Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm miền trung’

LÒ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI BÊN BỜ DIỆT VONG SAU CƠN BÃO LŨ…

TRƯỚC NĂM 75 LÀNG GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN CÓ TRÊN TRĂM HỘ  GIÀ TRẺ TRAI GÁI CẢ LÀNG ĐIỀU LÀM GỐM …..SAU 75 NGHỀ GỐM MAI MỘT DẦN.. DẾN THỜI BAO CẤP CÀNG KHÓ KHĂN HƠN…SẢN PHẨM LÀM RA. KHÔNG ĐỬ CƠM CÔNG PHẦN ĐÔNG  PHẢI BỎ NGHỀ THANH NIÊN TRONG LÀNG PHẢI LÊN THÀNH PHỐ TÌM KẾ SINH NHAI MONG CUỘC SỐNG KHẤM KHÁ HƠN TƯƠNG LAI HƠN…

QUA BAO THĂNG TRẦM CỦA CUỘC SỐNG  DUY NHẤT CHỈ CÒN MỘT LÒ GỐM  CỦA ANH TRỊNH TỒN TẠI ĐẾN NGÀY HÔM NAY NGƯỜI CON ĐỜI THƯ 3 CỦA LÀNG GỐM MỸ THIỆN CHÂU Ổ  CŨNG CHỈ VÌ YÊU LẤY CÁI NGHỀ CÁI NGHIỆP TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG MÀ BÁM GIỮ LẤY ĐẾN NGÀY HÔM NAY  CÓ NHỮNG LÚC KHÓ KHẤN PHẨM LÀM RA  DÙ CHO  KHÔNG ĐỦ NUÔI DƯỠNG LẤY CUỘC  SỐNG HẰNG NGÀY NHƯNG GIA ĐÌNH  ANH VẪN CỐ GẮNG VƯỢT QUA BAO NỖI KHÓ KHĂN CHỒNG CHẤT VẪN YÊU QUÍ CÁI  NGHỀ MÀ SỐNG….

TRƯƠC KIA  BIẾT BAO CHƯƠNG TRÌNH TRÊN BÁO ĐÀI  ĐỊA PHƯƠNG CŨNG NHƯ TRUNG ƯƠNG   BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN  THỐNG HỔ TRỢ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG….. CŨNG ĐÃ ĐẾN THĂM  ĐỘNG VIÊN  VÀ    HỨA…. HẸN…..  NHƯNG CŨNG CHỈ..  LÀ….HEN… HỨA …… Ô..HÔ…  THAN ÔI….

ĐẾN CƠN BÃO LỤT HÃI HÙNG VỪA QUA NHÀ CỬA VÀ DUY NHẤT CÁI LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG MỘT THỢI LIỆT OANH ẤY  …GIỜ CHỈ CÒN ĐỐNG GẠCH VỤN…ANH TRỊNH PHẢI XA NHÀ VÀO SÀI GÒN TÌM CÔNG ĂN VIỆC LÀM GỞI TIỀN VỀ GIÚP GIA ĐÌNH  …MỘT DÒNG GÓM  TRUYỀN THỐNG  VANG BÓNG  MỘT THỜI ………..BÊN BỜ DIỆT VONG

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI

NHỮNG SẢN PHẨM GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN  MÀ ANH EM MÌNH SƯU TẦM  CÓ ĐƯỢC LƯU GIỮ ĐẾN CHO NGÀY HÔM NAY LÀ  NƠI XUẤT PHÁT TỪ LÀNG GỐM NẦY CÓ TRÊN 200 NĂM LỊCH SỬ BIẾN THIÊN CỦA ĐẤT NƯỚC….

SÔNG TRONG ĐỜI SỐNG … CŨNG CHỈ Ở TẤM LÒNG…..

TÙY DUYÊN HẠNH NGỘ

NHỮNG AI YÊU MẾN GỐM VIỆT

HÃY CỨU  GIÚP VÀ GIỮ LẤY CHO MAI SAU  MỘT GIÒNG GỐM TRUYỀN THỐNG…. BÊN BỜ DIỆT VONG….

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÁI

GỐM CHÂU Ổ ĐÃ NUNG MỘT LẦN SAU ĐÓ XỐI THÊM

MỘT CHẤT MEN TRUYỀN THỐNG ĐEM NUNG LẦN NỮA

MỚI THÀNH SẢN PHẨM RA LÒ…..

ĐÔI CHÉ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN VỚI MÀU MEN TRUYỀN THỐNG…

XIN MẠO MUỘI ĐĂNG LẠI BÀI BÁO CỦA THẦY

DIỆP ĐÌNH  HOA VIẾT VỀ LÒ GỐM CHÂU Ổ NẦY ĐÃ ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY XUÂN 2007

LÒ GỐM CHÂU Ổ_QUẢNG NGÃI

SỰ TỒN VONG CỦA MỘT LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG

Châu Ổ, nay là thị trấn huyện lỵ của Bình Sơn, theo nhân dân kể lại,vốn có một lịch sử lâu đời ba bốn trăm năm. Theo bảng tông đồ ghi các phả hệ hiện đang treo ở nhà từ đường thờ tổ nghề gốm ở Châu Ổ, thì có thể xác định sự khai sinh ra làng gốm này có thể đã xảy ra từ khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Bên trái, ngoài sân nhà thờ tổ, có một nhà bia nhỏ, với một tấm bia bằng đá ngũ hành, hai mặt có khắc chữ,nhưng chữ đã mờ không thể đọc được.Vài chữ còn lại cho biết bia được dựng từ thời Bảo Đại, nhưng năm tháng cụ thể còn cần phải mày mò đoán định thêm. Dù sao qua việc khảo sát các di tích khảo cổ và lịch sử ở Quảng Ngãi, cũng như vùng KonTum, có thể thấy rằng vào khoảng nửa sau của thế kỷ XIX, hiện vật cũng như các mảnh của lò gốm Châu Ổ đã tồn tại phổ biến và đều khắp. Các ché rượu cần xuất xứ từ lò gốm Châu Ổ, vẫn còn là một phần tài sản quý giá của các dân tộc ít người vùng bắc Tây Nguyên.

Sau 1975 những người làm gốm hợp lại thành Hợp tác xã gốm Châu Ổ. Khi chúng tôi đến khảo sát, cả làng chỉ tồn tại một hộ gia đình làm gốm. Tất cả đều đã chuyển sang nghề khác. Một hộ còn lại giữ vững truyền thống đương đầu thách thức với sự khắc nghiệt cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Nguyên liệu đất sét trước đây mua ở trong làng, về sau mua ở các làng lân cận. Cách xử lý mua nguyên liệu theo phương pháp cổ truyền. Đất sét mua về, ủ cho khô nỏ, xong chặt vụn nhỏ ra, nhào nhuyễn, không pha cát hoặc các phụ gia khác. Quá trình tạo dáng được hình thành trên bàn xoay chậm. Một người đứng vê đất thành những con trạch trên một chiếc bàn dài. Người này đứng một chân, làm trụ, còn mâm phải đạp mâm bàn xoay. Người tạo gốm ngồi xổm trên một đòn kê, đặt con trạch được vẽ xong lên một khe nhỏ đặt trên bàn xoay gốm. Khay quay cùng bàn xoay để tạo cùng dáng vuốt thành hình. Sau khi tu sửa, vuốt lại hiện vật, người thợ mới bưng khay ra, thay khay khác, tiếp tục công việc.

Người tạo hoa văn lấy hiện vật được tao dáng xong gắn lên những hoa văn đát nổi: Con sóc, rồng, hoa, nhũ đinh…., quá trình tạo dáng hoàn tất, hiện vật được phơi trên sân nhà cho se lại.

Lò nung gốm theo kiểu lò cóc, nhưng có phần nung gốm theo kiểu lò hộp. Nhiên liệu dùng bồi, củi, trấu. Hiện vật được sắp xếp vào lò nung trực tiếp, không cần bao nung.

Cung cách sử dụng bàn xoay chậm ở đây tương tự như cách sử dụng của các lò gốm Hương Canh ở Vĩnh Phúc vào những năm 60 của thế kỷ trước. Sản phẩm làm ra như gốm Phụ Lãng sành có men, có hai loại một loại sành co men màu da lươn và một loại sành tự nhiên, được sản sinh do quá trình nung làm cho ô xít nhôm có trong đất sét bị mu- lít hóa. Loại này khác với gốm Phụ Lãng vì hiện vật được nung xong mang màu sắc tím đậm ngã xanh, thể hiện đặc sắc của cá tính địa phương Châu Ổ. Sắc màu của gốm này khiến chúng ta liên tưởng đến màu sắc của những hiện vật gốm trang trí trên nóc của các tháp Chăm trong vùng. Phải chăng đây là một truyền thống địa phương được hình thành bền vững do chất liệu đát và kỹ thuật nung, hình thành trên một sự tương đồng dai đẵng về mặt truyền thống, tuy rằng ông tổ của người làm gốm ở Châu Ổ vốn là thợ nghề từ đất Thanh Hóa di cư vào.

Những dáng bình đặc trưng của gốm Châu Ổ là các loại bình cắm hoa để thờ tự, các loại vò lớn, nhỏ để đựng nước rượu. Những vò to được gọi là ché. Các loại hủ, tĩn, ang, chum, vại để đựng các laọi mắm, chượp nước mắm. Gốm Châu Ổ là một loại đựng thích hợp nhất để đựng các chất mặn: chượp nước mắm. Ngày nay, tuy nhiều người biết đồ nhựa dùng để đựng các chất này độc nhưng vì thuận tiện cho nên đồ nhựa đã thay thế dần vai trò của loại gốm Châu Ổ.

Đúng ở góc độ của kỹ thuật học, lò gốm Châu Ổ vẫn còn bảo lưu tính chất cổ truyền của công cuộc chế tạo đồ gốm nguyên thủy. Đây là kỹ thuật dùng dải cuộn kết hợp với bàn chân xoay chậm. Kỹ thuật này đã tồn tại ở làng gốm Hương Canh, Vĩnh Phú vào những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.Sang những năm bảy mươi, bàn xoay Hương Canh được chuyển động nhờ một mô tơ điện. Làng gốm Bát Tràng những năm hai mươi của thế kỷ trước đã dùng một mô tơ điện.

Lò gốm Châu Ổ hiện nay còn phát triển được là do có những đơn đặt hàng  từ các khách sạn ở Hội An. Gốm Châu Ổ là những vật trang trí trong các ngôi vườn nhỏ của các khách sạn. Dù sao thì mẫu mã cũng đơn điệu, nhung có thể là hướng phát triển trong tương lai của gốm Châu Ổ. Phát triển được hay không lại phụ thuộc vào những người chơi sành điệu, biết khám phá ra những nét đẹp truyền thống của gốm Châu Ổ. Đây cũng là con đường của gốm Chăm ở Bàu Trúc, Ninh Thuận. Làng gốm Châu Ổ chắc không thể đi theo con đường của làng gốm Hương Canh, từ một hợp tác xã lớn trở thành một làng sản xuất ngói, rồi chuyển thành một làng sản xuất gạch. Đối với lang gốm Châu Ổ, theo cách nhìn thông thường, sự phát triển của một làng gốm trù phú đến hiện tượng nay chỉ còn một nhà sản xuất, xem ra xu thế phát triển của truyền thống trước áp lực của việc hiện đại hóa, sự mai mọt dần phải chăng là xu thế tất yếu của qui luật phát triển lịch sử. Với một cách nhìn khác theo chiều sâu, một nhà còn tiếp tục sản xuất gốm có nghĩa là họ đang cố gắng vươn lên trên cơ sở của một gia tài truyền thống lâu đời. Hiện tượng nay cũng đã có tiền lệ như làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh. Một bước ngoặt mới đầy thử thách với truyền thống gốm Châu Ổ.

Bài của Nhà sưu tập Lâm du Xenh đăng trên trang Phố Mua Bán ngày 01/11/09

Sắc vàng làng gốm

Gốm trong ký ức

Nhiều năm trước, có lần tôi ngồi hàn huyên với nhà thơ Đoàn Vi Thượng và họa sĩ Phạm Cung ở Sài Gòn. Câu chuyện đưa đẩy đến nghề làm gốm của quê nhà Quảng Ngãi. Đôi mắt họa sĩ rưng rưng ngấn nước. Thì ra ông chào đời và suốt tuổi ấu thơ gắn liền với gốm Mỹ Thiện, Châu Ổ

Họa sĩ kể rằng, chẳng hiểu tại sao ông lại yêu tiếng giọt mưa rơi vào những chum, những vại của mẹ ông để ngoài hiên đến thế. Nghe không “đã” tai, ông đi dạo quanh khắp các bờ rào trong làng, nhặt gom những mảnh sành vỡ về chất đầy cả góc nhà. Mỗi khi trời mưa, ông mang ra đặt dưới giọt mái tranh rồi ngồi nghe từng chuỗi âm thanh lạ lùng, kỳ diệu ngân vang. Khi thì tiếng sầm sập, đùng đục như bầy ngựa khua vó trên đường. Lúc thánh thót, du dương như tiếng đàn tranh quấn quýt. Lại có khi nghe róc rách như con nước chảy qua gành đá. Mưa gần tạnh, thỉnh thoảng rớt tiếng “bum”, “bum” như âm thanh trống lệnh của đội chèo bả trạo diễn trình, một loại hình nghệ thuật dân gian rất đặc trưng ở vùng đất này.

Tiếng đất kỳ quặc ấy ám ảnh ông mãi. Khi đã là họa sĩ thành danh, vì tình yêu mến với người bạn vong niên – thi sĩ Bùi Giáng, Phạm Cung đã về quê nhà mang đất vào để nặn chân dung thi sĩ. Chân dung sống động, biến đổi. Tùy theo ánh sáng chiếu vào mà khuôn mặt Bùi Giáng rất nhiều biểu cảm, tỏ lộ cả hỉ, nộ, ái, ố. Nhiều người muốn có bức tượng này, kể cả những người ở quốc gia khác, nhưng Phạm Cung vẫn một lòng giữ lại, bởi theo ông có cái còn quý hơn bạc vàng!

Sau này tôi được ông Long Cương – Nguyễn Đức Tập ở thị trấn Sơn Tịnh cho biết thêm về gốm Châu Ổ. Khoảng năm 1959 ông đã tiếp xúc với một nghệ nhân họ Trần chuyên làm lọ độc bình tráng men màu vàng sẫm. Điều lạ là trên chiếc độc bình nào cũng vẽ hoa văn rồng, trúc và đều có bài thơ chữ Hán minh họa: Văn minh khai triết mạc/ Hoa cấp hiến tân đồ/ Bạc kỹ cung thường phẩm/ Bình Sơn cổ sở vô. Ông dịch qua thơ lục bát: Văn minh màn triết mở ra/ Đồ hình mới được bút hoa vẽ vời. Vật thường cung ứng cho đời/ Bình Sơn ngày trước chưa người làm nên.

Qua những người tôi có dịp thưa chuyện, tự nhiên chợt thấy mình quá đỗi hời hợt với quê hương. Chỉ hơn 20 km đường từ thành phố Quảng Ngãi đến Bình Sơn, vậy mà tôi cứ dửng dưng đi qua, chưa một lần ghé lại.

Còn một móc neo

Cả làng gốm, giờ chỉ còn anh Đặng Văn Trịnh tiếp tục sản xuất. Hàng anh làm ra tới đâu, bán tới đó. Thu nhập bình quân 15 triệu đồng mỗi tháng. Khách hàng chủ yếu là Đà Nẵng, Hội An. Ngoài những đồ gốm gia dụng như vò, ghè, chum, ảng, chậu phong lan… anh còn sản xuất gốm giả cổ và gốm trang trí  cho khách đặt hàng. Là một người lâu năm trong nghề, anh tự hào rằng, bất cứ mẫu hàng nào hễ có khách yêu cầu, anh đều có thể làm được. Những người tài hoa như anh trước kia không hề hiếm.

Ông Thuần nói với tôi, chưa biết làng gốm Mỹ Thiện được hình thành từ năm nào. Nhưng theo “Quảng Ngãi tỉnh chí” (1933) thì toàn tỉnh có các lò gốm ở Đông Thành, Đại Lộc (Sơn Tịnh), Thạnh Hiếu, Chí Trung (Đức Phổ), Bồ Đề (Mộ Đức), trong đó Mỹ Thiện là nổi tiếng nhất. Nhờ nằm ở vị trí thuận tiện, sản phẩm xuất lò được vận chuyển đi các nơi dễ dàng. Có thời sản phẩm qua cửa biển Sa Cần đã ra tới Đông Hà, Đồng Hới, Vinh… vô tận Bình Định, Khánh Hòa. Còn trong tỉnh thì theo đường bộ hoặc đường sông, ngược lên miền núi xa xôi.

Đến năm 1964, qua trận lụt lớn, lạch Bến Củi bị bồi lấp một phần. Chi phí sản xuất như đất, chất đốt, vận chuyển đã tăng cao nên một số gia đình tìm kế sinh nhai khác. Nhất là sau này, vào những năm 1988 – 1989, học theo cách tráng men của Bát Tràng không thành công, hầu hết các lò đốt cầm chừng, rồi sau đó không cạnh tranh nổi với gốm sứ ngoài Bắc, trong Nam và hàng nhựa nên các lò tự giải tán.

Cách pha men cổ truyền, hiện nay chỉ còn ông Đặng Thạnh. Ngoài các loại men chính như men màu đen, men vàng và men nâu sành, ông còn gia giảm, loại bớt để sản phẩm có các màu xanh ngọc, da lươn, men chảy, vàng rạn da… Sản phẩm làm ra nay ế ẩm, nhưng bàn tay hay lam, hay làm của ông không nghỉ được. Ông gởi vào lò của anh Trịnh (con trai ông) một ít gốm mộc rồi hàng ngày tòn tơn quảy ra chợ huyện bán để khỏi quên nghề. Còn ông Hồ Duy Khánh thì ghi chép lại tất cả các công đoạn, bí quyết nghề làm gốm. Nhìn quyển vở học sinh nhem nhuốc những chữ viết, những hình vẽ các kiểu lò, cách tạo hình các sản phẩm, cách chế tác các vật dụng lớn… không ai khỏi chạnh lòng, bởi một làng nghề sắp bị biến mất.

Cũng may làng còn có anh Đặng Văn Trịnh, được xem như một móc neo cuối cùng giữ lại nghề gốm Mỹ Thiện. Độc đáo nhất của tay nghề anh là ở kỹ thuật hỏa biến và nước men vàng. Gốm hỏa biến là sự sáng tạo của lửa nên đầy bất ngờ, thú vị. Lúc sản phẩm ra lò, lòng người thợ cũng hồi hộp, bâng khuâng như cuộc hò hẹn tình yêu đầu đời. Màu vàng của men tựa sắc mai xuân; óng ả, quý phái, dịu dàng như lụa. Cầm trên tay, lúc này sản phẩm gốm không phải là đồ vật vô tri, chỉ có giá trị sử dụng, mà sinh động, đẹp như tác phẩm nghệ thuật, nhìn mãi không chán mắt.

Tất cả những ngón nghề trên, anh Trịnh đều mong muốn truyền lại. Lò gốm của anh nằm trong khu dân cư nên mỗi lần nổi lửa đều gây phiền phức cho hàng xóm. Nhất là mùa mưa, trời nặng, khói không bốc lên được. Muốn mở mang nghề và thu nhận thêm người, đòi hỏi phải có một diện tích đất tương đối rộng. Anh ao ước, giá như được huyện Bình Sơn quy hoạch cho khu đất làm gốm riêng biệt, anh sẽ gom hết số thợ đang tha phương cầu thực quy về một mối để trao truyền nghề.

Đời sống mỗi ngày một khá hơn. Những ngôi nhà sang trọng, những ngôi biệt thự, nhà hàng chen nhau mọc. Tôi đã từng chứng kiến nhiều chủ nhân ra tận Bắc Ninh, Quảng Nam, vào tới Đồng Nai, Bình Định mua đồ gốm về trang trí trong nhà. Vậy mà ngay tại Quảng Ngãi, một làng nghề truyền thống có hàng mấy trăm năm đang trôi về phía lụi tàn. Mong có những bàn tay chặn lại.

V.HIỀN

bài viết của nhà báo HIỀN VĂN ra ngày 15-3 2009 BÁO QUẢNG NGÃI CHỦ NHẬT
một số sản phẩm cổ của lò gốm Mỹ Thiện:


* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Thấy gì từ những bộ sưu tập gốm sứ ở Tây Nguyên

các loại chóe, ghè tại Tây Nguyên

các loại chóe, ghè tại Tây Nguyên

Gốm tìm thấy ở Tây Nguyên rất phong phú và đa dạng về lai lịch , chỉ riêng tại Buôn Đôn, DakLak giáp giới với Kampuchia người ta vẫn trao đổi voi lấy các sản vật gốm sứ ( đặt biệt là chóe , ghè,..) từ Kampuchia, Đông Bắc Thái Lan, từ các lò gốm vùng Maenam Noi miền trung Thái Lan và ngay cả gốm của vùng Hạ Miến Điện. Nhưng ưu thế ở các nơi khác vẫn thuộc về các thương buôn Chăm vì lý do ngôn ngữ khá gần với các cộng đồng Tây Nguyên.

Nam Tây Nguyên cũng được biết đến như một chặng dừng rực rỡ của con đường gốm sứ trên biển. Từ xa xưa, người Tây Nguyên đã coi gốm sứ là đồ dùng có giá trị gia bảo, “có thể bắt gặp gốm ở bất kỳ đâu, từ chốn cung đình lộng lẫy đến mỗi ngôi nhà dân dã”. Người dân thường dùng ghè, chóe, jăng, nồi, tô, ché; giới quý tộc dùng gốm làm đồ trang trí quý giá…

Trong khi đó gốm thuần Tây Nguyên là đồ đất gia dụng do các phụ nữ trong các cộng đồng đã định cư sản xuất với phương thức tương tự như các làng nghề gốm Chăm ven biển Bình Thuận và Ninh Thuận.

Nồi nấu của dân tộc Katu

Nồi nấu của dân tộc Katu

Nồi nấu của dân tộc Ede, Ma hay Bana

Nồi nấu của dân tộc Ede, Ma hay Bana

Thông qua những bộ sưu tập gốm sứ, chúng ta bắt gặp một thời vàng son, hưng thịnh của chủ nhân nơi này trong việc giao thương trao đổi, buôn bán gốm sứ với các vùng trong nước và với nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư… Bộ sưu tập gốm sứ Đại Làng (xã Lộc Tân – Bảo Lộc) gồm 2.312 tiêu bản. Loại hình hiện vật cơ bản lớn nhất là các loại tô, bát men ngọc; tô, bát, đĩa bán sứ; tô, bát, đĩa sứ hoa lam; âu, liễn, cốc, bình, hũ, vò, chóe, lọ sứ, bán sành sứ; bình vôi, nồi gốm thô, ấm… Chất liệu để làm tô, bát, đĩa là loại cao lanh đã luyện lọc kỹ, trắng mịn. Hoa văn trang trí nằm dưới lớp men trắng, xanh, xanh lơ, vàng nhạt, vàng xám, xám xanh, xanh ngả vàng; đề tài được thể hiện hoa văn rất đa dạng gồm: cây cỏ hoa lá thân mềm, dạng dây leo, muông thú được vẽ cách điệu với đường nét mềm mại, uyển chuyển; mô tả các loài chim, cò, phượng, hạc, các loài cá, các loài thú và những con vật tưởng tượng (rồng bay, ngựa bay). Có những bức tranh mô tả phong cảnh, thuyền rồng, ngựa du ngoạn, bờ hồ với cỏ cây… hoặc hoa văn kỷ hà vẽ chìm với những đường khắc miết uốn lượn khoáng đạt.

Bộ sưu tập gốm sứ Đại Lào (Lộc Châu, Bảo Lộc) gồm 294 tiêu bản được phục nguyên dạng và hàng ngàn mảnh gốm, phổ biến là các loại hình chóe, bình, bát, đĩa, âu, cốc, ấm, nồi đất.

