Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm Chăm’

Gốm Gò Sành – gốm Chăm cổ

Từ lâu, Gò Sành hay xóm Sành – tên một xóm nhỏ thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định – đã trở thành điểm tham quan, tìm hiểu của giới nghiên cứu gốm cổ trong nước và quốc tế.

Nằm cạnh quốc lộ nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, vị trí Gò Sành rất thuận lợi cho những ai có dự định đến thăm.

Người dân Phụ Quang kể rằng, trong khi đào đất xây dựng hoặc canh tác, họ thường gặp những vùng đất ken dày các mảnh gốm sứ với nhiều bát, đĩa, cốc còn nguyên vẹn. Tuy không biết chúng đã bị vùi lấp từ bao giờ nhưng họ cho rằng chủ nhân của những cổ vật này là người Chăm.

Vào khoảng những năm 70 thế kỷ trước, gốm Gò Sành đã theo chân giới buôn bán đồ cổ đi đến nhiều vùng, gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam và thế giới. Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ TP HCM đã đến Phụ Quang để tìm hiểu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào tại Gò Sành nhưng họ cũng đưa ra giả thuyết, người Chăm đã làm ra những sản phẩm gốm này.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng

go-sanh

Tượng gốm Gò Sành.

Hơn 10 năm sau, những hiện vật gốm Gò Sành lại được nhắc đến. Dựa vào những hiện vật có nguồn gốc từ Gò Sành của một nhà sưu tầm trong nước, Rosana Brown, một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á, dành một chương trong luận văn tiến sĩ của mình viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định. Cho đến trước năm 2000, đã có bốn cuộc khai quật được tiến hành liên tục tại khu di tích này.

Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có năm nhóm. Ở huyện An Nhơn có Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các đều nằm dọc hai bờ sông Kôn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy.

Những cuộc khai quật khảo cổ tại Gò Sành được thực hiện vào các năm 1991, 1992, 1993. Cuộc khai quật năm 1994 có sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò số 1, số 2 và số 3 là ở Gò Sành.

Lò số 1 có tên là lò Cây Quăng, hiện còn khá nguyên vẹn, từ tường, nền và sản phẩm nung cuối cùng. Nó có dạng hình ống với tổng chiều dài 14 m. Buồng lò hình chữ nhật, mở rộng dần về phía cuối, đo được 1,6 m. Chiều rộng ở phía trước là 2,8 m.

go-sanh2

Gốm Gò Sành có nhiều sản phẩm độc đáo

Ở một bên tường có cửa để vào xếp và dỡ sản phẩm. Một bức tường thẳng cao 0,5 m tách riêng phần buồng lò và bầu đốt. Chỗ tường phía cuối lò cũng xây bằng những bao nung để thoát lửa và khói, được xếp thành hàng ngang với 6 lỗ trống. Hai lớp nền thuộc hai thời kỳ khác nhau, được phân biệt rõ ở phần buồng lò, với lớp nền dày 0,3 m. Tường lò được xây bằng bao nung, nhồi đất sét kín ở bên trong. Đây là kỹ thuật xây rất mới mà các nhà nghiên cứu chưa thấy xuất hiện ở đâu khác trên đất Việt Nam.

Lò số 2 có tên là lò Cây Mận (Cây Roi), nằm ở phía nam của Gò Sành. Về kỹ thuật, nó giống như lò số 1, tường cũng xây bằng những bao nung lèn đất. Cách sắp xếp cột chia lửa trong bầu đốt cũng tương tự.

Lò số 3 nằm dưới lò số 2. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là lò có niên đại xây dựng sớm nhất. Tường không làm bằng bao nung mà hoàn toàn bằng đất. Lò rộng 1,2 m chỗ gần bầu đốt, 1,7 m ở phía sau. Chiều dài thân lò 5,3 m. Ở cuối tường mở bốn lỗ trống thoát khói. Ống khói nhỏ, góc thoát lên trên, lối dẫn lửa vào nằm ở cùng độ sâu với buồng lò, cho phép lửa từ bầu đốt đi lên. Đây là kiểu đốt lửa độc đáo của người Chăm mà trước đây chưa thấy một tư liệu nào nói đến.

go-sanh3

Hiện vật tại hố khai quật Gò Sành

Hiện, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định thu thập và lưu giữ một bộ sưu tập khá phong phú các sản phẩm gốm Gò Sành. Việc xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập có thể giúp hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Sản phẩm sành sứ chủ yếu được sản xuất tại đây bao gồm bát, đĩa, chậu tráng men, ngói không men và vật trang trí kiến trúc. Những chiếc bát đĩa tráng men Celadon và bình hũ tráng men nâu có đặc điểm tương tự với sản phẩm các lò Phúc Kiến (Trung Quốc).

Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn có xương màu xám mực, đỏ nhạt, giai đoạn sớm dùng kỹ thuật con kê, men tráng gần sát đáy; giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.

Gốm Gò Sành sản xuất ra không chỉ để phục vụ tại chỗ mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan thuộc Philipphines có hàng nghìn đồ gốm Gò Sành.

Cho đến nay, chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắn chắn niên đại khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung. Nhưng qua những kết quả khai quật tại Gò Sành và ở nước ngoài, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của làng nghề này nằm trong khoảng thế kỷ 15-16. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng, việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, chậm lắm là đến thế kỷ 16.

Dựa vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, loại hình các sản phẩm được làm ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu kết luận, chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Chămpa cổ.
Theo Địa Chí Bình Định

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Làng gốm Bầu Trúc

Làng gốm Bàu Trúc (tiếng Chăm gọi là Palay Hamuk) nằm cách thị xã Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 10km về hướng Nam. Toàn làng có 440 hộ với 2.887 nhân khẩu dân tộc Chăm, trong đó 80% số hộ gắn bó với nghề gốm truyền thống. Đây là một làng nghề vào loại cổ xưa nhất Việt Nam.

Theo truyền thuyết, nghề làm gốm do vợ chồng ông tổ Poklong Chanh dạy cho phụ nữ trong làng từ ngàn xưa. Để tưởng nhớ công ơn của tổ nghề, bà con lập đền thờ tổ chức cúng tế Poklong Chanh vào dịp lễ hội Katê hàng năm. Ngoài nghề làm ruộng lúa, chăn nuôi gia súc thì nghề gốm được xem là ngành sản xuất chính ở địa phương. Tuy chưa thể giàu lên từ nghề gốm nhưng nhiều gia đình có cuộc sống ổn định nhờ vào bàn tay tài hoa của những người thợ gốm thủ công.

Gốm Chăm Bàu Trúc

Cô gái Chăm chầm chậm đi quanh, đôi bàn tay ve vuốt nhẹ nhàng… Chỉ sau vài vòng đi của cô, dáng hình của chiếc bình đã dần dần hiện ra. Du khách ngẩn ngơ bởi vũ điệu khoan thai, thô phác mà dịu dàng. Chẳng cần lời ca, chẳng cần đèn, cần nhạc, bao đời nay, hàng ngày những cô gái ở làng gốm Chăm vẫn múa… Họ trình diễn một cách hồn nhiên vũ điệu của lao động, của cuộc sống bình dị…
Khác những loại gốm ở nhiều làng khác, gốm của làng gốm Chăm Bàu Trúc (Ninh Phước, Ninh Thuận) không tráng men, không kén nguyên liệu cao lanh, cũng không có lò nung bằng than hay bằng gas. Gọi là gốm cho sang trọng cũng được, gọi là đất nung thấp lửa như cách nói của các nhà chuyên môn cũng chẳng sao. Sản phẩm gốm của Bàu Trúc được tạo nên bằng đất nguyên sơ của quê hương rồi đem đốt cũng bằng rơm bằng trấu của chính mảnh đất này. Nếu có cần thêm một chút màu trang trí cũng chỉ vẩy thêm nước của vài loại lá cây lên sản phẩm khi còn chưa nguội. Nhưng đó chưa phải là nét độc đáo nhất của vùng nghề này.

Du khách đến Bàu Trúc đều ngạc nhiên vì đi khắp cả làng mà không thấy nhà nào có bàn xoay, một công cụ gần như đặc trưng của các làng nghề gốm. Cô gái Chăm chỉ cần đất được nhồi kỹ và một mặt phẳng là đủ các điều kiện để chế tác sản phẩm. Họ uyển chuyển đi vòng tròn quanh khối đất. Đất thì nằm yên còn họ thì khoan thai, đều đặn di chuyển vòng quanh và thao tác từ tốn bằng đôi tay.

Gọi là gốm cho sang trọng cũng được, gọi là đất nung thấp lửa như cách nói của các nhà chuyên môn cũng chẳng sao

Có lẽ trời đã phú cho những người con gái Chăm cái năng khiếu cảm nhận đặc biệt qua đôi bàn tay về sự đều đặn, về sự tròn trịa để đôi tay của họ có thể thay được cả chiếc bàn xoay trên mỗi bước vừa đi quanh vừa nặn gốm. Nhịp điệu của chuyển động, độ nông sâu, nặng nhẹ của từng nét vuốt ve… chỉ có những cô gái Chăm mới có thể hiểu được. Không dùng bàn xoay nhưng những sản phẩm ở đây vẫn đạt độ tròn gần như tuyệt đối. Cái khả năng cảm nhận tinh tế đó từ bàn tay mẹ truyền qua bàn tay con gái, đời nối đời, chưa bao giờ dứt. Kinh nghiệm truyền qua nhiều đời đã hoà vào dòng máu của từng người con gái Bàu Trúc.

Vừa đi quanh vừa nặn gốm, ngôn ngữ hình dáng cơ thể của người con gái như giao hoà, đồng điệu với dáng dấp chiếc bình mà cô sắp tạo ra. Vài sợi tóc xoã vương trên khuôn mặt đang cúi chăm chú, khuôn ngực trẻ căng tròn thấp thoáng qua những vòng xoay, eo hông uyển chuyển trên mỗi bước đi… Khâu tạo hình đã hoàn tất, cô gái dùng khăn ướt để xoa bóng bề mặt chiếc bình. Tiếp sau có thể dập hoa văn trang trí lên thân bình, cũng có thể để trơn, hong khô rồi đem đốt ở trong vườn, ở ngoài đồng rìa làng.

Mọi người ở đây đều nôm na gọi cách đi quanh để làm gốm là đánh vòng. Cách đánh vòng của phụ nữ Chăm làm gốm thật giản dị, năng suất lao động có vẻ không cao như làm gốm bằng bàn xoay nhưng trên từng sản phẩm của họ, dấu vết lao động còn in hằn rõ nét. Màu của gốm cũng chất phác, giản dị như màu đất quê hương. Những chiếc vò, chiếc lu của người Bàu Trúc được làm nên bởi kỹ thuật đánh vòng đã phục vụ cho đời sống đồng bào Chăm bao đời. Chẳng biết do đâu mà nước đựng trong những chiếc lu giữa vùng đất ít mưa, nhiều nắng, nhiều gió mà lúc nào cũng mát như để trong tủ lạnh.

Những chiếc lu, chiếc vò và vũ điệu đánh vòng giản dị đã làm nên nét bản sắc văn hoá của một vùng dân tộc. Những sản phẩm gốm Bàu Trúc từ bao đời đã thân thuộc với các gia đình đồng bào Chăm và cả đồng bào Kinh ở Ninh Thuận. Nay bà con đã biết đánh vòng để làm thêm nhiều sản phẩm khác – những sản phẩm gốm mỹ nghệ phục vụ du lịch, thương mại và cả xuất khẩu. Bây giờ những sản phẩm gốm mỹ nghệ ở Bàu Trúc đã là một nguồn thu đáng kể. Mỗi sản phẩm đều có giá bán nhất định nhưng trước hết và cao hơn là những giá trị văn hoá ẩn chứa ở trong đó. Mỗi du khách đến đây đều chọn cho mình một vài sản phẩm làm đồ lưu niệm. Họ muốn mang về, chiêm ngưỡng và lưu giữ những nét văn hoá đặc sắc của một làng, của một nghề và của những con người bình dị nơi đây… Và còn bao nhiêu người nhớ cô gái Chăm đánh vòng làm nên gốm…

Các bài đã đăng :

*Gốm sản xuất  ở Bắc Bộ

*Gốm sản xuất ở miền tây nam bộ

*Gốm sản xuất ở miền đông nam bộ

*Gốm sản xuất ở Trung Bộ

*Hồi sinh Pháp Lam Huế

*Hàng tráng men: Pháp Lam và Pháp Lam Huế

*Gốm cổ Quảng Đức : Hình ảnh tham khảo

*Gốm cổ Champa Bình Định

*Làng gốm cây me Bình Định

*Chủ nhân gốm Gò Sành là ai ?

*Đèn gốm làng nghề Thanh Hà –Hội An

*Thấy gì từ những bộ sưu tập gốm sứ ở Tây Nguyên

*Gốm Quảng Đức –Phú Yên

*Gốm Thanh Hà Quảng Nam

*Gốm Phước Tích

*Gốm Gọ – Bình Thuận

*Gốm Gò Sành – Gốm Chăm Cổ

Read Full Post »