Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm sứ cổ’

VÀI GIAI THOAI VỀ VỊ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA XUẤT THÂN TỪ ĂN MÀY – CHU NGUYÊN CHƯƠNG

Minh Thái Tổ – Chu Nguyên Chương là người tay không dựng nghiệp lớn, đánh đuổi được người Mông Cổ, giành lại quyền tự chủ của người Hán. Bản thân không có một tấc đất nương thân, nhưng qua tự lực phấn đấu mà khai sáng được giang sơn Đại Minh gần 300 năm. Vì vậy, trong dân gian không chỉ ở Trung Hoa lúc đương thời, mà ở nhiều nước trong khu vực châu Á xưa cũng như nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại lạ lùng về ông.

Chén men đỏ dưới men vẽ hoa dây hoa mẫu đơn thời Hồng Vũ  – Bảo Tàng Cung Điện Quốc Gia Đài Loan.

 

I – Vị hoàng đế xuất thân từ ăn mày

Có thể nói, Chu Nguyên Chương là vị Hoàng Đế có một xuất thân khiêm nhường nhất trong lịch sử Trung Hoa. Xuất thân trong một gia đình bần nông, cha mẹ là những nông dân nghèo. Năm 16 tuổi, ông đi chăn gia súc thuê và không lâu sau thì bị chủ đuổi vì lén thui một con gia súc trong đàn để ăn. Năm 1344, một bệnh dịch tấn công làng nơi ông ở và giết chết cha mẹ cùng những người anh lớn chỉ trong vòng vài tuần. Chẳng bao lâu sau, ông phải tá túc làm sư ở một chùa để tránh nạn hạn hán và đói kém, nhưng chùa cũng không thể đủ sức nuôi hết các sư trong chùa, do đó ông lại phải rời chùa để kiếm sống trong 3 năm bằng cách đi ăn mày. Sau đó, ông lại trở về chùa làm sư trong 3 năm nữa. Chính trong thời gian này ông mới bắt đầu học đọc và viết. Cho đến một ngày khi một trong những sư sãi báo với chính quyền rằng ông có những mối liên hệ với một nhóm  băng đảng phản loạn mang tên Hồng Cân ( Khăn đỏ) khiến ông bỏ trốn và tham gia với chính nhóm phản loạn đó chiến đấu chống lại triều đình nhà Nguyên.

Trước khi nhà Minh được sáng lập, Trung Hoa nằm trong tay Nhà Nguyên (1271 – 1368), do người Mông Cổ cai trị. Dù đã Trung Quốc hóa, triều Nguyên vẫn là triều đại của kẻ chinh phục ngoại tộc, do đó trong thời kì này, xã hội Trung Quốc tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự kỳ thị của người Mông Cổ với người Hán chính là nguyên nhân số một dẫn tới sự chấm dứt của triều đại này. Sự kỳ thị này dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy của nông dân buộc nhà Nguyên phải rút lui về các thảo nguyên Mông Cổ. Tuy nhiên, một số nhà sử học như J.A.G Roberts (giáo sư ngành Lịch sử thuộc Đại học Huddersfield) lại chưa chấp nhận giả thuyết trên. Bên cạnh đó, còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến sự suy thoái của triều Nguyên như dưới thời Nguyên Huệ Tông, tiền giấy được phát hành quá nhiều khiến gia tăng lạm phát lên gấp mười lần. Ðặc biệt cuối đời Nguyên, người Mông Cổ ngày càng xa xỉ, trong khi đó nông nghiệp trở nên trì trệ, đê điều hỏng nặng không sửa chữa, các loại thiên tai thường xuyên xảy ra, dịch bệnh lan tràn, do đó nhân dân càng khốn khổ. Trong hoàn cảnh ấy, các hình thức tôn giáo như đạo Di Lặc, đạo Bạch Liên và Minh giáo đang âm ỉ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà

Năm 1351, đê Hoàng Hà nhiều lần bị vỡ, nhà Nguyên bất đắc dĩ phải điều 15 vạn dân phu đi đắp đê. Nhân cơ hội ấy, giáo trưởng đạo Bạch Liên là Hàn Sơn Đồng cùng đồ đệ của mình là Lưu Phúc Thông mưu tính việc khởi nghĩa. Ðể tranh thủ sự đồng tình của quần chúng, Lưu Phúc Thông phao tin rằng Hàn Sơn đồng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông từ Nhật Bản đem quân về đánh đổ triều Nguyên. Nhưng trong khi chuẩn bị khởi nghĩa thì kế hoạch bị bại lộ. Hàn Sơn Ðồng bị bắt và bị giết chết. Tuy vậy, Lưu Phúc Thông vẫn tiếp tục lãnh đạo khởi nghĩa.
Ðược tin Lưu Phúc Thông dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng, trong đó có những nhóm tương đối lớn như lực lượng của Từ Thọ Huy ở Hồ Bắc, Quách Tử Hưng ở An Huy. Quần chúng khởi nghĩa đều chít khăn đỏ làm hiệu nên gọi là quân Khăn đỏ ( Hồng Cân quân ). Khẩu hiệu đấu tranh của họ là đánh đổ nhà Nguyên, khôi phục nhà Tống.

Lúc đầu lực lượng khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông đã giành được thắng lợi to lớn, đã tôn con Hàn Sơn Ðồng là Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi lên làm vua, và đặt tên nước là Ðại Tống. Nhưng đến năm 1363, Lưu Phúc Thông bị Trương Sĩ Thành, một thủ lĩnh nông dân đã thuần phục nhà Nguyên, đánh bại.

Khi quân khăn đỏ của Lưu Phúc Thông đang tiến quân thuận lợi ở miền bắc thì nghĩa quân do Từ Thọ Huy lãnh đạo cũng thu được nhiều thắng lợi ở vùng lưu vực Trường Giang. Năm 1360, Từ Thọ Huy bị một viên tướng của mình là Trần Hữu Lượng giết chết. Trần Hữu Lượng tự xưng là vua, đặt tên nước là Hán. Năm 1362, một tướng khác của Từ Thọ Huy là Minh Ngọc Trân không phục Trần Hữu Lượng cũng xưng vương ở vùng Tứ Xuyên Vân Nam, đặt tên nước là Hạ.

Cũng trong thời kì này, lực lượng quân khăn đỏ do Quách Tử Hưng lãnh đạo không ngừng phát triển. Trong hàng ngũ họ Quách có một nhân vật về sau trở nên rất quan trọng, đó là Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương tham gia lực lượng khởi nghĩa do Quách Tử Hưng lảnh đạo năm 1352, đến năm 1355, Quách Tử Hưng chết, Chu Nguyên Chương trở thành người lãnh đạo chính của nghĩa quân. Chu Nguyên Chương là thủ lãnh duy nhất trong số các nhóm quân Hồng Cân là người có thể hiểu được ý nghĩa của việc đói khát. Ông không phí phạm bất cứ cái gì, ngay cả khi đã trở thành một thủ lãnh khu vực. Khi bộ đồ mặc ngoài đã quá cũ và rách ông vẫn dùng nó thay làm lớp áo phía trong, khi nó mòn thêm lần nữa ông lại thay vào lớp bên trong nữa cho đến khi nó không thể được dùng trở lại nữa. Khi một yên ngựa được trang hoàng bằng vàng và ngọc được đưa đến ông , ông từ chối và nói: “Tôi chịu trách nhiệm lãnh đạo vùng này, tôi cần binh lính và người dân, lúa gạo và quần áo hơn tất cả những cái khác, tất cả những của cải không phải là ước nguyện của tôi.”
Năm 1356, Chu Nguyên chương thành lập chính quyền ở Kim Lăng ( Nam Kinh ), được Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi  tiến phong làm Ngô quốc công, rồi đến năm 1364 thì xưng làm Ngô vương. Sau khi lần lượt đánh bại các toán quân của Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành… đến năm 1367, Chu Nguyên Chương đã thâu tóm hết miền Nam Trung Hoa rộng lớn.
Ngay năm đó, Chu Nguyên Chương sai tướng đem quân đánh miền bắc, đồng thời truyền hịch nói rõ mục đích của việc tiến quân là để đánh đuổi giặc Hồ, khôi phục Trung Hoa, lập lại cương kỉ cứu vớt nhân dân, khôi phục uy nghi cho quan lại người Hán.
Trong khi quân Bắc tiến không ngừng thu được thắng lợi, năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế ở Kim Lăng, đặt tên nước là Minh. Mùa thu năm đó, quân đội của Chu Nguyên Chương tấn công Ðại Ðô, triều đình nhà Nguyên vội vàng chạy lên phía Bắc, ra khỏi Trường Thành. Nền thống trị của nhà Nguyên ở Trung Quốc kết thúc. Tiếp đó, Chu Nguyên Chương tiêu diệt thế lực cát cứ của Minh Ngọc Trân và các lực lượng còn lại của triều Nguyên, đến năm 1387 thì hoàn toàn thống nhất Trung Hoa

II – Vị Hoàng đế khiêm nhường

Cuộc nổi dậy thành công và nhà Minh được thành lập năm 1368. Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế, tức là Minh Thái Tổ. Ông lấy niên hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu là Minh, xác lập quyền thống trị quốc gia cho gia tộc họ Chu. Ông đã đặt tên tân triều đại Minh của ông với hai lý do

  1.  Để biểu thị sự tôn trọng tất cả các chỉ huy của các nhóm quân phản loạn Hồng Cân – “Tiểu Minh Vương”. Bằng cách này tất cả những người phục tùng Tiểu Minh Vương cũng sẽ sẵn lòng đi theo nhà Minh của Chu Nguyên Chương.
  2. Minh là một Hán tự được  kết hợp từ hai chữ nhật và nguyệt – mặt  trời và mặt trăng. Các học giả Trung Hoa tin tưởng rằng các nhà cai trị đất nước luôn luôn tôn thờ mặt trời và mặt trăng , như vậy từ Đại Minh đã được dùng cho ý nghĩa tôn thờ này. Bằng cách này ông đã có thể chiếm được sự ủng hộ của các học giả cũng như nhiều giới khác .

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Chu Nguyên Chương vẫn giữ lối sống khiêm nhường như xưa. Một lần ông thấy hai thái giám trẻ tuổi trong cung đình mang những đôi ủng đi mưa mới và đi bộ tung tăng băng qua những đống bùn. Ông đã phạt họ với  lý do những người thợ làm giày đã phải tốn rất nhiều thời gian để làm đôi ủng đi mưa. Nếu những người hầu không quan tâm chăm sóc những đôi ủng là họ đã đi ngược lại ý chỉ của Hoàng Đế, ông sẽ phạt đánh gậy họ để họ nhớ không bao giờ quên. Lại một chuyện khác, có lần ông thấy một cung  nữ ném bỏ đi một đoạn lụa, ông đã triệu tật tất cả các cung nữ lại và khiển trách. Ông tính toán cho họ thấy phải tốn biết bao nhiêu thời gian để làm ra một cuộn lụa, bắt đầu từ việc sinh ra một con tằm, tằm nhả tơ cho đến khi hoàn thành được sản phẩm và rồi sau đó ông ra ý chỉ nếu việc này còn tái phạm thì sẽ không tha thứ mà sẽ bị chặt đầu. Liên quan đến các vật dụng nghi thức cho Hoàng Đế, ông đã ra lệnh phải hết sức tiết kiệm tiền bạc và phải tính toán kỹ lưỡng. Chẳng hạn nếu cái kiệu khiêng cần làm bằng kim loại vàng thì thay vào đó chúng được làm bằng đồng. Long sàng của Hoàng Đế chỉ là một giường bình thường với một khác biệt duy nhất là được khảm một con rồng bằng vàng.

Đồ án trang trí hoa cúc trên một đĩa thời Minh Hồng Vũ – Collection of Montague Meyer. Photo Sotheby’s

Một điều thú vị nữa chính là dưới thời Hồng Vũ, đồ gốm trong cung đình mặc dù vẫn được sản xuất nhưng không có sản phẩm nào được mang hiệu đề Hồng Vũ cả. Để chứng minh thêm rằng dưới thời Hồng Vũ không có đồ gốm sứ nào mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ, viện bảo tàng Nam Kinh đã khai quật mở rộng địa điểm cung điện của hoàng đế Hồng Vũ tại Nam Kinh và tìm thấy hàng ngàn mảnh vỡ, nhưng không có cái nào được mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ muốn tìm kiếm. Những món đồ cổ mang hiệu đề Hồng Vũ hiện nay được tìm thấy thực chất là do một nghệ nhân gốm sứ tên Yin-Chou-Sun làm. Yin-Chou-Sun chuyên làm nhái đồ gốm sứ thời đầu Minh vào năm 1937 – 1939. Ông ta đề dòng chữ ” Đại Minh Hồng Vũ niên Chế “‘ lên đồ gốm và trở nên rất nổi tiếng . Vậy nên một món sành sứ với hiệu đề Hồng Vũ thì  có lẽ đến 99,999 % nó là đồ giả. Cách hay nhất và đơn giản nhất để nhận dạng gốm sứ thời Hồng Vũ chính là gốm sứ sẽ mang phong cách nhà Nguyên, nhưng khác với phong cách truyền thống Nguyên. Điều này cũng được phản ánh trong các chính sách pháp trị thời Hồng Vũ, như là luật thuế thời ấy chỉ là ” những luật lệ thuế nhà Nguyên cải tiến ” những chính sách này có một chút xíu phong cách của nhà cai trị Minh.

III – Một vài luồng ý kiến khác về thân phận hoàng đế Chu Nguyên Chương

                                                                                     Xông trầm hình cầu thời Minh Tuyên Đế

 

 Vật dụng kê bút thời Minh Tuyên Đế sản xuất tại nam Giang Tây, mang ký tự Ả Rập nhưng lại có hình dáng liên hệ đến “Ngũ Đại Sơn” của Đạo giáo.

 

Nhiều nguồn cho rằng Hoàng đế Chu Nguyên Chương có xuất thân từ Hồi giáo. Yusuf Chang (Yusuf  là tên thường thấy của người Ả Rập, Chang là họ Trung Quốc), một người Hoa Đạo Hồi tại Đài Loan thừa nhận rằng mình là con cháu xa của Chu Nguyên Chương khi tổ tiên ông đã cưới một vị công chúa nhà Minh. Ông đã trình bày nhiều bằng chứng gây sửng sốt để dẫn chứng cho những  bí mật của tìn ngưỡng đạo hồi trong dòng tộc Đại Minh như sau :

  1. Khi Chu Nguyên Chương còn trẻ gia đình của ông chết vì dịch bệnh và ông đã chôn họ bằng cách cuốn họ trong vải trắng, cuốn người chết bằng vải trắng là phong tục của Đạo Hồi.
  2. Những cận thần gần gũi nhất của Chu Nguyên Chương là những người Đạo Hồi.
  3. Chu Nguyên Chương đã thông qua một đạo luật nghiêm khắc cấm rượu. Có lần Hoàng Đế đã ra lệnh xử tử con của một vị cận thần vì vi phạm luật này. Uống rượu cũng bị nghiêm cấm tại thế giới Hồi Giáo.
  4. Hoàng hậu Ma (vợ Chu Nguyên Chương) là một người Hồi Giáo. Đích thân bà nấu tất cả những bữa ăn cho Chu Nguyên Chương ngay cả sau khi ông trở thành Hoàng Đế.
  5. Màu biểu trưng hoàng gia của triều đại Minh là màu xanh lá, đây cũng là màu biểu trưng của Đạo Hồi .
  6. Chu Nguyên đã ra lệnh xây một ngôi đền Hồi Giáo tại Nam Kinh ngay khi ông lên ngôi và đích thân viết một bài thơ ca tụng Đạo Hồi và giáo chủ Mohamet. Bài thơ này được những người theo Đạo Hồi gọi là “syahada”  – tức tự bạch về lòng kiên trung của họ Chu về Đạo Hồi .
  7. Nhiều người Hồi Giáo đã lên được những thứ bậc cao dưới triều đại nhà Minh. Một ví dụ cụ thẩ nhất là đô đốc Trịnh Hòa. Yusuf Chang công bố rằng Trịnh Hòa được Hoàng Đế nhà Minh gởi đi để thực hiện nhiệm vụ giáo đồ nhân danh ông , bởi vì Hoàng đế không thể làm như thế, và vì ông muốn dấu kín bí mật tín ngưỡng của mình đối với số đông những người không phải là Đạo Hồi. Đạo Hồi cho phép thực hiện theo cách nhân danh này .
  8. Triều Đại nhà Minh đã thiết lập nhựng mối giao hảo tốt với nhiều quốc gia Hồi Giáo.
  9. Lịch Hồi Giáo là lịch được công nhận là lịch chính thức dưới triều đại nhà Minh.

Khánh Hòa – Thúy Nga – Hòa Bình

Việc sử dụng các bài viết trên xin vui lòng liên hệ  : 

thuyngastocks@yahoo.com    –      khanhhoastocks@yahoo.com

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Quảng Ngãi: Phát hiện dấu tích lò nung gốm cổ (27/9/2010)

Ông Đặng Ngọc Anh, ngụ thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi vừa phát hiện dấu tích một lò nung gốm cổ trong khi đào đất làm hầm Biogas.

Hiện vật gốm cổ phát hiện tại xã Tịnh Châu, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.

Các hiện vật được tìm thấy gồm: Đồ gia dụng, chum, vò, đồ tùy táng, bình vôi… làm bằng gốm, sành với nhiều hình dáng, hoa văn đẹp. Ngoài ra còn có một số mảnh vỡ của đồ sứ cổ thời nhà Minh.

Theo Tiến sĩ Khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi – cán bộ Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, đây là dấu tích lò nung gốm của người Việt cổ, có niên đại vào khoảng thế kỷ 16; và là một trong những lò nung gốm sớm nhất ở địa phương này.

Nhận định trên dựa vào những hiện vật gốm chưa tráng men, chủ yếu là gốm sành, có nhiều hình dáng, hoa văn khác nhau.

Các hiện vật thể hiện rõ sự giao thoa giữa văn hóa Champa và văn hóa Việt; đồng thời cho thấy kỹ thuật sản xuất của người Chăm (dân bản địa) là nặn tay thủ công, song hành với kỹ thuật dùng bàn xoay của người Việt.

Việc phát hiện dấu tích lò nung gốm cổ này chứng tỏ người Việt cổ từ phương Bắc di chuyển vào phương Nam và định cư ở khu vực thành cổ Châu Sa rất sớm. Qua đó cũng phản ánh sự tồn tại lâu đời của kỹ thuật làm gốm cư dân Chăm-Việt.

Sáng nay 28/9, Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi cho biết, ông sẽ thông tin chi tiết về phát hiện khảo cổ mới mẻ này đến bạn đọc Tamnhin.net trong thời gian sớm nhất.

Theo: Tầm nhìn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Một số hiệu đề trên gốm sứ thời Quang Tự – Thanh Triều

Quang Tự (1871 – 1908), miếu hiệu là Đức Tông (德宗), thụy hiệu là Cảnh Hoàng đế (景皇帝), tên húy là Tái/Tải Điềm (載湉, Zǎitián), là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Hoa. Ông trị vì từ năm 1875 – 1908 với niên hiệu là Quang Tự. Ông kế vị Đồng Trị. Sau khi ông qua đời ở tuổi 38, Tuyên Thống hoàng đế tức Phổ Nghi kế vị ngai vàng. Phổ Nghi là vị Hoàng đế cuối cùng của triều Thanh. Thụy hiệu đầy đủ của Quang Tự sau khi mất là Thống Thiên Xương Vận Đạt Trung Chí Chính Kính Văn Uy Vũ Nhân Hiếu Duệ Chí Đoan Kiến Khoan Khâm Cảnh Hoàng đế (Tóngtiān Chóngyùn Dàzhōng Zhìzhèng Jīngwén Wěiwǔ Rénxiào Ruìzhì Duānjiǎn Kuānqín Jǐng, 同天崇運大中至正經文緯武仁孝睿智端儉寬勤景皇帝). ( wikipedia )

Một số hiệu đề trên gốm sứ thời Quang Tự – Thanh Triều

..

Guangxu reign markGuangxu
Hiệu đề: “Quang Tự niên chế”
Guangxu
Hiệu đề: “Quang Tự niên chế”
Lingzhi fungus markHiệu đề nấm linh chi trên một đĩa sứ thời Quang Tự

Ký hiệu hình nấm này chủ yếu được dùng dưới thời nhà Minh và triều Thanh Khang Hy, nhưng thông thường là màu lam

Hiệu đề nấm linh chi trên một đĩa sứ thời Quang Tự Ký hiệu hình nấm này chủ yếu được dùng dưới thời nhà Minh và triều Thanh Khang Hy, nhưng thông thường là màu lam
Mark on Guangxu period dishKý hiệu hình trên một đĩa sứ thời Quang Tự

Hiệu đề tiêu biểu của thời Khang Hy được dùng lại dưới thời Quang Tự, Cuối thanh nhái lại hiệu đề thời đầu Thanh.

Ký hiệu hình trên một đĩa sứ thời Quang Tự Hiệu đề tiêu biểu của thời Khang Hy được dùng lại dưới thời Quang Tự, Cuối thanh nhái lại hiệu đề thời đầu Thanh.
Guangxu reign mark Mark on a Guangxu porcelain dish xem ở trên
Late Qing dynasty mark Hiệu đề nội phủ trên đồ sứ thời Quang Tự Hiệu đề nội phủ đã được dùng vào thời nhà Nguyên và thời Minh Hồng Võ; tuy nhiên, hiệu đề ở đây là nhái lại vào thời cuối Thanh
Guangxu Nianzhi mark Hiệu đề trên một đồ sứ thời Quang Tự
(Da Qing Guangxu Nianzhi)
Fangge scratch mark Late Qing dynasty.

Nôi dung hiệu đề:  “Chenghua Nianzhi” (Thành Hóa niên chế).

Frequently found on old Fangge porcelain copies made in the late Qing or early republic period.
Thường gặp trên đồ nhái thời cuối Thanh và thời dân quốc ( trước 1949).
Đơi khi Hán tự không thể đọc được
double ring markGuangxu: hai vòng tròn đồng tâm (mark)  (thời Quang Tự)

Guangxu underglaze blue markGuangxu period mark

Mai bình Blue and White thời Quang TựHình tư liệu lấy từ trang China Museum. Motif trang trí của bình này hay được gọi là “ban mai” (?). Mục đích đăng: tư liệu tham khảo và nhận biết.

Khanhhoathuynga

Hình ảnh và tư liệu từ nguồn http://www.chinese-antique-porcelain.com và Gotheborg.com

__________________ khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

THE VUNG TAU SHIPWRECK (c. 1690)

Background

The Vung Tau Wreck was discovered by fishermen off the islands of Con Dao in the south of Vietnam. Sverker Hallstrom obtained the license to excavate the wreck after the Vietnam Salvage Corporation (Visal) had carried out preliminary excavation. Flecker directed the primary excavation for Hallstrom in 1991.

The starboard side of the hull, from the keel to the waterline, remained in good condition. It was found to be the hull of a lorcha, a ship of combined Eastern and Western influence, and the first ever found. The wreck has been dated to c. 1690. From an analysis of the cargo it seems that the ship was bound from China to Batavia where the bulk of the ceramics would have been transshipped to a Dutch East India Company vessel for the onward voyage to Holland.

Spread

Operations were conducted from the 61 m long, 4,800 BHP supply boat, Dai Lanh. Twenty Vietnamese divers worked with KMB masks using surface decompression on oxygen to maximise bottom times. Flecker designed a high pressure diesel pump and delivery system to supply the water dredges, which had previously been used on the Concepcion excavation.

Recovered Cargo

The recovered cargo consisted of over 48,000 ceramics, mostly Kangxi blue-and-white porcelain from the kilns of Jingdezhen, and an impressive collection of white-ware. There were also many pieces of provincial ware, and a wide variety of non-ceramic artefacts ranging from ship’s gear to personal possessions.

Cargo Disposition

Christie’s selected 28,000 pieces of porcelain for auction in Amsterdam. The return surpassed all expectations at US$7.3 million. A fully representative sample of ceramics and most artefacts were put on display in the Vung Tau Museum. The remainder of the ceramics, mostly damaged to some extent, were divided between Hallstrom and the Vietnamese Government.

This slideshow requires JavaScript.


MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Đồ sứ famille rose và một số tên gọi liên quan!
KhanhHoaThuyNga sưu tầm và dịch:

Đồ sứ  famille rose (tiếng Pháp) có nghĩa “dòng hồng” – pink family (tiếng Anh). Men famille rose lần đầu tiên ứng dụng vào đồ sứ vào thới Hoàng Đế Khang Hy (1653 – 1722). Sản phẩm hoàn thiện nhìn lập thể hơn (nổi hơn), đầy màu sắc, thanh lịch và trong sáng. Hầu như mọi chất chứa sắc tố màu tinh túy của thời trước đều được tận dụng, như màu tím, màu đỏ tươi , màu đất son, màu ngọc lục bảo,…

Small cloisonne copper plate (four in a set), L 10cm, H 2 cm. Qianlong period, Qing Dynasty. Collection of the Museum of Macao.

Những đồ sứ xuất khẩu dòng famille rose có chất lượng đẹp nhất đều có niên đại từ thời Ung Chính (1723- 1735). Đa phần những men trong pallete màu thời này có màu mờ đục không trong suốt hoặc hơi đục màu (semi-opaque) và không bị chảy khi nung. Dòng đồ này có tên famille rose từ men có màu hồng là đặc điểm màu chủ đạo trong pallete phối màu. Những màu ý nghĩa khác trong pallete này là màu vàng đục mờ và màu trắng đục không trong.

“Yangcai” (Dương thái)  có nghĩa “men màu ngoại” là một trong những thuật ngữ Trung Hoa dành cho đồ sứ dòng famille rose và từ này đã được dùng dưới thời Càn Long khi nói tới đồ sứ phối màu men theo pallete này. Dưới thời Ung Chính , nó được gọi là “ ruancai” ( soft colors – màu dịu). Fencai (powder colors – phấn thái hay màu bột) là thuật ngữ Trung Hoa vào thế kỷ 19 sử dụng để định nghĩa, phân loại rỏ hơn nhằm đặt tên cho “ đồ sứ trang trí men famille rose trên nền trắng” còn falangcai dung để đặt tên cho cho “ đồ sứ trang trí men famille rose trên nền men màu”.

Fencai Zun with the Pattern of a hundred deer. Qianlong period, Qing Dynasty.

Famille rose – một cách nhìn khác:

Khoảng giữa thế ký 17, tư tưởng Đạo giáo đã khơi dậy hứng thú thời cuối Minh với lối trang trí “năm màu” ngũ thái (wucai) mà sau này được chuyển biến thành những sản phẩm sứ đa sắc chúng ta gọi là “famille verte”, dòng lục, của thời Khang Hy.

Dần dà trong suốt triều đại Mãn Châu Thanh (1644-1911) sự quan tâm đến đồ sứ trang trí màu (thích thú với đồ màu mè) gia tăng. Một trong những động lực gây kích thích là nhu cầu của phương Tây về đồ sứ có thể hòa đồng với đồ lụa thêu đầy màu sắc của Trung Hoa vốn lúc ấy là sự say mê điên cuồng ở Châu Âu và phong cách mỹ thuật Rococo sớm chuộng hoa lá đang trổi dậy ở Pháp cũng là cảm hứng nghệ thuật qua những tiếp cận với Trung Hoa.

Phong cách mới này đòi hỏi màu sắc họa phẩm và  một lối  trang trí phổ thông nhất cho tất cả chúng, những hoa sen lớn màu đỏ và men màu hồng trên nền vàng (gold), đã dẫn đến cái tên famille rose. Theo quan niệm của người Trung Quốc , đa số bây giờ gọi theo cách gọi tên TQ để chỉ màu hay men bột là Fencai.

Link tham khảo một số đồ sứ famille rose triều Thanh:

Famille Rose Porcelain of the Early Qing Dynasty

Famille Rose Porcelain of the Mid-Qing Dynasty

Famille Rose Porcelain of the Late Qing Dynasty

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Vì yêu một người phụ nữ lớn tuổi hơn! Câu truyện về đồ sành sứ cung đình thời Thành Hóa

Vào tháng 04 năm 1999 một chiếc chén gốm triều đại Minh được đấu giá thành công ở mức 3,7 triệu USD. Nó đã phá vỡ mọi kỷ lục về giá cao nhất dành cho một món hàng đồng loại và đó chỉ là một cái chén nhỏ đường kính 8,1 cm và chiều cao 3,1 cm. Nó là chén gì vậy? Nó là một chiếc chén vẽ gà “chicken cup” của triều đại Minh , thời Hoàng Đế Thành Hóa.

Dragon_Meiping

Hoàng Đế Thành Hóa trị vì từ 1464 đến 1487. khi ông ta còn bé, Cung nữ Wan được Hoàng Thái Hậu chỉ định làm vú ( bảo mẫu) để chăm sóc ông. Cung nữ Wan đã chăm sóc ngài không chỉ với tính cách của một người mẹ mà còn là một tình nhân. Vào lúc Hoàng đế Thành Hóa lên ngôi năm ngài 17 tuổi, Wan đã sữ dụng quan hệ tình cảm của mình với Hoàng Đế để tranh đoạt địa vị quyền lực trong cung đình. Cô ta đã thuyết phục được ngài bỏ rơi chính cung hoàng hậu  để thay mình vào ngôi vị ấy. Sau khi Thành Hóa lên ngôi được 02 năm, Wan hạ sinh cho Hoàng Đế một hoàng tử. Hoàng Đế rất yêu đứa con trai này nên lập tức tấn phong Wan lên hàng cao nhất trong các cung tần.Vị hoàng tử này mất sớm khi lên 01 tuổi, nhưng điều này không ảnh hưởng đến Hoàng Đế vì ngài chẳng yêu ai ngoài Wan. Wan thích ăn vận như nam nhân, tin rằng việc này giúp nàng hạ sinh được một đứa con trai khác. Nàng cũng thường tổ chức tế lễ để cầu xin mau mang thai.

Những ghi chép lịch sử kể lại để thể hiện lòng thành Wan thường tổ chức đại lễ khấn vái 20 bàn ăn, thực phẫm chén đĩa cao đầy. vàng và bạc rải khắp sảnh nhằm gia tăng sức thuyết phục cho lời khấn nguyện. Đồng thời Wan cẩn thận để mắt đến những phi tần mà Hoàng Đế hay lai vãn. Nếu có ai trong số phi tần này mang thai, Wan sẽ ra lệnh phá thai. Nhưng mặc dù nỗ lực ngăn càn, một phi tần đã hạ sinh được một Hoàng nam. Vị phi tần này dấu Hoàng Đế và Wan và đã lặng lẽ nuôi dưỡng đứa con suốt 16 năm trong lãnh cung. Cuối cùng Wan mất năm 58 tuổi do đột quỵ và vị Hoàng Đế 40 tuổi sầu thương, trầm cảm và mất sau đó chỉ vài tháng.

Doucai_Jar

Hoàng Đế Thành Hóa si tình Wan đến mức mà người ta đồn rằng mổi ngày trong năm ông đều tặng để vui long nàng một món quà. Rất nhiều trong số những món quà tặng này là những món gốm sứ nhỏ và xinh sắn. Trong số các dòng gốm sứ khác nhau, có một loại được gọi là Đấu Thái ( Doucai), đã được sản xuất rất sớm từ đầu Minh nhưng chất lượng của những món Đấu Thái thời kỳ đầu không thể nào sánh bằng đồ Đấu Thái được sản xuất dưới triều đại Thành Hóa. Một vài món quà được đặt làm tặng Wan chính là những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà. Cũng có đồn đại rằng những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà đã được sử dụng trong các tiệc lễ cưới hỏi. Đồ án vẽ gà gồm một chú gà trống nghẫn đầu, một con gà mái cuối đầu bận rộn tìm sâu , và 03 con gà con. Ở trôn chén có một triện  hiệu đề  chữ Hán công bố chiếc chén được chế tạo dưới thời “ Đại Minh Thành Hóa”. Thư pháp làm triện là theo mẫu chữ viết của chính vị Hoàng Đế trẻ .

Để làm vừa long vị phi tần ưa thích của ông, Thành Hóa đã ra lệnh cho các nghệ nhân sản xuất đa số những món đẹp là đồ Đấu Thái. Để làm được một món đồ cung đình hoàn hảo, phải làm nhiều món  và hủy đi những món thiếu hoàn hảo. Nhiều mảnh vỡ từ những món bị hủy này đã được tìm thấy tại những di chỉ lò gốm. Theo nhiều ghi chép, để chắc chắn làm được một cái chén thật hoàn thiện, 72 người thợ được điều động liên quan đến việc sản xuất này. Việc sản xuất đồ Đấu Thái làm thành hai giai đoạn. Đầu tiên cái chén được vẽ viền cảnh vật bằng men lam cobalt, phủ lên một lớp men trong rồi nung cao độ. Rồi thì tô điểm men màu khác lên trên men và cái chén lại được nung một lần nữa ở một nhiệt độ thấp hơn mà cho phép men màu hòa lẫn vào men nhưng phải không ảnh hưởng đến men ở khu vực không tô men màu. Điều này có nghĩa là giá thành để sản xuất những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà là rất cao.  Vào cuối triều đại Minh, suốt thời Minh Vạn Lịch (1573 – 1620) nhiều nhà sưu tầm và học giả đã bắt đầu tường thuật lại giá thành cực kỳ cao của những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà.  Một học giả đầu thời nhà Thanh tên Chen Jia đề cập đến trong một biên khảo về thẫm định và thưởng ngoạn gốm sứ của mình rằng một cặp những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà trị giá khoảng 100.000 USD. Vào thời điểm  này , một huyện lỵ lớn chỉ thu vào khoảng 5000 USD tiền thuế mổi năm.

Tian_Dragon_Jar

Vào cuối thời Minh, việc làm nhái những chiếc chén Đấu Thái Thành Hóa vẽ gà đã được sản xuất vì giá trị cao của những món nguyên bản.  Nhưng chất lượng của những món làm nhái này chưa thật tốt. Dưới triều đại nhà Thanh của các vị Hoàng Đế Khang Hy, Càn Long, và Ung Chính tất cả đều có làm những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà. Một số mang hiệu đề riêng của triều đại, một số lại mang hiệu đề copy hiệu đề thời Thành Hóa. Ngay cả tại thời điểm này những nhà sưu tầm đã “rên rĩ” về giá mắc của những cái chén Thành Hóa và cả về số lượng lớn “hàng nhái” trôi nổi. Tất cả những bản copy chén Thành Hóa thời Thanh ngày nay đều bán ở giá cao tại các cuộc đầu giá. Năm ngoái một những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà hiệu đề Càn Long được bán với giá gần 15.000 USD.

Dragon_Bowl

Gốm sứ thời Thành Hóa có đặc tính và phong cách rất nổi bật sau đây:

  1. Tiếp tục ý niệm truyền thống thời Minh về cái đẹp mềm mại dịu dàng, hầu hết gốm sứ đều nhỏ, tinh xảo và sử dụng màu sắc dịu.
  1. Vì Hoàng Đế Thành Hóa lien tục cố gắng lấy lòng Wan, nên đồ án trang trí đầy màu sắc hầu hết miêu ta những chủ đề mà phụ nữ ưa thích ví dụ các em bé đang chơi đùa, hoa và bướm,…
  1. Tín ngưỡng chính là Phật Giáo thời ấy cũng mang lại những đồ án nhà Phật trang trí cho các đồ vật thiết kế cho việc thờ cúng.

Vào thời Thành Hóa, lượng phẩm men cobalt lam Lajiward nhập khẩu hầu như đã được sử dụng hết. Do đó triều đình bắt đầu cho khai thác các mỏ cobalt Po Tang nội địa để thay thế. Sắc màu cobalt blue dịu, sáng cho cảm nhận có độ trong. Những sản phẩm gốm sứ cuối thời Minh làm nhái đồ thời Thành Hóa được sử dụng màu lam cobalt Huei Ching có ánh sắc hơi tím và không thể sánh bằng với màu lam Po Tang sáng và thanh lịch thời Thành Hóa.

Sưu tập đồ gốm sứ cung đình Thành Hóa khắp thế giới chỉ có tổng cộng trên 600 món, Trong số đó chỉ có ¼ là đồ đấu thái (doucai). The Taiwan National Palace Museum – VBT Cung Đình Quốc Gia Đài Loan có bộ sưu tập hơn 400 món gốm sứ thời Thành Hóa có xuất xứ từ Cố Cung nhà Thanh. Một trong những căn phòng mà Hoàng Đế Càn Long tiêu khiển phần lớn thời gian có những chiếc chén nhỏ Thành Hóa chất lượng cao nhất, tổng cộng 67 món được giử trong một cái rương sơn mài Nhật Bản. Sứ Thành Hóa nằm trong những món ưa thích của Hoàng đế Càn Long.

So sánh sự khác biệt của chén con gà đúng thời Thành Hóa và những chiếc chén làm nhái qua các thời kỳ cuối Minh; Khang Hy-Càn Long, Thời cộng hòa dân quốc được minh họa qua hình dưới đây:

( nhấn trên hình để xem phóng lớn)

Khanhhoathuynga sưu tầm và dịch

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Lưu ý khi mua đồ gốm cổ!

Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy nhiên, độ thành công rất thấp. Vì vậy, cho dù bạn là nhà sưu tập thâm niên hay là người yêu thích sưu tập, hãy nhớ đến các lưu ý dưới đây.

Nhà sưu tập nào cũng hy vọng mua được những sản phẩm có giá trị, nhưng thị trường mua bán ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi nhà sưu tập cần có kinh nghiệm phong phú trong việc lựa chọn sản phẩm. Dưới đây là 3 lưu ý khi mua đồ gốm cổ:

1. Không nên mua khi không biết rõ loại hàng:

Sưu tập đồ cổ được phân thành nhiều loại khác nhau: đồ gốm cổ, đồ đồng, đồ gỗ, ngọc, thư họa và những hạng mục khác. Với mỗi loại ngành khác nhau như vậy, nếu nhà sưu tập không thật sự có những hiểu biết rõ ràng, không có những nghiên cứu chuyên sâu, tuyệt đối không nên thu mua. Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy vậy, độ thành công rất thấp.

Lấy việc sưu tầm đồ gốm cổ làm ví dụ, trong 100 người, chỉ có 1 – 2 người thành công; còn đa số người còn lại có thể hình dung như sau: “tân tân khổ khổ, nhạn phẩm vi chủ” (cực khổ chọn lựa, cuối cùng mua phải hàng giả). Để có thể trở thành một nhà sưu tập thành công, không chỉ đòi hỏi thiên phú, mà còn phải có sự chuyên cần, chịu khó học hỏi, nghiên cứu; một khi đã nắm vững những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó mới tiến hành thu mua.

2. Không mua khi có nghi vấn:

Ngày nay, với trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ, việc làm hàng nhái cũng đạt đến trình độ cao, nhiều người lợi dụng việc này để kiếm lời phi pháp, làm phá hoại đi trật tự của thị trường sưu tập đồ cổ chân chính. Những sản phẩm nhái này là kiệt tác “tam kết hợp”: lấy công nghệ truyền thống làm nền tảng, kết hợp khoa học kỹ thuật hiện đại cùng những thiết bị tiên tiến để chế tạo, độ tương đồng có thể đạt đến 99%, chỉ còn 1% khác biệt. Trong khi giám định, những nhà sưu tập phải có sự nhận xét tinh tế để có thể đưa ra hoài nghi về 1% khác biệt này để phủ định 99% tương đồng kia.

3. Không mua khi không phù hợp với giá thị trường:

Hiện nay, trong thị trường đồ cổ, hàng thật không còn nhiều nữa, những mặt hàng tinh xảo càng hiếm hoi hơn. Những sản phẩm chất lượng cao này đều nằm trong tay những nhà sưu tầm thâm niên hoặc những thương nhân có kinh nghiệm, họ tuyệt đối không bao giờ đưa ra giá sai. Những người mới bắt đầu bước vào lĩnh vực sưu tầm, rất khó có được cơ hội này. Nếu trên thị trường có xuất hiện một sản phẩm chất lượng cao, giá thấp, thì đó như là một con thỏ béo tròn trên cách đồng hoang bất tận với biết bao con chim ưng đang dòm ngó. Vì vậy, đối với những nhà sưu tập mới, phải biết lựa chọn để mua vật cổ với giá cả ngang với giá thị trường, mua hàng thật với giá thật.

Nguyên Sa lược dịch

Nguồn: chinazg.net

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Older Posts »