Bộ sưu tập gốm sứ Đạ Đờn (Lâm Hà) gồm 87 hiện vật nguyên và gần 16 ngàn mảnh vỡ; với loại hình tô, chén, đĩa men ngọc, bán sứ và đồ sành.

Những bộ sưu tập gốm sứ thông qua các cuộc khai quật khảo cổ học đã nêu, chỉ là một góc nhỏ bề nổi của tảng băng chìm với hàng chục khu mộ táng đã tìm thấy, chưa khai quật, và hàng trăm khu mộ táng lẩn chìm trong những cánh rừng hùng vĩ.

Những bộ sưu tập gốm sứ Nam Tây Nguyên được TS Bùi Chí Hoàng sắp xếp theo trật tự phát triển với độ chênh lệch niên đại không lớn: từ Đạ Đờn đến Đại Làng, Đại Lào, Lạc Xuân, Đạ Lây, Lộc Sơn… có niên đại sớm từ thế kỷ XII – XIII Khmer, Nguyên (Trung Quốc), Lý (Việt Nam). Phổ biến nhất là loại gốm có niên đại XV – XVI (Gò Sành, Chu Đậu (Việt Nam); Phúc Kiến, Long Tuyền (Minh – Trung Quốc) và muộn nhất là gốm Imari (Nhật) có niên đại giữa thế kỷ XVII.

Các di tích gốm sứ ở Nam Tây Nguyên trải trên một vùng không gian rộng lớn, đây là một mảng quan trọng trong mạng lưới gốm sứ thương mại quốc tế, với sự có mặt hầu hết các sản phẩm gốm sứ từ các trung tâm gốm sứ mạnh như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật, Thái… điều đó cho thấy các cộng đồng cư dân ở Lâm Đồng vào giai đoạn lịch sử này là một cộng đồng khá giàu mạnh. Họ đã chủ động mở rộng cánh cửa địa vực cư trú của mình, tham gia vào mạng lưới kinh tế hàng hóa khu vực. Con đường gốm sứ thương mại trên biển được thiết lập rất sớm, do các thương nhân Trung Hoa và bùng nổ mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XVI với sự xuất hiện của Công ty Đông Ấn (Hà Lan) và sau đó là các đội Châu Ấn thuyền của Nhật Bản. Các chuyến thuyền buôn cặp vào thương cảng miền Trung (Hội An), nước mặn (Quy Nhơn) và có khả năng gốm sứ Trung Hoa, Bắc Việt Nam, Bình Định đến Lâm Đồng qua sự trung chuyển của các thương nhân Chămpa… và mang về những sản phẩm của Tây Nguyên theo chiều ngược lại; một con đường khác từ thung lũng Chao – Praya (Thái Lan) theo dòng chảy sông Menam xuôi Nam bộ ngược lên Nam Tây Nguyên theo dòng sông Mêkông, Đồng Nai. Tuyến đường bộ cắt ngang Nam Trường Sơn đoạn Đơn Dương, Ninh Thuận tạo một hành lang thương mại giữa duyên hải Trung bộ Việt Nam và Tây Nguyên: Các thương nhân Chămpa tạo nên những kết nối kinh tế giữa hai vùng này. Trên con đường thâm nhập của các dòng gốm sứ thương mại quốc tế, Nam Tây Nguyên là vùng đất thoáng mở, năng động và liên tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát triển.

Những sưu tập gốm sứ không chỉ cùng với thời gian chứng kiến sự sinh tồn của các cộng đồng cư dân vùng Nam Tây Nguyên mà còn đồng hành với họ minh chứng cho một cơ tầng văn hóa độc đáo, đa dạng. Gốm sứ đã từng là một loại hình nghệ thuật được sử dụng, được coi như một thú chơi tao nhã của xứ sở này; giờ đây, gốm sứ gắn với con người trong lịch sử của Nam Tây Nguyên như đặc trưng văn hóa của một vùng đất, với một thế giới đầy biến ảo của sắc màu đất quả lửa, với những sáng tạo đầy ngẫu hứng về kiểu dáng và cả sự ngưỡng vọng của tâm hồn hướng đến cái đẹp tột cùng của Chân – Thiện – Mỹ.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »