Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Gốm Hương Canh’

Vì sao làng gốm Hương Canh chỉ còn là cái tên

Làng gốm Hương Canh thuộc huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) từ cách đây 300 năm đã nổi tiếng là trung tâm sản xuất gạch, ngói “khổng lồ” của cả miền Bắc. Lúc nào, làng cũng như một đại công trường; khói tỏa mù mịt quanh năm suốt tháng… Thế mà bây giờ, cả cái công trường gạch, ngói này bỗng nhiên “khai tử” bởi một lý do đơn giản: Không còn một tấc đất nguyên liệu để sản xuất, phải đi “đong” từng cục đất.
Anh Nguyễn Tất Viên và lò gạch cuối cùng ở làng Hương Canh nổi tiếng.


Bước vào Hương Canh bây giờ, đâu cũng chỉ là những lò gạch nằm lạnh ngắt. Bói mãi không ra một cái lò còn đỏ lửa. Gương mặt người làng Hương Canh đầy nuối tiếc. Ai cũng có thể say sưa kể về một “thời vang bóng” nhưng họ đều nhận ra rằng, khó có cơ hội quay trở lại cái giai đoạn hoàng kim nữa.

Ông Nguyễn Thanh, 61 tuổi, ở xóm Lò Cang, người đã có mấy chục năm gắn bó với những lò gạch, lò ngói, kể rằng ngói Hương Canh đã nổi tiếng từ 300 năm trước. Ngói lợp đỏ hồng khắp các mái nhà, tổ ấm. Ngói trùm lên cả đình làng. Hết bán gần rồi lại bán xa. Ngói còn được đưa lên tàu, xuôi nước sông Hồng ra biển, ngược tận Vân Đồn (Quảng Ninh), vào tận Nghệ An, Hà Tĩnh. Hương Canh đã trở thành một thương hiệu mà nhiều làng làm ngói khác chỉ cần nghe tên là “kính nể”. “Nhưng bây giờ, Hương Canh chỉ còn lại là cái tên thôi”, ông trầm ngâm, nuối tiếc.

Ông còn kể, cho đến những năm đổi mới, hàng trăm hộ gia đình ở Hương Canh vẫn còn nung ngói theo hình thức hợp tác xã. Sau đó, mô hình hợp tác xã ngói tan vỡ, người ta lại ôm ngói về nhà mở lò riêng. Cho đến cách đây chừng 12-13 năm thì ngói trở nên lép vế, nhưng người Hương Canh đã nhanh chóng quay sang đóng gạch xây dựng và cứ thế ăn nên làm ra.

Nhờ được cơ chế thị trường tiếp sức, gạch nung bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Bởi thế, chỉ trong một thời gian ngắn, từ hàng chục lò gạch được nhân lên hàng trăm lò gạch. Rồi sự thịnh vượng cũng chỉ được chừng vài năm thì hàng loạt chủ lò gạch lại đứng trước một bài toán rất nan giải, đó là đất nguyên liệu cứ bị khoét, đào, sấn mãi dẫn đến không còn một thước đất để làm gạch nữa.

Số lượng lò gạch xuất hiện quá nhiều, quá nhanh trong khi quỹ đất lại chỉ có hạn, quy hoạch thì không hề có. Không còn cách nào, nhà nhà phải tính đến nước đi sang các làng, xã ở lân cận để mua đất về đóng gạch. Nhưng rồi, đến lượt các làng, xã khác cũng không còn đất để làm gạch, dần dần đã dồn hàng loạt hộ dân vào một tình thế không thể khác là phải “giã từ lò gạch”.

Đi từ đầu làng đến cuối làng, hỏi han mãi, cuối cùng chúng tôi mới tìm được một chủ hộ còn làm gạch. Đó là gia đình anh Nguyễn Tất Viên, 48 tuổi, ở xóm Đống Mước. Anh khẳng định: “Cách đây 10 năm, ở Hương Canh đã có tới 600 hộ mở lò làm ngói, làm gạch. Thế nhưng bây giờ, ngói hầu như không còn một lò nào nữa. Gạch thì còn đúng một lò nhà tôi”.

Có lẽ, không hoạt động nào “ăn” đất cát tốn kém như làm gạch, ngói. Từng vạt ruộng, bờ ao cứ bị “gặm” dần. Ban đầu, người ta tranh thủ “gợt” lớp đất ở mặt ruộng để làm gạch. Dần dần, ruộng cũng thành ao, hố. Cả làng, đâu cũng chỉ toàn ao, hố. Hết ruộng, người ta “móc” đến vườn.

