Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gốm cổ Việt Nam’

Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

ĐẦU NĂM MUA MUỐI, CUỐI NĂM MUA VÔI

Câu tục ngữ này gắn với hai tập tục: Phiên chợ đầu năm người ta đi chợ thể nào cũng mua một ít muối về nhà và phiên chợ cuối năm, người ta mua vôi về để cho ông bình vôi ăn no nê, đầy đặn.
Sâu xa hơn ở vế thứ nhất,  tập tục mong muốn vào đầu năm, mua muối là đưa về nhà sự mặn mà quanh năm trong các quan hệ ứng xử, quan hệ làm ăn. Dẫu muối còn nhiều, nhưng vẫn nhắc nhau mua một bát. Điều đặc biệt ở đây là: với những vùng có thói quen đong các thứ bằng bát sát miệng (bằng miệng) như gạo, thóc, đậu, kê, vừng thì muối bao giờ cũng đong có ngọn, chứ không gạt miệng sợ về sẽ mất lộc, mất mặn mà.
Vế thứ hai, tại sao cuối năm lại mua vôi hay tôi vôi?
Xưa các cụ làm nhà vật liệu phải tích cóp hàng năm trời hoặc mấy năm trời trong đó có cả vôi làm vữa xây.Và việc tôi vôi chỉ dám thực hiện vào cuối năm. Đầu năm phải kiêng vì tôi vôi rã ra hết thì không may mắn. Hơn nữa “Bạc như vôi” là câu nói cửa miệng của các cụ ngày xưa .
Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ. Vì thế, dân gian có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Tuy nhiên cũng có ý cho rằng, cuối năm mua vôi để tô điểm thêm cho ngôi nhà thêm mới, thêm đẹp để đón xuân.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Ngày xưa, dân ta thường ăn trầu và có rất nhiều người nghiện trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện, cũng là mở đầu cho những cuộc tình duyên, kết bạn, làm quen, gắn bó… Miếng cau nhai với lá trầu cần phải có một chút vôi trắng muốt quệt vào mới đủ, mới đậm đà, ngon miệng và say. Và cũng phải có chút vôi trắng ấy mới có được cái màu đỏ làm hồng môi nhau. Cái màu đỏ này tượng trưng cho lòng chung thuỷ, lòng tin yêu nhau của đôi trai gái. Vì thế mà vôi cũng là yếu tố vô cùng quan trọng của miếng trầu. Giá trị của “vôi” ngày được khẳng định với những ý nghĩa khác nhau cùng sự trường tồn của thời gian.
Gắn với tục ăn trầu và những kiêng kị quanh vôi và bình vôi của người Việt. Xưa, có tục kiêng: người đàn ông dưới 40 tuổi không tôi vôi vì… sợ sớm bạc đầu.
Ông bình vôi là công cụ để vôi ăn trầu bằng sành sứ, hiện nay chưa thấy hiện vật này ở thời kỳ Đông Sơn. Chiếc bình vôi xưa nhất chưa xác định được, nếu có chỉ ở thời kỳ Bắc thuộc. Ba tiếng “Ông – Bình – Vôi” là từ Hán Việt hóa (có gốc từ tiếng Hán đã được Việt hóa đến mức thuần Việt).
Hiện nay, trong các lò gốm ở những nơi làm sành sứ mới đúc được ông bình vôi, còn những nơi làm nồi không đúc được. Và, không phải ai cũng đúc được. Người ta cũng chỉ đúc ông bình vôi vào những tháng nhuận của năm nhuận, nhưng người thợ cả phải sạch sẽ, không tang chế thì mới nặn thành công ông bình vôi.
Khi mua ông bình vôi, người ta mang theo một vuông vải đỏ hoặc nâu, mua xong gói ghém cẩn thận, bỏ vào thúng mủng đội lên đầu chứ không được cắp nách hoặc bỏ tay nải để xách. Lên xuống đò phải để chỗ cao ráo. Khi đưa về nhà thường đặt chỗ kín đáo, gần đầu giường, gần cửa buồng vì trong dân gian có câu chuyện kể: Kẻ trộm vào nhà thường hay nút miệng ông bình vôi lại hoặc quay miệng vào vách thì cả nhà sẽ ngủ yên, không ai nói mơ, nếu có biết trộm thì cũng ngọng nghịu, khhông la làng được.
Khi cho ông bình vôi ăn phải e dè, thận trọng. Khi dùng dao vôi để lấy vôi, nhất thiết không được ngoáy chìa vôi vào lòng ông vì nếu thế sẽ bị bệnh cồn cào ruột gan mà dùng chìa đưa thẳng rồi rút ra, Nên vì thế, miệng ông cứ mỗi ngày một đầy, thành vành khuyên, hôm trở trời tự lóc ra, người ta dùng dao khứa chân rồi đem xâu vào dây treo trước cửa mạch (cửa phụ nữ và ma quỷ hay ra vào) để trừ tà.
Một khi ông bình vôi đã đặc ruột, người ta rước ông cùng xâu miệng lên chùa để dưới chân cây hương, dưới gốc mít, gốc đa. Lâu ngày lăn lóc, sương đọng vào bụng ông, gặp con sài đẹn, hay bị sơn ăn thì người ta lấy nước đó mà uống, mà bôi. Ai bị sâu răng thì mua ngọc trai tán nhỏ hòa vào nước này uống sẽ khỏi.
Ông bình vôi là một vật thiêng, ông luôn cần no đủ. Nhưng ông lại ăn ít vì ruột càng ngày càng đặc lại. Xưa có những nhà chuyên bán vôi ăn trầu, họ trải lá chuối vào rổ, bỏ vôi vào, hai đầu hai rổ đem bán. Khi bán, dùng chiếc que to hơn cái đũa cả để lấy vôi phết vào lá cho khách hàng mang về. Bán thì ít, cho thì nhiều, nhưng vẫn vui vẻ.
Gọi là cuối năm nhưng không ấn định ngày nào để mua vôi. Tùy thuộc vào phiên chợ nào cho thuận tiện trong khoảng mươi ngày cuối tháng Chạp theo chợ phiên (chợ phiên thường có nhiều loại: tháng 3 phiên, tháng 5 phiên, tháng 6 phiên, tháng 9 phiên hay tháng 12 phiên). Không mua chợ này thì mua chợ khác.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Cuộc Sống Việt _ Theo Vitinfo.com.vn
VÀI BÌNH VÔI GỐM QUẢNG ĐỨC SƯU TẬP

Louise Allison Cort giám định viên của VBT smithsonian, Washington, D.C trong bài viết báo cáo ngày 3 tháng 06 , 2007 ghi chép như sau:

Di chỉ lò gốm vùng Quảng Đức, thuộc huyện lỵ Tuy An cách Tuy Hòa về phía bắc 30 km. Trong cuộc khảo sát khu vực các lò gốm chúng tôi được nghe một người thợ gốm già (83 tuổi) thuật lại rằng thợ gốm Chăm đã làm gốm tại đây từ 500 năm trước; có ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18 và thợ gốm người Việt Nam từ Bình Dịnh đến đây lập nghiệp từ tk 18. Hiện nay vẫn còn hai xưởng gốm hoạt động. Theo nhân viên VBT Phú Yên đi theo đoàn nói, thuyền duyên hải sẽ vận chuyển gốm thành phẩm về phương Nam đến Nha Trang và theo phương Bắc đến Bình Định. Người thợ gốm già cũng nói đến những bình cắm hoa thì theo thuyền đến Huế.

nguyên văn:

The Quang Duc kiln site in Tuy An district, 30 kilometers north of Tuy Hoa. During a visit to the kiln on 3 June, we were told by an elderly potter (age 83), that Cham potters had worked there 500 years ago; Chinese potters from Chaozhou, Guangdong province, were here in the 17th–18th century, for three generations only; ethnic Vietnamese (Kinh) potters came three hundred years ago, in the 18th century, from Binh Dinh. Two workshops still operate. According to museum staff, the products used to be shipped by coastal boat south to Nha Trang and north to Binh Dinh province. The elderly potter also spoke of making flower pots to send by boat to Hue.

Theo tôi, bình vôi Quảng Đức có cái mang nhiều phong cách trang trí Trung Hoa là do ảnh hưởng của ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18…

Tại VBT smithsonian có một số bình vôi gốm Quảng Đức được ghi niên đại thế kỷ 18 – giữa tk 20 là khoảng thời gian thợ gốm VN sản xuất tại Quảng Đức chứ không định rỏ chính xác niên đại.

Read Full Post »

PHẦN GIỚI THIỆU KIẾN THỨC MỸ THUẬT VIỆT NAM

KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Đón chào Thăng Long 1000 năm tuổi . Blog Khanhhoathuynga và Diễn Đàn Sưu Tầm hân hạnh giới thiệu đến các bạn những tư liệu mỹ thuật qua các triều đại Lý , Trần , Lê , Tây Sơn , Nguyễn . Để các bạn tham khảo và nghiên cứu , hỗ trợ kiến thức sưu tầm của các bạn .

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính sưu tập và cung cấp cho diễn đàn . Thay mặt Diễn Đàn xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>


MỸ THUẬT THỜI LÝ

MỸ THUẬT THỜI LÝ

Cuối thế kỷ thứ 10 , nước ta thoát ách đô hộ phương Bắc .trải qua hai triều Đinh , Lê thống nhất nước nhà và chống tái ngoại xâm , đến thời lý , nghệ thuật phát triển thăng hoa với bản sắc riêng nhằm hóa giải những ảnh hưởng cuả văn hóa Trung Hoa.

Hai triều Đinh , Lê đã tạo dựng một nhà nước có chủ quyền .Triều Lý nắm quyền có ý thức phục hưng văn hóa dân tộc trên tinh thầncó sự giao thoa với văn hóa Chăm-Ấn đã tạo cơ sở cho nghệ thuật tạo hình phát triển.Thêm vào đó , việc Phật Giáo trở Quốc Giáo, tăng lữ có vị trí tinh thần trọng yếu đạo Phật được phổ cập đã là nhân tố tác động vào hướng phát triển và phong cách nghệ thuật . Việc nước Đại Việt độc lập , tự chủ, đủ sức mạnh chống ngoại xâm, trải qua nhiều năm thái bình thịnh vượng cũng có tác động không nhỏ .

Nhà Lý ( Lý triều ) còn được gọi lànhà Hậu Lý( để phân biệt nhà Tiền Lý của Lý Nam Đế )là một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam , bắt đầu khi vua Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009 sau khi giành quyền lực từ tay nhà Tiền Lê và chấm dứt khi vua Lý Chiêu Hoàng ,khi đó mới 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là 216 năm.Quốc hiệu Đại Việt của Việt nam có từ tháng 10 âm lịch năm 1054 khi vua Lý thánh Tông lên ngôi . Ở thời này có sự kiện đáng nhớ là việc dời  đô Hoa Lư, một nơi xa đồng bằng Bắc Bộ , thưa dân , hiểm trở ra Đại La , rồi đổi tên là Thăng Long theo hình tượng con rồng , một hình tượng đặc thù của thời này. Quốc hiệu Đại Việt cũng được đặt ở thời kỳ này.

Từ đời Lý,nho giáo bắt đầu có địa vị trong xã hội.Tuy thế ,chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần nho giáo cũng chỉ mới bắt đầu . Số nho sĩ được tạo ra hãy còn quá ít , Phật giáo vẫn chiếm ưu thế và các nhà sư vẫn giữ vai trò quan trọng trong xã hội.

Phật Giáo : Phật Giáo được truyền bá rộng rãi trong quần chúng và có dấu ấn lên mọi sinh hoạt văn hóa . Nhà vua và tầng lớp quý tộc rất tôn sùng đạo Phật .Tất cả tám đời vua nhà Lý, vua nào cũng sùng tín đạo Phật .

Người khởi đầu nhà Lý là Lý Công Uẩn. Trong thời đại của vương triều này,lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính quyền một cách lâu dài đến hơn hai trăm năm , khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tại hơn vài chục năm, ngoài ra nhà Lý còn bảo toàn và mở rộng lãnh thổ của mình . Trong nước , mặc dù các vua đều sung đạo Phật , nhưng ảnh hưởng của Nho Giáo đã bắt đầu lớn dần ,với việc mở trường đại học đầu tiên là Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076) và các khoa thi  để chọn người hiền tài không có nguồn gốc xuất  thân là  quý tộc ra giúp nước . Khoa thi đầu tiên được mở vào năm 1075 .Về thể chế chính trị , đã có sự phân cấp quản lý rõ ràng hơn và sự cai trị đã dựa nhiều vào pháp luật hơn là sự chuyên quyền độc đoán của cá nhân . Sự kiện nhà Lý chọn thành Đại La làm thủ đô ( sau là Thăng Long tức là Hà Nội ngày nay )đánh dấu  sự cai trị dựa vào sức mạnh kinh tế và lòng dân hơn là sức mạnh quân sự để phòng thủ như các triều đại trước.

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM



Read Full Post »

LÒ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI BÊN BỜ DIỆT VONG SAU CƠN BÃO LŨ…

TRƯỚC NĂM 75 LÀNG GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN CÓ TRÊN TRĂM HỘ  GIÀ TRẺ TRAI GÁI CẢ LÀNG ĐIỀU LÀM GỐM …..SAU 75 NGHỀ GỐM MAI MỘT DẦN.. DẾN THỜI BAO CẤP CÀNG KHÓ KHĂN HƠN…SẢN PHẨM LÀM RA. KHÔNG ĐỬ CƠM CÔNG PHẦN ĐÔNG  PHẢI BỎ NGHỀ THANH NIÊN TRONG LÀNG PHẢI LÊN THÀNH PHỐ TÌM KẾ SINH NHAI MONG CUỘC SỐNG KHẤM KHÁ HƠN TƯƠNG LAI HƠN…

QUA BAO THĂNG TRẦM CỦA CUỘC SỐNG  DUY NHẤT CHỈ CÒN MỘT LÒ GỐM  CỦA ANH TRỊNH TỒN TẠI ĐẾN NGÀY HÔM NAY NGƯỜI CON ĐỜI THƯ 3 CỦA LÀNG GỐM MỸ THIỆN CHÂU Ổ  CŨNG CHỈ VÌ YÊU LẤY CÁI NGHỀ CÁI NGHIỆP TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG MÀ BÁM GIỮ LẤY ĐẾN NGÀY HÔM NAY  CÓ NHỮNG LÚC KHÓ KHẤN PHẨM LÀM RA  DÙ CHO  KHÔNG ĐỦ NUÔI DƯỠNG LẤY CUỘC  SỐNG HẰNG NGÀY NHƯNG GIA ĐÌNH  ANH VẪN CỐ GẮNG VƯỢT QUA BAO NỖI KHÓ KHĂN CHỒNG CHẤT VẪN YÊU QUÍ CÁI  NGHỀ MÀ SỐNG….

TRƯƠC KIA  BIẾT BAO CHƯƠNG TRÌNH TRÊN BÁO ĐÀI  ĐỊA PHƯƠNG CŨNG NHƯ TRUNG ƯƠNG   BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN  THỐNG HỔ TRỢ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG….. CŨNG ĐÃ ĐẾN THĂM  ĐỘNG VIÊN  VÀ    HỨA…. HẸN…..  NHƯNG CŨNG CHỈ..  LÀ….HEN… HỨA …… Ô..HÔ…  THAN ÔI….

ĐẾN CƠN BÃO LỤT HÃI HÙNG VỪA QUA NHÀ CỬA VÀ DUY NHẤT CÁI LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG MỘT THỢI LIỆT OANH ẤY  …GIỜ CHỈ CÒN ĐỐNG GẠCH VỤN…ANH TRỊNH PHẢI XA NHÀ VÀO SÀI GÒN TÌM CÔNG ĂN VIỆC LÀM GỞI TIỀN VỀ GIÚP GIA ĐÌNH  …MỘT DÒNG GÓM  TRUYỀN THỐNG  VANG BÓNG  MỘT THỜI ………..BÊN BỜ DIỆT VONG

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI

NHỮNG SẢN PHẨM GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN  MÀ ANH EM MÌNH SƯU TẦM  CÓ ĐƯỢC LƯU GIỮ ĐẾN CHO NGÀY HÔM NAY LÀ  NƠI XUẤT PHÁT TỪ LÀNG GỐM NẦY CÓ TRÊN 200 NĂM LỊCH SỬ BIẾN THIÊN CỦA ĐẤT NƯỚC….

SÔNG TRONG ĐỜI SỐNG … CŨNG CHỈ Ở TẤM LÒNG…..

TÙY DUYÊN HẠNH NGỘ

NHỮNG AI YÊU MẾN GỐM VIỆT

HÃY CỨU  GIÚP VÀ GIỮ LẤY CHO MAI SAU  MỘT GIÒNG GỐM TRUYỀN THỐNG…. BÊN BỜ DIỆT VONG….

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÁI

GỐM CHÂU Ổ ĐÃ NUNG MỘT LẦN SAU ĐÓ XỐI THÊM

MỘT CHẤT MEN TRUYỀN THỐNG ĐEM NUNG LẦN NỮA

MỚI THÀNH SẢN PHẨM RA LÒ…..

ĐÔI CHÉ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN VỚI MÀU MEN TRUYỀN THỐNG…

XIN MẠO MUỘI ĐĂNG LẠI BÀI BÁO CỦA THẦY

DIỆP ĐÌNH  HOA VIẾT VỀ LÒ GỐM CHÂU Ổ NẦY ĐÃ ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY XUÂN 2007

LÒ GỐM CHÂU Ổ_QUẢNG NGÃI

SỰ TỒN VONG CỦA MỘT LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG

Châu Ổ, nay là thị trấn huyện lỵ của Bình Sơn, theo nhân dân kể lại,vốn có một lịch sử lâu đời ba bốn trăm năm. Theo bảng tông đồ ghi các phả hệ hiện đang treo ở nhà từ đường thờ tổ nghề gốm ở Châu Ổ, thì có thể xác định sự khai sinh ra làng gốm này có thể đã xảy ra từ khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Bên trái, ngoài sân nhà thờ tổ, có một nhà bia nhỏ, với một tấm bia bằng đá ngũ hành, hai mặt có khắc chữ,nhưng chữ đã mờ không thể đọc được.Vài chữ còn lại cho biết bia được dựng từ thời Bảo Đại, nhưng năm tháng cụ thể còn cần phải mày mò đoán định thêm. Dù sao qua việc khảo sát các di tích khảo cổ và lịch sử ở Quảng Ngãi, cũng như vùng KonTum, có thể thấy rằng vào khoảng nửa sau của thế kỷ XIX, hiện vật cũng như các mảnh của lò gốm Châu Ổ đã tồn tại phổ biến và đều khắp. Các ché rượu cần xuất xứ từ lò gốm Châu Ổ, vẫn còn là một phần tài sản quý giá của các dân tộc ít người vùng bắc Tây Nguyên.

Sau 1975 những người làm gốm hợp lại thành Hợp tác xã gốm Châu Ổ. Khi chúng tôi đến khảo sát, cả làng chỉ tồn tại một hộ gia đình làm gốm. Tất cả đều đã chuyển sang nghề khác. Một hộ còn lại giữ vững truyền thống đương đầu thách thức với sự khắc nghiệt cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Nguyên liệu đất sét trước đây mua ở trong làng, về sau mua ở các làng lân cận. Cách xử lý mua nguyên liệu theo phương pháp cổ truyền. Đất sét mua về, ủ cho khô nỏ, xong chặt vụn nhỏ ra, nhào nhuyễn, không pha cát hoặc các phụ gia khác. Quá trình tạo dáng được hình thành trên bàn xoay chậm. Một người đứng vê đất thành những con trạch trên một chiếc bàn dài. Người này đứng một chân, làm trụ, còn mâm phải đạp mâm bàn xoay. Người tạo gốm ngồi xổm trên một đòn kê, đặt con trạch được vẽ xong lên một khe nhỏ đặt trên bàn xoay gốm. Khay quay cùng bàn xoay để tạo cùng dáng vuốt thành hình. Sau khi tu sửa, vuốt lại hiện vật, người thợ mới bưng khay ra, thay khay khác, tiếp tục công việc.

Người tạo hoa văn lấy hiện vật được tao dáng xong gắn lên những hoa văn đát nổi: Con sóc, rồng, hoa, nhũ đinh…., quá trình tạo dáng hoàn tất, hiện vật được phơi trên sân nhà cho se lại.

Lò nung gốm theo kiểu lò cóc, nhưng có phần nung gốm theo kiểu lò hộp. Nhiên liệu dùng bồi, củi, trấu. Hiện vật được sắp xếp vào lò nung trực tiếp, không cần bao nung.

Cung cách sử dụng bàn xoay chậm ở đây tương tự như cách sử dụng của các lò gốm Hương Canh ở Vĩnh Phúc vào những năm 60 của thế kỷ trước. Sản phẩm làm ra như gốm Phụ Lãng sành có men, có hai loại một loại sành co men màu da lươn và một loại sành tự nhiên, được sản sinh do quá trình nung làm cho ô xít nhôm có trong đất sét bị mu- lít hóa. Loại này khác với gốm Phụ Lãng vì hiện vật được nung xong mang màu sắc tím đậm ngã xanh, thể hiện đặc sắc của cá tính địa phương Châu Ổ. Sắc màu của gốm này khiến chúng ta liên tưởng đến màu sắc của những hiện vật gốm trang trí trên nóc của các tháp Chăm trong vùng. Phải chăng đây là một truyền thống địa phương được hình thành bền vững do chất liệu đát và kỹ thuật nung, hình thành trên một sự tương đồng dai đẵng về mặt truyền thống, tuy rằng ông tổ của người làm gốm ở Châu Ổ vốn là thợ nghề từ đất Thanh Hóa di cư vào.

Những dáng bình đặc trưng của gốm Châu Ổ là các loại bình cắm hoa để thờ tự, các loại vò lớn, nhỏ để đựng nước rượu. Những vò to được gọi là ché. Các loại hủ, tĩn, ang, chum, vại để đựng các laọi mắm, chượp nước mắm. Gốm Châu Ổ là một loại đựng thích hợp nhất để đựng các chất mặn: chượp nước mắm. Ngày nay, tuy nhiều người biết đồ nhựa dùng để đựng các chất này độc nhưng vì thuận tiện cho nên đồ nhựa đã thay thế dần vai trò của loại gốm Châu Ổ.

Đúng ở góc độ của kỹ thuật học, lò gốm Châu Ổ vẫn còn bảo lưu tính chất cổ truyền của công cuộc chế tạo đồ gốm nguyên thủy. Đây là kỹ thuật dùng dải cuộn kết hợp với bàn chân xoay chậm. Kỹ thuật này đã tồn tại ở làng gốm Hương Canh, Vĩnh Phú vào những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.Sang những năm bảy mươi, bàn xoay Hương Canh được chuyển động nhờ một mô tơ điện. Làng gốm Bát Tràng những năm hai mươi của thế kỷ trước đã dùng một mô tơ điện.

Lò gốm Châu Ổ hiện nay còn phát triển được là do có những đơn đặt hàng  từ các khách sạn ở Hội An. Gốm Châu Ổ là những vật trang trí trong các ngôi vườn nhỏ của các khách sạn. Dù sao thì mẫu mã cũng đơn điệu, nhung có thể là hướng phát triển trong tương lai của gốm Châu Ổ. Phát triển được hay không lại phụ thuộc vào những người chơi sành điệu, biết khám phá ra những nét đẹp truyền thống của gốm Châu Ổ. Đây cũng là con đường của gốm Chăm ở Bàu Trúc, Ninh Thuận. Làng gốm Châu Ổ chắc không thể đi theo con đường của làng gốm Hương Canh, từ một hợp tác xã lớn trở thành một làng sản xuất ngói, rồi chuyển thành một làng sản xuất gạch. Đối với lang gốm Châu Ổ, theo cách nhìn thông thường, sự phát triển của một làng gốm trù phú đến hiện tượng nay chỉ còn một nhà sản xuất, xem ra xu thế phát triển của truyền thống trước áp lực của việc hiện đại hóa, sự mai mọt dần phải chăng là xu thế tất yếu của qui luật phát triển lịch sử. Với một cách nhìn khác theo chiều sâu, một nhà còn tiếp tục sản xuất gốm có nghĩa là họ đang cố gắng vươn lên trên cơ sở của một gia tài truyền thống lâu đời. Hiện tượng nay cũng đã có tiền lệ như làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh. Một bước ngoặt mới đầy thử thách với truyền thống gốm Châu Ổ.

Bài của Nhà sưu tập Lâm du Xenh đăng trên trang Phố Mua Bán ngày 01/11/09

Sắc vàng làng gốm

Gốm trong ký ức

Nhiều năm trước, có lần tôi ngồi hàn huyên với nhà thơ Đoàn Vi Thượng và họa sĩ Phạm Cung ở Sài Gòn. Câu chuyện đưa đẩy đến nghề làm gốm của quê nhà Quảng Ngãi. Đôi mắt họa sĩ rưng rưng ngấn nước. Thì ra ông chào đời và suốt tuổi ấu thơ gắn liền với gốm Mỹ Thiện, Châu Ổ

Họa sĩ kể rằng, chẳng hiểu tại sao ông lại yêu tiếng giọt mưa rơi vào những chum, những vại của mẹ ông để ngoài hiên đến thế. Nghe không “đã” tai, ông đi dạo quanh khắp các bờ rào trong làng, nhặt gom những mảnh sành vỡ về chất đầy cả góc nhà. Mỗi khi trời mưa, ông mang ra đặt dưới giọt mái tranh rồi ngồi nghe từng chuỗi âm thanh lạ lùng, kỳ diệu ngân vang. Khi thì tiếng sầm sập, đùng đục như bầy ngựa khua vó trên đường. Lúc thánh thót, du dương như tiếng đàn tranh quấn quýt. Lại có khi nghe róc rách như con nước chảy qua gành đá. Mưa gần tạnh, thỉnh thoảng rớt tiếng “bum”, “bum” như âm thanh trống lệnh của đội chèo bả trạo diễn trình, một loại hình nghệ thuật dân gian rất đặc trưng ở vùng đất này.

Tiếng đất kỳ quặc ấy ám ảnh ông mãi. Khi đã là họa sĩ thành danh, vì tình yêu mến với người bạn vong niên – thi sĩ Bùi Giáng, Phạm Cung đã về quê nhà mang đất vào để nặn chân dung thi sĩ. Chân dung sống động, biến đổi. Tùy theo ánh sáng chiếu vào mà khuôn mặt Bùi Giáng rất nhiều biểu cảm, tỏ lộ cả hỉ, nộ, ái, ố. Nhiều người muốn có bức tượng này, kể cả những người ở quốc gia khác, nhưng Phạm Cung vẫn một lòng giữ lại, bởi theo ông có cái còn quý hơn bạc vàng!

Sau này tôi được ông Long Cương – Nguyễn Đức Tập ở thị trấn Sơn Tịnh cho biết thêm về gốm Châu Ổ. Khoảng năm 1959 ông đã tiếp xúc với một nghệ nhân họ Trần chuyên làm lọ độc bình tráng men màu vàng sẫm. Điều lạ là trên chiếc độc bình nào cũng vẽ hoa văn rồng, trúc và đều có bài thơ chữ Hán minh họa: Văn minh khai triết mạc/ Hoa cấp hiến tân đồ/ Bạc kỹ cung thường phẩm/ Bình Sơn cổ sở vô. Ông dịch qua thơ lục bát: Văn minh màn triết mở ra/ Đồ hình mới được bút hoa vẽ vời. Vật thường cung ứng cho đời/ Bình Sơn ngày trước chưa người làm nên.

Qua những người tôi có dịp thưa chuyện, tự nhiên chợt thấy mình quá đỗi hời hợt với quê hương. Chỉ hơn 20 km đường từ thành phố Quảng Ngãi đến Bình Sơn, vậy mà tôi cứ dửng dưng đi qua, chưa một lần ghé lại.

Còn một móc neo

Cả làng gốm, giờ chỉ còn anh Đặng Văn Trịnh tiếp tục sản xuất. Hàng anh làm ra tới đâu, bán tới đó. Thu nhập bình quân 15 triệu đồng mỗi tháng. Khách hàng chủ yếu là Đà Nẵng, Hội An. Ngoài những đồ gốm gia dụng như vò, ghè, chum, ảng, chậu phong lan… anh còn sản xuất gốm giả cổ và gốm trang trí  cho khách đặt hàng. Là một người lâu năm trong nghề, anh tự hào rằng, bất cứ mẫu hàng nào hễ có khách yêu cầu, anh đều có thể làm được. Những người tài hoa như anh trước kia không hề hiếm.

Ông Thuần nói với tôi, chưa biết làng gốm Mỹ Thiện được hình thành từ năm nào. Nhưng theo “Quảng Ngãi tỉnh chí” (1933) thì toàn tỉnh có các lò gốm ở Đông Thành, Đại Lộc (Sơn Tịnh), Thạnh Hiếu, Chí Trung (Đức Phổ), Bồ Đề (Mộ Đức), trong đó Mỹ Thiện là nổi tiếng nhất. Nhờ nằm ở vị trí thuận tiện, sản phẩm xuất lò được vận chuyển đi các nơi dễ dàng. Có thời sản phẩm qua cửa biển Sa Cần đã ra tới Đông Hà, Đồng Hới, Vinh… vô tận Bình Định, Khánh Hòa. Còn trong tỉnh thì theo đường bộ hoặc đường sông, ngược lên miền núi xa xôi.

Đến năm 1964, qua trận lụt lớn, lạch Bến Củi bị bồi lấp một phần. Chi phí sản xuất như đất, chất đốt, vận chuyển đã tăng cao nên một số gia đình tìm kế sinh nhai khác. Nhất là sau này, vào những năm 1988 – 1989, học theo cách tráng men của Bát Tràng không thành công, hầu hết các lò đốt cầm chừng, rồi sau đó không cạnh tranh nổi với gốm sứ ngoài Bắc, trong Nam và hàng nhựa nên các lò tự giải tán.

Cách pha men cổ truyền, hiện nay chỉ còn ông Đặng Thạnh. Ngoài các loại men chính như men màu đen, men vàng và men nâu sành, ông còn gia giảm, loại bớt để sản phẩm có các màu xanh ngọc, da lươn, men chảy, vàng rạn da… Sản phẩm làm ra nay ế ẩm, nhưng bàn tay hay lam, hay làm của ông không nghỉ được. Ông gởi vào lò của anh Trịnh (con trai ông) một ít gốm mộc rồi hàng ngày tòn tơn quảy ra chợ huyện bán để khỏi quên nghề. Còn ông Hồ Duy Khánh thì ghi chép lại tất cả các công đoạn, bí quyết nghề làm gốm. Nhìn quyển vở học sinh nhem nhuốc những chữ viết, những hình vẽ các kiểu lò, cách tạo hình các sản phẩm, cách chế tác các vật dụng lớn… không ai khỏi chạnh lòng, bởi một làng nghề sắp bị biến mất.

Cũng may làng còn có anh Đặng Văn Trịnh, được xem như một móc neo cuối cùng giữ lại nghề gốm Mỹ Thiện. Độc đáo nhất của tay nghề anh là ở kỹ thuật hỏa biến và nước men vàng. Gốm hỏa biến là sự sáng tạo của lửa nên đầy bất ngờ, thú vị. Lúc sản phẩm ra lò, lòng người thợ cũng hồi hộp, bâng khuâng như cuộc hò hẹn tình yêu đầu đời. Màu vàng của men tựa sắc mai xuân; óng ả, quý phái, dịu dàng như lụa. Cầm trên tay, lúc này sản phẩm gốm không phải là đồ vật vô tri, chỉ có giá trị sử dụng, mà sinh động, đẹp như tác phẩm nghệ thuật, nhìn mãi không chán mắt.

Tất cả những ngón nghề trên, anh Trịnh đều mong muốn truyền lại. Lò gốm của anh nằm trong khu dân cư nên mỗi lần nổi lửa đều gây phiền phức cho hàng xóm. Nhất là mùa mưa, trời nặng, khói không bốc lên được. Muốn mở mang nghề và thu nhận thêm người, đòi hỏi phải có một diện tích đất tương đối rộng. Anh ao ước, giá như được huyện Bình Sơn quy hoạch cho khu đất làm gốm riêng biệt, anh sẽ gom hết số thợ đang tha phương cầu thực quy về một mối để trao truyền nghề.

Đời sống mỗi ngày một khá hơn. Những ngôi nhà sang trọng, những ngôi biệt thự, nhà hàng chen nhau mọc. Tôi đã từng chứng kiến nhiều chủ nhân ra tận Bắc Ninh, Quảng Nam, vào tới Đồng Nai, Bình Định mua đồ gốm về trang trí trong nhà. Vậy mà ngay tại Quảng Ngãi, một làng nghề truyền thống có hàng mấy trăm năm đang trôi về phía lụi tàn. Mong có những bàn tay chặn lại.

V.HIỀN

bài viết của nhà báo HIỀN VĂN ra ngày 15-3 2009 BÁO QUẢNG NGÃI CHỦ NHẬT
một số sản phẩm cổ của lò gốm Mỹ Thiện:


* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »


Sưu tập gốm Chu Đậu (cuối tk 15/ đầu tk 16) từ tàu đắm cổ Cù Lao Chàm

A selection of late 15th/Early 16th Century vietnamese ceramics from Hoi An Hoard

click trên hình để xem phóng lớn:


Xem file winword có chú thích (phải download về máy) :Sưu tập gốm Chu Đậu cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16

KhanhHoaThuyNga sưu tầm

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Sưu tập gốm men độc sắc Việt Nam

Gốm men độc sắc Việt Nam xuất hiện sớm, phong phú về kiểu dáng, loại hình và hoa văn trang trí. Sưu tập gốm này gồm các dòng men như: men ngọc, men trắng, men nâu, men xanh lục…

gt_gommendocsac1

Gốm men ngọc: gồm 3 giai đoạn phát triển: – Giai đoạn 1, khoảng tk 6 – 10, đó là giai đoạn tiền men ngọc, với men xanh ngả vàng mỏng. Đây là giai đoạn gốm Việt Nam mang phong cách Hán – Đường. – Giai đoạn 2, khoảng tk 11 – 14, là giai đoạn men ngọc Việt Nam phát triển rực rỡ, với nhiều loại hình phong phú, được sản xuất ở nhiều trung tâm như Thăng Long (Hà Nội), Thiên Trường (Nam Định). Gốm giai đoạn này có nhiều màu sắc: xanh cốm, xanh ngả vàng, xanh xám … do độ lửa trong lò không đồng đều và công thức men không định hình, nhưng cũng chính điều này đã làm cho gốm men ngọc Việt Nam có sự khác biệt và hấp dẫn so với gốm Tống – Nguyên của Trung Quốc đương thời. Đặc biệt, gốm men ngọc có chữ Thiên Trường phủ chế (chế tạo ở phủ Thiên Trường) là chứng tích về một trung tâm sản xuất gốm phục vụ cho cung đình ở Việt Nam là khá sớm. – Giai đoạn 3, tk 15 – 16 gốm men ngọc Việt Nam khá định hình về màu sắc nhưng loại hình không phong phú như giai đoạn trước. Gốm men ngọc giai đoạn này chủ yếu được sản xuất ở các trung tâm gốm Hải Dương và Thăng Long (Hà Nội). Ở BTLSVN, sưu tập gốm men ngọc có đủ các đại diện cho 3 giai đoạn phát triển cung cấp cho những người nghiên cứu và yêu thích. Gốm men trắng: xuất hiện từ tk 11 và kéo dài đến ngày nay. Trong lịch sử phát triển 9 thế kỷ, gốm men trắng Việt Nam có 3 giai đoạn phát triển chính: – Giai đoạn Lý – Trần (tk 11 – 14) gốm men trắng Việt Nam có màu men trắng đục, xương gốm mịn khác biệt hoàn toàn với gốm bạch định Tống – Nguyên (Trung Quốc), tạo nên một sự riêng biệt đặc thù gốm Đại Việt. – Giai đoạn Lê Sơ (tk 15 – 16) gốm men trắng Đại Việt đạt đỉnh cao, với mầu men trắng trong, xương mỏng, thấu quang, đạt trình độ sứ trắng. Nhiều đồ gốm tìm thấy ở Thăng Long (Hà Nội), Lam Kinh (Thanh Hoá), tàu cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam), có in nổi chữ “quan” chứng minh đó là sản phẩm sứ cao cấp, phục vụ cho cung đình và xuất khẩu. – Giai đoạn Lê Trung Hưng – Nguyễn (tk 17 – 19): sự xuất hiện men trắng với kỹ thuật rạn to, hiện còn lưu lại trong một số đồ gốm thờ tự, đang được lưu giữ và trưng bày tại BTLSVN.

gt_gommendocsac2

Sưu tập gốm men trắng ở BTLSVN có đủ các đại diện cho 3 giai đoạn phát triển chính với nhiều loại hình phong phú, chắc chắn giúp ích nhiều cho những ai quan tâm. Gốm men nâu: có thành phần men gốc ôxít sắt. Loại gốm này có 4 giai đoạn phát triển: – Giai đoạn 1 (tk 7 – 10): gốm men nâu có phong cách Đường, men mỏng và màu nâu sẫm. – Giai đoạn 2 (tk 11 – 14) thời Lý – Trần, gốm men nâu có nhiều sắc độ do thành phần có nhiều tạp chất và nhiệt độ nung trong lò chưa đủ kỹ thuật khống chế. Sự xuất hiện những đồ gốm ngoài men nâu, trong men trắng là minh chứng của sự ảnh hưởng qua lại giữa các dòng men. – Giai đoạn 3 (tk 15 – 16), gốm men nâu thời Lê có sắc nâu khá định hình và màu nâu tươi tắn. Những trung tâm sản xuất gốm 3 giai đoạn nói trên chủ yếu ở Thăng Long (Hà Nội), Hải Dương. – Giai đoạn 4 (tk 17 – 20), tập trung chủ yếu là đồ gốm thờ tự và gia dụng, thuộc trung tâm sản xuất gốm Phù Lãng Bắc Ninh. Ở BTLSVN, gốm men nâu có đủ đại diện cho các giai đoạn phát triển nêu trên. Gốm men xanh lục: hay còn được gọi là men Islam với thành phần men là ôxít đồng. Có 2 giai đoạn phát triển chủ yếu, đại diện cho 2 kỹ thuật hoàn toàn khác nhau: – Gốm men xanh lục nhẹ lửa (tk 11 – 14), loại hình chủ yếu là bát, đĩa, ấm, liễn… với nhiều đồ án hoa văn đặc trưng cho thời kỳ này. – Gốm men xanh lục nặng lửa (tk 15 – 16), loại hình chủ yếu là bát, đĩa, âu… hoa văn trang trí tiếp nối truyền thống Lý – Trần, nhiều đồ án mang phong cách thời đại. Đây là dòng men không có nhiều, BTLSVN lưu giữ và trưng bày một số tiêu bản điển hình.

Gốm men lam xám: ở Việt Nam dòng gốm này xuất hiện muộn hơn so với các dòng men kể trên, bắt đầu vào tk 15 và kéo dài đến thế kỷ 18. Đó là những sản phẩm gốm có màu lam xám hoặc lam tím dầy phủ trên cốt gốm xốp. Dòng gốm men lam này được sản xuất tại một số trung tâm gốm nổi tiếng như Chu Đậu (Hải Dương), Bát Tràng (Gia Lâm – Hà Nội)… Loại hình chủ yếu là những đồ thờ và đồ gia dụng như : Chân đèn hai phần đắp nổi rồng uốn khúc yên ngựa, lư hương đắp nổi rồng và mây đao mác, ấm tỳ bà, ang hình cầu… Đặc biệt BTLSVN hiện đang lưu giữ nhiều tiêu bản chân đèn men lam có minh văn, ghi khắc tên tác giả chế tạo như gia đình nghệ nhân Đặng Huyền Thông với niên đại tuyệt đối.

Nguồn Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam

Read Full Post »

Sưu tập gốm Việt mười thế kỷ đầu Công nguyên

Đây là thời kỳ dân tộc Việt Nam chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong suốt gần mười thế kỷ đầu Công nguyên, mở đầu bằng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 sau công nguyên. Trong thời kỳ này các ngành nghề thủ công ngày càng hoàn thiện, trong đó, nghề sản xuất gốm tiếp tục phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng Trung Hoa. Hiện nay, BTLSVN lưu giữ một sưu tập khá phong phú và một số sưu tập gốm thuộc thời kỳ này đang được trưng bày tại hệ thống chính. Đây là một bộ sưu tập có lịch sử sưu tầm khá lâu dài, mà đa số thuộc về công lao các học giả Trường viễn Đông bác cổ, thông qua những cuộc khai quật vào những thập niên đầu thế kỷ 20 và một số được sưu tầm trong những năm gần đây.

gt_thiennienky1

Sưu tập gốm men, tk 1 - 3

Loại hình đồ đất nung như: mô hình nhà, mô hình giếng nước, tháp nhỏ, các loại gạch xây tháp, xây thành cùng nhiều đồ đựng, đồ đun nấu như nồi, vò, bát, chén….

Đồ gốm men gồm: ấm, âu, bát, bình, chậu, chân đèn, chén hai tai, cốc đốt trầm, đĩa, đỉnh, lọ, nồi .v.v..

Những đồ gốm này có nguồn gốc thu được từ các ngôi mộ gạch xếp, mộ quan tài thân cây khoét rỗng hay mộ cũi. Dấu tích của loại hình mộ gạch xếp mang phong cách Hán, đã được biết đến từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, trong khu vực các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam xưa. Tập trung nhất là các địa điểm Mạo Khê (Quảng Ninh), Nghi Vệ (Bắc Ninh), Lạch Trường (Thanh Hoá). Nguồn thứ hai là đồ gốm thu được từ những cuộc khai quật di tích sản xuất ở Tam Thọ (Thanh Hoá), Bái Đinh, Đương Xá (Bắc Ninh)…

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Đặc điểm chính của đồ gốm thời kỳ này là ít có hiện vật kích thước lớn, xương gốm dày, lớp men phủ thường không trùm hết, màu men vàng ngà, trắng nhạt hay xám. Các vò, hũ gốm kiểu Hán thường in nổi văn ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S… Một số ấm, âu, hũ có trang trí cánh sen, chim nước, cá, đầu gà, đầu voi. Các loại gạch xếp mộ thường có hình chữ nhật và hình múi bưởi, hoa văn in nổi trên một rìa cạnh gồm: ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S. Nhiều loại hình đồ gốm tạo dáng tương tự đồ đồng cùng thời như ấm đầu gà, chén hai tai, liễm hình trụ, bình con tiện, bình có quai…

 

Nguồn ảnh và chú thích: Bảo Tàng Lịch sử Việt Nam

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Một số đồ gốm và sành tiêu biểu thời Mạc, Lê

(Từ thế kỷ 15 đến nửa đầu thế kỷ 18)

Đây là thời kỳ đất nước ổn định và phát triển mạnh sau chiến thắng quân xâm lược Minh. Riêng đồ gốm đã hình thành nhiều trung tâm sản xuất có tính chuyên nghiệp để xuất khẩu như Chu Đậu, Hợp Lễ, Cậy ở Hải Dương, Bát Tràng ở Hà Nội, Thổ Hà, Phù Lãng trên đất Kinh Bắc,v.v.

Thời này bắt đầu xuất hiện chống dính bằng kỹ thuật ve lòng. Đồ gốm men trắng vẻ lam thường được gọi là gốm hoa lam là đặc trưng nổi bật của gốm thời này đã được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, sang tận Trung cận đông, Ai Cập và châu Âu.

Gốm hoa lam thường có dáng cao, chân đế cao, dưới trôn tô màu đỏ trang trí văn lá chuối, văn cánh sen to với các loại điển hình là lọ hình tỳ bà, bát chân cao, nậm, vò hộp phấn, bát, đĩa v.v.

Bên cạnh đó còn có loại gốm men trắng với các loại âu, ang, bát, đĩa, ấm, vò,v.v. Đáng chú ý thời này đồ sành cực kỳ phát triển với trung tâm Hương canh nổi tiếng với các loại chum, vại, tiểu sàng và Phù Lãng với loại sành tráng men da lươn.

Riêng đồ gốm vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17 xuất hiện loại gốm men lam, hoa văn đắp nổi kết hợp vẽ lam rất đặc trưng, chủ yếu để sản xuất đồ thờ cúng và trang trí như chân đèn, lư hương, bát hương. Một số đồ gốm có ghi tên người và lò gốm sản xuất.

Bên cạnh cũng có một số gốm men lam, men nâu, men trắng như chum, ấm, tước, chậu, bát đĩa và gốm kiến trúc.

Thời kỳ này xuất hiện một số trung tâm đúc đồng khá nổi tiếng chuyên đúc các loại chuông, trống, lư, đỉnh khá đẹp.

âu gốm Lê sơ

âu gốm Lê sơ

ấm gốm

ấm gốm

chum gốm

chum gốm

chân đèn

chân đèn

ấm gốm

ấm gốm

bát đĩa và gốm tk 16

bát đĩa và gốm tk 16

các loại chân đèn thế kỷ 16

các loại chân đèn thế kỷ 16

 

Docoviet

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »