Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm gò sành’

Chủ nhân gốm Gò Sành là ai?

Văn hóa Chăm pa là một nền văn hóa lớn, có nhiều đóng góp quan trọng làm phong phú thêm bản sắc văn hóa đa dân tộc của cộng đồng các tộc người Việt Nam trong lịch sử. Di tích văn hóa Chăm pa để lại khá phong phú và đa dạng với nhiều loại hình, nhiều chất liệu khác nhau: hệ thống thành quách, đền tháp, các tác phẩm điêu khắc, bia ký và các trung tâm sản xuất gốm… Việc xác nhận chủ nhân của dòng gốm Gò Sành nói riêng và gốm cổ Bình Định nói chung, những năm qua đã có nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu và có một số nhận định trái chiều nhau.

Năm 1991 – 1992, sau khi khai quật lò gốm Gò Sành, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định cùng Viện Khảo cổ học Việt Nam tiếp tục khảo sát nghiên cứu các khu lò gốm khác ngoài trung tâm Gò Sành và đã phát hiện thêm 3 trung tâm sản xuất gốm khác là:

l Trường Cửu – thuộc xã Nhơn Lộc huyện An Nhơn.

l Gò Hời, Gò Cây Ké – thuộc xã Tây Vinh huyện Tây Sơn.

l Gò Cây Me – thuộc xã Nhơn Mỹ huyện An Nhơn.

Tất cả 4 trung tâm sản xuất gốm cổ đều nằm phía Tây thành Đồ Bàn và gần như có cùng một mẫu số chung về: kỹ thuật xây dựng lò, vị trí phân bố, cấu trúc mặt bằng, kỹ thuật nung, nguyên liệu sản xuất, tạo dáng, màu men, hoa văn trang trí …

Khi một số công bố đầu tiên về phát hiện trung tâm gốm Gò Sành trên đất Bình Định là của người Chăm pa, có một vài nhà nghiên cứu còn nghi ngờ, còn có giả thuyết cho rằng của người Việt. Thế nhưng, trong “Các điều ghi chú về làng gốm Bình Định” của Roland và Bulteau, là tư liệu duy nhất viết về làng gốm Bình Định, tổng cộng có 17 làng, thì không có tên làng nào trùng với các địa điểm gốm cổ được phát hiện. Trong lịch sử, người Việt vào vùng đất Vijaya bắt đầu từ sau năm 1471 và tất cả những làng nghề trên mới bắt đầu hình thành và phát triển từ thời Gia Long, các loại hình sản phẩm được sản xuất tại các làng này cũng như cấu trúc lò nung, kỹ thuật đốt lò hoàn toàn khác biệt trung tâm gốm Gò Sành. Mặc dù, gốm Gò Sành có một số nét tương đồng với kỹ thuật sản xuất gốm truyền thống của người Việt ở phía Bắc như sử dụng con kê, bao nung… Nhưng sự khác biệt về kỹ thuật xây dựng lò, màu men, hoa văn giữa gốm Gò Sành và Đại Việt chứng minh hai dòng gốm hoàn toàn khác nhau của hai dân tộc Việt – Chăm.

Việc phát hiện những dòng chữ Chăm viết trên hiện vật trang trí tìm thấy ở các cuộc khai quật lò gốm Gò Sành và những hiện vật tùy táng như các tượng thờ, đồ trang sức Chăm cùng với đồ gia dụng phát hiện năm 1999 trong thành Đồ Bàn là chứng cứ tin cậy, khẳng định thêm về chủ nhân những lò gốm cổ thế kỷ XIII-XV ở Bình Định. Ngoài ra, tại khu lò gốm Cây Me còn tìm thấy 2 mảnh khuôn in với mô típ hoa văn móc xoắn mang phong cách Chăm rõ nét.

Kết quả các đợt khai quật khu lò gốm Gò Sành cộng với các tư liệu con tàu đắm Pandanan có thể khẳng định rằng: chủ nhân trung tâm gốm cổ Gò Sành cũng như Gò Cây Me, Gò Hời, Gò Cây Ké, Trường Cửu là người Chăm pa.

Trong các loại hình di tích văn hóa Chăm pa ở Bình Định, có lẽ các trung tâm sản xuất gốm đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm nhất. Kết hợp yếu tố nội sinh với sự giao lưu trao đổi kỹ thuật bên ngoài, đến giai đoạn này, nghề sản xuất gốm của người Chăm ở vùng Vijaya (Bình Định) khá phát triển. Nhiều trung tâm sản xuất gốm xuất hiện với qui mô lớn, tồn tại lâu dài, sản xuất nhiều sản phẩm, kỹ thuật cao, hệ thống lò nung hoàn chỉnh, sản phẩm có chất lượng tốt. Nghề sản xuất gốm Chăm pa Bình Định đã tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng về loại hình, kích cỡ và màu men đẹp, không thua kém các sản phẩm được sản xuất ở các trung tâm gốm có truyền thống như Nam Trung Quốc hoặc Đại Việt cùng thời, nên khi nhà Minh cấm các tàu buôn Trung Quốc ra nước ngoài, gốm Chăm đã cùng gốm Đại Việt, gốm Thái Lan, gốm Triều Tiên nhảy vào chiếm lĩnh thị trường gốm thương mại thế giới thế kỷ XIV-XV.

Sở KH&CN Bình Định

MỤC LỤC  –  GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Gốm Gò Sành – gốm Chăm cổ

Từ lâu, Gò Sành hay xóm Sành – tên một xóm nhỏ thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định – đã trở thành điểm tham quan, tìm hiểu của giới nghiên cứu gốm cổ trong nước và quốc tế.

Nằm cạnh quốc lộ nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, vị trí Gò Sành rất thuận lợi cho những ai có dự định đến thăm.

Người dân Phụ Quang kể rằng, trong khi đào đất xây dựng hoặc canh tác, họ thường gặp những vùng đất ken dày các mảnh gốm sứ với nhiều bát, đĩa, cốc còn nguyên vẹn. Tuy không biết chúng đã bị vùi lấp từ bao giờ nhưng họ cho rằng chủ nhân của những cổ vật này là người Chăm.

Vào khoảng những năm 70 thế kỷ trước, gốm Gò Sành đã theo chân giới buôn bán đồ cổ đi đến nhiều vùng, gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam và thế giới. Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ TP HCM đã đến Phụ Quang để tìm hiểu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào tại Gò Sành nhưng họ cũng đưa ra giả thuyết, người Chăm đã làm ra những sản phẩm gốm này.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng

go-sanh

Tượng gốm Gò Sành.

Hơn 10 năm sau, những hiện vật gốm Gò Sành lại được nhắc đến. Dựa vào những hiện vật có nguồn gốc từ Gò Sành của một nhà sưu tầm trong nước, Rosana Brown, một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á, dành một chương trong luận văn tiến sĩ của mình viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định. Cho đến trước năm 2000, đã có bốn cuộc khai quật được tiến hành liên tục tại khu di tích này.

Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có năm nhóm. Ở huyện An Nhơn có Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các đều nằm dọc hai bờ sông Kôn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy.

Những cuộc khai quật khảo cổ tại Gò Sành được thực hiện vào các năm 1991, 1992, 1993. Cuộc khai quật năm 1994 có sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò số 1, số 2 và số 3 là ở Gò Sành.

Lò số 1 có tên là lò Cây Quăng, hiện còn khá nguyên vẹn, từ tường, nền và sản phẩm nung cuối cùng. Nó có dạng hình ống với tổng chiều dài 14 m. Buồng lò hình chữ nhật, mở rộng dần về phía cuối, đo được 1,6 m. Chiều rộng ở phía trước là 2,8 m.

go-sanh2

Gốm Gò Sành có nhiều sản phẩm độc đáo

Ở một bên tường có cửa để vào xếp và dỡ sản phẩm. Một bức tường thẳng cao 0,5 m tách riêng phần buồng lò và bầu đốt. Chỗ tường phía cuối lò cũng xây bằng những bao nung để thoát lửa và khói, được xếp thành hàng ngang với 6 lỗ trống. Hai lớp nền thuộc hai thời kỳ khác nhau, được phân biệt rõ ở phần buồng lò, với lớp nền dày 0,3 m. Tường lò được xây bằng bao nung, nhồi đất sét kín ở bên trong. Đây là kỹ thuật xây rất mới mà các nhà nghiên cứu chưa thấy xuất hiện ở đâu khác trên đất Việt Nam.

Lò số 2 có tên là lò Cây Mận (Cây Roi), nằm ở phía nam của Gò Sành. Về kỹ thuật, nó giống như lò số 1, tường cũng xây bằng những bao nung lèn đất. Cách sắp xếp cột chia lửa trong bầu đốt cũng tương tự.

Lò số 3 nằm dưới lò số 2. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là lò có niên đại xây dựng sớm nhất. Tường không làm bằng bao nung mà hoàn toàn bằng đất. Lò rộng 1,2 m chỗ gần bầu đốt, 1,7 m ở phía sau. Chiều dài thân lò 5,3 m. Ở cuối tường mở bốn lỗ trống thoát khói. Ống khói nhỏ, góc thoát lên trên, lối dẫn lửa vào nằm ở cùng độ sâu với buồng lò, cho phép lửa từ bầu đốt đi lên. Đây là kiểu đốt lửa độc đáo của người Chăm mà trước đây chưa thấy một tư liệu nào nói đến.

go-sanh3

Hiện vật tại hố khai quật Gò Sành

Hiện, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định thu thập và lưu giữ một bộ sưu tập khá phong phú các sản phẩm gốm Gò Sành. Việc xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập có thể giúp hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Sản phẩm sành sứ chủ yếu được sản xuất tại đây bao gồm bát, đĩa, chậu tráng men, ngói không men và vật trang trí kiến trúc. Những chiếc bát đĩa tráng men Celadon và bình hũ tráng men nâu có đặc điểm tương tự với sản phẩm các lò Phúc Kiến (Trung Quốc).

Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn có xương màu xám mực, đỏ nhạt, giai đoạn sớm dùng kỹ thuật con kê, men tráng gần sát đáy; giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.

Gốm Gò Sành sản xuất ra không chỉ để phục vụ tại chỗ mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan thuộc Philipphines có hàng nghìn đồ gốm Gò Sành.

Cho đến nay, chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắn chắn niên đại khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung. Nhưng qua những kết quả khai quật tại Gò Sành và ở nước ngoài, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của làng nghề này nằm trong khoảng thế kỷ 15-16. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng, việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, chậm lắm là đến thế kỷ 16.

Dựa vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, loại hình các sản phẩm được làm ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu kết luận, chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Chămpa cổ.
Theo Địa Chí Bình Định

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »