Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm sứ’

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm khai mạc triển lãm “Làng nghề truyền thống người Chăm Ninh Thuận”. Từ ngày 23 tháng 07 năm 2014 đến hết ngày 30 tháng 08 năm 2014 .

 

Hình ảnh  : khanhhoathuynga

MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

This slideshow requires JavaScript.

Advertisements

Read Full Post »

Căn cứ Luật di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa;

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Di sản văn hóa;

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định loại di vật, cổ vật không được mang từ Việt Nam ra nước ngoài.

2. Loại di vật, cổ vật quy định tại Thông tư này không áp dụng đối với trường hợp di vật, cổ vật được mang ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc mang di vật, cổ vật từ Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 3. Loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài

1. Cá thể hoặc bộ phận hóa thạch người, động vật, thực vật thuộc thời kỳ Tiền sử Việt Nam;

2. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc thời kỳ Tiền sử và Sơ sử Việt Nam;

3. Tài liệu bằng các chất liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, chủ quyền quốc gia Việt Nam và anh hùng dân tộc, danh nhân có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia Việt Nam;

4. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc các giai đoạn lịch sử Việt Nam trước tháng 9 năm 1945;

5. Bản thảo tác phẩm văn học, bản gốc tác phẩm tạo hình (hội họa, đồ họa, điêu khắc), tác phẩm nhiếp ảnh có giá trị cao về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội được sáng tác từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

6. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và kiểm kê;

7. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học của các dân tộc thiểu số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sản xuất, sáng tạo trước năm 1975;

8. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu liên quan đến các sự kiện quan trọng và sự nghiệp của các Nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu, Nhà hoạt động chính trị, quân sự xuất sắc trong thời kỳ thành lập Đảng, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

9. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có xuất xứ từ nước ngoài (trừ trường hợp tạm nhập khẩu – tái xuất khẩu).

Danh mục cụ thể loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài được ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 4. Điều khoản thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2013.

2. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.

3. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.

 

BỘ TRƯỞNG

(đã ký)

Hoàng Tuấn Anh

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, bên cạnh Thảo cầm viên. Đây là nơi bảo tồn và trưng bày hàng chục ngàn hiện vật quí được sưu tầm trong và ngoài nước Việt Nam

Ngày 18 tháng 2 năm 1927 nhà sưu tập Holbé qua đời , đề lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 bạc Đông dương ( một số tiền lớn lúc bấy giờ ) . Sau khi vận động một số nhà hảo tâm mua bộ sưu tập lớn đương thời là sưu tập Holbé với hàng ngàn hiện vật, hội Nghiên cứu Đông Dương đem tặng toàn bộ hiện vật mà họ sở hữu cho nhà nước thuộc địa và đề nghị chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ thành lập Viện Bảo tàng với điều kiện hội được đóng trụ sở và đặt thư viện trong Bảo tàng.

ngày 24-11-1927, Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse ra nghị định thành lập Musée de la Cochinchine tức Bảo tàng Nam kỳ với trụ sở được chọn như hiện nay là tòa nhà lớn đang chuẩn bị xây vào năm sau đó: Năm 1928 – trong Thảo Cầm viên Sài gòn (ở phía trái cổng vào) do kiến trúc sư Delaval vẽ kiểu, mà trước đây dự kiến làm Musée du Riz (Bảo tàng Lúa gạo), sử dụng chung cổng ra vào với Thảo Cầm Viên.

Về mặt quản lý  , trong nghị định thành lập  , Bảo tàng Nam kỳ có quy chế riêng  trực thuộc trường  Viễn Đông Bác cổ , nhưng hội nghiên cứu Đông Dương lại được đặt trụ sở trong Bảo tàng  . Vì vậy  ngày  8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội  nghiên cứu Đông Dương là Jean Bouchot đồng thời cũng là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ được cử làm Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng  ( tương đương chức Giám Đốc  ) . Sau đó, có lẽ vì muốn cho thấy vai trò của người Pháp trong việc hình thành hệ thống Bảo tàng ở Đông Dương nên ngày 6-8-1928, lại có một nghị định đổi tên Bảo tàng Nam kỳ thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse  tức lấy tên người ký nghị định thành lập Bảo tàng làm tên Bảo tàng –  và ngày 1-1-1929 Bảo tàng chính thức ra mắt công chúng.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse là như sau: “… có mục đích tập trung và gìn giữ tất cả các vật cũ ở Đông dương có tính cách mỹ thuật và khảo chứng, đặc biệt là những vật tìm thấy trong những dịp đào đất hay làm công tác gì trên địa hạt Nam kỳ, kể cả những vật điêu khắc riêng biệt mà sự bảo vệ khó thực hiện được chu đáo ở nơi phát hiện vì tình thế, chất liệu hoăc kích thước của vật đó.”

Trong 18 năm tồn tại dưới chính quyền thực dân Pháp . Bảo Tàng Blanchard de la Brosse   trải qua  2 đời Giám Thủ  :

1.    Jean Bouchot : nhà nghiên cứu, Giám thủ từ năm 1928-1932.
2.    Louis Malleret: nhà khảo cổ học, Giám thủ từ năm 1932-1946.

Năm 1945, sau khi Cách Mạng tháng 8 thành công,  Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo Tàng Viện. nhưng thực ra chính quyền người Việt ở Nam  Kỳ không  nắm quyền quản lý Bảo tàng mà phải theo mô hình  cũ cũng như nhờ đến sự trợ giúp của người Pháp , đã có những người Pháp do trường Viễn Đông Bác Cổ  biệt phái tiếp tục thay nhau làm Giám Thủ Bảo Tàng  :

1/Louis Malleret , tiếp tục được lưu dụng  1946 – 1948

2/Pierre Dupont  , nhà nghiên cứu – 1948 – 1950

3/Bernard Groslier , chuyên gia nghiên cứu văn hóa Champa -1951-1954

Từ năm 1948 Vương Hồng Sển đã vào làm việc tại Bảo tàng, đến năm 1954 khi cử Vương Hồng Sển làm Quyền Giám thủ, chế độ Sài gòn mới thực sự quản lý Bảo tàng, Bảo tàng không còn trực thuộc hội Nghiên cứu Đông Dương cũng như không còn các nhân viên người Pháp nữa.

Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, chính quyền Sài gòn đổi tên Bảo tàng Blanchard de la Brosse thành viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam (Sài Gòn). Dưới chế độ Sài gòn, về mặt quản lý, Bảo tàng cũng có quy chế riêng trực thuộc Viện Khảo cổ của bộ Quốc gia Giáo dục (sau là bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên) chính quyền Sài gòn nhưng căn phòng phía sau đại sảnh bát giác vẫn còn dành cho hội Nghiên cứu Đông Dương làm thư viện hội.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam tại Sài Gòn được quy định rất đơn giản

*Nghiên cứu sưu tầm và trưng bày trong viện những di tích và các  tài liêu cổ  thời  thuộc về mỹ thuật , sử học , cổ học và nhân chủng học gồm chung của nước Việt Nam cũng như các nước lân cận hoặc đồng hóa : Trung Hoa , Nhật Bản , Cao  Ly , Cao Miên , Phù Nam , Lào , Thái Lan , Tây Tạng , Ấn Độ , Cổ Chiêm Thành …

*Tập trung về một chỗ và tàng trữ chung tại Viện  những cổ vật hoặc di tích còn ẩn tàng trên lãnh thổ Việt  Nam …

Từ năm 1956- 1975 Bảo tàng đã được quản lý bởi các quản thủ sau:
1.    1956-1964:Vương Hồng Sển, nhà nghiên cứu
2.    1964-1969: Nguyễn Gia Đức, kiến trúc sư
3.    1969-1975: Nghiêm Thẩm, giáo sư Dân tộc học.

.

Sau ngày 30 tháng 4  năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8  năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.

Bảo tàng  Lịch Sử có chức năng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc qua các hoạt động nghiên cứu , sưu tầm , giám định , kiểm kê , bảo quản , bảo vệ , phục chế , phục hồi , trưng bày , thuyết minh , tuyên truyền , xuất bản , ấn phẩm , maketing … giới thiệu các  tư liệu , hiện vật có liên quan đến lịch sử VN , các nước trong khu vực  nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ VN  , đáp ứng  thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu  , nghiên cứu  cũng như thưởng ngoạn của khách tham quan trong và ngoài nước  về lịch sử và các  sưu tập cổ vật

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng hiện có 2 nội dung :

1/  Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến hết thời Nguyễn (1945) với 10 phòng trưng bày:

* Việt Nam thời Tiền sử

*Thời Hùng Vương

*Thời Đấu tranh giành độc lập dân tộc

*Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý

*Thời Trần

*Văn hoá Champa

*Văn hoá Óc Eo

*Thời Lê

*Thời Tây Sơn

*Thời Nguyễn

2/ Một số sưu tập về lịch sử – văn hoá các nước trong khu vực với 8 phòng và khu trưng bày:

* Tượng Phật một số nước Châu Á:

*Súng thần công thế kỷ 18-19

*Điêu khắc đá Campuchia

*Gốm một số nước Châu Á

*Xác ướp Xóm Cải (TPHCM)

* Sưu tập Vương Hồng Sển

*Văn hoá các thành phần dân tộc phía Nam

*Một phòng trưng bày ngắn hạn luân phiên trưng bày từ 3 đến 9 tháng, giới thiệu những sưu tập cổ vật mới phát hiện.

 

Vị trí và Kiến Trúc

Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn  năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá (do chúa Nguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc  làm nơi dạy dỗ Hoàng Tử Cảnh ).

Công thự do kiến trúc sư người Pháp  Delaval thiết kế theo lối Đông Dương cách tân và được hãng  thầu  Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong  3 năm : 1926 – 1927 – 1928

Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái củaKinh Dịch ) có 2 nóc mái lợp ngói  ống, có gắn vật trang trí hình phụng , hình rồng  cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu tố của kiến trúc cổ Trung Quôc ..

Vào những năm đầu 70 của thế kỷ 20, Bảo tàng được mở rộng diện tích bằng việc xây thêm phần sau dạng chữ U theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa.

Thông tin bạn cần biết :

Tại Bảo tàng Lịch sử, quý khách còn có thể tham quan:

1. Đền thờ Hùng Vương- một công trình xây dựng đầu thế kỷ 20 theo kiến trúc cổ Phương Đông được công nhận “Di tích cấp nhà nước” năm 2012- từ năm 1956 được chọn là nơi thờ kính, tưởng nhớ các vua Hùng và các vị Tổ tiên thành lập nước Văn Lang.

2.  Tra cứu tư liệu tại Thư viện Bảo tàng với trên 12000 đầu sách có niên đại từ thế kỷ 19 đến nay với các loại ngôn ngữ: Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nhật, Thái…(trước đây là thư viện của Hội Nghiên Cứu Đông Dương, thành lập từ cuối thế kỷ 19).

3. Xem trình diễn Múa Rối Nước- một hình thức biểu diễn văn nghệ dân gian của nước Đại Việt xuất hiện từ hơn 1000 năm trước.

4. Mua sách về cổ vật cũng như những vật dụng kỷ niệm và thưởng thức café trong shop Bảo tàng…

*Giá vé người lớn : 2000 đ

*Miễn phí cho trẻ em từ 15 tuổi trở xuống tham quan Bảo tàng trong dịp hè ( 2012 ).

*Giờ mở cửa  : 8g – 17g từ thứ ba đến  chủ nhật .

*Thứ hai hàng tuần nghỉ  .

* Chụp hình – quay phim  giá vé : 22.000 đ .

* ĐT : 08.38298146  – 38290268  .

* Email  : btlsvnhcm@yahoo.com


Khanhhoathuynga tổng hợp .

Nguồn tham khảo : Bảo tàng Lịch Sử VN – TPHCM

Trích dẫn môt số bài viết của TS Phạm Hữu Công ( PGĐ  BTLSVN – TPHCM ) .

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P I

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P II –  CỔ VẬT MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P III –

 

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

Read Full Post »

Nằm bên tả ngạn sông Hồng cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 10 km về phía Đông Nam. Bát Tràng là một làng gốm cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam .

Ban đầu xã Bát Tràng  với tên là xã Bát  , làng Bát từ đời nhà Trần  . Thời Lê xã Bát Tràng  thuộc  huyện Gia Lâm , phủ Thuận An Trấn Kinh Bắc . Sang thời Nguyễn năm 1822 trấn kinh bắc đổi thành trấn Bắc Ninh , năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh  . Lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Du , huyên Gia lâm  , phủ thuận An  , đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành  và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn . Sau cách mạng tháng tám 1945 , có một thời gian ngắn từ tháng 2  đến tháng 11 năm 1949 huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên . Năm 1948  xã Bát Tràng nhập với xã Giang cao và xã Kim Lan thành xã Quang Minh . từ năm 1964 tên xã Bát Tràng được khôi phục gồm Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay .

Theo các thư tịch cổ thì nghề gốm xuất hiện ở  Bát Tràng từ thế kỷ thứ XV , nhưng theo những tư liệu thu thập được  ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn . Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình ) về Thăng Long ( Hà Nội ) . Thăng Long trở thành trung tâm chính trị , kinh tế và văn hóa của cả nước , do nhu cầu phát triển của kinh thành  nhiều thương nhân , thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long để lập nghiệp , Thăng Long ngày càng mở mang và phát triển  , một loạt các làng ven đô cũng dần phát triển kinh tế  ,  trong đó có làng Bát Tràng .Do gần kinh thành lại nằm bên bờ sông Hồng  , Bát Tràng có điều kiện giao thông thuận lợi để phát triển công thương nghiệp , đăc biệt ở vùng này lại có nhiều đất sét trắng  ,theo  người dân Bát Tràng ngày xưa ở đây có 72  gò đất sét trắng ,  một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm .Lúc bấy giờ một số thợ gốm Bồ Bát ((xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện    Yên Mô , tỉnh Ninh Bình )   đã di cư về Bát Tràng để lập lò gốm  ,  khi mới đến lập nghiệp ở vùng này , dân Bồ Bát đặt tên cho quê mới của mình là Bạch Thổ Phường , tức phường đất trắng . Khi công việc sản xuất gốm đã ổn định , người dân ở đây đã đổi tên Bạch Thổ Phường  thành Bát Tràng Phường , ý nói là Phường có trăm lò bát . Cuối cùng họ mới đổi tên thành Bát Tràng ( nơi làm bát ) . Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho triều đại nhà Minh  .

Người  dân Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền một huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau :

Vào thời Lý ( 1010 – 1225 ) , có ba vị Thái học sinh ( học vị như Tiến sĩ ) là Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo ) , Đào Trí Tiến  và Lưu Phương Tú ( hay Lưu Vĩnh Phong ) , được cử đi sứ Bắc Tống (  960 – 1127 ) . Sau khi hoàn thành sứ mạng , trên đường trở về nước qua Thiều châu ( Quảng Đông – Trung Quốc ) thì gặp bão , phải nghỉ lại . Ở đây có lò gốm nổi tiếng , ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương .

Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo )  truyền cho Bát Tràng nước men trắng

Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà ( Việt Yên – Hà Bắc ) nước men sắc đỏ

Lưu Phương Tú ( Lưu Vĩnh Phong )  truyền cho Phù Lãng ( Quế Võ – Hà Bắc ) nước men màu vàng thẫm

Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết . Điều đáng lưu ý là theo những tư liệu dân gian này , nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời Lý , ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127 , khoảng đầu thế kỷ XII . Nhưng cho đến nay , chưa tìm thấy tư liệu  lịch sử  nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật trên .

Gốm Bát Tràng rất nổi tiếng ,  địa danh gốm Bát Tràng đã đi vào  thơ  và ca dao tục ngữ . Bằng vốn di sản kinh nghiêm nghề nghiệp những người thợ đã đưa nghề gốm ở đây lên đỉnh cao , những loại gốm quý và độc đáo nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như : gốm men ngọc ( thời Lý – Trần ) gốm men nâu hay gốm hoa nâu ( cuối Trần – đầu Lê ) gốm men rạn ( thời  Lê –  Trịnh )và gốm hoa lam  ( vào cuối thời Nguyễn ) . Nhiều  sản phẩm gốm men ngọc , men rạn  , hoa lam của Bát Tràng rất hoàn mỹ , được coi là đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ thuật gốm ở Việt Nam và đã trở thành  những tác  phẩm nghệ thuật gốm cổ , quý giá .

Sản phẩm gốm Bát Tràng phong phú và đa dạng  , với đôi bàn tay khéo léo của thợ gốm họ đã làm ra những sản phẩm gốm tinh xảo như : độc bình , chân đèn , đôn , bình vôi , nậm , chóe bằng gốm men ngọc và men chảy , hoa lam , men rạn , Trong suốt mấy trăm  năm  nay , gốm hoa lam tiếp tục ra đời khg hề đứt đoạn ở làng gốm Bát Tràng . Song song với các sản phẩm gốm đàn dân dụng , gốm hoa lam của Bát Tràng đã đi vào đời sống nhân dân cả nước  , mà trước hết là các tỉnh Bắc Bộ . Ngoài các mặt hàng truyền thống  , các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của người dân trong khắp cả nước như các loại ấm chén , bát đĩa , lọ hoa ,  đặc biệt là gạch Bát Tràng và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài .  …. Trên các sản phẩm không chỉ được tạo dáng uyển chuyển mà còn trang trí rồng uốn khúc đắp nổi , những hoa lá tinh tế , hoa văn khắc chìm nhìn rất sinh động , ngoài  men trắng ngà cổ truyền , người thợ Bát Tràng cũng biết dùng men màu và vẽ màu dưới men , giữa men , trên men , nhằm tạo hiệu quả huyền ảo cho người thưởng thức sản phẩm gốm Bát Tràng . Việc tìm đất , chọn nguồn đất nguyên liệu thích hợp , tạo ra các loại men từ tro , đất phù sa , đá màu , rỉ đồng . rỉ sắt , cũng như sự cải tiến kỹ thuật lò nung có hiệu quả đã chứng tỏ được tài nghệ của các nghệ nhân và thợ gốm nhiều thế hệ ở Bát Tràng .

Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Hồng , ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến , trên đường thủy nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài  nên các sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi . Từ cuối thời Trần đến thời Lê và đầu thời Nguyễn  một khối lượng lớn gốm các loại của Bát Tràng được xuất khẩu sang nhiều nước  như  : Nhật Bản , Malaixia , Thái lan , quần đảo Java , các nước trung đông , và một số nước châu âu . Trong nhiều gia đình quý tộc , thương gia , và trong một số bảo tàng các nước   cho đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều di vật gốm Việt Nam trong đó có gốm Bát Tràng  .

Trong suốt quá trình nghề gốm của mình , người Bát Tràng luôn luôn ý thức tầm quan trong sống còn của làng nghề là thích nghi với hoàn cảnh biến đổi của nền kinh tế xã hội theo từng thời kỳ , họ nắm bắt nhanh các thành tựu gốm mới và đặc biệt quan tâm  thích ứng với thị hiếu , thẩm mỹ và yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước,  ưu tiên sản xuất các mặt hàng cao cấp đắt tiền , các đồ gốm giả cổ ….xưa kia các lò gốm thủ công tuyệt đối giấu nghề bằng biện pháp ‘’ cha truyền con nối ‘’ Trong đời sống cũng như quá trình sản xuất  người dân Bát Tràng có tinh thần cộng đồng  cao và ý thức bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp . Bí quyết nghề nghiệp đặc biệt khâu pha chế men  được bảo vệ chặt chẽ . bí mật này chỉ được truyền cho con trai và những quy đinh trong các hương ước của làng , hay của dòng họ . Trước đây Bát Tràng có tục lệ trai gái trong làng lấy nhau , con trai có thể lấy vợ ngoài làng nhưng con gái nhất thiết không được lấy chồng ở làng khác  vì sợ để lô  bí quyết nghề của làng . Tục lệ này cũng phai mờ dần và nay  đã được xóa bỏ  .

Hiện nay làng gốm Bát Tràng đang phát triển sản xuất hai chủng loại gốm đó là

gốm giả cổ và gốm hiện đại   .  Khôi phục gốm cổ , người Bát Tràng cũng như các làng gốm khác đang làm sáng lên những giá trị di sản văn hóa  . không chỉ khôi phục , họ còn tìm tòi khai thác các men quý , men đẹp , dáng cổ để tạo ra các mặt hàng mỹ nghệ đặc sắc  đưa sản phẩm gốm Bát Tràng tới đỉnh cao của nghệ thuật .

Bát Tràng là một làng gốm lâu đời , nổi tiếng , có nhiều truyền thống văn hóa  vừa mang những sắc thái công đồng chung của làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ , vừa phản ánh những nét đặc thù của nghề gốm , Ở làng gốm này , mọi lứa tuổi đều có công ăn việc làm , ít thấy trẻ em chạy ngoài đường , hoặc trai tráng ngồi chơi bê tha , các cụ già giỏi nghề , làm việc suốt ngày bên bàn tạo mẫu , hay bên lò nung đang rừng rực lửa . Phụ nữ thì vuốt gốm , phơi gốm , vào lò ….mỗi công đoạn sản xuất đòi hỏi nhiều thao tác , người thợ cần có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao .Sản phẩm của người Bát Tràng là kết tinh của sức lao động cần cù , sự khéo tay và đầu óc thẩm mỹ .Bằng mọi cách để giữ lấy nghề và di sản quý của cha ông .Từ nền tảng đó họ ra sức sáng tạo  để  cho ra đời những sản phẩm gốm là những tác phẩm nghệ thuật  tinh túy  và sống động .

Khanhhoathuynga  tổng hợp .

HÌNH ẢNH GỐM BÁT TRÀNG TỪ THẾ KỶ 14  ĐẾN THẾ KỶ 19

This slideshow requires JavaScript.

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

This slideshow requires JavaScript.

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Tàu cổ Cà Mau là con tàu được khai quật khảo cổ học năm 1998-1999. Đây là con tàu chở hàng gốm sứ xuất khẩu của Trung Quốc đang trên lộ trình từ Quảng Châu sang châu Âu.

Con dầu bằng đá tìm thấy trong tàu Cà Mau. Nó đã được giải mã vởi tác giả Paul A.Van Dyke của trường đại học Ma Cao. Theo tác giả này, ở thế kỷ 18 có khoảng 30 chiếc thuyền Trung Quốc cập cảng Đông Nam Á và mỗi năm một số thuyền đến Batavia (Jakata ngày nay). Họ tên của một số thuyền Trung Quốc được nhắc tới như Zhang, Ye, Cai, Qiu, Yan, Chen và Pan. Dấu ấn bằng đá trong tàu cổ Cà Mau được gọi là Pan Tingcai, tiếng việt là Phan Đình Thái ấn. Ông này có thể là một chủ hàng hoặc là một người giúp thuyền trưởng tàu Cà Mau

Con dấu bằng đá tìm thấy trong tàu cổ Cà Mau. Nó đã được giải mã bởi tác giả Paul A.Van Dyke của trường đại học Ma Cao. Theo tác giả này, ở thế kỷ 18 có khoảng 30 chiếc thuyền Trung Quốc cập cảng Đông Nam Á và mỗi năm một số thuyền đến Batavia (Jakata ngày nay). Họ tên của một số thuyền Trung Quốc được nhắc tới như Zhang, Ye, Cai, Qiu, Yan, Chen và Pan. Dấu ấn bằng đá trong tàu cổ Cà Mau được gọi là Pan Tingcai, tiếng việt là Phan Đình Thái ấn. Ông này có thể là một chủ hàng hoặc là một người giúp thuyền trưởng tàu Cà Mau. Giáo sư Christiaan J.A. Jorg, trong bài “The Ca Mau porcelain cargo” in trong Aucion Catalogue, đã cho rằng hàng gốm sứ trong tàu Cà Mau thuộc 2 phong cách kangxi và loại phong cách (styles): tiếp nối phong cách kangxi và loại mới theo phong cách Yongzheng. Niên đại của tàu cổ Cà Mau là vào khoảng 1.725.

Niên đại của tàu cổ Cà Mau là vào khoảng năm 1725. Giáo sư Christiaan J.A. Jorg, trong bài “The Ca Mau porcelain cargo” cho rằng hàng gốm sứ trong tàu Cà Mau thuộc 2 phong cách kangxi và loại mới theo phong cách Yongzheng.

Trong hình là gốm sứ Trung Quốc. Đồ gốm sứ trong tàu cổ Cà Mau, chiếm số lượng lớn là đồ sứ xanh trắng. Chúng có kích thước khác nhau, đường kính miệng từ 20,5 cm – 29,2 cm, cao từ 2,6 cm – 3 cm. Những cái đĩa cùng kiểu dáng, miệng loe ngang, lòng phẳng, đế thấp và rộng.

Đĩa sứ Trung Quốc. Đồ gốm sứ trong tàu cổ Cà Mau chiếm số lượng lớn alf đồ xứ xanh trắng. Do nhu cầu của thị trường châu Âu mà các lò sứ xuất khẩu của Trung quốc phải đáp ứng mẫu mã mới, theo yêu cầu đặt hàng và kiểu dáng hoa văn của mỗi món đồ. Bên cạnh các chủng loại và đề tài hoa văn truyền thống Trung Quốc còn xuất hiện thêm văn hoa theo phong cách châu Âu.

Cận cảnh chiếc đĩa gốm sứ. Lòng đĩa vẽ phong cảnh thành lũy, mây, sóng nước, cây thông, 3 người đội mũ, áo khoác, đi ủng cao, một người dắt thú. Viền miệng đĩa in gờ uốn vẽ sóng nước hình lưỡi câu. Thành ngoài đĩa vẽ 3 cành hoa lá.

Loại đĩa này được nhiều người biết đến và trang trí của nó thường được mô tả là hậu cảnh Scheveningen, dù trong quá khứ nó được biết đến là phong cảnh Deshinia, nơi người Hà Lan đã chiếm giữ trong nửa cuối thế kỷ 17 và 18. Từ thế kỷ 18, loại đĩa này được gọi là “phong cảnh Scheveningen” trong một danh bạ bán hàng có niên đại 1778.

Đĩa sứ Nhật Bản. Đĩa sứ Trung Hoa dựa phong cách hoa văn châu Âu theo yêu cầu đặt hàng và vì thế gọi là “hàng đặt Trung Quốc” . Theo tài liệu của nhiều chuyên gia khảo cổ, loại đĩa Nhật Bản có trang trí tương tự được sản xuất tại khu vực lò Arita cho Hà Lan vào khoảng năm 1.700. Những tiêu bản đó quen gọi là đĩa “phong cảnh Scheveningen”.

Đĩa loại này dựa trên một mẫu đĩa của thị trấn Delf ở Hà Lan và được đặt bởi người Hà Lan tại Deshima để sản xuất trên diện rộng. Môtíp hoa văn trên đĩa này khá phổ biến trên các loại cốc, đĩa để đồ ăn và vật dụng đồ bếp khác. Hầu hết những loại hình này có niên đại vào khoảng 1/4 đầu thế kỷ 18 mà không còn thấy một mẫu mã nào sau năm 1730.

Loại đĩa sứ hoa lam trong tàu cổ Cà Mau. Đường kính miệng 29,5cm và 37cm, trong lòng vẽ 2 cành hoa lá, xung quanh bổ ô, bên trong vẽ hoa lá cùng biểu tượng của đồ vật quý, cũng là những kiểu loại đồ sứ xanh trắng truyền thống của Nhật Bản sản xuất theo yêu cầu của người Hà Lan.

Trong tàu cổ Cà Mau còn có loại bình có quai, miệng đứng, cổ hình trụ, thân dưới phình, đáy lõm, quai hình khuyên, đường kính miệng 8,5cm, chiều cao từ 20 đến 20,5cm. Trang trí trên loại bình này là phong cảnh nhân vật theo tích cổ Trung Hoa hay hoa lá. (Xem ảnh tr. 158-159, Nguyễn Đình Chiến, 2002). Ngoài ra còn có loại bình có quai, dáng quả đu đủ, đường kính miệng 4,2cm, chiều cao 15,7cm (The Ca Mau, 2009, tr. 187-188). Trang trí trên bình loại này vẽ phong cảnh sơn thuỷ lâu đài, (Ảnh N.24, tr. 13, Đông Tây giao lưu).

Bình sứ Trung Quốc. Trong tàu cổ Cà Mau còn có loại bình có quai, miệng đứng, cổ hình trụ, thân dưới phình, đáy lõm, quai hình khuyên, đường kính miệng 8,5cm, chiều cao từ 20 đến 20,5cm.. Trang trí trên loại bình này là phong cảnh nhân vật theo tích cổ Trung Hoa hay hoa lá.

Ngoài ra còn có loại bình có quai, dáng quả đu đủ, đường kính miệng 4,2cm, chiều cao 15,7cm. Trang trí trên bình loại này vẽ phong cảnh sơn thuỷ lâu đài.

Ngoài ra còn có loại bình có quai, dáng quả đu đủ, đường kính miệng 4,2cm, chiều cao 15,7cm. Trang trí trên bình loại này vẽ phong cảnh sơn thuỷ lâu đài.

Bình sứ Anh (bên trái) và bình sứ Nhật Bản 9 bên phải) Điều lý thú là khi so sánh về loại hình của loại bình có quai này chúng ta thấy sự tương đồng gần gũi giữa bình có quai Cà Mau, niên đại 1725 với loại bình có quai Imari ware Nhật Bản, thế kỷ 17 (ảnh 29) và Bristol ware của Anh, thế kỷ 18 (ảnh 30) (Xem Đông Tây giao lưu, 1984, tr. 15).

Bình sứ Anh (bên trái) và bình sứ Nhật Bản 9 bên phải). Các chuyên gia khảo cổ so sánh loại bình và nhận thấy sự tương đồng gần gũi giữa bình có quai Cà Mau, niên đại 1725 với loại bình có quai Imari ware Nhật Bản, thế kỷ 17 và Bristol ware của Anh, thế kỷ 18.

Bình sứ Trung Quốc.

Bình sứ Trung Quốc. Trong quá trình tìm hiểu về gốm sứ ở tàu cổ Cà Mau, các nhà khảo cổ cho rằng, dù số lượng hàng hoá gốm sứ trên tàu cổ Cà Mau là rất lớn, trong đó một số chủng loại mang phong cách thị hiếu châu Âu, nhưng không đồng nghĩa rằng toàn bộ số hàng hoá này hướng tới Batavia hay đáp ứng cho khách hàng phương Tây.

Trường hợp này cũng tương tự như hàng hoá trong tàu cổ Hòn Cau, xảy ra trước tàu Cà Mau mấy chục năm trước, có khả năng là chuyến hàng đi tới Batavia đề bán cho khách hàng trung gian. Vì ngoài những chủng loại hàng sản xuất từ khu vực lò Cảnh Đức Trấn hàng gốm sứ tàu cổ Cà Mau còn được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau. Do vậy, theo các nhà khảo cổ, hàng hoá này có thể dành cho thị trường Đông Nam Á.

Tình trạng đặc biệt phong phú các chủng loại chén và đĩa dùng cho uống trà, cà phê xuất hiện trong khối lượng hàng hoá gốm sứ tàu Cà Mau cũng là một dẫn chứng cho thấy hàng Trung Quốc xuất khẩu rất mạnh vào cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18.

Các cổ vật trên hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, và được giới thiệu trong một hội thảo ba ngày qua tại Hà Nội về khảo cổ học. Trong hai năm tới, nhiều báu vật khảo cổ của Việt Nam sẽ lên đường sang Đức triển lãm.

Theo vnexpress

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp:

Read Full Post »

Older Posts »