Dẫn chúng tôi ra khu vườn nhỏ trước nhà, nơi 4 vạn viên gạch mộc đang xếp phủ kín lối đi. Chỉ xuống 2 cái ao cuối vườn, anh Viên bảo: “Hai cái ao kia cũng vì khoét đất làm gạch mà thành. Khoét sâu quá rồi thì không thể khoét thêm được nữa”.

Do không có đủ đất, nên cái lò gạch cuối cùng của anh ở làng Hương Canh cũng chỉ mỗi năm một lần đỏ lửa. Trỏ vào cái lò, anh bảo: “Nếu có đủ đất thì tôi có thể đắp thêm 4-5 cái lò như thế nữa. Giờ làm gạch rất có lãi. Nhưng không có đất, phải đi “ăn đong” từng cục đất, làm ăn thất thường, thu nhập thất bát”.

Cách đây 2 năm, trong làng vẫn còn khoảng 20 nhà làm gạch, ngói song ngày ngày, bà con phải kéo nhau sang tận các xã Sơn Lôi, Quất Lưu, Tân Phong, Tam Hợp… để mua từng xe đất một. Nhưng hiện nay, các xã kể trên cũng không còn đất nguyên liệu. Bởi vậy, bà con phải mua đất “rong”- tức là khi nào có xe ô tô chở đất qua làng thì bà con đổ ra mua về làm gạch. Không có thì lại ngồi chờ!

Gặp chúng tôi ở đầu làng, chị Trần Thị Yên, chừng 50 tuổi, ở xóm Trong, bảo: “Nếu sản xuất gạch thì rất tốn kém đất nguyên liệu. Vì thế chúng em mới dùng để sản xuất ngói. Bây giờ người ta đua nhau xây nhà mái bằng, nhà hộp, nhà lầu… nên chẳng còn mấy ai mua ngói lợp nữa. Tuy thế, mọi năm vẫn túc tắc bán được vài vạn. Nhưng sang năm nay đen đủi quá. Đầu năm giá cả lên cao, người ta đình hoãn xây dựng. Thế là ngói làm ra coi như “đứt” hẳn. Trong nhà em giờ còn đúng 3 vạn ngói, nung từ tháng 4 vừa rồi, mà chưa bán được viên nào”. Chị tính, 3 vạn ngói có trị giá khoảng 15 triệu đồng là một món tài sản lớn của nhà nông.

Không còn cách nào cứu vãn, người làng đành quay lưng lại với ngói, gạch. Chị vợ anh Viên còn kể: “Nhìn giá gạch tăng vù vù đợt đầu năm mà bứt rứt tay chân lắm, nhưng không có đất thì biết làm sao được”.

Chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Hữu Sản- Chủ tịch UBND thị trấn Hương Canh. Hỏi tại sao xã không quy hoạch một khu để bà con có đất sản xuất gạch? Ông than thở: “Phần lớn đất đã và đang được tỉnh quy hoạch, thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp. Quanh đây, giờ khu công nghiệp đã bao vây kín. Trong khi đó, có chỗ đất nào có thể làm gạch thì đã đào bới banh bét cả rồi. Vả lại, thị trấn chỉ còn lại ít đất lúa. Nếu sấn đất lúa để làm lò gạch thì lại không có lương thực. Phải đảm bảo lương thực đã. Bởi thế, đất để sản xuất gạch đang là vấn đề nóng bỏng của địa phương”.

Ông Sản cũng thừa nhận, không có việc làm đang là nỗi lo đè nặng hàng loạt nông dân trong làng. Anh Viên chỉ vào 2 đứa con trai của mình, lo lắng: “Chúng tôi có thể cố gắng chạy vạy cho những đứa như thế này vào làm công nhân, bảo vệ tại khu công nghiệp nhưng còn những người lỡ cỡ như chúng tôi, đi làm cửu vạn thì không đủ sức, vào nhà máy thì thừa tuổi… sẽ không biết sống ra sao?”.

Theo SGGP
Advertisements

Read Full Post »

Gốm Hương Canh – Vĩnh Phúc

 Làng gốm Hương Canh chuyên làm vại, chĩnh, chậu, lọ, tiểu sành. Gốm Hương Canh xưa nay rất được ưa chuộng. Người ta bảo nhau "xứ móng cái, vại Hương Canh".

Làng gốm Hương Canh chuyên làm vại, chĩnh, chậu, lọ, tiểu sành. Gốm Hương Canh xưa nay rất được ưa chuộng. Người ta bảo nhau "xứ móng cái, vại Hương Canh".

Xưa nay dân làng Hương Canh mỗi khi kể về ông tổ nghề gốm cổ truyền của vùng mình, vẫn thường nhắc đến hai vị: một là cụ Đỗ Quang, hai là cụ Đào Nồi (còn gọi là ông Nồi hay Nồi Hầu)…“Truyền thuyết Hùng Vương” (Hội VHNT Vĩnh Phú xuất bản 1981) trang 106, 107 có truyện ông Nồi. Truyện rằng: ở làn Hương Canh, xã Tam Canh (nay thuộc huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) có một gia đình nghèo, chuyên sống bằng nghề nặn nồi niêu. Hai ông bà hiếm hoi sinh được một mụn con trai, đặt tên là Nồi. Nồi càng lớn, càng thông minh, lại giỏi vẽ, giỏi vật, được An Dương Vương cho làm tướng cai quản quân sĩ Âu Lạc. Ông Nồi kết hôn với cô gái mồ côi làng Chiêm Trạch gần kinh đô Cổ Loa, sinh được 2 trai, đặt tên là Đống và Vực. Ba cha con ông Nồi đã nhiều lần làm cho quân xâm lược Triệu Đà thất điên bát đảo. Khi thấy Triệu Đà dùng kế hiểm, cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn với công chúa Mỵ Châu, ba cha con ông vào triều can ngăn, vua Thục không nghe. Ông Nồi cùng hai con xin từ chức về Chiêm Trạch làm ruộng, nặn nồi. Quân Triệu chiếm được Loa Thành, Triệu Đà sai người dụ ba cha con ông ra làm quan. Thấy ông không nghe, Triệu Đà cho quân bao vây Chiêm Trạch. Cả nhà ông phá vây, chạy về quê cũ Hương Canh. Giặc bao vây Hương Canh, ông quay về Chiêm Trạch, lúc ấy là nửa đêm, dân làng đã đóng chặt cổng. Giặc đuổi tới nơi, vợ chồng ông rút dao tự vẫn. Đống và Vực chạy đến nơi, thấy cha mẹ đã chết, cũng tự tử theo. Dân làng chôn cất họ ở khu gò rìa làng. Về sau, mọi người gọi đấy là “Gò Thánh Hoá”. Nhân dân hai thôn Ngọc Chi và Vĩnh Thanh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) đã lập đền thờ và ở Hương Canh nhân dân cũng lập đền thờ cúng ba bố con ông Nồi.

“Truyền thuyết các vị thần Hà Nội”(Nhà xuất bản Văn hoá – thông năm 1994) trang 50, 51 kể lại: Xưa có một người quê Hương Canh (Vĩnh Phúc) làm nghề nặn nồi niêu. Hai vợ chồng nhà ấy sinh được một cậu con trai đặt tên là Nồi…

Trong cuốn “Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề” do Giáo sư Trần Quốc Vượng và PTS Đỗ Thị Hảo biên soạn (Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc-1996) ở mục Nghề Gốm, trang 92, 93, 94 có ghi:

Đào Nồi con ông Đào Hoằng, vốn gốc người Tuyên Quang, ông tổ 4 đời đã chuyển cư về làng Hương Canh (Vĩnh Phúc) lập nghiệp bằng nghề nặn nồi niêu. Nối được nghiệp nhà, Đào Nồi nổi tiếng khắp vùng là người thợ lỗi lạc, tài hoa. Ông lấy vợ họ Dương, người làng Chiêm Trạch (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) cũng là thợ làm nồi khá giỏi giang. Vợ chồng sinh được 2 con đặt tên là Đống và Vực. Đào Nồi không những giỏi nghề mà còn tinh thông võ nghệ, được Thục An Dương Vương cho làm quan, ban tước Hầu, nên còn gọi là Nồi Hầu. Triệu Đà diệt được Vua Thục, đem quân vây làng Chiêm Trạch bắt Nồi Hầu, Gia đình ông chạy về quê cũ Hương Canh. Giặc vây làng Canh, ông lại đưa vợ con quay về Chiêm Trạch. Cổng làng chưa kịp mở, giặc đã tới. Vợ chồng ông rút dao tự sát, hai người con trai cũng chết theo. Dân làng thương tiếc, kính phục, chôn cất gia đình ông ở một khu gò, gọi là mộ Thánh hoá (thuộc thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc, Đông Anh). Đồng thời lập đền thờ để nhớ ơn người vừa là tổ nghề vừa có khí tiết, không đội trời chung với kẻ thù xâm lược.

Làng Hương Canh thuộc xã Tam Canh (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) vốn có nghề làm vại, làm tiểu sành… từ rất lâu đời. Dân gian kể rằng: Ngày xưa có ba ông thợ rất giỏi nghề gốm. Họ rất thân thiết với nhau và cũng rất gắn bó với nghề, muốn con cháu đời sau nối được nghiệp cha ông, các ông bèn chia nhau đi: Một người về Thanh Hoá, một người về Bắc Ninh, và một người về Hương Canh. Cụ tổ ở Hương Canh tên là Đỗ Quang. Hành trạng cụ không được lưu truyền nhưng đền thờ và tượng vẫn còn (hiện ở giữa xóm Cang). Đền không biết xây từ bao giờ nhưng vào năm Cảnh Hưng (vua Lê Hiển Tông 1740-1786) đã được tu bổ khang trang. Hàng năm dân làng tổ chức giỗ tổ vào ngày mồng 6 tháng Giêng, ngày mất của tổ nghề.

Tiến hành khảo sát vùng xóm Cang (cũ), cán bộ khảo cổ đã phát hiện ở độ sâu 2 mét có nhiều mảnh gốm cổ, bao gồm: mũi ngói, chế phẩm của vại, nồi, vung… (theo tài liệu của Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn).

Như vậy, từ truyền thuyết dân gian, đến ngôi đền thờ tổ nghề và các di chỉ khảo cổ, ta có thể khẳng định nghề gốm Hương Canh đã có từ lâu đời, và ở Hương Canh có đến 2 ông tổ nghề gốm: ông Đào Nồi, hay Nồi Hầu là ông tổ nghề gốm nồi niêu, ông Đỗ Quang là ông tổ nghề gốm chum, vại. Ở Hương Canh đã từng có ngôi đền thờ ông tổ nghề Đào Nồi – Nồi Hầu hay không, theo chúng tôi cũng không quan trọng lắm, miễn là cho đến nay ông vẫn tồn tại trong tâm thức người dân Hương Canh cùng với những huyền thoại về người thợ nặn tài hoa và có khí tiết anh hùng.

Một số ai đó cứ cố chứng minh rằng ở Hương Canh không có Đào Nồi – ông Nồi – Nồi Hầu, tưởng cũng nên nhìn rộng ra các vùng gốm khác trong cả nước. Thực tế qua khảo cổ học cho thấy, không phải làng gốm nào ra đời cũng phát triển và mở rộng lên mãi. Nhiều khu gò gốm nổi tiếng hiện chỉ còn là phế tích. Những thế hệ con cháu của họ sau này không còn biết nghề gốm ở ngay trên quê hương mình nữa, có chăng chỉ là ký ức (ví như nghề nặn nồi niêu không còn thấy ở Hương Canh, mà chỉ còn thấy chum, vại, tiểu… rồi gạch, ngói?).

Nghệ nhân Nguyễn Thanh Nhàn làng nghề gốm Hương Canh.

Nghệ nhân Nguyễn Thanh Nhàn làng nghề gốm Hương Canh.

Nhưng có điều này là sự khẳng định chắc chắn: Ở Hương Canh, nghề gốm cổ truyền phát triển kéo dài nhiều thế kỷ nổi tiếng khắp nơi, ăn sâu vào tiềm thức người dân. Mặt hàng truyền thống ở Hương Canh rất đa dạng, phong phú: vại, chum, lon, nồi, ấm… và tiểu sành. Gốm Hương Canh phát triển không theo hướng đồ sứ mà theo hướng sành hoá, với kiểu dáng đẹp, độ nung cao, đanh và không thấm nước, nhằm phục vụ những nhu cầu thiết yếu nơi dân dã.

(Nguồn: Bùi Đăng Sinh –VHTT)

Một số hình ảnh gốm Hương Canh

Sản phẩm gốm Hương Canh.

Sản phẩm gốm Hương Canh.

Bình vôi cách điệu.

Bình vôi cách điệu.

Bình đựng nước trang trí.

Bình đựng nước trang trí.

Chum đựng hình miệng cá.

Chum đựng hình miệng cá.

Tích đựng nước.

Tích đựng nước.

Tượng bán thân

Tượng bán thân

 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »