Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm Cây Mai’

Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở Nam Bộ

HUỲNH NGỌC TRẢNG – NGUYỄN ĐẠI PHÚC

Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam.
Mục đồng thỉ tạo kim lưu tích;
Ông Trí tiên tu hậu hữu danh
.
Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí.
Đây là những  hình tượng Phật do mục đồng tạo nên
Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoảng hơn 40 ngôi chùa mục đồng khắp các địa phương ở Nam Bộ.
1. Chùa mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư Tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp…
Ở An Phước tự (tục danh chùa mục đồng Hóc Tra / An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi: nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dưới chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình… khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!
Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự / Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.
Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi, TP.HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật  chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng trùm cả và trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, hương chức đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa lá để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo…
Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi giạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.
2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam Bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ Phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam Bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.
Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo quy phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi quy về đồ tượng học Phật giáo: quý tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ…. Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.
Do đó, về mặt tạo hình, chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập họp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP.HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.
3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ kheo hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như quy thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của Đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện.
Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tượng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.
Chuyen phap luan online

.(1) Theo quan niệm phổ biến ở Nam Bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỷ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đông ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nỗ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một sô thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.


Advertisements

Read Full Post »

300 NĂM NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH PHẬT TUỢNG GIA ĐỊNH-SÀI GÒN

NGUYỄN ĐẠI PHÚC – HUỲNH NGỌC TRẢNG

Nói chung, nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở xứ Gia Định-Sài Gòn từ buổi đầu đến thập kỷ 40, 50 của thế kỷ này dường như là một tiến trình song hành của hai dòng phái: dân gian và chuyên nghiệp.

I. Ở các thôn làng Nam Bộ, đây đó, có những ngôi chùa làng được gọi là “chùa mục đồng” mà theo truyền thuyết thì các Phật tượng thờ ở đó là do bọn trẻ chăn trâu/ bò lấy đất sét ở gò mối hay dưới ao tự nặn ra. Nặn ra rồi bày trò cúng kiếng rồi bỏ đó. Lại theo lời tục truyền, có đứa đem tượng xuống ao/sông tắm thì các tượng ấy nổi… Dân chúng cho là linh hiển, thế là cất chùa để thờ nên gọi là “chùa mục đồng”, tượng Phật ấy gọi là tượng Phật “mục đồng”. Đằng sau các yếu tố thần kỳ đó cho thấy một sự thật rằng vào buổi đầu khai hoang, dân chúng đã tự tạo Phật tượng để thờ ở các ngôi chùa làng. Đây là một tập thành biểu thị lòng sùng tín và là một bộ phận tiên khởi của lịch sử mỹ thuật Phật giáo Gia Định.

Đặc trưng nghệ thuật của tập hợp Phật tượng mục đồng là sự chân thực hồn nhiên làm sững sờ người xem như một cảm nhận thảng thốt khi bất chợt nghe một câu hò trên sông lúc hoàng hôn. Nói cách khác, chúng được tạo tác bằng một thủ pháp riêng như ca dao – dân ca được ứng tác bằng thi pháp dân gian khác với thi pháp của thi ca bác học. Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là kỹ năng hay sử dụng công của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Nó là sản phẩm của “họa pháp” đại tả ý – nếu có thể gượng ép lấy thuật ngữ này để định danh đó. Cái đẹp của chúng là ở chính sự thô phác ấy.

II. Chất liệu của tập hợp Phật tượng dân gian mà chúng tôi định danh chung là “Phật tượng mục đồng” bao gồm tượng gỗ, tượng đất sét, tượng đất nung.

1. Pho tượng Phật lần chuỗi ở chùa Hội Sơn (Thủ Đức) và các tượng khác không xác định được tên gọi ở chùa Long Tân (Tân Vạn – Biên Hòa) là các tượng bằng đất nung đặc ruột. Đây là những di tích của tiến trình từ tượng mục đồng đất sét đến tượng gốm đất nung bán chuyên nghiệp.

Các tượng gốm đất nung ở đình Phú Định (quận 6), đặc biệt ở chùa Từ Quang (191 Ba Tơ, P.7, Q.8) là những di tượng gốm đất nung thuộc thế hệ đầu của xóm Lò Gốm Cây Mai / xứ Sài Gòn xưa: niên đại đoán định là từ đầu đến giữa thế kỷ XIX. Trong khi đó các bộ tượng gốm đất nung của các chùa Thiên Phước (Thủ Đức), Trường Thọ (Gò Vấp), Diệu Giác (Bình Thạnh) có thể được tạo tác hồi đầu thế kỷ XX vì chúng có kỹ pháp tạo hình và phong cách nghệ thuật khá đồng nhất với loại tượng này ở vùng Dĩ An – Biên Hòa.

Gọi các tượng này là tượng gốm bán chuyên nghiệp vì chúng được tạo tác bằng kỹ pháp học được do thợ gốm chuyên nghiệp (hay do các thợ chuyên nghiệp trực tiếp thực hiện) được hầm bằng trấu, có ôn độ thấp, gốm nung chín còn non và đặc biệt là trình độ tạo tượng là còn non kém, không đạt được trình độ già dặn như Phật tượng sành Cây Mai.

2. Xóm Lò Gốm ở vùng Phú Lâm – Phú Định được ghi trong bản đồ Gia Định-Sài Gòn (Sài Gòn lúc đó hiểu là Chợ Lớn ngày nay) vào năm 1815, tức nó đã thành lập trước đó – có thể là cuối thế kỷ XVIII. Các lò gốm ở đây sản xuất gạch, ngói, đồ gia dụng và có lẽ các lò Nam Hưng Xương, Bửu Nguyên, Đồng Hòa là các lò chuyên làm tượng thờ và các nhóm tượng trang trí của chùa miếu – gọi chung là sản phẩm “công nghệ miếu vũ” – tập trung quanh cầu Phú Lâm đến gò chùa Cây Mai nên thường được gọi là “gốm Cây Mai”.

Pho tượng gốm Cây Mai có niên đại chính xác và sớm nhất là tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên: 1880 và các niên đại muộn nhất là loại tiểu tượng gốm Cây Mai là 1921. Điều đó cho phép xác định các tượng thuộc tập hợp Phật tượng sành là khoảng cuối thế kỷ trước đầu thế kỷ này.

Phật tượng gốm Cây Mai không nhiều nhưng đó là những bảo tượng vì vẻ đẹp của men màu “lưu ly” – nói như thế nhân thường gọi, mà là trình độ nghệ thuật, của tài năng tạo hình – đặc biệt là việc xử lý thần thái của nét mặt và qui pháp tạo hình đã thật sự có tuân thủ nghiêm túc nhất định về nghi qui và đồ tượng học Phật giáo có tính mẫu mực (1).

3. Gốm cây Mai đầu thế kỷ XX bắt đầu tàn rụi vì nhiều nguyên nhân. Thợ gốm ở đây lần lượt dời về Lái Thiêu, Biên Hòa. Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của thợ gốm Cây Mai đã góp phần tạo nên các bộ tượng gốm đất nung nói trên. Các sản phẩm bán chuyên nghiệp này được các chùa đặt mua khá nhiều. Địa bàn phổ biến của chúng từ trung tâm Biên Hòa đến Vũng Tàu – Bà Rịa, xuống Dĩ An, Gia Định, xuống tại chùa Phước Hậu (Trà Ôn – Vĩnh Long).

Ngoài ảnh hưởng của thợ gốm Cây Mai đối với phong trào tự tạo tượng gốm đất nung hầm non bằng trấu nói trên, họ còn là những thợ cả, thầy dạy cho đội ngũ nghệ nhân gốm của trường Mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa (lập năm 1903) mà kết quả là đã tạo nên loại sản phẩm nổi tiếng một thời ở thị trường trong nước và thế giới – gọi là gốm Mỹ nghệ Biên Hòa. Số lượng tượng Phật của gốm mỹ nghệ Biên Hòa là một sưu tập đa dạng và phong phú được tạo tác bằng phương pháp thủ công hoàn toàn, hoặc in khuôn, hoặc rót khuôn và tận dụng nhiều kỹ thuật trang trí khác nhau: chạm khắc, tô men, vẽ men. Bảng màu men của gốm mỹ nghệ Biên Hòa rất phong phú nhưng được sử dụng có liều lượng, có nghiên cứu nên đã tạo nên nhiều Phật tượng trang nghiêm hoàn mỹ. Điều đó, quí vị có thể nhìn thấy ở sưu tập ảnh mà chúng tôi trưng bày ở đợt triển lãm “Bảo tượng pháp khí” này.

III. Bộ phận Phật tượng gỗ là tập thành phong phú nhất về số lượng, về đề tài cũng như phong cách và kỹ pháp tạo hình.

Các Phật tượng của chùa Kim Chương (khai sơn 1755) mà ngày nay còn bảo quản được ở chùa Hội Thọ (Cái Bè – Tiền Giang) là những pho tượng có niên đại 1813 – năm tái thiết lớn và ngôi chùa sắc tứ này được thế nhân xưng tụng là “đại bửu sát” của cả xứ Nam Trung (xem Gia Định thành thông chí) đây là những Phật tượng mà tác giả tạo tác hẳn là nghệ nhân Huế. Chúng ta không có tài liệu Hán Nôm nào để khẳng định là chúng được Cao Hoàng hậu cho chở từ kinh đô Phú Xuân vào, nhưng căn cứ vào đặc điểm đồ tượng học, vào phong cách tạo hình chúng ta có thể kết luận về điều đó. Tương tự A Di Đà của chùa Khải Tường là pho tượng của vua Minh Mạng dâng cúng vào khoảng sau năm 1832, khi ông vua này “lấy của kho 300 lạng bạc, giao cho quan địa phương theo cách thức đã định của Bộ Công, gọi thợ xây dựng” ngôi chùa ở nơi mình sinh ra, gọi là chùa Khải Tường “để ghi sự tốt lành to tác, chứng tỏ nơi phát phúc lâu dài”(Đại Nam thực lục chính biên. Bản dịch của Viện Sử học, H.1962, tập 9, trang 173 – 174).

Nói chung, đây là những Phật tượng gỗ có tính chất chuẩn mực của nghệ thuật tạo tượng đầu thế kỷ XIX. Trong khi đó các Phật tượng trước sau niên đại này ở các chùa cổ: Trường Thọ, Long Huê, Tập Phước, Phước Tường, Huê Nghiêm, Long Nhiễu, Giác Lâm, Giác Viên… lại còn hoặc thô phác hay quá chân phương, thiếu sinh động… và phải đến những năm 60, 70 của thế kỷ này mới thấy xuất hiện các Phật tượng đạt được chuẩn mực nghệ thuật trang nghiêm thực sự đáng được gọi là có “tướng hảo quang minh”. Các Phật tượng ở các chùa Phước Hòa, Pháp Hội của nghệ nhân điêu khắc gỗ Nguyễn Đức Thống là những ví dụ.

Gia Định-Sài Gòn là thành phố ngã ba đường, nơi hội tụ của nhiều dòng chảy văn hóa. Đặc điểm này cũng biểu hiện khá rõ trong nghệ thuật tạo hình Phật tượng. Các chi phái thợ chạm khắc gỗ từ Thuận-Quảng, từ miền Bắc, từ Thủ Dầu Một, từ Sa Đéc, Long Xuyên, trong đó có các nghệ nhân người Hoa, đã đổ về đây. Họ đã tạo tác nên một tập đại thành Phật tượng theo qui pháp tạo hình và phong cách nghệ thuật khác nhau; và rồi trong những thập niên đầu thế kỷ này, đội ngũ những nhà điêu khắc Phật tượng lại được bổ sung những người tốt nghiệp từ các trường mỹ thuật chính qui. Họ đã tạo tác Phật tượng bằng nhiều chất liệu khác nhau: gỗ, gốm đất nung, sành sứ, thạch cao, xi-măng…

Gỗ là chất liệu truyền thống của nghệ thuật tạo tượng; đặc biệt gỗ mít/mít nài do tên gọi chữ Hán của nó là cây ba la mật nên được coi là thứ gỗ thiêng đặc dụng. Ngày nay, việc tạc tượng Phật gỗ vẫn còn duy trì, song đa phần ngả qua hướng tạo tượng mỹ nghệ hơn là tượng thờ. Phật tượng thờ làm bằng thạch cao, xi măng giờ đây được đắc dụng hơn nhưng do sản xuất hàng loạt nên ít thấy những Phật tượng có giá trị nghệ thuật độc đáo.

Tượng đá ở Nam Bộ, trước đây là sự “tiếp nhận” các di tượng đá đa phần là thần của Bà La Môn giáo để thờ – gọi chung là Phật đá. Gần đây Phật tượng bằng đá của nghệ nhân điêu khắc đá Bửu Long (Biên Hòa) bắt đầu được quan tâm. Một trong những tượng Phật đá hiện đại đáng chú ý là tượng Phật Quan Âm của chùa Quan Thế Âm (Phú Nhuận).

Nói chung, trong 300 năm lịch sử của Gia Định-Sài Gòn-thành phố Hồ Chí Minh, các chi phái thợ, các nhà điêu khắc đã tạo tác nên một tập thành Phật tượng khá phong phú. Qua biết bao biến cố dữ dội suốt ba thế kỷ qua, những Phật tượng còn lại đến nay là một bộ phận quan yếu của lịch sử mỹ thuật vùng đất này. Điều này đã chỉ ra nhiệm vụ của thế hệ ngày nay đối với những giá trị cổ xưa còn sót lại. Những pho tượng cổ, dù không được coi là có “tướng hảo quang minh” theo cái nhìn của con người thời nay; nhưng đó là những giá trị lịch sử một đi không tái lại. Do vậy, việc phế bỏ hay sơn sửa mới đều làm hại đến giá trị vốn có của chúng, dù việc làm đó xuất phát từ những thiện ý.

(1) Tạm kể các tượng đáng lưu ý sau đây: Giám Trai (Giác Viên), Bồ Đề Đạt Ma, Tiêu Diện Đại sĩ (Phụng Sơn – chùa Gò), Chuẩn Đề (Giác Sanh), Tiêu Diện Đại Sứ (tượng đứng – Vạn Đức), Tiêu Diện Đại sĩ (tượng ngồi – Bửu An), Thiện Hữu (đình Phú Định), Di Đà Tam Tôn (cực lớn), Giám Trai, Bồ Đề Đạt Ma (Phước Lưu – Trảng Bàng), nhiều tượng Phật ở Phật điện chùa Vạn Linh (Bình Thủy – Cần Thơ)…

Chuyen phap luan online

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phóng sự ảnh triển lãm giao lưu cổ vật tại Festival Huế 2009

Huế trở thành Thành phố Festival của cả nước kể từ sau Festival 2000 do Pháp tổ chức. Kể từ ấy, các năm chẵn là Festival quốc tê International Festival, và các năm lẻ là Festival các làng nghề truyền thống.

Năm 2007, BTC Festival quyết định đưa cổ vật vào trưng bầy tại lễ hội Festival làng nghề: tôn vinh nghề đúc đồng, chạm khảm, nghề gỗ

Có hơn 20 nhà sưu tập đã đến với Huế: Thanh Hóa(5), Ninh Bình(1), Nam Định(1), TP HCM (14 hội viên Hội CV Nam Bộ).

Năm nay 2009, Festival làng nghề tôn vinh các nghề Pháp Lam, sơn mài, gốm sứ. Có hơn 60 nhà sưu tập cả nước đã về dư cuộc trưng bầy hơn một ngàn hiện vật tại khu trung tâm trưng bầy vừa xây xong, 15 Lê Lợi, TP Huế.

Đêm khai mạc đã diễn ra hoành tráng bên Đập Đá, truyền hình trực tiếp lên VTV 1.

2009.06.16.05.12dem khai mac 1 rs

2009.06.16.05.11dem khai mac 2 rs

Pháp Lam trang trí khung cửa tại Thành Nội, phục chế

2009.06.21.09.59.52plam ngo mon rs

TRƯNG BÀY & TRIỂN LÃM

Pháp Lam trưng bầy trong Đại Nội

2009.06.21.10.01.01pl cung dinh rs

2009.06.21.10.02.44pl dia oval rs

Chóe Tự Đức trong Đại Nội, cao trên 60 cm

2009.06.21.10.03.44choe td 48 33 rs

Lọ Pháp Lam để chơi Cầu Hồ (ném que vào bình), một trò chơi du nhập từ Nhật, Trung Quóc vào VN mà các vua Nguyễn rất thích chơi

2009.06.21.10.05.21plam cau ho rs

Du khách thẫn thờ trước vẻ đẹp gốm Biên Hòa ( sưu tập của NST Bạch Liên )

2009.06.22.05.59.20yohan quan am rs

Lễ cắt băng khánh thành phòng trưng bầy pháp lam và đồ Huế ký kiểu tại trung tâm Phật giáo Liễu Quán.

2009.06.26.05.14.16CAT BANG

Anh Trần Đình Sơn, thứ 3, trái, hạnh phúc vì đã góp phần nhỏ bé của người con xứ Huế cho thành công của Festival, NST Bạch Liên ( Tú Anh) người đeo thẻ đứng ở ngoài cùng bên phải.

2009.06.26.05.17.49son tu anh rs

Bộ sưu tập sứ Ký kiều triều Nguyễn của nhà sưu tập Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.01.50su tq tds rs

Bỗ sưu tập trà cụ ấm chén của NST Trần Đình Sơn

2009.06.22.06.02.50su tq tra tds rs

Bộ sưu tập Pháp Lam (fanglangcai) của NST Ngọc Lũ tại Festival

2009.06.21.09.24.18pl hinh kg kinh rs

2009.06.21.09.35.07pl hinh a rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Trần Đình Sơn tại Festival

2009.06.21.09.47.47pl tds royal rs

2009.06.21.09.48.43pl tds 1 rs

2009.06.21.09.49.22pl t d s rs

Bộ sưu tập Pháp Lam của NST Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.09.52.07pl ta 2 rs

2009.06.21.09.52.31pl t a 1 rs

2009.06.26.12.10.32pl ang

2009.06.26.12.10.59IMG_0027

2009.06.26.12.11.19IMG_0010

2009.06.26.12.11.34IMG_0011

2009.06.26.12.11.47IMG_0015

2009.06.26.12.12.52pl lu

2009.06.26.12.13.04pl tiem

giới thiệu nguyên bộ 7 hiện vật gốm Cây Mai của NST Bạch Liên đi trưng bầy tại Festival (mặt sau cũng đắp nổi)

2009.06.25.11.22.16bl cay mai 2

2009.06.25.11.22.30bl cay mai 3

2009.06.24.09.33DSC04385

Đây là lần ra quân hoành tráng của các cụ bình vôi

1/Bộ sưu tập bình vôi của NST Đoàn Cần Thơ, NST Tường Tiền Giang, NST Kiệt HCM

2009.06.25.11.29.59bvoi can tho doan

2/03 Bình vôi của NST Trung HP (Thiên Trường-Nam Định)

2009.06.25.11.30.42BST TRUNG HP

3/Bộ sưu tập bình vôi của NST Bạch Liên

2009.06.25.11.31.08binh voi tu anh rs

2009.06.24.09.34DSC04390

Bộ sưu tập gốm Bát Tràng của các nhà sưu tập đến từ Sơn Tây

2009.06.26.02.45.30GOM BAT TRANG

Bộ sưu tập thạp hoa nâu Lý Trần của các nhà sưu tập phía Bắc

2009.06.26.02.46.23THAP GOM HOA NAU

Bộ sưu tập Chân đèn – Lư Lê, Mạc của NST Lê Quang Chức đến từ NAM ĐỊNH

2009.06.26.02.47.17CAP CHAN DEN LU LE MAC

BST điếu Bát Tràng Nguyễn và chân đèn LÊ-MẠC của NST Lê Quang Chức

2009.06.26.02.49.00BST DIEU CHAN DEN LQC

Bộ sưu tập Nghê của Bạch Liên tại Festival

2009.06.21.10.09.24nghê t a không kiếng rs

GIAO LƯU & TRAO ĐỔI CỔ VẬT

Hình ảnh các hiện vật mà các nhà sưu tập mang đến tại buổi giao lưu

2009.06.26.05.19.09hien vat a

Kha, TP HCM, người con của Huế, trái ngoài, Hoàng Huế, phải ngoài, đã nhiệt tình hết mình cho buổi giao lưu của các nhà sưu tập trên quê mình:

2009.06.26.05.20.19kha hoang hue

Ông Chức CT HCV Thiên Trường thay mặt các nhà sưu tập cả nước về dự giao lưu phát biểu cảm tưởng:

2009.06.26.05.22.34chu chuc

2009.06.24.09.33phatbiêu

2009.06.25.10.15FS DPT HAT

hình ảnh trong buổi giao lưu cổ vật:

Chiếc dầm trà lớn từ Quảng Ngãi đã về HCM, em Triều đã rất vui khi được sở hữu chiếc đĩa này từ cuộc giao lưu ( mở hàng):

2009.06.25.11.18.08MO HANG

Chiếc thạp đồng Đông Sơn niên đại 2500-2000 năm cách ngày nay đã được Chính Bắc Ninh mua giá 3.600.000 vnđ và tặng lại cho Bảo Tàng Huế ngay tại cuộc giao lưu:

2009.06.25.11.49thap chinh

Voi điếu Bát Tràng từ NB đã vào HCM

2009.06.25.10.41QN BL

xem xét hiện vật

2009.06.26.12.10.46XENH PLAM RS

Những hình ảnh lưu niệm:

2009.06.26.02.02anh quoc

2009.06.25.10.39chinh tot thuan

Hình ảnh và chú thích: NST Bạch Liên – Phó Chủ Tịch HCV Thiên Trường

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Phật tượng gốm sứ ở Nam bộ

1. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, trong đợt khảo sát các ngôi cổ tự, tôi đã thỉnh được một Phật tượng bằng đất nung, cao chừng 30 phân, gãy mất bàn tay phải, đã được “cất giấu” dưới hầm bệ thờ ở chùa Hội Sơn (Q.9, TP.Hồ Chí Minh). Hồi đó, thỉnh các tượng thờ gãy sứt là cốt để đem về nhà sửa chữa, đắp nặn lại cho lành lặn để chưng và cũng có cái để ngày nay nghiên cứu đặng… xóa dốt dần về nghệ thuật tạo hình.


Pho tượng gốm đất nung này được tạo tác theo “Tăng hình” hơn là “Phật hình”; riêng cái mũ thì hao hao cái mũ tỳ lư thường thấy ở tượng Địa Tạng Bồ tát. Hỏi, thầy trụ trì bảo đó là tượng “Phật trì chú”. Hỏi xuất xứ, thầy đáp: Một vị sư đời trước tự nặn bằng đất sét và gởi nung ở lò gạch gần chùa… xưa lắm rồi ! Đây là Phật tượng đầu tiên gợi lên trong tôi mối quan tâm về loại tượng làm bằng chất liệu đất nung và cho đến  nay, đối chiếu với nhiều dữ liệu, tôi xác tín rằng đây là Phật tượng gốm cổ xưa, có thể ra đời sau khi Tổ Khánh Long khai sơn tạo tự để tu hành (1), tức khoảng thế kỷ XVII, XVIII. Phật tượng này thực ra là thuộc loại “tượng Phật mục đồng”, hiểu là loại Phật tượng dân gian. Có điều khác biệt là hầu hết “tượng Phật mục đồng” nặn bằng đất sét, còn tượng này đem nung chín thành loại “ngõa khí”.

gomxu-1.gif

Phật trì chú (gốm đất nung đặc-Chùa Hội Sơn)

2. Đến những năm 1990, duyên may trong đợt đi thực tế thu thập tư liệu viết Địa chí tỉnh Đồng Nai, tôi đến một ngôi chùa, ở đó toàn bộ Phật tượng, trên dưới 100 pho, đều làm bằng đất nung thếp vàng và sơn màu tuyệt đẹp. Đó là chùa Hóc Ông Che (Hiển Lâm tự) ở Hóa An (Biên Hòa) do Hòa thượng Huệ Lâm (1887 – 1945) khai tạo hồi đầu thế kỷ XX. Tên gọi là Hiển Lâm tự nhưng ở đây là một quần thể nhiều cơ sở tín ngưỡng: chùa, miếu, am…

gomxu-2.gif

Địa Tạng bồ tát ( gốm đất nung sơn màu)

Ai vô chùa Hóc thì vô

Đừng quên (miếu) Chư vị, am Cô, đảnh Bà

(Ca dao địa phương)

Hầu hết các Phật tượng ở đây, theo kết quả điều tra hồi cố, đều do sư Điền (pháp danh Lệ Hạnh – Thiện Viên / 1893-1972) và các ông Bùi Văn Cần (chuyên làm đồ mã, học nghề làm gốm từ người anh rể  – người Hẹ), Bùi Văn Bồi (thợ chụm lò gốm chuyên nghiệp) tạo tác. Họ lấy đất sét nguyên liệu của lò lu Trần Lâm (Tân Vạn) đem về chùa làm tượng và nung tại chỗ bằng trấu. Cũng phải nói thêm rằng ông sư Điền có một “người thầy” nữa, vốn là huynh đệ của ông, là sư Thiện Hóa (1854-1944) – tác giả các Phật tượng làm bằng hợp chất ở chùa Châu Thới.

gomxu-5.gif

Bồ Đề Đạt ma ( gốm Cây Mai-chùa Phụng Sơn)

Có lẽ, đội ngũ nhóm những người làm tượng gốm đất nung năng nổ và đông đảo hơn, bởi loại tượng gốm đất nung này có số lượng nhiều và thấy ở nhiều ngôi chùa Đồng Nai, Dĩ An, Thủ Đức, xuống tận Bà Rịa-Vũng Tàu; lại thấy ở các chùa nội thành TP.Hồ Chí Minh, xuống tận Trà Ôn, Chợ Mới – cù lao Giêng (An Giang) (2).

gomxu3-a.gif

gomxu-7.gif

Giám trai (gốm cây Mai-Chùa Giác Viên)

Nói chung, loại tượng gốm đất nung nhẹ lửa (hầm non độ 6000C – 7000C) này chủ vào kỹ pháp dựng cốt và cắt dán. Tùy theo tư thế (ngồi, đứng, tọa thú) mà dựng cốt khác nhau để lấy đó làm giá đỡ cho việc cắt các lát đất theo kiểu cắt giấy dán làm đồ mã. Chính khâu cắt dán này đã tạo nên các dạng thức ngoại hình đa dạng và sinh động. Lại nữa, người tạo tác còn dùng khuôn âm bản để tạo nên các đồ án hoa văn trang trí trên lát đất trước khi dán, tạo nên những họa tiết trang trí đa dạng: tường vân, hồi ba, ngọc châu…

gomxu-8.gif

Phật Tổ (Gốm Biên Hòa)
 
gomxu9.gif
Tara trắng (gốm Biên Hòa)

Hiển nhiên là tập hợp Phật tượng gốm đất nung này là một tập thành phong phú về số lượng lẫn đề tài và kiểu thức mỹ thuật. Chính vì vậy, chúng đã góp phần của nó vào kho tàng mỹ thuật Phật giáo, mỹ thuật vùng đất mới nói chung.

3. Xét về mặt kỹ pháp dựng hình và trang trí, chúng ta dễ nhận ra ảnh hưởng của gốm Cây Mai (Sài Gòn xưa / tức Chợ Lớn sau này) – đặc biệt là kỹ thuật cắt dán và in khuôn các bộ phận rời. Tượng gốm Cây Mai chủ yếu là các sản phẩm sành cứng (nung ở nhiệt độ cao) có tô vẽ men màu (chiếm tỷ trọng lớn là xanh lục và lam cô ban), song cũng có một số tượng thờ đất nung sơn màu (như bộ Thập điện Minh vương ở chùa Phước Lưu / Trảng Bàng, các tượng thần ở chùa Từ Quang / quận 8, chùa Giải Bệnh ở Phú Lâm…). Nói cách khác, loại tượng gốm đất nung nói trên có nguồn gốc trực tiếp từ loại tượng đất nung Cây Mai này. Chúng ra đời đáp ứng nhu cầu thờ tự của các chùa làng, bởi giá thành rẻ hơn loại tượng sành cứng men màu sản xuất tại các lò gốm chuyên nghiệp.

gomxu10.gif

La Hán phục hổ ( gốm Lái Thiêu)

Gốm Cây Mai, theo các tài liệu thư tịch, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tập trung ở vùng đất quanh chùa Cây Mai – một cổ tự danh tiếng của đất Gia Định – mà đến nay, dấu tích còn lại là địa danh rạch Lò Gốm, đường Lò Siêu, Xóm Đất… và sau đó lan tỏa lên Trường Thọ (Thủ Đức), Lái Thiêu, Biên Hòa.

Phật tượng gốm Cây Mai có niên đại chính xác là tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên với câu chữ đắp nổi trên bệ tượng: “Đề Ngạn / Nam Hưng Xương điếm tố / Canh Thìn niên …” (Năm Canh Thìn là năm 1880; Đề Ngạn là Sài Gòn ngày xưa / nay là Chợ Lớn). Đây là pho tượng có giá trị lịch sử lẫn giá trị tạo hình.

gomxu-11.gif

Phật chuyền pháp luân (gốm Lái Thiêu)

Cho đến nay, Phật tượng gốm Cây Mai còn tồn tại không nhiều, nhưng hầu như tất thảy đều là những pho tượng đẹp, được tạo tác công kỹ. Đáng kể là tượng Bồ Đề Đạt Ma (chùa Phụng Sơn, quận 11, TP. HCM), tượng Chuẩn Đề cỡi Khổng Tước (chùa Giác Sanh, quận 11, TP.HCM), tượng Tiêu Diện Đại Sĩ (chùa Phụng Sơn quận 11, và chùa Bảo An quận Bình Thạnh, TP.HCM), đặc biệt là bộ tượng Di Đà tam tôn kích cỡ to lớn ở chùa Phước Lưu (Trảng Bàng), do lò Bửu Nguyên tạo tác vào năm Ất Tỵ (1905) đáng được coi là vô giá.

Nói chung, gốm Cây Mai không tạo tác Phật tượng nhiều như các loại tượng thần, các quần thể tiểu tượng trang trí ở các đình, miếu, chùa Hoa; song khởi đi từ đó, Phật tượng gốm đất nung lại phát triển mạnh mẽ.

4. Gốm Cây Mai bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 1920-1940 do tốc độ đô thị hóa, nguồn đất nguyên liệu và củi đốt tại chỗ cạn kiệt nên dời dần về Trường Thọ (Thủ Đức), Lái Thiêu và Biên Hòa.

Ở Lái Thiêu và Biên Hòa, dòng gốm Cây Mai phát triển một thời gian; nhưng sau đó, theo một thỏa thuận giữa các chủ lò gốm, hai nơi này không sản xuất các mặt hàng gốm Cây Mai nữa (3 ). Có lẽ do thỏa thuận này mà ở khu vực ngoại vi Lái Thiêu và Biên Hòa: Bửu Long – Tân Vạn – Hóa An – Dĩ An – Thủ Đức… đã phát triển mạnh mẽ loại tượng gốm đất nung bán chuyên nghiệp, mang tính chất phiên bản của gốm Cây Mai nói trên. Mặt khác, cùng với sự phát triển các dòng sản phẩm gốm đặc thù, gốm Lái Thiêu và gốm mỹ nghệ Biên Hòa cũng đã cho ra đời các loại Phật tượng riêng.

Gốm Lái Thiêu, trong suốt hơn 150 năm qua, chủ vào sản xuất sản phẩm gia dụng, sản phẩm gốm mỹ nghệ chiếm tỷ trọng nhỏ: đôn, đôn voi, tiểu tượng. Theo đó, Phật tượng gốm trước đây là tượng nhỏ, cao chừng 15 – 30cm, để cung ứng cho việc thờ tự trong gia đình Phật tử, phổ biến là tượng Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật Bà Quan Âm, La hán phục hổ… (Trong một hai thập kỷ gần đây mới sản xuất tượng La hán đủ bộ, các loại tượng Phật kích cỡ lớn, cao 70 – 90cm). Nói chung, đa phần Phật tượng gốm Lái Thiêu được tạo tác bằng kỹ thuật khuôn rót nên ngoại hình, đường nét, y trang không mấy sắc sảo, rõ nét, ít dụng công tỉ mỉ như tượng gốm của Trường Mỹ nghệ Biên Hòa.

Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa, thoạt đầu được gọi là “Trường Bá nghệ” được thành lập vào năm 1902 và năm 1906 tuyển sinh ban Gốm. Tuy nhiên, từ những năm 1920 về sau thì sản phẩm gốm của các thế hệ thầy trò trường này mới xác lập được sản phẩm gốm đặc thù, được thế nhân gọi là “Gốm mỹ nghệ Biên Hòa”: trang trí nhiều màu (nổi tiếng là men xanh đồng / vert Biên Hòa và men lam Hồi / vert Islam), chạm khắc chìm và chấm men màu trong từng ô theo kiểu đồ pháp lam (cloisonné). Tuy có kế thừa những thành tựu của kỹ thuật chế tác, sản phẩm, lò nung và men… của gốm Cây Mai, nhưng sản phẩm gốm “Mỹ nghệ Biên Hòa” đã được nâng cao và công nghệ hóa ở những khâu cơ bản nên chất lượng và vẻ đẹp khác các loại gốm bản xứ truyền thống.

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa sản xuất đủ các chủng loại sản phẩm. Riêng về tượng cũng khá phong phú, bao gồm tiếu tượng, tượng người, tượng thần, Phật. Riêng về Phật tượng, gốm mỹ nghệ Biên Hòa chủ yếu dựa vào các mẫu tượng cổ nổi tiếng của Tây Tạng, Trung Quốc, Campuchia… cả tượng tròn lẫn phù điêu: Phật đắc đạo, Phật nhập Niết bàn, Phật ngồi trên rắn chín đầu, Quan Âm (Quan Âm ngư lam, Quan Âm tọa nham, Tara trắng?)… Danh mục Phật tượng Biên Hòa hết sức phong phú, đó là chưa kể đến Phật tượng đúc bằng chất liệu bột đá (đá nhân tạo)…

Nhìn chung, khởi đi từ tượng gốm đất nung tự tạo, các dòng phái gốm sứ đã tạo tác nên một tập thành Phật tượng phong phú cả về số lượng, kiểu dáng và phong cách mỹ thuật. Đó là chưa kể đến tập hợp Phật tượng được tạo tác bằng gốm đen (hắc đào) ở An Giang vào những năm 1980.

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

(1) Xem Gia Định thành thông chí (biên soạn hồi đầu thế kỷ XIX). Bản dịch Tu trai Nguyễn Tạo, S, 1972. (2) Kể ra một số ngôi chùa: Bảo An (An Hòa, Long Thành, Đồng Nai), Bửu Sơn (Tân Bình, Thuận An, Sông Bé), Châu Thới (Thuận An, Sông Bé), Chúc Thọ / Thủ Huồng (Cù lao Phố), Diệu Giác (Bình Thạnh, TP.HCM), Hoàng Ân (Cù lao Phố), Hiển Lâm (Hóa An, Biên Hòa), Long Ẩn (Bửu Long, Biên Hòa), Long Hòa (Chơn Tiên, Bà Rịa-Vũng Tàu), Long Thiền (Bình Nghị, Gò Công Đông), Phước Hậu (Trà Ôn, Vĩnh Long), Tân Sơn (Bửu Hòa, Biên Hòa), Tân Quang (Hóa An, Biên Hòa), Thanh Long (Biên Hòa), Thanh Lương (Bửu Hòa, Biên Hòa), Thiên Long (TP.Biên Hòa), Trường Thọ (Gò Vấp, TP.HCM) (3) – Monographie de la province Thudaumot. B.S.E.I, 1910, p23-24. – Monographie de la province Biên Hoa. Pub. De S.E.I. Saigon, 1901, p. 43 – 44 – M. Robert: Monographie de la province Biên Hoa. Imp du Centre / Loui Minh, Saigon, 1924, p 119

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN




Read Full Post »

Gốm Cây Mai của Sài Gòn xưa

Cuối thế kỷ trước, sách Gốm Cây Mai, Sài Gòn xưa(*) đã được xuất bản. Sau đó năm 1997, Bảo tàng lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khai quật khu lò gốm cổ Hưng Lợi (tục gọi lò Cây Keo, ở phường 16, quận 8): đưa ra ánh sáng những phát hiện thêm về làng gốm đầu tiên ở đất Sài Gòn này. Nay dựa trên những gì mới tìm thấy được, xin nói thêm đôi điều về Gốm Cây Mai, về xóm Lò Gốm.

Xóm Lò Gốm là địa danh được ghi bằng văn tự lần đầu tiên trên bản đồ Gia Định – Sài gòn do Trần Văn Học vẽ vào năm 1815. Sau đó không lâu, địa danh này được kể đến trong bài Phú Cổ Gia Định phong cảnh vịnh:

Cắc cớ chợ Lò Rèn, chạc chạc nghe nhà Ban đánh búa;

Lạ lùng xóm Lò Gốm: chơn vò vò Bàn cổ xây trời.

Như vậy, Xóm Lò Gốm hình thành muộn nhất là cuối thế kỷ 18. Nói cách khác, cùng với các làng nghề khác (như xóm Chậu, xóm Chỉ, xóm Bột, xóm Dầu/ Phụng du lý, chợ Lò Rèn, chợ Đũi… ), xóm Lò Gốm đã ra đời cuối thế kỷ 18 và thịnh đạt sau khi chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh kết thúc, khoảng sau 1790 trở về sau – đặc biệt những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. gốm Cây Mai là sản phẩm do cộng đồng thợ gốm di dân người Hoa tạo tác. Do đó, sự hình thành của xóm Lò Gốm ở xứ Đề Ngạn (Sài Gòn xưa) gắn bó nhân quả với việc tụ cư ở đây của các nhóm người Hoa lưu tán vì chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh từ Cù Lao Phố (Biên Hòa), Mỹ Tho (Tiền Giang) và thậm chí cả từ Hà Tiên hồi những năm 70, 80 của thế kỷ 18, dữ kiện lịch sử tụ cư này cũng khớp với nhận định nêu trên.

Sách Monographie de province de Biên Hòa (Ménard, 1901) cho biết: “theo thỏa thuận với người Hoa ở Chợ Lớn (hiểu là Đề Ngạn – Sài Gòn xưa) những người làm gốm ở Biên Hòa không được sản xuất loại sản phẩm Cây Mai”. Điều này chỉ ra: 1, Thợ gốm Cây Mai đã có một số người chuyển lên Biên Hòa lập nghiệp (theo kết quả điều tra trong năm 2003 thì gốm Cây Mai không chỉ dời về Biên Hòa, Lái Thiêu mà có một xóm gốm trung chuyển ở vùng TườngThọ, Thủ Đức – nay vẫn còn dấu vết); và 2, Họ đã có tổ chức “phường hội” để định ra những thỏa thuận trong công việc làm ăn.

Mới đây, trong cuộc điều tra tổng thể về các cơ sở tín ngưỡng ở các quận huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi phát hiện “trụ sở” của các lò gốm Cây Mai, gọi là “Đào lư Hội quán”, ở đình Phú Hòa (phường 12, quận 6, TP. Hồ Chí Minh). Tấm biển này ghi được làm năm Giáp Thân (1884 hoặc 1944?), chữ viết do “Bổn hội Mạch Chiếu Minh Thư”. Phát hiện này là bằng cớ chỉ ra tính chất phường hội của giới chủ lò và thợ gốm Cây Mai xưa và đồng thời góp phần xác định “trung tâm” của xóm Lò Gốm. Cũng cần lưu ý: hiện đình có thờ ba pho tượng vốn của chùa Giải Bịnh gần đình, gồm tượng Chơn Võ, Huê Quang và Nam Triều Đại Đế, là những đối tượng thờ tự của cộng đồng thợ gốm Phước Kiến ở Bình Dương (Tân Khánh, Lái Thiêu, Bà Lụa, Chòm Sao…). Điều này chỉ ra rằng chùa Giải Bịnh là trụ sở của Đào Lư Hội quán. Mặt khác cũng chỉ ra gốc gác của gốm Cây Mai và mối liên hệ của xóm Lò Gốm với các làng gốm ở Bình Dương – đặc biệt là làng gốm Lái Thiêu.

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Từ “trung tâm” này chúng tôi tiến hành khảo sát lại một vòng rộng có bán kính từ 2 đến 3, 4 cây số để tìm lại các di vật gốm Cây Mai, chủ yếu là xem xét các tượng thờ ở các đình, chùa miếu trong vùng. Kết quả là có một loạt tượng thô phác đáng chú ý:

Ba tượng gốm đất nung sơn màu: 1, Chơn võ; 2, Huê Quang; và 3, Nam Triều Đại đế của chùa Giải Bịnh, gần bên đình Phú Hòa (nay tượng được thờ trong đình).

Bộ tượng đất nung Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi ở miếu thờ thuộc đình Phú Đinh (quận 8).

Các tượng gốm sơn màu Quan Công, Thiên Hậu Nguyên Nhung, Kim Huê phu nhân và các tượng Cô, Cậu… ở chùa Từ Quang (191 Ba Tơ, quận 8).

DFGIEP042415
Tượng Lưu Bị

Bộ ba tượng gốm đất nung Quan Công Châu Thương – Quan bình ở chùa Thiên Phước (1581), Phạm Thế Hiển, quận 8.

Nói chung, các bộ tượng tại các địa điểm trên đều biểu hiện sự “non kém” về kỹ thuật dựng hình cũng như trình độ mỹ thuật so với tượng gốm men màu Cây Mai phổ biến mà chúng ta đã thấy. Trái lại, nó khá gần với loại tượng thờ nặn bằng đất sét (có trộn các chất phụ gia như vôi, giấy, sợi bông vải v.v… gọi chung là nê tố) mà di tích hiện tồn mà tiêu biểu là Quan Công ở chùa Phước Long nằm trong vùng này (288 Hậu Giang, phường 9, quận 6).

DFGIEP042415
Tượng Quan Công
Đất sét sơn màu (Nêtố)
Chùa Phước Long

Việc dựng hình đặc trưng của loại tượng gốm đất nung này là các pho tượng ngồi ở trong Từ Quan, có lẽ là tượng Minh Vương: phần tượng gốm phải nhờ chiếc ghế/ ngai gỗ mới ngồi được. Nếu không có ghế gỗ thì đài bệ gốm vẫn còn đậm dấu ấn của kết cấu gỗ dạng bậc cấp (tượng Thiên Hậu Nguyên Nhung và Kim Hoa phu nhân). Nói chung, kỹ thuật dựng hình phản ánh dấu ấn của kỹ thuật đắp tượng nê tố.

Về trang trí trên trang phục chúng ta cũng thấy rõ việc áp dụng hai kỹ thuật trang trí thuộc kỹ pháp nê tố: 1, Dùng các lát đất in khuôn các mảng rời (mũ, giáp, mây, rồng… trên long bào) để gắn vào cốt tượng; và 2 là, dùng kỹ thuật “bắt bông” (hiểu là cách trang trí giống như bắt bông kem trong nghề làm bánh) . Ở đây, nghệ nhân gốm dùng giấy quấn thành ống hình nón, đoạn đổ đất nguyên liệu vào đó và bóp mạnh để tạo thành sợi mà tạo nên các hoa văn. Kỹ thuật in khuôn áp dụng cho các đồ án phức tạp, còn kỹ thuật “bắt bông” áp dụng cho các đồ án trang trí đơn giản, bố cục thưa thoáng. Kỹ thuật này về sau được áp dụng trang trí tượng gỗ, tượng làm bằng giấy bồi gọi là kỹ thuật “sơn xe” (nguyên liệu chính gồm dầu chai, bột thạch cao).

DFGIEP042415
Tượng Thiên Hậu Nguyên Quân
(Đài bệ và lỗ khoét ở lưng để yểm tiền đồng còn dấu ấn tượng gỗ)
DFGIEP042415
Tượng Minh Vương ở chùa Từ Quang.
Tượng đặt ngồi trên ghế gỗ.

Những gì trình bày trên đây, chúng tôi muốn lưu ý rằng sản phẩm gốm mỹ thuật của xóm Lò Gốm (gọi chung là Gốm Cây Mai) có giai đoạn khởi phát với loại tượng gốm đất nung còn đậm dấu ấn của loại tượng nê tố và ít nhiều còn “hoài niệm” về tượng gỗ. Theo đó, việc hình thành làng nghề xóm Lò Gốm là một quá trình tiệm tiến hơn là sự chuyển giao ngành “công nghệ miếu vũ” có tính chất tốc hỷ, sản xuất các tượng thần, Phật và quần thể tiểu tượng men màu xinh đẹp. Ở đây, cũng cần lưu ý là loại tượng đất nung sơn màu cây mai đến nửa đầu thế kỷ 20, có một dòng phái sinh ở vùng Hoá An (Biên Hòa): tạo nên một tập thành tượng gốm đất nung sơn màu/ thếp vàng đặc sắc vừa có thừa kế truyền thống cây mai vừa có nhiều đổi thay về kỹ pháp dựng hình và trang trí (**). Việc phân biệt như vậy là cần thiết trong việc tìm hiểu về tượng gốm đất nung hiện còn tại các cơ sở ở Nam Bộ.

Huỳnh Ngọc Trảng

(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc: Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa, NXB Trẻ, Tp.HCM, 1994.
(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc và các tác giả: Tượng Gốm Đồng Nai – Gia Định, NXB Đồng Nai, 1997.


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »