làm phát sinh ra một nhu cầu về mái ngói và gạch tráng men.  Dưới các triều đại nhà Lý và nhà Trần theo dân tộc chủ nghĩa, các sản phẩm dành cho sự sử dụng nội địa đã mang một tầm quan trọng mới, với sự tiến triển của một lối giải thích riêng biệt của Việt Nam về các thể điệu trang trí bằng sắt (iron-decorated) và đơn sắc (monochrome: một mầu) của Trung Hoa.  Từ đầu thế kỷ thứ 14, Việt Nam tiến vào công cuộc mậu dịch đồ gốm quốc tế, sản xuất một thể loại trang trí bằng sắt có viết chữ đẹp và các sản phẩm men trắng và xanh da trời nổi tiếng được tìm thấy tại nhiều địa điểm rải rác từ Nhật Bản sang tới Trung Đông.

Trong các thế kỷ trước khi có sự thống nhất của Trung Hoa dưới các triều đại nhà Tùy và nhà Đường, Việt Nam đã duy trì một sự độc lập cao độ khỏi sự kiểm soát tập trung hóa của Trung Hoa.  Nhà Tùy đã xâm lăng Việt Nam trong năm 602, và với sự thiết lập của nhà Đường, Trung Hoa khẳng quyết một mức độ ảnh hưởng chưa từng có vào công việc của Việt Nam vốn điễn ra liên tục trong ba thế kỷ kế tiếp.  Trong năm 679 miền bắc Việt Nam bị tuyên gọi là Vùng Bảo Hộ An Nam (“Miền Nam Đã Được Bình Định: Pacified South) bởi triều đình nhà Đường và vẫn còn nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của Trung Hoa mãi cho đến lúc kết thúc thế kỷ thứ 9.

Cuộc kháng chiến chống lại sự kiểm soát chính trị và Hán hóa văn hóa vẫn còn là một chủ đề thường trực của lịch sử Việt Nam trong thời kỳ này.  Trong khi các sự phân kỳ văn hóa được coi trọng sâu xa và được nhấn mạnh một cách công khai, một mối quan tâm không muốn mang vẻ “man rợ” (barbarian), tự nó là một khái niệm của Trung Hoa, đã thiết chế các sự khẳng định của Việt Nam về một căn cước văn hóa có bản chất Đông Nam Á. 3 Chính trong khung cảnh này mà khái niệm địa phương hóa của tác giả Wolters đã cung cấp một khí cụ hữu ích cho việc giải thích ý nghĩa đương đại của sự trang trí đồ gốm.  Tác giả Wolters nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xác định và giải thích các thành tố bản địa, cũng như các thành tố mà, nếu ngoại nhập từ nguyên thủy, đã được “bản địa hóa”.  Tách biệt các thành tố đó cho phép chúng ta phân biệt các đồ gốm Việt Nam ra khỏi các kiểu mẫu Trung Hoa có nghĩa tiến tới gần hơn việc xác định tính chất địa phương của chúng.  Kế đó, bởi việc sử dụng bằng chứng lịch sử, văn chương và khảo cổ tổng quát hơn, chúng ta có thể khởi sự việc giải thích tầm quan trọng và ý nghĩa của các đồ vật này trong xã hội Việt Nam.

Thời Phục Hưng Của Việt Nam:

Các Triều Đại Nhà Lý Và Nhà Trần

Các cuộc đấu tranh của thế kỷ thứ 19 chứng kiến sự xuất hiện của Việt Nam như một vương quốc độc lập, đã kháng cự các mưu toan liên tiếp bởi các nhà lãnh đạo Nam Hán tại Quảng Đông, trong năm 931 và 938, và nhà Bắc Tống trong năm 980 nhằm tái khẳng định sự kiểm soát của Trung Hoa. 4 Trong năm 1009 gia tộc họ Lý dành được sự ủng hộ của quần chúng và đã thiết chế triều đại dân tộc vĩ đại đầu tiên dưới đó các giá trị văn hóa Việt Nam được tái khẳng quyết một cách mạnh mẽ.  Một loạt đáng kể các đồ gốm men bóng đặc biệt đã được sản xuất trong thời kỳ này.  Các sản phầm hồi đầu nhà Lý được tiêu biểu bởi sự trang trí vẽ tay và khắc chạm với một họa kiểu màu nâu trên nền trắng.  Sưu tập lớn nhất của các sản phẩm này được lưu giữ tại Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội, Bảo Tàng Viện Musées Royaux, Brussels, và Bảo Tàng Viện Musée Guimet, Paris. 5 Chúng là các chiếc thuyền bằng đá men bóng, thường có kích thước to lớn, được trang trí với các họa kiểu tỉ mỉ, điển hình được bài trí theo một loạt các giải nằm ngang hay các sọc thẳng đứng (Hình 1 và 2).  Chiếc thuyền được tráng men bóng, trong suốt và họa tiết được khắc sâu trên mặt, lột bỏ lớp men theo cách mài “scraffitto” [? có lẽ do sắp chữ sai, phải là sgraffitto là cách trang trí trên đồ gốm bằng cách cạo hay khắc xuyên qua lớp men bóng để làm bật nền gốm tương phản, chú của người dịch].  Các chủ đề sau đó được sơn bằng một nước men bóng màu nâu.  Các chỗ khắc nơi mà men trong và nâu bổ túc không chạm tới vẫn còn chưa bị phủ men, phơi bày thân gốm màu trắng-xám nhạt.  Đôi khi, kiểu làm này được đảo ngược, phơi bày họa tiết không được phủ men trên nền phủ men bóng màu nâu. (Hình 2)

Kỹ thuật có thể tiến triển từ kinh nghiệm của người làm đồ gốm Việt Nam trong việc chạm nổi đồ gốm vốn được áp dụng theo cổ truyền đối với gạch trang trí và sản xuất ngói, thí dụ như được nhận thấy nơi các sản phẩm của Jizhou [? bên Trung Hoa].  Kinh đô tại Thăng Long (Hà Nội), bắt đầu trong năm 1010 với sự thành lập triều đại nhà Lý, hẳn phải được trang trí tràn ngập với các loại ngói như thế.  Các cuộc khai quật tại Hà Nội hồi đầu thế kỷ [thứ 20, chú của người dịch] này đã phát hiện các viên gạch với các mẫu chạm trỗ, chính yếu là các hình tròn và hình thoi, và các viên ngói, đa số là ngói mái nhà có thân ống tròn, chạm trỗ với các chủ đề về hoa, các con rồng và các con chim phựng.  Ngói hay đá lát phẳng hay đắp nổi cũng được tìm thấy, được trang trí với men trong hay nhiều màu. 6 Động năng để vẽ ra một họa tiết với lưỡi cắt của một dụng cụ bằng tre thay vì với một bút vẽ nhiều phần phát sinh từ kinh nghiệm này.  Sự vận dụng khéo léo bút vẽ Trung Hoa có thể được ước định bị giới hạn vào giới văn nhân trí thức và thư lại và vẫn chưa thành một kinh nghiệm thông thường của các nghệ nhân ngành đồ gốm.

Các sản phẩm khắc màu trắng và nâu trình bày một danh mục hạn chế của các hình thái, phổ thông nhất là một lư (hay vạc) hình ống, cao, có vòng cổ lư với cánh hoa sen đắp nổi bên dưới viền miệng lư, và một lòng lư thấp, rộng với đường viền lăn vòng và một đế phẳng.  Các hình hoa nhỏ đắp nổi là một đặc tính thường lệ và trông giống như các sự trang trí được thấy trên các thí dụ thời Bắc Tống thế kỷ thứ 10. 7 Các đường cong uốn khúc vẽ hoa và lá tỉ mỉ chế ngự các họa kiểu.  Các họa kiểu chẳng hạn như mây và cành thảo mộc uốn khúc biểu lộ một sự tương quan trực tiếp nhất với sự trang trí ngói và gạch Việt Nam (Hình 3).  Một chiếc bình có nắp đậy thu thập được bởi C. Huet tại Đại La (Hà Nội) được trang trí với hoa và lá sen trong một loạt các tấm bảng thẳng đứng (Hình 1).  Lớp men thì mỏng và bóng.  Ống máng hình đầu thú vật xuất hiện trên gờ mái, và được cân bằng bởi tượng đắp theo hình con vẹt, một loại chim được ưa thích của vùng đất nhiệt đới của Việt Nam và là một vật xa xỉ rất được ao ước tại Trung Hoa thời nhà Đường.  Sự phổ thông của chủ đề kể sau được nhận thấy trên một con dao bằng vàng được khai quật tại địa điểm đặt cung điện của nhà Lý tại Hà Nội theo hình dạng con vẹt. 8

Các con chim đuôi dài xuất hiện như một đối tượng được ưa chuộng, và có thể là con công bản xứ của Việt Nam (Hình 4).  Các con chim như thế có nhiều tại Việt Nam, phán đoán theo các sự đề cập thường xuyên đến chúng trong văn chương thời Đường liên quan đến các vùng đất phương nam.  Đuôi của các con chim như thế được ghi chép như một phần trong cống phẩm hàng năm được gửi từ vùng đất đô hộ của nhà Đường ở An Nam đến triều đình tại Tràng An.  Đối với các quan chức nhà Đường phục vụ tại An Nam, tiếng kêu chói tai của con công là một sự nhắc nhở cho sự lưu đày của họ: “Con Chim Việt lay chuyển giấc mơ của bạn về quê nhà”. 9 Nhưng đối với nhà ngoại giao Việt Nam thế kỷ thứ 13 được phái lên phía bắc sang Trung Hoa, con công được gợi lên như một ẩn dụ cho Việt Nam nơi mà ông mong mỏi quay về:

Bạn đang đi theo các con ngỗng băng qua các đèo xuyên núi

Để giáp mặt với tuyết miền bắc.

Nhưng trái tim bạn là hình dáng của con chim Việt

Mong ngóng quay về cành nam. 10

Nhà thơ đang sử dụng một cách ý thức thi pháp hoài niệm tương tự từ thi ca Trung Hoa và đảo ngược chức năng biểu trưng của hình ảnh con công để diễn tả các tâm cảm.  Đối với người Việt Nam mới độc lập, các con chim với màu sắc huy hoàng của Việt Nam có thể được khiêu dẫn để biểu tượng hóa tính độc đáo của đất nước của họ.  Sự mô tả các con chim như thế giữa cành lá thể điệu hóa đã  mang lại một đặc tính sống động và địa phương riêng biệt cho các đồ gốm này.  Chủ đề chim đuôi dài tuy thế là một chủ đề cổ xưa, được tìm thấy trên các trống đồng ban sơ thường có của chủng tộc Việt.  Sự mô tả của nó cũng có thể nhằm vào việc khiêu dẫn tính cổ xưa của dân tộc và văn hóa Việt Nam, và từ đó, tính bền bỉ và dẻo dai của Việt Nam.

Các đề tài phi-Trung Hoa khác cũng xuất hiện trong danh mục trang trí cho đồ gồm Việt Nam từ thế kỷ thứ 11, chẳng hạn nhu con voi.  Các con voi vẫn từng rong ruổi trong các khu rừng Việt Nam trong thiên niên kỷ đầu tiên và ngà của chúng được gửi thường lệ sang Trung Hoa như một cống vật xuất sắc.  Các con voi được thuần phục và tiến vào huyền thoại bình dân như một sinh vật thông thái có khả năng phân biệt được sự thật với sự giả dối.  Một câu chuyện có các gốc rễ từ thời nhà Đường kể lại một con voi đứng gác các ngọn đồi của An Nam chỉ cho phép các khách du hành lương thiện đi qua trong sự an toàn.  Con voi được miêu tả trên chiếc bình thời nhà Lý (Hình 5) mang yên cương của một con vật đã thuần phục, mặc dù không được trang trí một cách huy hoàng như các con voi được chứng kiến bởi một nhà ngoại giao Trung Hoa trong sứ đoàn sang Việt Nam:

Các vòng đeo cổ bằng vàng có  mạng che đầu chúng,

Các tấm khăn thêu phủ xuống từ thân hình chúng … 11

Có lẽ điều đáng lưu ý nhất trong mọi điều là hình dáng chiến sĩ với một tính chất Đông Nam Á đặc sắc.  Một chiếc bình chứa đồ tại Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội (Hình 6) được trang trí với hai chiến sĩ, cầm giáo và khiên che, trong các vị thế sống động nhắc nhớ đến các hình thể nhảy múa tế lễ được tìm thấy tại vùng Đông Nam Á lục địa.  Các chiến sĩ mang quần áo ngắn, với các kiểu mẫu uốn khúc như rồng rắn nơi bắp đùi, có lẽ là hình xâm vẽ mà các lời bình luận của Trung Hoa nói tới.  Tục xâm vẽ đã được xác định từ lâu bởi người Trung Hoa như một trong các tính chất chủng tộc để phân biệt của các thị tộc “Bách Việt”, trải dài từ phía nam Triết Giang đên Vân Nam và xuống tận miền bắc Việt Nam. 12 Tác giả Chou Ch’u-fei (Chu Khứ Phi), nơi phần ghi chép trong quyển Ling Wai Tai Ta (Lĩnh Ngoại Đại Đáp) năm 1178 đề cập tới Vệt Nam, nhận xét rằng “hình vẽ trên thân thể của họ trông giống như các họa kiểu trên trống đồng”. 13 Các chiếc khiên chắn của chiến sĩ được trang trí với họa kiểu hình rồng, là các vị thần nước trong văn hóa Việt.  Sự biểu thị tính chất khá ngây thơ các hình dáng này nêu ý kiến rằng chúng có thể tượng trưng cho các dân bộ lạc Việt Nam phi-Hán hóa là những kẻ “kể từ cổ xưa … đã được ghi nhận nhờ hình xâm vẽ và tóc cắt ngắn của họ”. 14 Với sự xuất hiện của họ trong sự trang trí đồ gốm Việt Nam chúng ta cảm nhận một sự khẳng định mạnh mẽ các sự quan tâm văn hóa bản xứ và căn cước chủng tộc.

Một loại thứ nhì của đồ gốm thịnh hành trong các thế kỷ thứ 11 và 12 (nhà Lý) là đồ đá trắng với sự trang trí làm theo mẫu cánh hoa sen.  Nhóm này được tượng trưng bởi các chiếc đĩa bẹt, đôi khi với một chân đế, các chiếc bát có cấu hình cánh hoa sen, các cốc có chân, và các chiếc bình có nắp đậy (Hình 7 và 8).  Trong khi các mô hình Trung Hoa đích xác thường không thấy, nhiều thành phần họa kiểu trong các sản phẩm này có thể được xác định nơi các đồ dùng nhà Bắc Tống trong các thế kỷ thứ 11 và 12. 15 Các đồ gốm này có thể tượng trưng các sản phẩm được sản xuất tại Đông Kinh (Bắc Việt) cho sự sử dụng của giới tinh hoa Việt Nam địa phương là các người, xuyên qua các quan hệ “triều cống” với mẫu quốc Trung Hoa, có thể hấp thụ thị hiếu của triều đình nhà Tống dành cho hàng gốm màu trắng.  Sự thịnh hành chủ đề cánh hoa sen có thể phản ảnh sức mạnh của sự hành đạo Phật Giáo tại triều đình nhà Lý ở Thăng Long (Hà Nội).  Thí dụ, một nhóm các hộp đựng kinh [Phật] bằng sa thạch tráng men trắng của nhà Tống Trung Hoa, được chế tạo một cách công khai dành cho thị trường Nhật Bản, tiêu biểu cho sự liên kết giữa chủ đề hoa sen và đạo Phật. 16

Một cái tô có chân đế hình cánh hoa sen nở (Hình 7), được thu thập tại miền bắc Việt Nam, có một nét sinh động của hình thể làm liên tưởng đến các nguyên mẫu bằng kim loại.  Các nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Ấn Độ tại vùng Đông Nam Á lục địa, bao gồm dân Chàm theo Ấn Độ Giáo tại miền trung Việt Nam, xuất sắc với các chiếc thuyền bằng vàng và bạc sử dụng đến chủ đề cánh hoa sen nở.  Trong năm 1044 và một lần nữa trong năm 1069, Việt Nam đã thực hiện các cuộc đột kích bằng đường biển đánh vào xứ Chàm và lục soát kinh đô của người Chàm tại Vijaya, chắc chắn bao gồm trong chiến lợi phẩm của họ các sản phẩm bằng vàng nhờ đó các thợ thủ công của Chàm được ngưỡng mộ một cách lớn lao.  Các hình thể tương tự xuất hiện trong đồ gốm Khmer đương đại và còn kéo dài cho đến cả ngày nay trong việc chế tác đồ vàng và bạc ở vùng Đông Nam Á lục địa, đặc biệt với các bình đựng vôi.  Đồ kim loại của Chàm, bắt nguồn từ Ấn Độ, có thể đã góp phần vào hình thể của các đồ gốm Việt Nam này, cùng với nguồn cảm hứng từ đồ gốm của Trung Hoa thời nhà Tống.  Trong cung cách này, các thành phần văn hóa được hấp thụ bởi Việt Nam từ các biên giới phía nam của nó và xa hơn nữa đã cung cấp ở một số mức độ sự đối cân với văn hóa Trung Hoa với bóng che mà Việt Nam đã cố vươn lên.  Các nỗ lực có ý thức được thực hiện trong các thời nhà Lý tiến tới sự tự túc về văn hóa và để bảo tồn các thành tố về tiếng nói, y phục và các phong tục khác hầu bảo đảm rằng chủng tộc và căn cước văn hóa Việt đã được duy trì. 17

Khay bẹt với hai đường viền cánh hoa sen và một chân đế thấp, thắt eo nhỏ lại (Hình 8) tượng trưng, trong một ý nghĩa, một sự giải quyết của Việt Nam về hai lựa chọn trang trí tranh chấp nhau này, các thành tố chịu ảnh hưởng Ấn Độ bền bỉ kéo dài trong văn hóa Đông Nam Á lục địa, và thành tố Trung Hoa thấm nhập.  Các cơ hội cho sự lưu thông các sản phẩm và tư tưởng giữa Việt Nam và các láng giềng của nó ở phương bắc và phương nam thì đáng cứu xét đến.  Họa kiểu theo mẫu cánh hoa sen, được quen biết trong các truyền thống chế tạo đồ kim loại của Chàm, cũng là một hình thể được tái dụng trong đồ gốm nhà Tống, với các nguồn gốc có thể truy tìm ở đồ kim loại nhà Đường với nguồn cảm hứng tối hậu của Sassanian [chỉ đồ thủy tinh được sản xuất từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên tại Đế Quốc Sassanian, tức vùng Bắc Iraq, xứ Iran và vùng Trung Á ngày nay, chú của người dịch] hay Soghdian [tức vùng UzbekistanTajikistan ngày nay với các thành phố chính như Samarkand, Panjakent, Fergana, chú của người dịch] được chuyển tiếp xuyên qua Con Đường Tơ Lụa Trung Á Châu. 18 Hoa kiểu cành sen xuyên và khắc ở mặt trong liên hệ với truyền thống Cizhou [?] của Bắc Tống được rút ra một cách trực tiếp nhất từ đồ kim loại nhà Tống.  Phả hệ có thể được truy tìm xuyên qua các sản phẩm kiểu Cizhou [?] thế kỷ thứ 11 đến các chiếc thuyền bằng vàng và bạc thế kỷ 7-8 được khai quật tại kinh đô nhà Đường tại Tràng An.  Tác giả O. Janse đã khai quật được một khay cánh hoa sen thuộc loại này từ một ngôi mộ ở Thanh Hóa cùng với các chiếc bát kiểu thời nhà Tống. 19

Một sự phát triển Việt Nam đặc biệt để đáp ứng với một nhu cầu địa phương là bình đựng vôi được dùng để trữ vôi vỏ sò xay nhỏ được dùng để pha chế cùng với lá trầu.  Các bình vôi có hình dáng bó gối ngồi xổm (squat form) với một lỗ hỗng ở vai bình, đôi khi có một chân đế, và với một quai “giỏ” ngày càng được trang trí tỉ mỉ hơn.  Các thí dụ sớm nhất, các bình bó gối ngồi xổm đơn giản, với các vết tích của vôi vẫn còn hiển hiện, đã được khai quật từ các khung cảnh thế kỷ 10-12.  20 Bình đựng vôi, trong khi vẫn giữ lại tính cách đơn lẻ của nó, phản ảnh mối bận tâm về thể điệu biến đổi, hiển hiện rõ rệt trong luồng chính của sự sản xuất đồ gốm Việt Nam.  Một thí dụ được sưu tập bởi C. Huet tại Thanh Hóa, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 13 (Hình 9), được trang trí bởi một hàng đôi của các kiểu mẫu răng cưa chồng lên nhau, họa kiểu được gọi là “trái dứa” (pineapple) được nhận thấy nơi các sản phẩm của Yaozhou [?] và Ding [?] của Jingdezhen (Cảnh Đức Trấn). 21 Tay cầm biến hóa thành một hình thể giống như dây leo cây nho kết cấu một cách kỳ diệu, các tua xoắn của nó vươn tới vai của bình nơi chúng trở nên các hạt cau cách điệu.  Chính hạt cau trộn lẫn với vôi tạo thành thành tố thực chất của miếng trầu được nhai bởi người dân Đông Nam Á.  Lê Tắc, một văn gia Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ 14, ghi chép rằng việc mời trầu các người khách đến thăm đã tạo thành một phần bản chất của lòng hiếu khách của người Việt, y như phong tục tại các nơi khác ở Đông Nam Á.

Các đồ gốm đơn sắc tráng men bóng trong thời nhà Trần, nổi bật là các đồ tráng men bóng với màu trắng, xanh lục, và màu nâu, điển hình để trơn hay với các chủ đề cánh hoa sen hay các loại hoa khác được đắp hay nhận chìm ở mặt bên trong.  Các phế phẩm của lò nung được báo cáo đến từ cả tỉnh Thanh Hóa lẫn vùng lân cận Hà Nội.  Các men bóng loại màu ngọc bích (celadon) tương đối hiếm trong số sản phẩm đơn sắc của Việt Nam.  Hình 10 biểu thị một chiếc bát với một họa kiểu thảo mộc uốn khúc được chạm khắc làm nhớ lại các sản phẩm trang trí màu nâu được sơn vẽ thời trước đây.  Nó có một men bóng rạn màu ngọc bích và một đáy lõm xiên góc.  Một cốc vại có thành đứng (beaker) trong hình thức một cái bát bố thí Phật Giáo phô bày men bóng trắng kem điển hình trên thân bát bằng sa thạch màu vàng sẫm và một lớp tráng sắt màu nâu-tím được sơn trên chân bát.  Một loại men bóng bằng đồng màu xanh trái táo đặc sắc cũng xuất hiện, đặc biệt được ưa chuộng trên các tách nhỏ và các chiếc lọ bình.  Các sản phẩm đơn sắc Việt Nam khác biệt nhất xuất hiện trong số các sản phẩm phủ men bóng màu trắng, và nổi bật nhờ sự thuần khiết về hình dạng, có nhiều nét tương đồng với sản phẩm một màu thời nhà Tống.

Việc Mua Bán Đồ Gốm Thủa Ban Đầu

Thế kỷ thứ 14 đánh dấu một đường rãnh phân chia trong sự phát triển các đồ gốm Việt Nam, sự chuyển tiếp từ sản xuất nội địa sang sự tham gia vào công việc mậu dịch đồ gốm quốc tế.  Sự thay đổi này được đánh dấu bởi sự phát triển của sự trang trí được sơn vẽ dưới lớp men bóng, khởi thủy trong màu sắt được nung thành màu nâu-đen.  Bằng cớ khả dĩ làm dữ liệu sớm nhất của đồ gốm Việt Nam như một sản phẩm mậu dịch quốc tế là một mảnh của một cái bát thuộc loại này, được sơn băng màu đen sắt dưới lớp men bóng với một huy chương xòe ra hoa cúc ở mặt bên trong và một lớp tráng sắt màu chocolat (nâu kẹo chocolat) trên đáy (Hình 11).  Nó được khai quật tại khu lận cân của Kanzeon-ji, Dazaifu, tỉnh Fukuoka, đảo Kyushu, Nhật Bản, cùng với một bảng bằng gỗ khắc bằng mực Tàu với một niên đại tương ứng với năm 1330 sau Công Nguyên. 23 Sự khám phá này đã xác định một cách an toàn sự sản xuất đồ sa thạch trang trí bằng sắt dưới lớp men bóng, muộn lắm là vào đầu thế kỷ thứ 14.  Các lò nung đảm trách các sản phẩm này vẫn chưa được xác minh một cách chắc chắn.  Di tích của các lò nung được chấm định tại một số địa điểm tại Thanh Hóa, Hà Nội và Hà Nam Ninh, 24 nhưng chúng ta đang chơ đợi tin tức chính xác trên việc xác minh các loại sản phẩm liên kết với mỗi vùng.  Các mảnh vụn của các đồ sa thạch trang trí bằng sắt tương tự với loại xuất cảng ban đầu được báo cáo tim thấy ở Bát Tràng thuộc ngoại ô Hà Nội. 25

Thứ hạng của sản phẩm này rõ ràng là các đồ gốm mậu dịch của Việt Nam nổi bật nhất trong thế kỷ thứ 14.  Nó được đặc trưng bởi một loại bột mịn màu trắng xám giúp cho người trang trí vẽ thẳng vào thân gốm mà không phải trộn bột cho đều màu trên mảnh gỗ mỏng trước tiên.  Toàn thể bề mặt sau đó được phủ bằng một lớp men trong, mà bởi sự thiếu tinh khiết của khoáng chất, có khuynh hướng bị nung thành màu vàng nhạt hay bị nhuốm màu hơi xanh lục.  Nét rạn nhỏ của men bóng thường xảy ra.  Sự trang trí này được hạn chế vào các món hàng có kích cỡ nhỏ: các cái bát, đĩa nông, nhỏ để đựng nước chấm (saucers), đĩa tròn để thức ăn (plates), các cốc vại thành đứng (beakers), các chiếc bình và các cái lọ hay chai. 26 Kiểu trang trí có thể được mô tả là sơ sài và có viết chữ, chủ đề trung tâm điển hình là một cành hoa bung ra được vẽ một cách lỏng lẻo, bao quanh bởi một vòng tròn đơn hay đôi và với một giải vòng tròn cổ điển nhận sâu trên đường viền (Hình 12).  Liệu các sản phẩm này đã được phát triển một cách công khai dành cho sự xuất cảng hay không thì không rõ.  Sưu tập của C. Huet bao gồm một phế phẩm [waster, tức đồ làm sai, bị bỏ, chú của người dịch] của lò nung được cho biết từ Đại La (Hà Nội), dưới hình thức một chồng bát với chủ đề hoa bung ra được vẽ bằng màu xanh da trời nằm dưới men bóng.

Sự xuất hiện của sự trang trí dưới lớp men bóng trong đồ gốm Việt Nam phải được nhìn dưới ánh sáng của sự phát triển tại Trung Hoa.  Việc vẽ dưới men bóng bằng màu nâu sắt và xanh đồng đã được áp dụng một cách thành công trong sự trang ttrí các sản phẩm của Changsha (Trường Sa) [thủ phủ của tỉnh Hồ Nam bên Trung Hoa, chú của người dịch] muộn lắm là trong thế kỷ thứ 9, như được thấy tại các bình đựng nước được khai quật tại Ningbo (Ninh Ba) thuộc tỉnh Chiết Giang hồi năm 1973, là các sản phẩm hầu như chắn chắn được dành cho sự xuất cảng, 27 và kỹ thuật mau chóng lan truyền đến các lò nung của Quảng Đông.  Các thí dụ về sản phẩm của Trường Sa đã được tìm ra từ đảo Java [thuộc Nam Dương ngày nay, chú của người dịch] cho đến Ba Tư dọc theo các hải lộ lớn. 28 Các lò nung ở vùng phụ cận của Quảng Châu và Quanzhou [? Tuyền Châu] đề rõ ràng đã sản xuất ra các đồ gốm được trang trí bằng sắt dưới lớp men bóng dành cho thị trường xuất cảng. 29 Sự lưu thông thương mại thường trực giữa các hải cảng này và các hải cảng của Bắc Việt sẽ tạo sự dễ dàng cho việc sẵn sàng chuyển giao các kỹ thuật như thế.  Dù thế, bất kể các sự tương đồng về kỹ thuật, không có nguyên mẫu thể điệu cụ thể nào cho sản phẩm được trang trí bằng sắt riêng biệt của Việt Nam đã được xác định, khiến liên tưởng mạnh mẽ đến sáng kiến của Việt Nam trong loại thiết kế đồ gồm này.

Đồ Gốm Màu Xanh Da Trời và Trắng của Việt Nam

Trong nửa sau của thế kỷ thứ 14, màu xanh thẫm như chất cobalt đã bắt đầu được sử dụng trong sự trang trí đồ gốm, báo hiệu một kỷ nguyên mới trong đồ gốm Việt Nam.  Khởi thủy màu xanh cobalt đi theo thiết kế tương tự với sản phẩm trang trí băng sắt.  Đôi khi hai màu được dùng phối hợp với nhau.  Nguồn gốc của cobalt không được hay biết nhưng có thể ức đóan rằng nó đã đến từ các nhà nhập cảng Trung Đông hoạt động tại Quảng Châu hay có thể còn trực tiếp từ các thương thuyền Hồi Giáo trên đường đến miền nam Trung Hoa.  Các nguồn bản địa Trung Hoa, chẳng hạn như các nguồn được khám phá tại Vân Nam, mới chỉ bắt đầu cung cấp cho Cảnh Đức Trấn sau năm 1426.  Sau đó Việt Nam có thể đã khai thác nguồn nguyên liệu này, sông Hồng cung cấp một chiếc cầu thiên nhiên giữa Vân Nam và Bắc Việt.

Sự kiện rằng các sản phẩm trang trí màu xanh cobalt bên dưới men bóng của Việt Nam được sản xuất trong thế kỷ thứ 14 đã được xác định từ các nguồn mậu dịch.  Một mảnh vỡ của một cái bát, được trang trí bằng màu xanh cobalt dưới lớp men bóng với chùm hoa sơ sài bung ra ở mặt trong và một chân trộn màu sơn màu nâu, được tìm thấy năm 1980 tại Nakijin Gusuku,  thuộc Ryukyus, đảo Okinawa, Nhật Bản.  Hoạt động mậu dịch được ghi chép từ Ryukyus với Việt Nam từ năm 1363.  Vị trí tòa lâu đài từ đó mảnh vỡ này được khai quật đã bị phá hủy trong năm 1416, cung cấp một niên đại sau cùng vào đầu thế kỷ thứ 15.  Kiểu vẽ liên hệ một cách trực tiếp với các sản phẩm được trang trí màu nâu sắt mà chúng ta hay biết đã được sản xuất khoảng gần một thế kỷ trước đó, và thí dụ này, với sự chắc chắn hợp lý, có thể được quy cho nửa sau của thế kỷ thứ 14.

Một biến cố trọng đại trong các quan hệ Trung Hoa – Việt Nam có thể đã gây ra một làn sóng mới của các ảnh hưởng của Trung Hoa được nhận thấy trong đồ gốm Việt Nam thế kỷ thứ 15 là sự xâm lăng của quân đội nhà Minh triều Yunglo (Vĩnh Lạc) sang chiếm đóng Việt Nam từ 1407 đến 1427.  Về mặt văn hóa, sự chiếm đóng đã có một hậu quả tàn phá, khi các kẻ chiếm đóng, tuyên bố một chính sách tích cực Hán hóa, đã mưu tính chuyển biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung Hoa.  Các thư viện và văn khố được nói là đã bị chuyển về Trung Hoa và được giả định đã bị tiêu hủy.  Các đền đài gắn liền với các thành quả của các triều đại nhà Lý và nhà Trần bị phá hủy trong một mưu toan nhằm xóa bỏ các thành quả và căn cước của nền văn hóa Việt Nam.  Việt Nam đã kháng cự một cách hữu hiệu các mưu toan của Trung Hoa nhằm tái thiết lập sự kiểm soát chính trị thường trực.  Tuy nhiên, sự kháng cự lại sự thẩm nhập văn hóa tế nhị hơn vào xã hội Việt Nam bởi các giá trị, ý niệm và tín ngưỡng Trung Hoa có ít hiệu quả hơn.  Bằng chứng của ảnh hưởng văn hóa này, bị oán ghét như xảy ra đối với các bộ phận trong giới ttrí thức Việt Nam, được chứng tỏ trong nhiều khía cạnh của sự biểu lộ văn hóa và xã hội Việt Nam.  Sự mạo hiểm thành công của Việt Nam vào sự chế tạo và xuất cảng đồ gốm mậu dịch có phẩm chất, trực tiếp cạnh tranh với sản phẩm Trung Hoa, được tô điểm bởi mối quan hệ này.

Sự sản xuất mở rộng của sản phẩm màu xanh da trời và màu trắng chịu ảnh hưởng bởi Trung Hoa trong thế kỷ thứ 15 có thể được giải thích bằng sự tiếp cận với thị trường.  Thời kỳ 1436 đến 1465 được đánh dấu bởi sự ngăn chặn tích cực công cuộc mậu dịch hải ngoại bởi triều đình Trung Hoa.  Có thể rằng các thương nhân Trung Hoa tại Bắc Việt hay các nhà kinh doanh tại miền nam Trung Hoa với các sự liên kết chặt chẽ với Bắc Việt đã tích cực cổ vũ cho sự sản xuất các đồ gốm mậu dịch Việt Nam trong các thời kỳ mậu dịch Trung Hoa bị ngăn cấm.  Các sản phẩm như thế sẽ sẵn sàng được bán cho các thị trường Trung Hoa trước đây nếu được trang trí theo thể điệu Trung Hoa (Hình 13 và Hình 14).

Danh mục các hình dạng đồ gốm và các chủ đề thiết kế được sử dụng trong sự trang trí của chúng phát lộ một chiều hướng mới trong đồ gốm Việt Nam, tách rời khỏi các sự phát biểu bị địa phương hóa tiến tới một sự thích nghi gia tăng với các mô thức và quy ước Trung Hoa.  Một sự biến đổi trong thái độ xuất hiện, tách rời khỏi một ước mong, hay nhu cầu, để đưa ra các sự phát biểu công khai của căn cước văn hóa hướng tới một nỗ lực có ý thức nhằm sử dụng ngôn ngữ trang trí của nghệ nhân đồ gốm Trung Hoa nhằm dành lợi thế thương mại.  Các lò nung Việt Nam đã lao vào sự sản xuất thương mại và sự xuất cảng các sản phẩm tráng men bóng từ thế kỷ thứ 14, trong sự cạnh tranh trực tiếp với Trung Hoa là các kẻ theo truyền thống khống chế thị tường đồ gốm mậu dịch béo bở tại Đông Nam Á và xa hơn nữa. 30

Tuy nhiên, chính đồ gốm của các triều đại nhà Lý và nhà Trần, ngay trước kỷ nguyên sản xuất mậu dịch, phát lộ các lời phát biểu mạnh mẽ nhất về căn cước văn hóa của Việt Nam.  Sự kiện rằng điều này phải là như thế không có gì lấy làm ngạc nhiên, bởi kỷ nguyên này trong truyền thống được gắn liền với một sự phục hưng của văn hóa Việt Nam.  Việt Nam thời nhà Lý đã tái thiết định nền độc lập và triều đại nhà Trần đã kháng cự một cách hữu hiệu các mưu toan xâm lăng liên tiếp bởi các nhà cai trị triều Nguyên [Trung Hoa].  Cuộc chiếm đóng ngắn ngủi nhưng tàn phá hồi đầu nhà Minh đã xóa bỏ nhiều thành quả của thời nhà Lý và nhà Trần và ngày nay bằng chứng đồ gốm tồn tại cung cấp một trong ít ngả đường của cái nhìn thấu triệt vào căn cước văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này./-

_____

CHÚ THÍCH

1. M. Goloubew “La Province du Thanh Hóa et sa ceramique”, Revue des Arts Asiatiques, Vol. VII, No. 2 (1931-32), trang 115.

2. J Holmgren, Chinese Colonization of Northern Vietnam: Administrative Geography and Political Developments in the Tongking Delta, First to Sixth Centuries A. D., Canberra, Australian National University Press, 1980, trang 7.

3. Xem A. B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Cambridge, Harvard University Press, 1971 để có một cuộc thảo luận về các tình trạng mơ hồ về thái độ trong sự nhận thức của Việt Nam đối với sự hiện diện của Trung Hoa, và O. W. Wolters, History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives, Singapore, Institute of Southeast Asian Studies, 1982, các trang 73-82.

4. Xem K. Gardiner, “Vietnam and Southern Han”, Phần I và II trong tập Papers on Far Eastern History 23 (1981), các trang 64-110, và 28 (1983), các trang 23-48. [tức chuyên san Asian Studies Review của Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi, chú của người dịch].

5. Tôi muốn bày tỏ sự biết ơn đến Bà Janine Schotsmans, Quản Thủ Viên, Bảo Tàng Viện Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, về việc bà đà tử tế cung cấp các ảnh chụp đồ gốm từ sưu tập Clément Huet Collection, và Giáo Sư Trần Quốc Vượng, về các ảnh chụp đồ gốm từ Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội.

6. Trần Quốc Vượng và Nguyễn Vĩnh Long, Hanoi, From the Origins to the 19th century, Hà Nội, Vietnamese Studies no. 48, 1977, các trang 23 và 31.

7. So sánh, M. Tregear, Song Ceramics, London, Thames & Hudson, 1981, trang 11.

8. Trần Quốc Vượng, đã dẫn trên, trang 24.

9. Xem E. H. Schafer, The Vermillion Bird, T’ang Images of the South, Berkeley, University of California, 1967, trang 237.  Tác phẩm này cung cấp một sự khiêu gợi phong phú và giàu tưởng tượng trong sự nhận thức của Trung Hoa về Việt Nam, phần lớn dựa trên thi ca nhà Đường và các nguồn tài liệu văn chương khác.

10. O. W. Wolters, đã dẫn trên, trang 78.

11. E. Schafer, đã dẫn trên, trang 236.

12. Tục xâm, vẽ mình như thế được thực hành sâu rộng trong số các người dân của vùng Đông Nam Á lục địa, xem J. S. Guy, Palm-leaf and Paper: Illustrated Manuscripts of India and Southeast Asia, Melbourne, National Gallery of Victoria, 1982, trang 62.

13. Chou Ch’u-fei, Ling Wai Tai Ta (1178), ấn bản Shanghai, 1935-7, trang 18.  Được trích dẫn trong J. K. Whitmore, trong cùng tuyển tập này.

14. E. Schafer, đã dẫn trên, trang 53.

15. So sánh Y. Mino, Freedom of Clay and Brush through Seven Centuries in Northern China: Tz’u-chou Type Wares, 960-1600 A.D., Indianapolis Museum of Arts, 1980.

16. So sánh, S. Hayashiya và H. Trubner, Chinese Ceramics from Japanese Collections: T’ang through Ming Dynasty, New York, Asia Society, 1977, trang b11.

17. K. Taylor, “A Brief Summary of Vietnamese History”, trong Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, Singapore, 1982, trang 15.

18. Xem W. Willetts, “Bridges: Internal and External Formal Relationships in Vietnamese Ceramics of the 11th – 16th Centuries”, trong Southeast Asian Ceramic Society, đã dẫn trên, trang 10.

19. O. R. Janse, Archaeological Research in Indochina, 3 tập, Boston, Harvard University Press, 1947-51, Bruges, St. Catherine Press, 1958, Vol. 3, các hình 80-82.

20. C. Huet, “Les pots a chaux les pipes a eau”, Bulletin des Musees’ Royaux d’Art et d’Histoire 4 (1941), trang 75.

21. So sánh Southeast Asian Ceramic Society, Song Ceramics, Singapore, 1983, hình 99.

22. O. W. Wolters, “Assertions of cultural well-being in 14th century Vietnam”, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 10, No. 2 (1979), trang 443.

23. Tôi biết ơn sâu xa ông Meitoku Kamei của Bảo Tàng Kyushu Historical Museum về việc cung cấp cho tôi thông tin này và các ảnh chụp các khám phá mới đây về đồ gốm Việt Nam tại Nhật Bản.

24. Được báo cáo gần đây bởi Trần Khánh Chương, Viện Mỹ Thuật [Institute of Fine Arts], Hà Nội, trong một bài viết chưa ấn hành.

25. Thông tin cá nhân từ Giáo Sư Phạm Huy Thông, Giám Đốc Viện Khảo Cổ, Hà Nội, Tháng Mười 1981.

26. So sánh Southeast Adian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, các bảng chụp  72-80, 83.

27. Australian Art Exhibitions Corporation, The Chinese Exhibition, Melbourne, 1976, trang 213.

28. Xem J. S. Guy, Oriental Trade Ceramics in Southeast Asia Ninth to Sixteenth Centuries, Kuala Lumpur, Oxford University Press, đang in.

29. So sanh P. Hughes-Stanton và Rose Kerr, Kiln Sites of Ancient China, London, Oriental Ceramic Society, 1981, các bảng chụp 167, 213.

30. Muốn biết về sự phân phối đồ gấm mậu dịch Việt Nam, xem J. Guy, “Vietnamese Trade Ceramics”, trong Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, các trang 28-35.

CÁC HÌNH CHỤP

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS1.jpg
Hình 1: Bình có nắp đậy trang trí bằng men bóng trong và màu nâu.  Cao 22.2cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i1.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS2.jpg
Hình 2: Bình đựng, trang trí với tràng hoa cúc chạm khắc trên nền men bóng màu nâu. Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS3.jpg
Hình 3: Mảnh vỡ của một cái bình với men bóng trong màu nâu.  Cao 22cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ: Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS4.jpg
Hình 4: Bình đựng có nắp đậy, trang trí với hình chim và cành lá chạm khắc với men bóng trong trên nền men bóng trong và màu nâu. Thế kỷ 10-12.
Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i0.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS5.jpg
Hình 5: Con voi.  Chi tiết phóng lớn từ một chiếc bình trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS6.jpg
Hình 6: Bình đựng trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i1.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS7.jpg
Hình 7: Ly (cốc) có chân theo hình hoa sen.  Sa thạch men bóng. Thế kỷ 11-12.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels.

https://i1.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS8.jpg
Hình 8: Đĩa với trang trí chạm khắc và chạm nổi cánh hoa sen.  Men bóng trong và nâu sắt.  Đường kính 9cm.  Thế kỷ 11-12.
Xuất xứ: Hà Nội.  Sưu tập tư nhân.  Singapore.

https://i0.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS9.jpg
Hình 9: Bình đựng vôi.  Sa thạch men bóng.  Cao 18cm.  Khoảng thế kỷ 13.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS10.jpg
Hình 10: Bát với men màu ngọc bích (celadon).  Đường kính 13.5cm.  Thế kỷ 12-13.  Xuất xứ: Thanh Hóa.
Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS11.jpg
Hình 11: Các mảnh vỡ của một cái bát trang trí với màu đen dưới lớp men bóng, khai quật tại Dazaifu, Kyushu, Japan.  Thế kỷ 14.
Kyushu Historical Museum, Dazaifu, Fukuoka.

https://i0.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS12.jpg
Hình 12: Đĩa với trang trí màu nâu nằm dưới lớp men bóng.  Đường kính 27.5cm.  Thế kỷ 14.  Sưu tập tư nhân.  Úc Đại Lợi.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS13.jpg
Hình 13: Đĩa trang trí bằng màu thiên thanh dưới lớp men bóng với hình vẽ hai con cá.  Thế kỷ 15.  Sưu tập của ông F. W. Bodor, Sydney.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS14.jpg
Hình 14: Chai trang trí bằng màu xanh da trời dưới lớp men bóng.  Cao 54cm.
Sản phẩm Việt Nam có ghi niên đại sớm nhất, với một sự biên chú tương ứng năm 1450.  Cao 54cm.
Bảo Tàng Topkapu Sarayi Museum, Istanbul [Thổ Nhĩ Kỳ].

CÁC HÌNH CHỤP


Hình 1
: Bình có nắp đậy trang trí bằng men bóng trong và màu nâu.  Cao 22.2cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.


Hình 2
: Bình đựng, trang trí với tràng hoa cúc chạm khắc trên nền men bóng màu nâu. Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 3
: Mảnh vỡ của một cái bình với men bóng trong màu nâu.  Cao 22cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ: Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.


Hình 4
: Bình đựng có nắp đậy, trang trí với hình chim và cành lá chạm khắc với men bóng trong trên nền men bóng trong và màu nâu. Thế kỷ 10-12.
Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 5
: Con voi.  Chi tiết phóng lớn từ một chiếc bình trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 6
: Bình đựng trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 7
: Ly (cốc) có chân theo hình hoa sen.  Sa thạch men bóng. Thế kỷ 11-12.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels.


Hình 8
: Đĩa với trang trí chạm khắc và chạm nổi cánh hoa sen.  Men bóng trong và nâu sắt.  Đường kính 9cm.  Thế kỷ 11-12.
Xuất xứ: Hà Nội.  Sưu tập tư nhân.  Singapore.


Hình 9
: Bình đựng vôi.  Sa thạch men bóng.  Cao 18cm.  Khoảng thế kỷ 13.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.


Hình 10
: Bát với men màu ngọc bích (celadon).  Đường kính 13.5cm.  Thế kỷ 12-13.  Xuất xứ: Thanh Hóa.
Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

 


Hình 11
: Các mảnh vỡ của một cái bát trang trí với màu đen dưới lớp men bóng, khai quật tại Dazaifu, Kyushu, Japan.  Thế kỷ 14.
Kyushu Historical Museum, Dazaifu, Fukuoka.


Hình 12
: Đĩa với trang trí màu nâu nằm dưới lớp men bóng.  Đường kính 27.5cm.  Thế kỷ 14.  Sưu tập tư nhân.  Úc Đại Lợi.


Hình 13:
Đĩa trang trí bằng màu thiên thanh dưới lớp men bóng với hình vẽ hai con cá.  Thế kỷ 15.  Sưu tập của ông F. W. Bodor, Sydney.


Hình 14
: Chai trang trí bằng màu xanh da trời dưới lớp men bóng.  Cao 54cm.
Sản phẩm Việt Nam có ghi niên đại sớm nhất, với một sự biên chú tương ứng năm 1450.  Cao 54cm.
Bảo Tàng Topkapu Sarayi Museum, Istanbul [Thổ Nhĩ Kỳ].

—–

Nguồn: John S. Guy, Vietnamese Ceramics and Cultural Identity: Evidence from the Ly and Trần Dynasties, trong sách biên tập bởi David G. Marr và A. C. Milner, Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, Research School of Pacific Studies, Australian National University và Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1986, các trang 255-269.

Ngô Bắc dịch và phụ chú

Ngô Bắc là bút hiệu của Ngô Ngọc Trung
Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh,
và đại học Luật Khoa Sài Gòn, 1972

Với tư cách là chuyên viên nghiên cứu tại
Văn Khố Đông Dương (Indochina Archives),
của viện Institute For East Asian Studies, UC Berkeley,
trong suốt thập niên 1990, ông đã thực hiện nhiều
công trình nghiên cứu về Việt Nam như
Hạ Tầng Cơ Sở Của Giao Thông Và Viễn Thông Việt Nam,
Ngư Nghiệp Và Thủy Hải Sản Việt Nam,
Triển Vọng Xuất Cảng Các Loại Cây Kỹ Nghệ Của Việt Nam,
Vấn Đề Chuyển Giao Công Nghệ, Giáo Dục Việt Nam,
Bang Giao Hoa Kỳ – Việt Nam …

Ông cũng là một trong những người tham gia việc biên soạn
bộ Bách Khoa Tự Điển Encyclopedia of the Vietnam War,
A Political, Social, And Military History,

do nhà xuất bản ABC – CLIO, Inc phát hành năm 1998

29/08/2010

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Nghề gốm Việt Nam cần bảo tồn và phát huy
những giá trị truyền thống

Bài tham luận của:

TS. Phạm Quốc Quân
Giám đốc Bảo tàng Cách mạng VN
Ths. Phạm Thúy Hợp
Phó trưởng phòng QLBT Cục Di sản văn hóa

1. Nhà gốm sử học Joh Guy và Joh Stevenson trong tác phẩm nổi tiếng gốm Việt Nam- một truyền thống riêng biệt đã nói rằng, gốm Việt Nam có lịch sử lâu đời và phát triển theo một truyền thống riêng, khác biệt với mọi cường quốc gốm sứ khác, kể cả với Trung Quốc láng giềng, luôn được thế giới mệnh danh là một siêu cường về gốm sứ. Nghiên cứu gốm Việt Nam trong triều lịch đại cũng như đồng đại, chúng ta đều thấy sự riêng biệt trong các khâu về làm đất, tạo hình, vẽ hoa văn và nung, mà có thể thấy dòng gốm men hoa nâu được coi là đặc trưng nhất, không thể trộn lẫn với bất cứ dòng gốm nào của mọi thời đại ở hầu hết các quốc gia.
Sự riêng biệt của gốm Việt Nam được nhận ra qua các trung tâm sản xuất khác nhau và ở ngay tại một trung tâm trong diễn trình phát triển mà tính thời đại của nó đã quy định. Sự riêng biệt ấy còn thể hiện ở những vùng, miền mà giờ đây, cho dù chưa có đủ tư liệu trong tay cũng nhận ra sự khác biệt giữa gốm Miền Bắc, gốm Miền Trung và gốm Miền Nam, theo đó, ở mỗi vùng miền ấy cũng có những truyền thống phát triển riêng. Sự khác biệt mang tính thời đại và vùng miền đã tạo nên một bức tranh gốm sứ Việt Nam đa sắc. Đó cũng là một ưu thế, cho sự phát triển và phát huy nghề gốm Việt Nam.
Ngoài bản sắc riêng, nghề gốm Việt Nam cũng có một truyền thống lâu đời. Ở Miền Bắc, nghề thủ công làm gốm có từ thời Phùng Nguyên, mà chúng tôi cho rằng, lịch sử 4000 năm gốm Miền Bắc đã trải qua ba chặng mốc, với những bước chuyển mình khá quan trọng, đó là bước chuyển từ gốm thô thời Đông Sơn sang bán sứ thời Bắc Thuộc với bước nhảy vọt về công nghệ, quy mô sản xuất, mẫu mã, chất liệu cũng như tổ chức sản xuất cùng phân phối lưu thông. Bước chuyển mình thứ hai, sau thế kỷ 10, với sự phục hưng của văn minh Đại Việt, đã tạo nên những dòng gốm men cơ bản và đặc trưng, bắt đầu từ thời Lý để rồi, trên dòng chảy của lịch sử phát triển có lúc chồi, lúc sụt, vẫn bao gồm gần như nguyên vẹn những giá trị khởi đầu cho đến tận hôm nay. Ngoài gốm men, đồ đất nung, đồ sành cùng phát triển với nhiều trung tâm mang tính đặc thù, đã tạo nên một cây cổ thụ gốm Việt với nhiều cành nhánh xum xuê, tỏa bóng. Trên cây cổ thụ ấy, có những cành vươn cao, vươn xa, cũng có cành cộc, do thui chột, nhưng vẫn sừng sững là một cây đại thụ của gốm sứ thế giới. Bước chuyển thứ ba, vào cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15, khi mà nhà Minh (Trung Quốc) bế quan “Thốn bản bất hạ hải”(một tấc gỗ cùng không được xuất), đã tạo nên một sự phát triển rực rỡ của gốm sứ Đại Việt, khiến cho sản phẩm gốm sứ thời này tham gia tích cực vào con đường tơ lụa trên biển. Sản phẩm có mặt ở hầu hết các quốc gia, sang tận thế giới Hồi giáo.
Gốm sứ Miền Trung bắt nguồn từ văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh, có niên đại tương đồng với văn hóa Đông Sơn Miền Bắc. Gốm đất nung Sa Huỳnh có kiểu dáng phong phú với nhiều loại hình đẹp, hoa văn giàu biểu cảm của văn hóa Duyên Hải. Tuy nhiên, diễn trình phát triển gốm Miền Trung dường như không giống gốm Miền Bắc, mà thăng trầm theo đồ thị hình sin, để rồi có một tượng đài Gò Sành, sản phẩm của cư dân Chămpa, vừa phát triển gốm men và đất nung, với sự hòa trộn của kỹ thuật và chất liệu bản địa với gốm sứ vùng Nam Trung Hoa, thế kỷ 15. Sự lóe sáng rồi vụt tắt của trung tâm Gò Sành, tạo nên một sự phát triển nội sinh, theo xu hướng sành không men, mà những trung tâm như Phước Tích (Thừa Thiên Huế) và Thanh Hà (Hội An) là một điển hình. Hóa Thạch, Bầu Trúc hiện còn của dân tộc Chăm, như là một sự trở lại với truyền thống của hàng nghìn năm trước trong chất liệu, kỹ thuật tạo hình, nung ngoài trời, ở nhiệt độ thấp, không men.
Gốm Miền Nam khởi nguồn từ Óc Eo, nhưng dường như không nhìn thấy ở đây một sơ đồ phát triển rõ ràng như Miền Bắc và lúc mờ lúc tỏ như ở Miền Trung. Phải chăng, con đường phát triển gốm sứ Miền Nam không hướng tới thị trường xuất khẩu, theo đó, người bản địa sử dụng chủ yếu các vật dụng bằng tre, gỗ… khá nhiều ở miền nhiệt đới, xen vào là những trung tâm sản xuất gốm không men ít ỏi, hay đó là vùng đất mới, chậm giao thương với thế giới dưới thể chế của những quốc gia phong kiến Đại Việt, Chămpa? Cho tới thế kỷ 19, người Hoa đem kỹ thuật sản xuất gốm vào vùng đất mới, đã tạo nên dòng gốm Cây Mai, Lái Thiêu, để đến hôm nay, hai trung tâm gốm Biên Hòa và Thủ Dầu Một phát triển dựa trên cơ tầng truyền thống với sự kết hợp hai yếu tố nội và ngoại sinh, để trở thành những trung tâm nổi tiếng, có vị trí xứng đáng trong làng gốm Việt Nam và đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Bình Dương, Đồng Nai.

2. Điểm qua truyền thống và tính riêng biệt của gốm Việt Nam để thấy được sức mạnh và sức cạnh tranh của gốm sứ ta trên thị trường quốc tế là có cơ sở. Vấn đề là chúng ta phát huy truyền thống ấy như thế nào để phát triển ngành thủ công này một cách có hiệu quả.
Truyền thống của Việt Nam là sản xuất gốm. Đó là gốm không men và có men. Đương nhiên gốm không men, giá trị hàng hóa thương phẩm không cao, chủ yếu dựa vào sản xuất những đồ lưu niệm hoặc gốm kiến trúc phục vụ nhu cầu trong nước. Thế nhưng, khi bước vào kinh tế thị trường, một số trung tâm sản xuất như Hương Canh, Phù Lãng đã tắt lửa, do hàng hóa không đáp ứng nhu cầu thị trường. Đến hôm nay, một vài lò ở đây đã đỏ lửa, nhưng hàng hóa sản xuất chủ yếu vẫn là đồ mỹ nghệ, do thiếu những mẫu mã, thiếu tầm nhìn, thiếu tổ chức để đáp ứng nhu cầu thị trường một cách rộng rãi hơn. Phù Lãng, với nhiều nhân tố mới, được đào tạo, đã làm sống dậy làng gốm nơi đây, bằng kỹ thuật, mẫu mà, sản phẩm…. mang tính truyền thống và cách tân. Tuy nhiên, nếu Phù Lãng vẫn tiếp tục phát triển theo hướng na ná nhau về phong cách, mẫu mã, hoa văn… giữa các lò, chắc chắn sẽ không tạo được một sự phát triển bền vững.
Bát Tràng vốn có truyền thống sử dụng xương gốm là đất sét, ít cao lanh, đã tạo nên một thương hiệu, một trung tâm có tầm ảnh hưởng lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và hàng hóa đã một thời vươn xa ra ngoài biên giới quốc gia. Đó cũng là trung tâm sản xuất gốm cho cung đình với những lò quan ở đầu thế kỷ 19, khiến cho Bát Tràng trở thành một thương hiệu Việt Nam đáng trân trọng. Thế nhưng, hiện nay, Bát Tràng đang vươn tới chế tạo đồ sứ hay chí ít là muốn chối bỏ phần nào xương gốm truyền thống, khiến cho sức cạnh tranh giảm, do không tạo nên dược một ngôn ngữ riêng. bài học lịch sử này, đã thấy ở thời Lê Sơ, khi ông cha ta muốn làm đồ sứ trắng, hoa văn in, thấu quang, tưởng như có thể cạnh tranh được với sứ Trung Hoa đương thời, nhưng thử nghiệm ấy chỉ lóe lên ở đầu thế kỷ 15, với một số sản phẩm ít ỏi, mà theo chúng tôi, chủ yếu là gốm phục vụ cung đình và xuất khẩu, rồi vụt tắt, để sau đó, quay về với truyền thống gốm men phát triển đến hôm nay.
Gốm Lái Thiêu, cố học giả Nguyễn Văn Y gọi là đồ sành xốp (Fayence), theo đó, cả một thời kỳ Miền Nam giải phóng, Đồng Nai, Biên Hòa phát triển theo hướng này.Giờ đây, với nhu cầu của thị trường, những lò gốm đã đa dạng mẫu mã, chủng loại hơn với nhiều sản phẩm có chất lượng cao. Tuy nhiên, nếu như gốm Biên Hòa, Thủ Dầu Một không tiếp thu truyền thống, không phát triển và cách tân, đổi mới, chắc chắn sẽ không phát triển được như hôm nay. Đó phải chăng như một báo dẫn cho định hướng phát triển một cách hài hòa, không quá nóng vội để thiêu đốt cả trăm năm di sản để lại của cha ông.
Bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống còn thể hiện ở sự bảo tồn và phát huy làng nghề làm gốm. Cảnh Đức Trấn là một làng nghề và làng nghề ở đây đã được bảo tàng hóa, khiến cho thương hiệu cả nghìn năm của nó được tôn vinh. Khu vực bảo tàng hóa của Cảnh Đức Trấn dường như còn giữ nguyên, và khu vực sản xuất công nghiệp, quy mô được chuyển tới một nơi khác xa trung tâm để tránh ô nhiễm. Thế nhưng, hiện nay ở Việt Nam, khu vực làng nghề của các trung tâm sản xuất gốm không được bảo tồn. Bát Tràng đang bị đô thị hóa mà không tìm đâu ra một khu Bát Tràng để du khách hiểu được những vấn đề vô cùng hấp dẫn của làng nghề này. Thủ Dầu Một, Biên Hòa phát triển theo hướng khu công nghiệp mà lẽ ra, trong quy hoạch, phải có một bảo tàng, một khu lò gốm cổ, một nơi sản xuất mang tính lưu niệm… mà ở Cảnh Đức Trấn, chúng tôi đã thấy vô cùng hiệu quả. Những chủ nhân của Cảnh Đức Trấn bảo rằng, đó là việc làm đầu tiên khi Trung Quốc mở cửa và hội nhập. Trong khi ấy, Chu Đậu, không hướng tới điều này đầu tiên, mà sừng sững một nhà máy sản xuất gốm giả cổ, phải chăng là một hướng đi thiếu tính bền vững và ít lưu tâm tới giá trị truyền thống.
Những làng gốm nhỏ như Phù Lãng, Hương Canh, Thổ Hà đang phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu định hướng, ít lưu ý tới giá trị truyền thống, được coi là một trong những tài sản vô cùng lớn lao của các làng gốm ấy, đã không được đặt ra như một bí quyết của sự phát triển, chắc chắn sẽ giống như Bát Tràng hôm nay.

3. Giá trị truyền thống của các làng nghề, của các ngành nghề thủ công nói chung và các làng và nghề gốm Việt Nam nói riêng, còn vô cùng nhiều, chứa đựng ở di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, nhưng dường như tất cả chưa được đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống, theo đó nhận diện những giá trị gì cần được đổi mới, cách tân phù hợp với xu thế mở cửa và hội nhập, giá trị gì đã lỗi thời, cần được đào thải. Đó là trách nhiệm của những người làm công tác bảo tồn, bảo tàng, các nhà nghiên cứu, qua những nguồn kinh phí đầu tư của nhà nước trung ương và địa phương, của các tổ chức quốc tế… Tuy nhiên, chủ thể, mà trong đó, chủ yếu là cộng đồng làng nghề, cần phải nhận nhìn vấn đề này một cách chủ động hơn, theo tư duy xã hội hóa, chắc chắn hiệu quả sẽ cao hơn và có tính tích cực hơn, nhằm phát huy thương hiệu của làng nghề thủ công, mà những sản phẩm của những làng nghề ấy ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế đất nước.
Gốm Việt Nam là một trong những ngành nghề có thế mạnh, có ưu thế phát triển trong hiện tại, cũng như trong lai. Vấn đề là, tất cả chúng ta, hãy chung tay góp sức để nghề gốm Việt Nam phát triển theo hướng bền vững.

__________________ khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

PHẦN GIỚI THIỆU KIẾN THỨC MỸ THUẬT VIỆT NAM

KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Đón chào Thăng Long 1000 năm tuổi . Blog Khanhhoathuynga và Diễn Đàn Sưu Tầm hân hạnh giới thiệu đến các bạn những tư liệu mỹ thuật qua các triều đại Lý , Trần , Lê , Tây Sơn , Nguyễn . Để các bạn tham khảo và nghiên cứu , hỗ trợ kiến thức sưu tầm của các bạn .

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính sưu tập và cung cấp cho diễn đàn . Thay mặt Diễn Đàn xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>


MỸ THUẬT THỜI LÝ

MỸ THUẬT THỜI LÝ

Cuối thế kỷ thứ 10 , nước ta thoát ách đô hộ phương Bắc .trải qua hai triều Đinh , Lê thống nhất nước nhà và chống tái ngoại xâm , đến thời lý , nghệ thuật phát triển thăng hoa với bản sắc riêng nhằm hóa giải những ảnh hưởng cuả văn hóa Trung Hoa.

Hai triều Đinh , Lê đã tạo dựng một nhà nước có chủ quyền .Triều Lý nắm quyền có ý thức phục hưng văn hóa dân tộc trên tinh thầncó sự giao thoa với văn hóa Chăm-Ấn đã tạo cơ sở cho nghệ thuật tạo hình phát triển.Thêm vào đó , việc Phật Giáo trở Quốc Giáo, tăng lữ có vị trí tinh thần trọng yếu đạo Phật được phổ cập đã là nhân tố tác động vào hướng phát triển và phong cách nghệ thuật . Việc nước Đại Việt độc lập , tự chủ, đủ sức mạnh chống ngoại xâm, trải qua nhiều năm thái bình thịnh vượng cũng có tác động không nhỏ .

Nhà Lý ( Lý triều ) còn được gọi lànhà Hậu Lý( để phân biệt nhà Tiền Lý của Lý Nam Đế )là một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam , bắt đầu khi vua Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009 sau khi giành quyền lực từ tay nhà Tiền Lê và chấm dứt khi vua Lý Chiêu Hoàng ,khi đó mới 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là 216 năm.Quốc hiệu Đại Việt của Việt nam có từ tháng 10 âm lịch năm 1054 khi vua Lý thánh Tông lên ngôi . Ở thời này có sự kiện đáng nhớ là việc dời  đô Hoa Lư, một nơi xa đồng bằng Bắc Bộ , thưa dân , hiểm trở ra Đại La , rồi đổi tên là Thăng Long theo hình tượng con rồng , một hình tượng đặc thù của thời này. Quốc hiệu Đại Việt cũng được đặt ở thời kỳ này.

Từ đời Lý,nho giáo bắt đầu có địa vị trong xã hội.Tuy thế ,chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần nho giáo cũng chỉ mới bắt đầu . Số nho sĩ được tạo ra hãy còn quá ít , Phật giáo vẫn chiếm ưu thế và các nhà sư vẫn giữ vai trò quan trọng trong xã hội.

Phật Giáo : Phật Giáo được truyền bá rộng rãi trong quần chúng và có dấu ấn lên mọi sinh hoạt văn hóa . Nhà vua và tầng lớp quý tộc rất tôn sùng đạo Phật .Tất cả tám đời vua nhà Lý, vua nào cũng sùng tín đạo Phật .

Người khởi đầu nhà Lý là Lý Công Uẩn. Trong thời đại của vương triều này,lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính quyền một cách lâu dài đến hơn hai trăm năm , khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tại hơn vài chục năm, ngoài ra nhà Lý còn bảo toàn và mở rộng lãnh thổ của mình . Trong nước , mặc dù các vua đều sung đạo Phật , nhưng ảnh hưởng của Nho Giáo đã bắt đầu lớn dần ,với việc mở trường đại học đầu tiên là Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076) và các khoa thi  để chọn người hiền tài không có nguồn gốc xuất  thân là  quý tộc ra giúp nước . Khoa thi đầu tiên được mở vào năm 1075 .Về thể chế chính trị , đã có sự phân cấp quản lý rõ ràng hơn và sự cai trị đã dựa nhiều vào pháp luật hơn là sự chuyên quyền độc đoán của cá nhân . Sự kiện nhà Lý chọn thành Đại La làm thủ đô ( sau là Thăng Long tức là Hà Nội ngày nay )đánh dấu  sự cai trị dựa vào sức mạnh kinh tế và lòng dân hơn là sức mạnh quân sự để phòng thủ như các triều đại trước.

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM



Read Full Post »

Ấn tượng mỹ thuật Phật giáo trên gốm sứ 3 miền

Festival nghề truyền thống lần 4 (2009) với chủ đề “Nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, lễ hội năm nay vinh danh 3 nghề: Gốm sứ, sơn mài và pháp lam, gắn liền với sự kiện 110 năm cầu Trường Tiền và chợ do thành phố Huế tổ chức quả đã có mổ sự bứt phá khá mãnh liệt.Trước hết phải ghi nhận một điều là khác với những Festival trước, không gian thường tổ chức trong khuôn viên khép kín của trường Hai Bà Trưng. Năm nay, lần đầu tiên sau 4 lần tổ chức không gian được mở rộng trên hầu khắp các trọng điểm của thành phố Huế mà điểm nhấn là đôi bờ sông Hương thơ mộng trên phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, Ban Tổ chức đã dựng lên 11 ngôi nhà rường Huế để trưng bày sản phẩm, giới thiệu kỹ thuật và các công đoạn, quy trình sản xuất của hơn 150 nghệ nhân đến từ 15 làng nghề truyền thống nổi tiếng cả nước. Phía Bắc sông Hương, trên công viên Thương Bạc có sự xuất hiện “hội chợ triển lãm nghề truyền thống Việt Nam” quy tụ nhiều ngành nghề truyền thống khắp cả nước.
festival_01.JPG
Bộ tượng Bồ Tát Di Lặc
festival_02.JPG
Bộ tượng Quán Âm – Di Đà
festival_03.JPG
Quán Âm Chăm
festival_04.JPG
Bồ tát Giám Trai
Như đánh giá chung của các nhà nghiên cứu và sưu tầm cổ vật “gốm sứ và pháp lam” cũng như các nghệ nhân các làng nghề thì Festival nghề truyền thống Huế 2009 là cuộc hội ngộ của gốm Việt lớn nhất từ trước tới nay. Lần đầu tiên, hơn 30 nhà sưu tập cổ vật ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, TP.Hồ Chí Minh đại diện cho 3 dòng gốm sứ Việt hội tụ tại Huế với cuộc trưng bày “Dặm dài đất nước qua các cổ vật”.
Có hơn 600 hiện vật từ các dòng gốm: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên, với sự tham gia của nhà sưu tập danh tiếng như Trần Đình Sơn (TP. HCM), Hồ Tấn Phan (Huế) cùng Đoàn Anh Tuấn và các nhà sưu tầm cổ vật của Trung tâm UNESCO nghiên cứu bảo tồn cổ vật VN với những cổ vật từ văn hoá Đông Sơn đến thế kỷ (TK) 18. Mỗi một cổ vật đều chứa đựng hàng chục câu chuyện kể của lịch sử đất nước và các nhà sưu tầm khác đến từ Hội An (Quảng Nam)…
festival_05.JPG
Quán Âm tịnh thủy
festival_06.JPG
Quán Âm tỉnh tọa
festival_07.JPG
Phù điêu Bồ tát Quán Thế Âm
festival_08.JPG
Những chiếc đèn thờ xưa
Và đúng như chủ đề tôn vinh 3 nghề chính là gốm sứ, sơn mài và pháp lam. Sự “hội tụ” của gốm sứ là nổi trội hơn cả. Thưởng ngoạn các phòng triển lãm gốm sứ và pháp lam từ “Dòng sông kể chuyện” đến “dặm dài đất nước” mọi người đều nhận xét một điều rất thực dụng “quá no”. Nhưng với nững ai quan tâm đến từng mãng đề tài thì vừa đủ. Và theo chúng tôi riêng mãn đề tài mỹ thuật Phật giáo không thôi cũng phải “cảm ơn Ban Tổ chức” lắm rồi.
Những đề tài mỹ thuật Phật giáo như tượng Phật, Bồ tát, những pháp bảo và linh thú Phật giáo cho đến những hoa văn hoa sen, lá đề trên đồ gốm sứ của 3 miền hội tụ về thật là phong phú và đa dạng. Nhiều pho tượng Phật rất lạ có niên đại vào thời Lý-Trần rất đặc biệt. Được sự quan tâm của nhiều nhà sưu tầm và nghiên cứu hên hết là bộ tượng Phật Di Lặc với hai kiểu dáng và hai tính cách khác nhau, một theo truyền thống Trung Hoa và một theo truyền thống Nam truyền.
Và khi đang trong mùa an cư, chư tôn đức khách mời đặc biệt dự khai mạc lại được dịp chiêm ngưỡng pho tượng bồ tát Giám Trai của các nhà sưu tập đến từ (TP.HCM) trưng bày ngay ngắn chính giữa phòng triển lãm. Mặc dầu pho tượng mất đi một chi tiết là chiếc búa trên tay của Ngài chưa sưu tầm lại được nhưng qua nét mặt, thế ngồi và màu men và chất men đã khiến nhiều người xúc động.
Các pho tượng Bồ tát Quán Thế Âm với sự đa dạng trong kiểu dáng cho đến màu sắc và chất liệu gốm men lam mang đặc trưng của tưng vùng miền trong các giai niên đại lịch sử tôn giáo và chính trị khác nhau cũng được rất nhiều người chú ý, chiêm ngưỡng.
Ngoài các tượng Phật và Bồ tát ra các phòng triển lãm cổ vật gốm sứ con trưng bày nhiều pháp bảo khác như lư hương, lư trầm, bình hoa bằng gốm sứ và cả pháp lam nữa. Trong các thể lọai này, có nhiều cổ vật được cho là lần đầu tiên ra mắt công chúng. Đặc biệt là bộ đồ thờ và gia dụng bằng pháp lam thời Minh Mạng Thiệu Trị, Tự Đức của nhà sưu tầm Trần Đình Sơn đến từ (TP.HCM) đã được nhiều người dân và giới nghiên cứu đặc biệt chú ý bởi không những nó là cổ vật quý hiếm mà còn bởi tính “độc bản” của nó.
festival_10.JPG
Một chiếc lư hương
festival_11.JPG
Một quả bồng hoa sen
festival_12.JPG
Bộ đồ thờ bằng pháp lam của NST. Trần Đình Sơn
festival_13.JPG
Một hoa văn lá đề
Nhiều cổ vật mang đề tài mỹ thuật Phật giáo khác như các hoa văn họa tiết hoa sen lá đề bằng gốm sứ và đất nung theo 3 phong cách 3 miền Bắc-Trung-Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng rất phong phú và đa dạng. Những con rồng, con nghê và con chim thiêng (Đại bàn kim sí điểu) mà nhiều người cho rằng đây là lần đầu tiên họ mới thấy được.
Đúng là một dịp người Huế và du khách đến từ các vùng miên khác nhau trên khắp đất nước và cả du khách nước ngoài nữa đã có dịp “no nê”, “mãn nhãn” và được lắng nghe “Dòng sông kể chuyện” và thăm lại truyền thống gốm sứ Việt theo “Dặm dài đất nước” mấy trăm năm các triều đại Lý-Trần-Lê-Nguyễn với hàng trăm hiện vật cổ quý hiếm của dân tộc lần đầu tiên được trình làng…Bài, ảnh Trí Năng – Nguồn từ nigioingaynay.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

LÒ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI BÊN BỜ DIỆT VONG SAU CƠN BÃO LŨ…

TRƯỚC NĂM 75 LÀNG GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN CÓ TRÊN TRĂM HỘ  GIÀ TRẺ TRAI GÁI CẢ LÀNG ĐIỀU LÀM GỐM …..SAU 75 NGHỀ GỐM MAI MỘT DẦN.. DẾN THỜI BAO CẤP CÀNG KHÓ KHĂN HƠN…SẢN PHẨM LÀM RA. KHÔNG ĐỬ CƠM CÔNG PHẦN ĐÔNG  PHẢI BỎ NGHỀ THANH NIÊN TRONG LÀNG PHẢI LÊN THÀNH PHỐ TÌM KẾ SINH NHAI MONG CUỘC SỐNG KHẤM KHÁ HƠN TƯƠNG LAI HƠN…

QUA BAO THĂNG TRẦM CỦA CUỘC SỐNG  DUY NHẤT CHỈ CÒN MỘT LÒ GỐM  CỦA ANH TRỊNH TỒN TẠI ĐẾN NGÀY HÔM NAY NGƯỜI CON ĐỜI THƯ 3 CỦA LÀNG GỐM MỸ THIỆN CHÂU Ổ  CŨNG CHỈ VÌ YÊU LẤY CÁI NGHỀ CÁI NGHIỆP TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG MÀ BÁM GIỮ LẤY ĐẾN NGÀY HÔM NAY  CÓ NHỮNG LÚC KHÓ KHẤN PHẨM LÀM RA  DÙ CHO  KHÔNG ĐỦ NUÔI DƯỠNG LẤY CUỘC  SỐNG HẰNG NGÀY NHƯNG GIA ĐÌNH  ANH VẪN CỐ GẮNG VƯỢT QUA BAO NỖI KHÓ KHĂN CHỒNG CHẤT VẪN YÊU QUÍ CÁI  NGHỀ MÀ SỐNG….

TRƯƠC KIA  BIẾT BAO CHƯƠNG TRÌNH TRÊN BÁO ĐÀI  ĐỊA PHƯƠNG CŨNG NHƯ TRUNG ƯƠNG   BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN  THỐNG HỔ TRỢ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG….. CŨNG ĐÃ ĐẾN THĂM  ĐỘNG VIÊN  VÀ    HỨA…. HẸN…..  NHƯNG CŨNG CHỈ..  LÀ….HEN… HỨA …… Ô..HÔ…  THAN ÔI….

ĐẾN CƠN BÃO LỤT HÃI HÙNG VỪA QUA NHÀ CỬA VÀ DUY NHẤT CÁI LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG MỘT THỢI LIỆT OANH ẤY  …GIỜ CHỈ CÒN ĐỐNG GẠCH VỤN…ANH TRỊNH PHẢI XA NHÀ VÀO SÀI GÒN TÌM CÔNG ĂN VIỆC LÀM GỞI TIỀN VỀ GIÚP GIA ĐÌNH  …MỘT DÒNG GÓM  TRUYỀN THỐNG  VANG BÓNG  MỘT THỜI ………..BÊN BỜ DIỆT VONG

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI

NHỮNG SẢN PHẨM GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN  MÀ ANH EM MÌNH SƯU TẦM  CÓ ĐƯỢC LƯU GIỮ ĐẾN CHO NGÀY HÔM NAY LÀ  NƠI XUẤT PHÁT TỪ LÀNG GỐM NẦY CÓ TRÊN 200 NĂM LỊCH SỬ BIẾN THIÊN CỦA ĐẤT NƯỚC….

SÔNG TRONG ĐỜI SỐNG … CŨNG CHỈ Ở TẤM LÒNG…..

TÙY DUYÊN HẠNH NGỘ

NHỮNG AI YÊU MẾN GỐM VIỆT

HÃY CỨU  GIÚP VÀ GIỮ LẤY CHO MAI SAU  MỘT GIÒNG GỐM TRUYỀN THỐNG…. BÊN BỜ DIỆT VONG….

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÁI

GỐM CHÂU Ổ ĐÃ NUNG MỘT LẦN SAU ĐÓ XỐI THÊM

MỘT CHẤT MEN TRUYỀN THỐNG ĐEM NUNG LẦN NỮA

MỚI THÀNH SẢN PHẨM RA LÒ…..

ĐÔI CHÉ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN VỚI MÀU MEN TRUYỀN THỐNG…

XIN MẠO MUỘI ĐĂNG LẠI BÀI BÁO CỦA THẦY

DIỆP ĐÌNH  HOA VIẾT VỀ LÒ GỐM CHÂU Ổ NẦY ĐÃ ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY XUÂN 2007

LÒ GỐM CHÂU Ổ_QUẢNG NGÃI

SỰ TỒN VONG CỦA MỘT LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG

Châu Ổ, nay là thị trấn huyện lỵ của Bình Sơn, theo nhân dân kể lại,vốn có một lịch sử lâu đời ba bốn trăm năm. Theo bảng tông đồ ghi các phả hệ hiện đang treo ở nhà từ đường thờ tổ nghề gốm ở Châu Ổ, thì có thể xác định sự khai sinh ra làng gốm này có thể đã xảy ra từ khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Bên trái, ngoài sân nhà thờ tổ, có một nhà bia nhỏ, với một tấm bia bằng đá ngũ hành, hai mặt có khắc chữ,nhưng chữ đã mờ không thể đọc được.Vài chữ còn lại cho biết bia được dựng từ thời Bảo Đại, nhưng năm tháng cụ thể còn cần phải mày mò đoán định thêm. Dù sao qua việc khảo sát các di tích khảo cổ và lịch sử ở Quảng Ngãi, cũng như vùng KonTum, có thể thấy rằng vào khoảng nửa sau của thế kỷ XIX, hiện vật cũng như các mảnh của lò gốm Châu Ổ đã tồn tại phổ biến và đều khắp. Các ché rượu cần xuất xứ từ lò gốm Châu Ổ, vẫn còn là một phần tài sản quý giá của các dân tộc ít người vùng bắc Tây Nguyên.

Sau 1975 những người làm gốm hợp lại thành Hợp tác xã gốm Châu Ổ. Khi chúng tôi đến khảo sát, cả làng chỉ tồn tại một hộ gia đình làm gốm. Tất cả đều đã chuyển sang nghề khác. Một hộ còn lại giữ vững truyền thống đương đầu thách thức với sự khắc nghiệt cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Nguyên liệu đất sét trước đây mua ở trong làng, về sau mua ở các làng lân cận. Cách xử lý mua nguyên liệu theo phương pháp cổ truyền. Đất sét mua về, ủ cho khô nỏ, xong chặt vụn nhỏ ra, nhào nhuyễn, không pha cát hoặc các phụ gia khác. Quá trình tạo dáng được hình thành trên bàn xoay chậm. Một người đứng vê đất thành những con trạch trên một chiếc bàn dài. Người này đứng một chân, làm trụ, còn mâm phải đạp mâm bàn xoay. Người tạo gốm ngồi xổm trên một đòn kê, đặt con trạch được vẽ xong lên một khe nhỏ đặt trên bàn xoay gốm. Khay quay cùng bàn xoay để tạo cùng dáng vuốt thành hình. Sau khi tu sửa, vuốt lại hiện vật, người thợ mới bưng khay ra, thay khay khác, tiếp tục công việc.

Người tạo hoa văn lấy hiện vật được tao dáng xong gắn lên những hoa văn đát nổi: Con sóc, rồng, hoa, nhũ đinh…., quá trình tạo dáng hoàn tất, hiện vật được phơi trên sân nhà cho se lại.

Lò nung gốm theo kiểu lò cóc, nhưng có phần nung gốm theo kiểu lò hộp. Nhiên liệu dùng bồi, củi, trấu. Hiện vật được sắp xếp vào lò nung trực tiếp, không cần bao nung.

Cung cách sử dụng bàn xoay chậm ở đây tương tự như cách sử dụng của các lò gốm Hương Canh ở Vĩnh Phúc vào những năm 60 của thế kỷ trước. Sản phẩm làm ra như gốm Phụ Lãng sành có men, có hai loại một loại sành co men màu da lươn và một loại sành tự nhiên, được sản sinh do quá trình nung làm cho ô xít nhôm có trong đất sét bị mu- lít hóa. Loại này khác với gốm Phụ Lãng vì hiện vật được nung xong mang màu sắc tím đậm ngã xanh, thể hiện đặc sắc của cá tính địa phương Châu Ổ. Sắc màu của gốm này khiến chúng ta liên tưởng đến màu sắc của những hiện vật gốm trang trí trên nóc của các tháp Chăm trong vùng. Phải chăng đây là một truyền thống địa phương được hình thành bền vững do chất liệu đát và kỹ thuật nung, hình thành trên một sự tương đồng dai đẵng về mặt truyền thống, tuy rằng ông tổ của người làm gốm ở Châu Ổ vốn là thợ nghề từ đất Thanh Hóa di cư vào.

Những dáng bình đặc trưng của gốm Châu Ổ là các loại bình cắm hoa để thờ tự, các loại vò lớn, nhỏ để đựng nước rượu. Những vò to được gọi là ché. Các loại hủ, tĩn, ang, chum, vại để đựng các laọi mắm, chượp nước mắm. Gốm Châu Ổ là một loại đựng thích hợp nhất để đựng các chất mặn: chượp nước mắm. Ngày nay, tuy nhiều người biết đồ nhựa dùng để đựng các chất này độc nhưng vì thuận tiện cho nên đồ nhựa đã thay thế dần vai trò của loại gốm Châu Ổ.

Đúng ở góc độ của kỹ thuật học, lò gốm Châu Ổ vẫn còn bảo lưu tính chất cổ truyền của công cuộc chế tạo đồ gốm nguyên thủy. Đây là kỹ thuật dùng dải cuộn kết hợp với bàn chân xoay chậm. Kỹ thuật này đã tồn tại ở làng gốm Hương Canh, Vĩnh Phú vào những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.Sang những năm bảy mươi, bàn xoay Hương Canh được chuyển động nhờ một mô tơ điện. Làng gốm Bát Tràng những năm hai mươi của thế kỷ trước đã dùng một mô tơ điện.

Lò gốm Châu Ổ hiện nay còn phát triển được là do có những đơn đặt hàng  từ các khách sạn ở Hội An. Gốm Châu Ổ là những vật trang trí trong các ngôi vườn nhỏ của các khách sạn. Dù sao thì mẫu mã cũng đơn điệu, nhung có thể là hướng phát triển trong tương lai của gốm Châu Ổ. Phát triển được hay không lại phụ thuộc vào những người chơi sành điệu, biết khám phá ra những nét đẹp truyền thống của gốm Châu Ổ. Đây cũng là con đường của gốm Chăm ở Bàu Trúc, Ninh Thuận. Làng gốm Châu Ổ chắc không thể đi theo con đường của làng gốm Hương Canh, từ một hợp tác xã lớn trở thành một làng sản xuất ngói, rồi chuyển thành một làng sản xuất gạch. Đối với lang gốm Châu Ổ, theo cách nhìn thông thường, sự phát triển của một làng gốm trù phú đến hiện tượng nay chỉ còn một nhà sản xuất, xem ra xu thế phát triển của truyền thống trước áp lực của việc hiện đại hóa, sự mai mọt dần phải chăng là xu thế tất yếu của qui luật phát triển lịch sử. Với một cách nhìn khác theo chiều sâu, một nhà còn tiếp tục sản xuất gốm có nghĩa là họ đang cố gắng vươn lên trên cơ sở của một gia tài truyền thống lâu đời. Hiện tượng nay cũng đã có tiền lệ như làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh. Một bước ngoặt mới đầy thử thách với truyền thống gốm Châu Ổ.

Bài của Nhà sưu tập Lâm du Xenh đăng trên trang Phố Mua Bán ngày 01/11/09

Sắc vàng làng gốm

Gốm trong ký ức

Nhiều năm trước, có lần tôi ngồi hàn huyên với nhà thơ Đoàn Vi Thượng và họa sĩ Phạm Cung ở Sài Gòn. Câu chuyện đưa đẩy đến nghề làm gốm của quê nhà Quảng Ngãi. Đôi mắt họa sĩ rưng rưng ngấn nước. Thì ra ông chào đời và suốt tuổi ấu thơ gắn liền với gốm Mỹ Thiện, Châu Ổ

Họa sĩ kể rằng, chẳng hiểu tại sao ông lại yêu tiếng giọt mưa rơi vào những chum, những vại của mẹ ông để ngoài hiên đến thế. Nghe không “đã” tai, ông đi dạo quanh khắp các bờ rào trong làng, nhặt gom những mảnh sành vỡ về chất đầy cả góc nhà. Mỗi khi trời mưa, ông mang ra đặt dưới giọt mái tranh rồi ngồi nghe từng chuỗi âm thanh lạ lùng, kỳ diệu ngân vang. Khi thì tiếng sầm sập, đùng đục như bầy ngựa khua vó trên đường. Lúc thánh thót, du dương như tiếng đàn tranh quấn quýt. Lại có khi nghe róc rách như con nước chảy qua gành đá. Mưa gần tạnh, thỉnh thoảng rớt tiếng “bum”, “bum” như âm thanh trống lệnh của đội chèo bả trạo diễn trình, một loại hình nghệ thuật dân gian rất đặc trưng ở vùng đất này.

Tiếng đất kỳ quặc ấy ám ảnh ông mãi. Khi đã là họa sĩ thành danh, vì tình yêu mến với người bạn vong niên – thi sĩ Bùi Giáng, Phạm Cung đã về quê nhà mang đất vào để nặn chân dung thi sĩ. Chân dung sống động, biến đổi. Tùy theo ánh sáng chiếu vào mà khuôn mặt Bùi Giáng rất nhiều biểu cảm, tỏ lộ cả hỉ, nộ, ái, ố. Nhiều người muốn có bức tượng này, kể cả những người ở quốc gia khác, nhưng Phạm Cung vẫn một lòng giữ lại, bởi theo ông có cái còn quý hơn bạc vàng!

Sau này tôi được ông Long Cương – Nguyễn Đức Tập ở thị trấn Sơn Tịnh cho biết thêm về gốm Châu Ổ. Khoảng năm 1959 ông đã tiếp xúc với một nghệ nhân họ Trần chuyên làm lọ độc bình tráng men màu vàng sẫm. Điều lạ là trên chiếc độc bình nào cũng vẽ hoa văn rồng, trúc và đều có bài thơ chữ Hán minh họa: Văn minh khai triết mạc/ Hoa cấp hiến tân đồ/ Bạc kỹ cung thường phẩm/ Bình Sơn cổ sở vô. Ông dịch qua thơ lục bát: Văn minh màn triết mở ra/ Đồ hình mới được bút hoa vẽ vời. Vật thường cung ứng cho đời/ Bình Sơn ngày trước chưa người làm nên.

Qua những người tôi có dịp thưa chuyện, tự nhiên chợt thấy mình quá đỗi hời hợt với quê hương. Chỉ hơn 20 km đường từ thành phố Quảng Ngãi đến Bình Sơn, vậy mà tôi cứ dửng dưng đi qua, chưa một lần ghé lại.

Còn một móc neo

Cả làng gốm, giờ chỉ còn anh Đặng Văn Trịnh tiếp tục sản xuất. Hàng anh làm ra tới đâu, bán tới đó. Thu nhập bình quân 15 triệu đồng mỗi tháng. Khách hàng chủ yếu là Đà Nẵng, Hội An. Ngoài những đồ gốm gia dụng như vò, ghè, chum, ảng, chậu phong lan… anh còn sản xuất gốm giả cổ và gốm trang trí  cho khách đặt hàng. Là một người lâu năm trong nghề, anh tự hào rằng, bất cứ mẫu hàng nào hễ có khách yêu cầu, anh đều có thể làm được. Những người tài hoa như anh trước kia không hề hiếm.

Ông Thuần nói với tôi, chưa biết làng gốm Mỹ Thiện được hình thành từ năm nào. Nhưng theo “Quảng Ngãi tỉnh chí” (1933) thì toàn tỉnh có các lò gốm ở Đông Thành, Đại Lộc (Sơn Tịnh), Thạnh Hiếu, Chí Trung (Đức Phổ), Bồ Đề (Mộ Đức), trong đó Mỹ Thiện là nổi tiếng nhất. Nhờ nằm ở vị trí thuận tiện, sản phẩm xuất lò được vận chuyển đi các nơi dễ dàng. Có thời sản phẩm qua cửa biển Sa Cần đã ra tới Đông Hà, Đồng Hới, Vinh… vô tận Bình Định, Khánh Hòa. Còn trong tỉnh thì theo đường bộ hoặc đường sông, ngược lên miền núi xa xôi.

Đến năm 1964, qua trận lụt lớn, lạch Bến Củi bị bồi lấp một phần. Chi phí sản xuất như đất, chất đốt, vận chuyển đã tăng cao nên một số gia đình tìm kế sinh nhai khác. Nhất là sau này, vào những năm 1988 – 1989, học theo cách tráng men của Bát Tràng không thành công, hầu hết các lò đốt cầm chừng, rồi sau đó không cạnh tranh nổi với gốm sứ ngoài Bắc, trong Nam và hàng nhựa nên các lò tự giải tán.

Cách pha men cổ truyền, hiện nay chỉ còn ông Đặng Thạnh. Ngoài các loại men chính như men màu đen, men vàng và men nâu sành, ông còn gia giảm, loại bớt để sản phẩm có các màu xanh ngọc, da lươn, men chảy, vàng rạn da… Sản phẩm làm ra nay ế ẩm, nhưng bàn tay hay lam, hay làm của ông không nghỉ được. Ông gởi vào lò của anh Trịnh (con trai ông) một ít gốm mộc rồi hàng ngày tòn tơn quảy ra chợ huyện bán để khỏi quên nghề. Còn ông Hồ Duy Khánh thì ghi chép lại tất cả các công đoạn, bí quyết nghề làm gốm. Nhìn quyển vở học sinh nhem nhuốc những chữ viết, những hình vẽ các kiểu lò, cách tạo hình các sản phẩm, cách chế tác các vật dụng lớn… không ai khỏi chạnh lòng, bởi một làng nghề sắp bị biến mất.

Cũng may làng còn có anh Đặng Văn Trịnh, được xem như một móc neo cuối cùng giữ lại nghề gốm Mỹ Thiện. Độc đáo nhất của tay nghề anh là ở kỹ thuật hỏa biến và nước men vàng. Gốm hỏa biến là sự sáng tạo của lửa nên đầy bất ngờ, thú vị. Lúc sản phẩm ra lò, lòng người thợ cũng hồi hộp, bâng khuâng như cuộc hò hẹn tình yêu đầu đời. Màu vàng của men tựa sắc mai xuân; óng ả, quý phái, dịu dàng như lụa. Cầm trên tay, lúc này sản phẩm gốm không phải là đồ vật vô tri, chỉ có giá trị sử dụng, mà sinh động, đẹp như tác phẩm nghệ thuật, nhìn mãi không chán mắt.

Tất cả những ngón nghề trên, anh Trịnh đều mong muốn truyền lại. Lò gốm của anh nằm trong khu dân cư nên mỗi lần nổi lửa đều gây phiền phức cho hàng xóm. Nhất là mùa mưa, trời nặng, khói không bốc lên được. Muốn mở mang nghề và thu nhận thêm người, đòi hỏi phải có một diện tích đất tương đối rộng. Anh ao ước, giá như được huyện Bình Sơn quy hoạch cho khu đất làm gốm riêng biệt, anh sẽ gom hết số thợ đang tha phương cầu thực quy về một mối để trao truyền nghề.

Đời sống mỗi ngày một khá hơn. Những ngôi nhà sang trọng, những ngôi biệt thự, nhà hàng chen nhau mọc. Tôi đã từng chứng kiến nhiều chủ nhân ra tận Bắc Ninh, Quảng Nam, vào tới Đồng Nai, Bình Định mua đồ gốm về trang trí trong nhà. Vậy mà ngay tại Quảng Ngãi, một làng nghề truyền thống có hàng mấy trăm năm đang trôi về phía lụi tàn. Mong có những bàn tay chặn lại.

V.HIỀN

bài viết của nhà báo HIỀN VĂN ra ngày 15-3 2009 BÁO QUẢNG NGÃI CHỦ NHẬT
một số sản phẩm cổ của lò gốm Mỹ Thiện:


* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »