Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘gốm Biên Hòa’

GII THIU V TRƯỜNG

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai tiền thân là trường dạy nghề Biên Hòa đã hình thành tồn tại và phát triển trong hơn 100 năm qua ( 1903-nay). Trong hơn 100 năm trường đã thay đổi khá nhiều lần từ tên trường đến quy mô đào tạo- ngành nghề đào tạo mục tiêu đào tạo. Trường đã trải qua ba thời kỳ: thời kỳ thuộc Pháp – dưới chế độ Sài gòn ( 1954-1975 ) và thời kỳ đất nước được hoàn toàn thống nhất.

Dưới thời kỳ đất nước ta bị đô hộ dưới ách thống trị của thuộc dân Pháp, mạng lưới Trường lớp đào tạo nghề ở cả nước là rất mỏng. Ở miền Nam trong một số rất ít trường được thành lập trong đó có trường dạy nghề Biên Hòa mà nhân dân thường gọi là( trường bá nghệ Biên Hòa). Do kinh tế chưa phát triển nên quy mô của Trường nhỏ bé số lượng học sinh ít.

Mãi đến năm 1964 ( sáu mươi năm sau ) từ trường dạy nghề mới phát triển thành trường Trung học chuyên nghiệp mang tên trường Kỹ thuật Biên Hòa.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng 30-4-1975 sau mấy năm tiếp quản trường đổi tên thanh trường Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai năm 1978 đến năm 1998 trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai.

Trong hơn  100 năm qua trường trải qua 3 giai đọan phát triển.

Từ 1903 -1963 là trường đào tạo nghề tồn tại 60 năm

Từ 1964 -1997 là trường Trung học chuyên nghiệp tồn tại 33 năm

Từ 1998 đến nay là Trường Cao đẳng.

 Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai đã không ngừng mở rộng quy mô đào tạo. Đặc biệt là từ năm 1975 đến nay, nội dung đào tạo của trường đã chuyển dần sang lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Từ năm 1998 đến nay, trường đã mở thêm một số khoa, ngành mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội: thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện; thiết kế thời trang. Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai tổ chức đào tạo 7 khoa chuyên môn, gồm:

-khoa thiết kế đồ họa

-Khoa trang trí nội thất

-Khoa thiết kế thời trang

-Khoa thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện

-Khoa nhiếp ảnh quảng cáo

-Khoa gốm mỹ thuật & điêu khắc

-Khoa  cơ bản.

Một chặng đường dài với biết bao thay đổi trong lịch sử của trường cùng lịch sử của dân tộc , biết bao thế hệ học trò đã trưởng thành từ đây , biết bao thế hệ thầy cô đã cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng góp phần làm nên lịch sử của mái  trường .

đúng vào dịp kỷ niệm 110 năm thành lập, nhà trường vinh dự được đón nhận Huân chương Độc lập hạng nhì. Đây là thành quả lao động hăng say, miệt mài của tập thể cán bộ, giáo viên, sinh viên toàn trường. Điều này  khích lệ tập thể nhà trường phấn đấu hơn nữa để tiến lên trở thành trường đại học, đào tạo ngày càng nhiều nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

nguồn : Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang Trí đồng Nai .

Khanhhoathuynga thực hiện :

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC – BẢO TÀNG

 

Read Full Post »

Tác giả : TRẦN ĐÌNH QUẢ

Để đánh giá chất lượng của một sản phẩm gốm sứ, người ta thường dựa vào những tiêu chí sau: nhất dáng, nhì xương, tam men, tứ trí. Như vậy, nghệ thuật tạo hình gốm là hết sức quan trọng bởi hình dáng sản phẩm là yếu tố đứng hàng đầu. Nó là cốt lõi của sản phẩm, là cơ sở để người nghệ nhân tiến hành các hình thức trang trí khác. Hình dáng của sản phẩm gốm được quy định bởi nếp sống, nếp suy nghĩ, cá tính, trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân sáng tạo cũng như công chúng mà nó hướng tới. Nó còn được quyết định bởi xu hướng và quan niệm thẩm mỹ của thời đại. Cuối cùng, đó là sự kết hợp của đường nét và mảng khối trong nghệ thuật tạo hình ba chiều với sự cho phép của chất liệu.

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa có vô vàn kiểu dáng với nhiều chủng loại khác nhau song vẻ đẹp truyền thống mang tính đặc trưng của nó thể hiện qua hai khía cạnh: sự cân đối, hài hòa trong tạo hình sản phẩm và nét độc đáo, đầy tính thẩm mỹ của các tượng nhỏ.

Sự cân đối và hài hòa trong tạo hình

Trong thiết kế gốm, có thể nói những dáng bình gốm Hy Lạp cổ đại cho thấy một sự cân đối mang tính cổ điển làm nên vẻ đẹp chỉn chu, say đắm lòng người. Nghệ thuật gốm Việt Nam nói chung và gốm Biên Hòa nói riêng cũng không là ngoại lệ, những sản phẩm được tạo dáng trên bàn xoay hoặc có cốt mẫu trên bàn xoay đều trở nên tròn trịa và cân đối. Đó là sự đối xứng tuyệt đối qua một trục cả về các thể thức, hình khối và các chi tiết phụ họa như quai, nắp.

Sự cân đối còn được thể hiện qua những đôn voi và các loại thú khác nhưlân, chó… Chúng luôn có sự đối xứng với nhau qua chính trục giữa của nó hoặc một khoảng cách nhất định như hai con lân đối nhau qua hai trụ cổng.

Bình gốm xoay (vuốt) của Biên Hòa thường được cấu tạo dựa trên năm thể(phần) chính, ngoài ra còn có một số chi tiết phụ, tùy theo sáng tác của nghệ nhân như quai, vòi, nắp… Những phần chính là chân, thân, vai, cổ và miệng bình. Từ 5 phần chính này, nghệ nhân có thể sáng tác ra rất nhiều kiểu dáng khác nhau. Có nhiều dạng bình không cần đủ 5 phần như bình hông dưới, loại không vai hay hũ, loại hình không có cổ. Sự cân đối của tạo dáng gốm Biên Hòa thể hiện qua tính thống nhất của từng phần trong một chỉnh thể nhất định.

Sự hài hòa là cái đích luôn mong muốn vươn tới của nhiều nghệ nhân sáng tạo. Có nhiều yếu tố tạo ra sự hài hòa của một sản phẩm, chẳng hạn như tỷ lệ kích thước của chiều cao và chiều rộng, của độ lớn hông bình với các bộ phận khác, của miệng và đáy bình, của từng bộ phận so với tổng thể. Có dạng bình tròn như trái bóng, hoặc là sự mô phỏng đường cong của tang trống. Phần miệng bình luôn dẫn người xem từ cảm giác chắc khỏe, đến sự dịu dàng và cao quý toát ra qua những tai bèo mềm mại. Phần cổ của bình lại hướng tới độ thanh thoát và là nhịp nối gắn kết sự hòa hợp giữa miệng và phần dưới của bình.

Để đạt đến độ hài hòa trong từng sản phẩm, nghệ nhân gốm Biên Hòa đã chắt lọc từ đa dạng dáng gốm của nhiều vùng khác nhau cộng với sự nỗ lực tìm tòi sáng tạo của chính mình. Trong loại hình bình hoa, sự hài hòa thể hiện rõ qua những đường cong mềm mại, căng tròn và liền lạc. Một bình rượu có hai bầu, trên nhỏ dưới lớn, là hình dáng quen thuộc trên khắp Việt Nam, song riêng với gốm Biên Hòa, nó trở nên thanh thoát, hài hòa hơn với tỷ lệ (vàng) của từng phần để tạo ra một chỉnh thể hoàn thiện.

Dạng bình sữa lại là một xu hướng tạo hình khác. Sự hài hòa được mang đến không phải do tính đối xứng qua một trục mà là cân bằng của khối. Phần vát, lệch một bên của miệng bình đã cân bằng với quai của bên kia, khiến cho sản phẩm rất mềm mại và phong phú về hình thể, cùng sự linh hoạt và chuyển động trong toàn khối. Đó là một phong cách tạo hình có sự tính toán khá phóng khoáng, đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao.

Bộ ấm trà của gốm Biên Hòa có đặc trưng khác hẳn so với các dòng gốm của Việt Nam. Bình trà có cách tạo hình theo đề tài cách điệu chữ tửu, đã cho thấy khả năng khái quát cao của người sáng tạo. Một bố cục rất gọn, sự bố trí sắp đặt đúng chỗ của vòi và quai ấm, nhất là cách phối hợp các đường nét và mảng khối đã tạo ra một nhịp điệu uyển chuyển, sống động. Toàn bộ các khối được nghệ nhân phỏng theo nét của chữ Hán, có chỗ to, chỗ nhỏ, có nhiều lỗ trống giữa các nét, tạo ra sự thanh thoát. Họa tiết trang trí chỉ đơn giản là những hoa văn cổ, song lại rất phù hợp để tôn thêm vẻ đẹp cho sản phẩm. Sự phối hợp giữa màu nâu của nền cùng màu trắng của họa tiết làm nổi bật thân bình bên cạnh quai.Vòi ấm có màu xanh đồng, đưa lại một vẻ đẹp vừa sang trọng vừa cung kính.

Bình trà trái bí mang vẻ đẹp của một đồ gốm men ngọc, cách tạo hình thật nhẹ nhàng và quyến rũ. Toàn bộ thân ấm trông giống trái bí cách điệu với các đường khía hội tụ dần về nắp ấm có hình dáng như một chiếc lá úp mềm mại. Một chút đường cong tạo ra quai và vòi càng làm cho bố cục đẹp thanh thoát. Bình trà được phủ một lớp men trắng ta, lại điểm xuyết những chấm vàng, mang lại cái đẹp nhẹ nhàng và tinh khiết.

Khi chiêm ngưỡng một số chén đĩa của gốm Biên Hòa, không ít người phảingỡ ngàng trước sự sáng tạo của nghệ nhân xưa. Lấy đề tài từ hoa, lá sen, một bộ sản phẩm đĩa và chén đã được ra đời, mang đầy đủ sự mềm mại và cao quý. Vẫn với dáng của một chiếc chén ăn cơm bình thường nhưng người thợ đã tạo cho nó sự mềm mại bởi đường gợn của miệng chén được chia theo những cánh sen. Thêm vào đó là sức lột tả của đĩa giống như một lá sen đang nâng niu nụ hoa của nó. Màu men xanh đồng chỗ đậm, chỗ lợt (nhạt), cộng với những chấm bông vàng, đen càng tô điểm thêm cho sản phẩm.

Có lẽ, một số chén của Biên Hòa được làm ra với mục đích để uống nước như chén dùng trong trà đạo của người Nhật. Bởi khi uống trà, người dùng mới có cơ hội để thưởng thức hết giá trị nghệ thuật của chén cho xứng với tầm của nó. Chén được tạo dáng có đáy nhỏ, miệng loe lớn để phô bày hết các trang trí dày đặc bên trong lẫn bên ngoài, nó thực sự vượt khỏi tầm của một đồ gia dụng hàng ngày. Một loạt chén loại này được trang trí theo nhiều đề tài, từ hoa lá cổ đến các loại minh văn đơn giản, nhằm làm phong phú cho một dạng sản phẩm chỉ có ở gốm Biên Hòa. Chúng được sắp các loại men trầm nhưng rất phù hợp với từng đồ án trang trí.

Đôn là một dạng đặc trưng của gốm Biên Hòa. Có một số dáng đôn được sản xuất như loại đơn giản giống một cái trống, đôn ba mặt và đôn voi. Đôn ba mặt được tạo dáng khá đẹp với một chỉnh thể gọn, hài hòa giữa mặt đôn để ngồi và thân đôn là phù điêu nổi cao hình lân. Đôn voi lại là sự mô phỏng theo hình dáng của convoi theo hai dạng: loại vòi cất cao lên trên và loại có vòi đi xuống. Cái đẹp của đôn là sự kết hợp hài hòa giữa tạo hình và hình thức trang trí rất chi tiết của nó.

Tạo hình tượng nhỏ độc đáo

Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới chân, thiện, mỹ. Nó đã góp phần tạo nên loại gốm mỹ nghệ đặc trưng, được định danh là gốm mỹ nghệ Biên Hòa nổi tiếng vào những thập niên 20-50 TK XX.

Bên cạnh tượng phật, gốm Biên Hòa còn thể hiện được nhiều hình tượng con người trong xã hội xưa và nay. Đó là những tác phẩm có tính hiện thực cao như nhóm tượng ngư ông, diễn tả người dân lao động trong nhiều tư thế sinh động. Vẻ mặt của họ ánh lên tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, cho dù phải đối mặt với lao động cực nhọc hay tuổi tác. Trong nhóm tượng này, các ngư ông được thể hiện khỏe mạnh với quần áo xắn cao, để lộ các cơ săn chắc của người lao động chân tay. Chiếc nón (mũ) rộng vành được bố trí úp sau lưng như tăng thêm sự khẳng định của đề tài, đồng thời làm cho bố cục tượng chắc chắn. Men có màu đen của quần, màu xanh của áo và màu trắng của nón kết hợp lại, tạo nên hình tượng các ngư ông bình dị nhưng thật cao đẹp, đáng để mọi người trân trọng.

slideshow

Tượng Mạnh mẫu Mạnh tử ca ngợi tấm lòng bao la của người mẹ đối với đứa con. Mạnh mẫu tuy lao động vất vả nhưng vẫn hy sinh hết mình để lo cho con ăn học. Những mảng khối và đường nét trên trang phục của Mạnh mẫu cùng động tác và gánh hàng đã tạo nên bố cục sinh động, mặt của Mạnh mẫu hướng về phía Mạnh tử như đang truyền tình cảm cho con. Trong tác phẩm này, tác giả đã dùng nét cong làm chủ đạo để diễn tả nhiều điều: nét cong của đòn gánh diễn tả sức nặng của gánh hàng trên vai mẫu tử, dáng hơi cong của mẫu tử thể hiện phản xạ tự nhiên dưới sức nặng đang mang, nét cong mềm mại của quần áo…Tất cả như diễn tả tình thương ngọt ngào của mẹ dành cho con và mong con ăn học thành người. Các màu men xanh đồng trổ, xanh coban, trắng ta và đen đã kết hợp để mang lại vẻ đẹp của một điển cố xưa nhưng có giá trị đến muôn đời.

Tượng xe ngựa cho thấy sự tinh tế và tính khái quát cao trong việc tái hiện một phương tiện giao thông xưa của giai cấp quý tộc. Đối với chất liệu gốm, những khắt khe của độ co đất cùng nhiều biến đổi trong quá trình nung không cho phép nghệ nhân được phóng khoáng tạo khối như các chất liệu điêu khắc khác. Vì vậy,khi tạo khối, nghệ nhân phải tính đến yếu tố trọng lực cho phù hợp với kỹ thuật tạo hình bằng đất và sự biến đổi khi nung. Quần tượng xe ngựa là thành công của việc tạo ra một chỉnh thể có nhịp điệu, tư thế sinh động của ngựa hòa quyện cùng người dắt phần nào trái ngược với sự tự tại của người ngồi trên xe. Điều này đã nói lên được ý tưởng của đề tài bên cạnh giá trị nghệ thuật đơn thuần của nó.

Tượng tình mẫu tử là bài ca về tình cảm của mẹ con. Bố cục tượng gọn, mang đến sự truyền cảm sâu sắc qua tấm lưng còng của mẹ. Dù khó nhọc, ánh mắt của mẹ vẫn luôn trìu mến, muốn đem đến cho con một cuộc sống thanh bình và vui tươi. Con nhỏ được mẹ ôm trong lòng đang rạng rỡ với cánh chim trên tay, thật hạnh phúc trong vòng tay của mẹ. Toàn bộ tác phẩm phủ một màu men trứng cúc, bình dị và gần gũi.

Tính phong phú của mảng, khối trong sản phẩm gốm hiện đại

Bên cạnh mảng gốm có phong cách tạo hình truyền thống trên bàn xoay(vuốt) với những sản phẩm tròn và cân đối, gốm Biên Hòa còn rất ấn tượng và giàu tính sáng tạo qua nhiều tác phẩm gốm độc bản, mang tính hiện đại.

Trong giai đoạn Pháp thuộc, phong cách tạo hình này mới chỉ thấp thoáng qua một số sản phẩm bình trà, nó chỉ thật sự bùng nổ khi đất nước bước vào thời mở cửa. Những kiểu dáng gốm hiện đại, phóng khoáng nhưng mang nhiều tính sáng tạo đã trở nên hấp dẫn và có ảnh hưởng đến tạo dáng gốm Biên Hòa. Hàng loạt tác phẩm gốm do thày và trò Trường Cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai sáng tác cùng với sự thể nghiệm của một số lò gốm ở Biên Hòa đã khẳng định một mảng gốm rất đặc trưng của Đồng Nai.

Nói đến gốm hiện đại là đã đề cập tới cách giải quyết vấn đề theo phong cách nghệ thuật hiện đại, từ tư duy chọn đề tài đến thể hiện qua mảng khối. Trong các tác phẩm gốm hiện đại Biên Hòa, sự phong phú của mảng, khối là nét khác biệt rõ nhất so với gốm truyền thống. Khối và mảng trở nên biến hóa với tính khái quát cao về đề tài mà tác giả muốn thể hiện.

Bình ốc, cho thấy một điển hình về sự chuyển của khối và đường nét. Đó là sự kết hợp của nhiều khối to nhỏ, âm dương, mỗi khối lại có những hình dáng khác nhau tạo nên một tổng thể vô cùng phong phú. Bên cạnh đó, những đường khắc chìm trên thân của khối lớn đã tạo ra sự liên kết trong một tập hợp, chia thân khối ra thành nhiều mảng có diện tích và hình dáng khác nhau, làm nên một cái nền. Toàn thể tập hợp đó gợi nên một cảm giác nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm của đại dương qua chính loài vật sống trong đó. Một nhịp điệu được toát ra qua sự uyển chuyển của đường nét và cách sắp xếp các khối. Một màu men xanh phủ toàn bộ tác phẩm đã làm rõ hơn sự diễn tả cho đề tài.

Các đề tài lấy từ hình tượng con người được sử dụng nhiều trong sáng tác gốm hiện đại. Trong đó, nhân vật được đơn giản hóa tối đa, các khối quyện chặt vào nhau trong nhịp chuyển động linh hoạt của mảng và đường nét. Nhìn chung bố cục của chúng đều hướng tới sự vận động liên tục của cuộc sống ngay cả khi con người đang trong tư thế tĩnh. Tác phẩm Tình yêu lứa đôi diễn tả đôi trai gái đang chìm đắm trong vũ điệu của tình yêu. Nhân vật nam và nữ được cách điệu thành những khối đơn giản với các đường cong mềm mại và uyển chuyển trong bố cục rất chặt chẽ giữa một không gian ba chiều rõ nét. Tác giả đã cố gắng diễn tả không gian sao cho khi ta xoay chiều nào cũng tạo được góc nhìn ưng ý, góc nào cũng thấy được nhịp điệu sinh động của mảng khối. Sự chặt chẽ nhưng không ngợp bởi khoảng trống giữa các khối đã tạo nên cảm giác nhẹ nhàng và sâu rộng của không gian. Sự chuyển động thông qua đường nét và mảng khối làm sáng tỏ hơn chủ đề mà tác phẩm đang hướng đến. Toàn bộ tác phẩm được tráng một màu xanh đồng nhẹ nhàng và đặc trưng của gốm Biên Hòa.

Sự tìm hiểu và khai thác các đề tài về văn hóa và con người của nhiều dân tộc trên khắp đất nước là một mảng rất ấn tượng trong gốm hiện đại Biên Hòa. Tác phẩm Tây Nguyên, dưới dạng một bình hoa, cho thấy một phong cách thể hiện kết hợp giữa tạo hình truyền thống và điêu khắc. Tính truyền thống ở đây là một bố cụckhá cân đối, sự tạo dáng ban đầu dựa vào bàn xoay nhưng nó đã được điêu khắc hóa khi thể hiện những chi tiết, mảng và khối nhỏ. Trong Tây Nguyên, các khối được gắn kết với nhau theo một trình tự ngẫu nhiên như thực tế, song nó đã được tính toán ở một tỷ lệ vừa đúng để tạo ra tổng thể hoàn chỉnh. Với một khối đơn giản có tính khái quát cao, việc nêu bật được đặc điểm của một nền văn hóa, một dân tộc là rất khó. Bình Tây Nguyên đã cho người xem cảm nhận được những đặc điểm chính của người phụ nữ nơi đây qua mảng khăn quấn trên đầu, hai vòng đeo tai có dạng như hai chiếc chiêng, hai lỗ tai lớn, biểu thị cho hệ quả của việc đeo vòng nặng từ nhỏ và cuối cùng là ba vòng tròn ở cổ. Chính các chi tiết của khối như: mắt, miệng, tai… là những họa tiết trang trí vừa để hoàn chỉnh ý tưởng đề cập của đề tài, đồng thời góp phần mang lại tính mỹ thuật cao hơn, sâu sắc hơn. Màu men nâu chủ đạo đã trở nên phù hợp và làm đẹp hơn cho cả nội dung và hình thức của tác phẩm.

Bình đèn Múa Chăm lại đưa người xem đến cảm nhận khác về sự biến đổi của mảng khối và đường nét trên một sản phẩm gốm. Trong tư thế hết sức sinh động và mềm mại, hình tượng người múa hiện lên duyên dáng với những hoa văn mang đậm bản sắc Chăm trên trang phục. Với bố cục thật đơn giản và gọn, hình tượng vũ nữ được chia làm ba khối chồng lên nhau theo xu hướng nhỏ dần lên trên. Đó là ba khối biến thể có tính khái quát cao, một khối tay đưa lên, một cánh tay chống vào hông… tất cả được kết hợp đầy sáng tạo. Những hoa văn Chăm được trang trí phù hợp với kỹ thuật khắc, lộng, đã tạo ra sự thông thoáng cần thiết để ánh sáng đèn bên trong hắt ra, vừa đủ đẹp. Màu men xanh đồng của thân và màu men nâu đậm, màu đen của hoa văn hài hòa và sâu lắng.

Như vậy, khả năng kết hợp của mảng và khối trong gốm hiện đại thật phong phú. Sự phong phú đó bắt nguồn từ tính đa dạng của đề tài mà gốm hiện đại thể hiện, hơn nữa phong cách tạo hình mới trong các sáng tác đã giúp cho việc tạo hìnhmảng, khối ngày càng đa dạng hơn. Nó không chỉ làm đẹp cho một bố cục mà tự bản thân nó đã bộc lộ những ngữ nghĩa tùy theo sự biến hóa và cách sắp đặt của tác giả.

Cùng với những dòng gốm khác trên khắp quê hương Việt Nam, gốm Biên Hòa đã và đang góp phần làm tôn vinh vẻ đẹp và phong phú của làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ. Với nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp sản xuất, ngành gốm Biên Hòa sẽ gặt hái được nhiều thành công trên bước đường phát triển, mãi mãi xứng đáng là dòng gốm nổi tiếng mang đặc trưng riêng của khu vực miền Đông Nam Bộ.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Read Full Post »

Đồng Nai có gốm Biên Hòa

Đẹp, bền, duyên dáng ai mà lãng quyên

Đó là câu ca dao ngọt ngào, ngợi ca địa danh làm gốm nổi tiếng của mảnh đất Miền Đông Nam bộ. Thật tự hào với thương hiệu gốm Biên hòa đã đi vào lòng người. Điều đó chứng minh nghề gốm Biên Hòa đã có từ rất lâu, nó được đón nhận vào đời sống văn hóa của dân gian như nhiều nghề truyền thống khác. Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển gốm Biên Hòa đã để lại nhiều giá trị tại kho tàng lịch sử gốm Việt Nam, trong đó giá trị nghệ thuật là yếu tố nổi bật và quan trọng để đưa sản phẩm gốm Biên Hòa trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước. Một trong những yếu tố quan trọng đó, chính là nghệ thuật trang trí được thể hiện qua đôi tay khéo léo và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân gốm Biên Hòa.

Hoa văn trang trí gốm Biên Hòa

Nói đến “Trang trí”, đầu tiên phải kể đến các họa tiết trang trí. Đó có thể là một hay nhiều mảng màu đơn giản đến các hoa văn phức tạp khác nhau. Một đặc trưng nổi bật của trang trí gốm Biên Hòa là sự đa dạng, phong phú của nội dung các hoa văn trang trí.Đối với các hoa văn, ngoài yếu tố trang trí, người ta rất quan tâm đến ý nghĩa của nó, đặc biệt là những hoa văn có tính ước lệ như rồng, phượng, được gắn đặt một ý nghĩa nào đó thông dụng trong nhân dân. Hoa văn miêu tả cuộc sống như cảnh sinh hoạt, hay minh họa cho một truyền thuyết của dân tộc, một kỳ tích của các anh hùng, một câu chuyện nào đó trong dân gian được mọi người yêu mến và có ý nghĩa giáo dục.

–  Hoa văn Rồng, Phượng

Hòa mình vào quan niệm truyền thống của người phương Đông, hình tượng con Rồng, Phượng, Kỳ lân là những hoa văn ước lệ xuất hiện khá nhiều trong các sản phẩm gốm truyền thống của Đồng Nai. Các bố cục như “lưỡng Long tranh châu” hay “lưỡng Long chầu Nguyệt” luôn là các đề tài cho việc trang trí sản phấm gốm thờ cúng.

Một đặc trưng của hình tượng Rồng trên gốm Biên Hòa là biến thể Rồng lá, đây là dạng hoa văn cổ rất hay được áp dụng trên các đố án trang trí bình đèn. Một sản phẩm gốm Biên Hòa được sáng tác từ thời Pháp thuộc là bình đèn lộng rồng lá đã áp dụng rất nhuần nhuyễn hoa văn trang trí này. Trong bình, rồng lá có bố cục mềm mại, uyển chuyển và liên tục chạy khắp một vòng của thân bình với nhiều con kết hợp lại. Các mảng lượn lờ đan xen với nhau sao cho bố cục của mảng được rải đều và nâng đỡ nhau để khi lộng thủng bớt phần nền, vẫn còn lại xương đủ cho sự chịu lực của bình. Nghệ nhân thường chạm thủng phần nền làm nổi bật thân Rồng lá để lộ rõ một lối trang trí có đường cong làm chủ đạo. Họa tiết trang trí và phần nền được hai màu men xanh đồng và trắng ta phối lại một cách hài hòa và trầm lặng.

 
 – Họa tiết hoa lá

Hoa lá trong trang trí gốm Biên Hòa thường hiện diện dưới hai hình thức, đó là hoa lá cổ được người nghệ nhân sưu tầm lại từ vốn cổ của cha ông để lại. Có nhiều dạng hoa lá cổ như hoa Mai, Lan, Cúc, Sen…hoặc chỉ là những chiếc lá được bố cục trong một dải đồ án nhất định. Việc đưa họa tiết cổ vào trang trí đã tạo cho sản phẩm trở nên gần gũi thấm đượm bản sắc dân tộc. Cách bố cục họa tiết hoa lá cổ cộng với sự phối màu hài hòa, trầm, đã tạo cho gốm Biên Hòa sự sâu lắng đến vô cùng, nghiêm trang và cao quý.

Ngoài hoa lá cổ, gốm Biên Hòa còn sử dụng họa tiết hoa lá do người sáng tác nghiên cứu. Họa tiết thường được chú ý nhiều nhất là hoa Sen, hoa Mai. Trong chiếc liễn hoa Sen một sự tự do, thoải mái cho người sáng tác, những mảng hoa và lá nâng đỡ cái nọ làm nền cho cái kia trên một diện tích hợp lý, tạo ra một bố cục hoàn chỉnh với màu sắc nhẹ nhàng, quyến rũ. Ở một số bố cục khác, lại có sự kết hợp rất khéo giữa Sen và cỏ, những bông Sen trong nhiều hình dáng từ khi mới nở đến lúc đã xòe ra hết cỡ, điều này chứng tỏ người sáng tác đã có nghiên cứu kỹ. Màu sắc của lá sen thường là men xanh đồng, bông sen màu trắng có điểm chút màu hồng để tạo ra sự tinh khiết.

Có một dạng trang trí rất đặc sắc của gốm Biên Hòa, đó là đồ án bá hoa. Trong đồ án trang trí này, nghệ nhân sử dụng rất nhiều các loại hoa, hoa Mai, hoa Cúc, hoa Hướng dương, hoa Dâm bụt…tất cả các hoa này, cái to, cái nhỏ chồng lấn nâng đỡ nhau tạo thành một rừng hoa trước mắt người xem. Đây là lối trang trí được sắp xếp rất nhiều màu cho các loài hoa, tuy nhiên, nhờ có mảng lớn nhỏ khác nhau, sự diễn tả tốt của không gian nhờ các mảng chồng lên nhau nên sự phối màu trở nên hài hòa, vui mắt.

Họa tiết động vât

Động vật trong trang trí gốm Biên Hòa rất phong phú, ngoài những con vật tưởng tượng như Rồng, Phượng, kỳ Lân, còn có rất nhiều loài vật khác trong tất cả các loại hình của gốm.

Trong gốm tượng tròn, hình tượng nhiều nhất là Voi với sự đa dạng ở các tư thế khác nhau, có con cụp vòi xuống, có con lại đưa vòi lên như đang vẫy gọi bạn. Một loại sản phẩm dùng voi làm hình tượng là đôn voi, đây là sản phẩm đặc trưng của gốm Biên Hòa. Nhìn chung, hình tượng voi trong gốm Biên Hòa có thân hình khỏe và sinh động trong các tư thế động. Trong một số loại hình, voi còn được trang trí những hoa văn, điều đó đã đưa gốm Biên Hòa có những sản phẩm tiêu biểu, khác biệt với các dòng gốm khác.

Trong nhiều đồ án trang trí trên gốm Biên Hòa, hình ảnh Ngựa được thể hiện rất đẹp với dáng vẻ sinh động và thật mềm mại. Dưới nét khắc tài hoa của nghệ nhân, hình ảnh ngựa hiện lên hùng dũng trên đường chạy song cũng thật uyển chuyển, lãng mạn với nhịp điệu của đường nét và mảng khối.

Họa tiết Tôm và Cá được diễn tả rất sinh động trên các sản phẩm gốm Biên Hòa. Một chú Tôm đang dùng hai chiếc càng để gắp bông hoa, cho thấy sự quan sát thật tinh tế của người sáng tác. Chỉ bằng những nét khắc đơn giản, con Tôm đã được tả thực một cách vô cùng chính xác. Cách bố cục của Tôm cùng với những thực vật trong lòng tròn đĩa cho người xem cảm nhận một sự chặt chẽ nhưng thật nhẹ nhàng của môi trường dưới nước. Trong sản phẩm này màu men xanh đậm của đĩa đã làm nổi bật mình Tôm màu trắng ta bên cạnh những mảng hoa màu nâu nhạt đóng vai trò trung gian.

Đề tài Cá được khai thác nhiều tập trung ở hình ảnh cá ba đuôi, cá tai tượng. Đĩa trang trí cá trong gốm Biên Hòa cho thấy một thân thể cá mềm mại với những cái đuôi lượn lờ trong nước. Ở đây tác giả đã cố ý miêu tả chi tiết vẻ đẹp đặc trưng của cá ba đuôi, những mảng đuôi được phụ họa bằng những nét khắc đã tạo nên sự uyển chuyển, mềm mại làm sao.

Bình hoa trang trí “Cò Tùng” là một bức tranh thật sinh động về cảnh sinh hoạt của cả một bầy cò. Tác giả đã nghiên cứu và thể hiện ở đây nhiều dáng cò, có con đang bay, con đang đậu nhìn lên, con đang xỉa lông… thật là một tập thể náo động quanh những cành, lá Tùng cùng một vài giải Mây lượn lờ bên trên. Bố cục trang trí của đồ án trang trí này là hết sức tự do, mọi họa tiết cứ phát triển tự nhiên và chạy giáp vòng, phủ kín hết diện tích bề mặt của bình. Điều này gây cho người xem sự chú ý toàn diện trên tất cả các mặt của sản phẩm, nó cũng cho cảm giác như đang được chiêm ngưỡng cả một rừng“Cò Tùng” vậy. Hình ảnh những cánh cò trắng hòa cùng màu xanh lãm của nền, trông như một bức tranh sống động trong thiên nhiên.

                                                                                                   

–  Hình ảnh con người trên gốm Biên Hòa:

Trong trang trí gốm Biên Hòa ngoài những tượng đài và phù điêu hoành tráng, hình tượng con người còn được thể hiện rất phong phú qua những đề tài có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, mỗi đề tài đều gắn với một điển tích, một cảnh sinh hoạt hay một cốt truyện cụ thể trong dân gian. Nó là những lời ngợi ca các anh hùng, ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong lịch sử đấu tranh và lao động của mình.

Đề tài về con người được quan tâm sâu rộng là những cảnh sinh hoạt trong dân gian. Qua tranh gốm diễn tả đám cưới, hình ảnh con người và phong tục xưa hiện lên rõ nét. Sự rộn ràng, hồ hởi của ngày quan trọng nhất trong cuộc đời đã được tác giả thể hiện trên những gương mặt của các nhân vật cùng nhịp điệu vui tươi được tạo ra bởi các tư thế của những người đi rước dâu. Những trang phục cộng với ô và nón đã đem lại một cảm giác hết sức thân thương về một quê hương Việt Nam thanh bình, đầm ấm tình người. Tranh lấy màu xanh và trắng làm màu chủ đạo và được điểm một số họa tiết màu nâu vàng đã đem lại hiệu quả nhẹ nhàng, nền nã.

Phù điêu “Mùa gặt” đã mang đến một hình ảnh khác của người Việt, một lao động hăng say trên cánh đồng lúa nước. Những người nông dân trong động tác làm việc khác nhau, song họ đều hồ hởi trước một vụ mùa bội thu. Bố cục của ba người gom thành một nhóm chặt chẽ và tạo thành nhịp điệu rõ qua đường nét của mảng. Những cánh cò bay ngược với hướng của nhân vật ở phía trên có tác dụng cân bằng và mở rộng thêm không gian cho phù điêu.

              

Cảnh nhảy múa có rất nhiều đồ án trong trang trí gốm Biên Hòa, đó là sự thể hiện những nhịp điệu thật nên thơ của các điệu múa trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Các nghệ nhân đã chọn lọc và bố cục nhịp nhàng giữa sự uyển chuyển của người múa cùng những dải lụa hoặc trang phục truyền thống duyên dáng, dịu dàng…tất cả tạo thành một tổng hợp của đường cong thật nhẹ nhàng, đẹp đẽ.

Các phương pháp trang trí trên gốm Biên Hòa:

–  Kỹ thuật chạm khắc trong trang trí gốm:

Kỹ thuật khắc chìm là một đặc trưng rõ nét nhất của nghệ thuật trang trí trên gốm Biên Hòa. Việc gốm Biên Hòa chọn phương pháp khắc chìm và phối màu men trên sản phẩm so với gốm vẽ oxit men Lam rất phổ biến ở Miền Bắc và Huế có thể cho chúng ta hình dung sự độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt.

Khác  với  các  phương  pháp  vẽ  oxit  như gốm Hoa lam, người thợ khắc dùng một dụng cụ như bút viết nhưng đầu bằng sắt nhọn để khắc nét chìm vào sản phẩm. Muốn cho dễ thao tác và không bị bể nét, người thợ thường khắc khi đất còn chưa khô trắng. Họa tiết được phác chì hoặc in bằng một mộc cao su,  người  thợ sẽ khắc lại theo nét chì, mực in. Độ sâu của nét khắc vừa đủ để làm rãnh ngăn cách không cho hai màu men chảy lem vào nhau.

–  Kỹ thuật chạm lộng của gốm Biên Hòa:

Chạm lộng (chạm thủng) là kỹ thuật trang trí được áp dụng cho một số chủng loại sản phẩm như: Bình đèn, voi, đôn, chân đèn…Trong kỹ thuật này người thợ dùng dao cắt xương đất thành những lỗ hổng, tạo ra một phần nền (âm), phần họa tiết được giữ lại. Các họa tiết phải liên lạc với nhau sao cho  khi lộng thủng xong mà xương vẫn vững chắc cho công đoạn tiếp theo và trong sử dụng. Đối với bình đèn, bóng đèn được lắp bên trong, ánh sáng sẽ rọi qua các lỗ thủng tạo ra một hiệu quả vô cùng thú vị tùy vào sự tính toán của người thiết kế trang trí.

Kỹ thuật trang trí men trên gốm Biên Hòa:

Kỹ thuật trang trí men ở Biên Hòa có nhiều phương pháp khác nhau  nhưng hay sử dụng nhất là kỹ thuật chấm men. Khi đã có mảng trang trí được phân chia theo các đường khắc, người thợ sẽ dùng cọ chấm men lên sản phẩm  theo một sự phối màu đã có sẵn.Độ dày của lớp men phải luôn đảm bảo vừa, bởi nếu mỏng quá sẽ lộ cốt đất còn dày quá thì men sẽ bị tuôn, lem qua các mảng màu khác khi nung. Ưu điểm của phương pháp này là nó cho phép người thợ chủ động phối được nhiều màu men trên một sản phẩm, các mảng màu rõ ràng, thể hiện tính trang trí cao.

Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Quan hệ của men và hình là mối quan hệ hỗ trợ, tôn vẻ đẹp cho nhau. Men làm cho hình dáng của sản phẩm trở nên lưu loát, hài hòa hơn. Men còn làm cho hoa văn trang trí mềm mại hơn, hòa nhịp với dáng của sản phẩm. Khi được phủ men, hoa văn trở nên ẩn hiện và có hồn hơn trong một tổng thể hài hòa. Men màu luôn được sử dụng hợp lý với màu sắc của hoa văn. Men giúp cho bề mặt của sản phẩm tăng thêm độ láng bóng, che bớt đi những nét thô ráp của những đoạn nối giữa thể chính và phụ, nó làm nhẹ đi góc cạnh của sản phẩm.

Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Nghệ thuật phối màu trên gốm Biên Hòa:

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trên một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, nên các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa đã thể hiện sự kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, cho thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa. Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của trường Mỹ Nghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật học, sự phối màu của Thầy và Trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén dĩa…số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí những màu men sáng. Với sự phong phú về số lượng màu sắc, nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng Rồng, Phượng rực rỡ trên không trung. Là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy nhiên, cũng có nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng, song nhìn chung, trường phái này có hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán và hời hợt.

Như vậy, giá trị nghệ thuật trang trí của gốm Biên Hòa thể hiện thật phong phú và đầy tính sáng tạo. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm của trong nước cũng như quốc tế.

Trang trí là một giá trị nghệ thuật rất đặc trưng của gốm Biên Hòa. Đi theo lối khắc chìm, lộng vào thân sản phẩm, hoa văn trên gốm Biên Hòa trở nên rõ ràng, khỏe mạnh và dứt khoát. Sự phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng đã nâng nghệ thuật trang trí gốm Biên Hòa vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện./.

Thạc Sĩ : Trần Đình Quả

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  CÁC BÀI SƯU TẦM

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Read Full Post »

 Men là yếu tố thể hiện rõ nét trình độ phát triển của nghệ thuật gốm sứ truyền thống. Trong các loại hình gốm: sản phẩm đất nung không phủ men, gốm sành nâuvới màu men chủ yếu là da lươn và đen, đến gốm sành xốp thì đã có sự đa dạng về màu sắc của men. Tùy theo từng độ lửa mà người thợ có thể chế ra nhiều màu cho phù hợp với tính chất trang trí của từng sản phẩm. Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Men truyền thống gốm Biên Hòa nói riêng cũng như gốm Việt Nam nói chung phần lớn được làm từ những khoáng chất tự nhiên. Màu sắc của men phát ra ngay từ bản thân các nguyên tố bị oxit hóa có sẵn trong đất đá và những màu sắc này được kiểm soát, điều khiển bằng nhiệt độ lò nung. Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Trong những năm mới thành lập, gốm Biên Hòa sản xuất tại trường kỹ nghệ Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng sau một thời gian, dưới sự lãnh đạo của người phụ trách rất có tài và có tâm là bà Marie Balick, nhóm nghiên cứu men mớichỉ dùng nguyên liệu trong nước như đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rơm, tro củi, tro trấu và thủy tinh. Các nguyên liệu nội địa đó sẽ cho ra loại men trong, rất thích hợp với chất đất và phong cách tạo hình của gốm Biên Hòa. Họ dùng kim loại mạt đồng, đá đỏ (đá ong Biên Hòa) và bột màu cobalt để tạo nên màu sắc của men. Một trong những màu men nổi tiếng nhất của gốm Biên Hòa là men xanh đồng (vert de Bien Hoa). Ngoài ra, gốm Biên Hòa còn có các men đẹp khác là men màu xanh dương, màu đá đỏ, màu trắng ta,… rất được ưa chuộng.

Dòng men do trường Mỹ nghệ Biên Hòa chế tạo thường có nhiệt độ chảy cao. Khi nung tới 12500c, men mới bắt đầu rướm chảy, các hóa chất trong hỗn hợp men sẽ từ từ hóa lỏng. Sự bóng láng bề mặt xảy ra ở nhiệt độ12800c trong một khoảng lưu nhiệt kéo dài nhất định. Vì nhiệt độ nung cao nên các màu men có một vẻ đẹp rất thâm trầm, sâu lắng.

Vert de Bien Hoa, men màu xanh đồng nổi tiếng thế giới, là sự kết hợp của men tro và chất tạo màu bằng hợp kim đồng. Có một hệ thống men xanh đồng được sử dụng trong thực tế là xanh ve chai, xanh lá và xanh ngọc do người thợ Biên Hòa sản xuất. Khi làm nguội trong lúc nung lò, người thợ Biên Hòa đã có cáchxử lý tốt, điều này dẫn đến hiện tượng khử oxy và tạo tinh thể đồng trên men. Khuynh hướng tạo tinh thể đồng thường xảy ra không đều trên bề mặt men, vì vậy mặt men màu xanh đồng sẽ có những đốm mà người trong nghề thường gọi là xanh đồng trổ bông. Bông có thể đen hay vàng. Trong nhiều trường hợp, ở trên cùng một sản phẩm có thể mặt này trổ bông đen, mặt kia lại có bông vàng. Nguyên liệu làm men dễ trổ bông là tro trấu có độ nhớt cao, đồng sẽ ít bị phân tán nên dễ ra bông. Mặt khác, kỹ thuật chấm men cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của màu men. Đối với hệ thống men tro là nguyên liệu có tính lắng đọng cao, nếu người thợ không thường xuyên khuấy đều trong lúc sử dụng sẽ gây ra hiện tượng men nhiều nước, điều này sẽ làm nhạt màu và không có bông.

Gốm Biên Hòa còn nổi tiếng với màu men đá đỏ (đá ong). Khi vùi dưới lớp đất dày chừng một mét trở lên thì đá ong mềm, có thể dùng xẻng xắn được dễ dàng. Đá ong chứa oxit sắt và oxit nhôm, khi đã lấy lên mặt đất, đá ong mới cứng dần. Hàm lượng oxit sắt trong đá ong chứa tới 25%, vì vậy đá ong luôn luôn có màu đỏ hơi đậm. Đá đỏ trộn với men trắng sẽ cho ra màu nâu, màu đỏ đậm, màu vàng đất tùy theo tỷ lệ trộn giữa đá và men.

Một trong những màu men hay được sử dụng trên gốm Biên Hòa là men màu trắng ta. Đây cũng là màu men được đánh giá rất cao về giá trị nghệ thuật. Men trắng ta có màu hơi ngà và trong nên rất thích hợp làm trung gian cho sự phối màu của nghệ nhân. Sở dĩ gọi là men trắng, bởi các thành phần phối liệu đều là nguyên liệu trong nước. Ngoài ra, loại men cao độ còn có các màu khác là xanh coban, nâu vàng, trắng đục, xanh crôm…

Bên cạnh men cao độ, dòng men lửa trung với những màu sáng được sử dụng nhiều tại các làng gốm Biên Hòa. Đây là dòng men khá phong phú về màu sắc với cả hai tông màu là nóng và lạnh. Hệ màu nóng gồm có các màu vàng, cam, hồng, đỏ, nâu. Hệ màu lạnh có các màu xanh lá, xanh dương, xanh lam, tím…Các màu trung gian có màu trắng, đen. Tất cả các màu men đều có thể có được sắc độđậm và nhạt tùy theo yêu cầu của khách hàng.

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trong một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa (có thể nói là) đã kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, có thể thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa (men cao và trung độ).

Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của Trường Mỹnghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật, sự phối màu của thày và trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén đĩa,… số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem,càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí với những màu men sáng. Do sự phong phú về số lượng màu sắc nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng rồng, phượng rực rỡ trên không trung, là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy cũng nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng song nhìn chung, trường phái này hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán, thiếu chiều sâu cuốn hút.

Giá trị nghệ thuật của gốm Biên Hòa thể hiện qua hai phương diện là tạo hình và trang trí sản phẩm. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra được một dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm trong nước cũng như quốc tế. Một yếu tố đã góp phần làm nên sự nổi tiếng của gốm Biên Hòa chính là những sắc men màu. Với phong cách phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo, trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng,nghệ nhân gốm Biên Hòa đã nâng nghệ thuật trang trí gốm vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 335, tháng 5-2012
Tác giả: Trần Đình Quả

Read Full Post »

I. Tôi nhớ mãi câu của Tư Mã Quan:

“Học xong mà thành đạt quên cả người thầy dạy mình thì chưa phải là học”

Tôi ngồi dưới mái trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa không đủ bốn năm, mà chỉ học tới năm thứ ba (Đệ Tam Niên) thôi!

Nếu học trọn khóa, lãnh bằng tốt nghiệp, là công thành danh toại, tựa bông hoa tới kỳ nở rộ, khoe sắc hương thơm.Trong khi tôi học hành dang dở, nghề nghiệp chưa thành, tựa nụ hoa chưa nở, nên không tỏa hương sắc – Nụ hàm tiếu.

Tuy vậy, tôi cũng có kỷ niệm về nụ Hàm Tiếu. Xin kể ở đoạn sau.

– Giờ đây có ai hỏi tôi, ngôi trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa giờ ở đâu?

– Tôi xin thưa: Ngôi trường thân yêu ấy hiện nó đang “nằm” trong trái tim tôi.

Vâng. Tôi “lọt” vào “đôi mắt kính” của truờng Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa khóa 1960-1964. Qủa không dễ chút nào ! Cũng “trầy da tróc vẩy”. Bởi một, phải “chọi” với năm, tỉ lệ 1/5. Nghĩa là: khóa học năm ấy! Chỉ tiêu của trường tuyển bốn mươi học sinh, cho lớp đệ nhất niên (đệ thất), nhưng có tới bốn trăm người dự thi và tôi may mắn nằm trong số bốn mươi người trúng tuyển và đậu hạng tư. Với hạng này, tôi được học bổng của tỉnh, mỗi tháng hai trăm đồng “tương đương hai triệu đồng bây giờ”. Cũng cần nói thêm, trường hồi ấy có hai loại học bổng: Của Bộ Quốc Gia giáo dục, mỗi tháng được bốn trăm, cho hai xuất. Hạng nhất và hạng nhì của tỉnh, từ hạng ba tới hạng năm, ba tháng lãnh một kỳ, mỗi lần lãnh tôi được sáu trăm, nếu có tác phẩm bán được, hưởng thêm 30% nữa! Vị chi tôi cũng được 7-8 trăm đồng, đủ trang trải giấy bút, sắm áo quần, giầy dép, cũng bớt gánh nặng cho gia đình!

Học năm đầu đệ nhất, tôi có chuyện vui vui, đáng nhớ! Xin kể – số là một lần có người hỏi thăm tôi bao nhiêu tuổi, và học lớp mấy? Tôi trả lời tôi mười lăm tuổi và học lớp đệ nhất! Họ tròn mắt nhìn tôi, thán phục! Qủa là tuổi trẻ tài cao, mới có tí tuổi này! Mà đã chuẩn bị lấy bằng tú tài kép “ tú tài đôi” (Hồi xưa chúng tôi vẫn gọi thế). Với bằng này thường ở tuổi 18-20. Cấp T.H.P.T, năm đầu là lớp đệ thất ( lớp 7) nhưng với trường nghề như Trường Mỹ Nghệ Biên Hòa lại gọi là đệ nhất, thế mới oái oăm! Tôi có mấy người bạn nữ trường K.T học lớp đệ lục “lớp 6” vẫn đinh ninh rằng tôi chuẩn bị “giựt” bằng tú đôi, rồi khoe với bạn bè, ra vẻ hãnh diện lắm! Ai có ngờ! Đời là thế!

Tôi cứ lặng im như … thóc, chẳng biện bạch chi cả. Kệ! Họ muốn hiểu sao thì hiểu, mình cứ hiên ngang tiến bước…

Chuyện thứ hai cũng đáng nhớ. Đó là giờ văn của Cô NGUYỆT( cô Nguyệt vừa dạy văn vừa dạy toán) đề Cô cho chúng tôi hôm ấy: Tả cây Phượng già trước sân trường. Cây cây phượng này là nguyên nhân, gây ra bao rắc rối, bởi những tay có tâm hồn lãn mạng hay viết vớ vẩn lên thân nó! Nào là hình hai trái tim lồng lên nhau với chữ HL (H.L) y như chữ Hy Lạp ! Mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu ! Hoặc hình trái tim có mũi tên đâm vào, lại có vài giọt máu rơi xuống ! Qủa khó hiểu! Mà thôi ! Ai muốn hiểu sao thì hiểu !!!

Còn nhiều câu, nhiều hình đan xen nhau, chi chít! Làm tội cái gốc cây phải “gồng mình cõng” biết bao nhiêu cái đầu hâm nóng….

Cũng có những hình không lành mạnh, bởi cái đầu lệch lạc! Nên ai đó ?! Đã đè lên thân nó câu : “ Người họa sĩ này có bàn tay vẽ rất khéo ! Nhưng có tư tưởng không đứng đắn !”

Bài làm trong giờ xong, nộp cho Cô và Cô hẹn tiết sau trả bài. Chúng tôi chờ đợi trong sự hồi hộp. Hai ngày sau gặp Cô cũng tiết văn. Chúng tôi nhận lại bài, cả lớp ai lấy đã có bài. Bài thằng Lộc ngồi cạnh tôi, được điểm năm, nó không vui, cũng không buồn ! Tính nó là vậy ! Duy có tôi chưa nhận được bài ! Và tôi thấy trên tay Cô còn cầm một bài. Tôi hồi hộp tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra đây ! Thằng Lộc nó bảo” chắc bài của mày rồi! Bài mày làm chắc quá ẹ ! Nên bị Cô giữ lại” Tao nào biết ! Tôi trả lời nó vậy ! Bất ngờ Cô hỏi” em Phát đâu ? Đứng lên Cô coi ?”  Vì mới “ chân ướt chân ráo” nên Cô chưa biết mặt học trò. Tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực, đánh như trống… làng ! Phải đợi Cô gọi tới lần thứ ba, tôi mới từ từ đứng lên, mặt xanh như tàu lá (sau thằng Lộc nó bảo tôi vậy). Cô nhìn tôi mỉm cười, vẻ trìu mến, làm tôi hơi an tâm ! Rồi Cô nói: “Bài em làm r..ấ..t” Cô kéo dài chữ rất làm tôi càng điếng hồn! Cả lớp đổ dồn ngó tôi!!! Thú thật, lúc ấy! Phải là tôi Ngộ Không thì tôi đã thăng thiên, hoặc độn thổ ngay lập tức! Rồi Cô nói tiếp: “Bài em làm rất hay, điểm chín, đáng làm bài mẫu! Tôi thở phào nhẹ nhõm, như vừa chút được bao chì nặng trĩu! Tôi liền đá vào chân thằng Lộc một cái!!! Nó trợn mắt ngó tôi…cười! (Tôi thân với thằng Lộc hồi còn tiểu học). Rồi Cô trích một đọan và phân tích câu cú cho cả lớp nghe.

Tôi viết: Cây phượng trong sân trường! không biết nó mọc ở đây, từ bao đời! Và đã trải qua, bao thế hệ học sinh, thầy, cô, tới nay! Chính xác nó được bao nhiêu tuổi đời!?

Tôi chẳng biết! Chỉ biết rằng, cứ nhìn vào “ Dung nhan” về chiều của nó, với cái gốc to bè, sần sùi, đến 3-4 người lớn ôm không xuể, thì có thể đóan nó phải ngoài thất thập (ngoài 70 tuổi). Mà nó lại mọc ngay bìa trường, đứng sừng sững như người mẹ già nua vương những cánh tay khổng lồ ngoằn ngèo như những con rắn lượn! Phủ rợp cả một sân rộng, che nắng cho đàn con đông đúc, vui đùa, thỏa thích. Nhưng trong đám con ấy! Lại có những đứa tinh nghịch, ưa phá phách! Cứ leo lên từng cánh tay mẹ (vì tôi thấy có một sợi dây thừng to bằng cổ tay người lớn, được cột từ cành to cao nhất xuống tận đất ( chắc để học sinh chơi du dây) để bẻ những “ ngón tay” mẹ, mà vứt xuống! (bởi trên sân đầy những cành phượng nhỏ mang chùm hoa đỏ rực, tựa màu máu). Lúc ấy! Chắc “mẹ” đau lắm!? (Bài còn dài xin dừng tại đây!).

Sang năm thứ hai thì chọn ban, tôi theo bạn chọn điêu khắc đá nhân tạo. Đúng như lời cổ nhân có câu ” Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Trường hồi ấy có mấy ban như: Ban đồng do thầy Ung Văn Nam dạy, Ban Xoay do thầy Hai Bồi dạy, Ban Men thầy Nguyễn Văn Nhàn, ban điêu khắc thầy Nguyễn Văn Mậu, đá nhân tạo thầy Cừ, ban khuôn thầy Đinh, năm đầu mọi học sinh đều qua các ban. Năm hai thì chọn ban theo năng khiếu và học lấy một nghề cho thật giỏi, thật tinh thông, thế mới đúng: Nhất nghệ tinh…! Trường đã đi đúng lời cổ nhân dạy!..

Ban khắc có hơn mười bạn. Tôi, Thanh, Lịch, Soi, Lộc, Phép, Phấn, Liễu, Hướng, Tòng, còn mấy người bạn người nam, tôi không nhớ hết tên! Ban này do thầy Cừ và thầy Mậu giảng dạy. Thầy Đinh tuy dạy cùng phòng với hai thầy Cừ và thầy Mậu, nhưng thầy dạy môn khuôn, môn này tôi cũng học qua năm đầu, nhưng không có khiếu, đành trả nghề lại thầy! Em mong thầy lượng thứ cho thằng học trò bất tài này!!!.. vì không theo nổi nghề của thầy!

Với môn khiêu khắc đá nhân tạo, tôi cũng có vài kỷ niệm buồn, vui với các bạn! Chẳng hạn: Học được vài tháng đầu tôi nghe theo lời thầy Cừ bảo: “ Các em phải luôn có óc sang tạo, luôn đổi mới trong tư duy! Nhất là ngành khiêu khắc đá, phải tìm mọi hướng đi nghệ thuật cho riêng mình, như danh họa Picasso, có riêng một trường phái của ông, ngày nay khó có ai sánh kịp! Trước giờ! Điêu khắc chỉ thuần túy nắn một kiểu tròn, góc vuông, tức đồ giặt, rồi sẽ tạo riêng trường phái giặt!!! “ Câu nói của thầy Cừ cứ mãi xoáy vào tâm trí tôi, để rồi tôi đã thực hiện được điều thầy dạy.

Lần ấy! Chúng tôi thực tập, nặn con dơi sống, nó được nhốt trong cái lồng sắt, chúng tôi đứng bao quanh nó, nhìn và nặn, lâu lâu lại đổi chỗ xoay vòng, cốt để hoàn chỉnh tác phẩm.Và kết quả con dơi đá nhân tạo của tôi đã được trưng bầy trên H.T.X, mà bây giờ không biết nó “ bay” về phương mô?! Kể từ H.T.X không còn nữa.

Riêng môn đá nhân tạo, ngoài những chất liệu chính như: Xi măng, bột đá, màu, dụng cụ, dăm bằng sắt dăm lên tác phẩm để tạo sần sùi như đá thiên nhiên ra, còn có một bí quyết! Mà không phải ai cũng có thể làm được: Sư phụ cũng không dạy! Theo tôi! Chỉ có thiên phú, trời cho ai, người ấy được! Đó là chất… mồi hôi tay: “ Nghe có vẻ khôi hài, nhưng đó là sự thật”! Mồ hôi ai mà chẳng có, người thì mồ hôi muối, người mồ hôi dầu, mà đá nhân tạo lại chỉ hợp với người mồ hôi dầu, thế mới lạ kỳ ? Tôi đã bao phen “ghen” với tay Lịch, vì bài nó luôn được điểm cao, mặc dù xét về kỹ thuật tạo hình, tôi không thua hắn! Mà thua hắn về mỹ thuật. Nhìn tác phẩm của hắn luôn bóng láng và hấp dẫn! Vì hắn hay lấy tay xoa xoa lên tác phẩm “ thì ra hắn mồ hôi dầu!” Tôi cũng bắt trước hắn xoa xoa lên tác phẩm đến nỗi rát cả tay, đỏ tấy lên mà chẳng bóng! Trái lại nó cú bạc trắng ra, nhìn cứ như bị mốc! Hóa ra tôi mồ hôi muối!.

II- Nụ Hàm Tiếu:

Vừa rời mái trường Trung học Mỹ Thuật Thực Hành Biên Hòa năm 1963, tôi lên sài gòn kiếm việc và tìm cách học thêm để luyện thi cấp 3, tôi ở trọ nhà một người bà con, ở xóm Chí Hòa, dường Lê Văn Duyệt, nay là đường C.M.T.8. Quận 3, TP.Hồ Chí Minh, đang thất nghiệp đi lang thang trên đường Lê Văn Duyệt ngắm cảnh hai bên đường. Đi gần tới chợ Ông Tạ, tôi thấy trước cửa nhà có treo tấm bảng nhỏ đề vỏn vẹn bốn chữ: Cần người biết vẽ! Mừng quá, như người đang trong cơn khát, được ai cho ly nước uống, tôi liền vào xin việc, chủ tiệm đang lim dim gật, nghe tôi hỏi, anh tỉnh hẳn, nhìn tôi từ đầu tới chân. Biết tôi xin việc, rồi cuộc phỏng vấn chớp nhoáng về nhân thân, tên tuổi, biết tôi vừa dời Trường Trung Học Mỹ Nghệ Biên Hòa ra, và anh cho biết cũng mới tốt nghiệp Trường Bách Nghệ Phú Thọ và thuê phòng này mở phòng vẽ được hai tháng nay. Anh hơn tôi năm tuổi, tên Sơn. Vậy là cùng cảnh ngộ, đồng hội, đồng thuyền, dễ cảm thông!!! Rồi anh hẹn tôi ra nhận việc… để rồi nụ hàm tiếu nó “ mọc lên từ đây …!”.

Phòng vẽ, thì chủ yếu vẽ quảng cáo, bảng hiệu cho mấy quán bar. Vì thời gian ấy (1963) quân Mỹ ồ ạt sang Việt Nam mang theo những đồng đôla xanh, đỏ, rải đi mấy quán có cave “tiếp viên nữ” nên quán xá mọc lên càng nhiều! “ Chúng ta cứ chặc đẹp, tiền chùa mà” Anh Sơn bảo vậy!

Chúng tôi làm ăn với nhau được vài tháng, thì vào một sáng đẹp trời, tiết thu. Hai anh em đang thổi “kèn” và nghĩ ngợi lung tung, thì có một vị khách bước vào, ông khoảng năm mươi tuổi, lịch sự chào chúng tôi và muốn đặt chúng tôi vẽ bức tranh: Nụ hàm tiếu, đồng thời cho biết giá. Sau khi thỏa thuận giá cả, khách đồng ý. Chúng tôi hẹn ngày giao hàng, khách còn hào phóng đặt cọc và nở nụ cười “ hàm tiếu” ( sau này sự việc vỡ lẽ, chúng tôi mới hiểu nụ cười “ chết người ấy”! … cười chế diễu).

Sau khi ông khách ra về, hai thằng tôi nhìn nhau: Tôi hỏi anh Sơn hoa Hàm Tiếu là hoa gì? Anh Sơn lắc đầu!

–         Tôi cũng không biết nữa! Hồi học ở trường có ai dạy vẽ hoa Hàm Tiếu đâu?!

–         Tôi nói – hồi học ở trường em có vẽ khỏa họa bông hoa hồng, hay mình vẽ hoa hồng!?

–         Ừ! Cũng được, anh Sơn gật đầu, và chạy ngay ra chợ Ông Tạ mua một bông hồng to, tươi, nức mùi thơm, kèm theo cái nụ trên cành, rồi anh trao tôi vẽ, mẫu sao vẽ vậy! Sau một ngày vẽ và anh Sơn chỉnh sửa, bức tranh đã hoàn chỉnh, một bông hồng to và cái nụ hoa trên nền vải nhung tím được lồng trong khung gỗ, khổ 30 x 40cm, coi cũng có hồn lắm!!! Và bức tranh được bọc một lớp nhật trình, rất cẩn thận, chúng tôi chờ đợi trong sự hồ hởi! Rồi ngày hẹn cũng tới, khách đến lại vào cái giờ mà chúng tôi cho là “kị”- gặm bánh mì, buộc chúng tôi phải bỏ ra tiếp khách.

–         Khách nhìn chúng tôi, tỏ vẻ thân thiện, miệng luôn nở nụ cười như buổi đầu gặp, tôi liền trao bức tranh cho ông.

–         Ông giỡ lớp giấy bọc ngoài! Ngắm tranh một lúc, ông gật đầu khen “ Tranh vẽ bông hồng với cái nụ phải không? Khá đấy! Rất nổi! Vì hoa màu hồng đỏ, lại đặt lên nền nhung tím sẫm càng bật lên nét đặc trưng của hoa và cái nụ nho nhỏ, vậy cái nào là nụ Hàm Tiếu?!”

–         Hai thằng tôi ngớ người nhìn nhau, sau một giây, tôi chỉ đại vào cái bông hoa và bảo:

–         Dạ! đây là nụ Hàm Tiếu!!!

–         Ông khách phá lên cười dòn dã một hồi, và hai tay vỗ vỗ vào vai hai thằng tôi và nói:

–         Không phải rồi hai chú ơi! Hoa hồng là hoa hồng, nụ hàm tiếu là nụ hàm tiếu! Không thể lẫn lộn nhau được, Rồi ông giải thích cặn kẽ.

–         “Thật ra, khi nói đến nụ hàm tiếu là nói chung cho mọi nụ của các loài hoa chứ không riêng hoa hồng, hoa cúc, hoa mimosa chẳng hạn! Rất tiếc cái nụ này ( ông chỉ vào bức tranh) các chú vẽ nó hãy còn ngậm!!! Chưa hé nở! Vậy nụ hàm tiếu là cái nụ chớm nở! Các văn nhân thi sĩ khi ngắm nụ hoa chớm nở, đều cho là đẹp hơn cả bông hoa đã nở rộ! Vì thế người ta ví người con gái nào có nụ cười chúm chím, cười mỉm chi, khi cười chỉ khoe chút răng, đều cho là đẹp. Cái đẹp ở đây cón ẩn ý là người con gái kín đáo, ý tứ, được giáo dục kỹ lưỡng, nên được gọi là “Nụ Cười Hàm Tiếu”.

–         Hai thằng tôi cúi đầu sượng sùng! Lạnh thinh! Anh Sơn di di chân dưới đất, còn tôi, tay chân lúc ấy cảm thấy sao mà nó thừa đến vô duyên, chẳng biết giấu đâu! Căn phòng gần chục mét vuông, bình thường thấy rộng thênh thang, mà sao lúc này! Nó trở nên chật chội, ngột ngạt, khó thở lạ! Đang gặp nước bí, chưa biết ăn nói thế nào cho khách!!! Thì như hiểu được cảm nghĩ của hai thằng tôi!? Ông lên tiếng phá tan bầu không khí “ đặt quánh” bao trùm chúng tôi!. Ông tế nhị nói: “ Qua biết hai chú mới ra nghề, như mới dời trường lớp phải không? Nên chưa dầy dặn kinh nghiệm trường đời! Thế nên qua muốn thử cho vui thôi! Không ác ý gì đâu, dẫu sao đây cũng là bài học cho hai chú em. Người Pháp có câu : Ecol de lavie “ Trường đời” rất có nghĩa! Nói xong! Ông trả nốt tiền còn lại và lấy bức tranh, còn bắt tay hai thằng tôi vẻ chân tình, thân thiện, rồi chào tạm biệt!

Chúng tôi chưa kịp nói lời tạ lỗi, và cảm ơn vị khách quí, thì bóng ông đã mất hút vào lòng chợ Ông Tạ. Chúng tôi chợt bừng tỉnh! Như một cơn mê! Tiếc ngẩn ngơ!!!

Cho tới nay! Dù đã trải qua mấy chục năm, bao vật đổi, sao dời, biết bao việc đổi thay, nhưng với cái nụ Hàm Tiếu và vị khách quý kia, vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi, bởi tôi đã coi ông như một người thầy trong đời, dù ông không dạy như thầy cô dạy trong trường lớp! Nhưng đã có câu: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, nếu không, làm sao chúng tôi biết được nụ hàm tiếu ra sao!? Để nó vẫn “ đeo sát” tôi trong gần nửa thế kỷ nay!!!

Nhân kỷ niệm 105 năm thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai, tôi viết lên những dòng này! Kính dâng lên vong linh các thầy cùng bạn thân yêu, như thắp lên nén hương lòng vậy!

Đồng Nai, ngày 07 tháng 3 năm 2008

Read Full Post »

DI TÍCH ĐÀI KỶ NIỆM

Di tích Đài Kỷ niệm (Đài chiến sĩ) được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 1288/VH-QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.

Đài Kỷ niệm nằm ở trung tâm thành phố Biên Hòa, ngay kế khu trung tâm văn hóa Quảng Trường tỉnh, nằm giữa hai trục lộ: Quốc lộ I và Quốc lộ 1K. Công trình này được chính quyền thực dân Pháp xây dựng vào năm 1923 với tên gọi “Đài Kỷ niệm người Việt trận vong”. Trước đây, Đài thuộc làng Bình Trước, tổng Phước Vinh Thượng, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Lối kiến trúc của Đài mô phỏng theo kiểu Ngọ môn Huế thời nhà Nguyễn. Đài Kỷ niệm là một công trình đặc sắc, mang màu sắc dân tộc, do hai giáo sư người Pháp là ông Robert Balick và bà Balick thiết kế và trực tiếp hướng dẫn thợ và học sinh trường Bá nghệ Biên Hòa thi công.

( Bệ chân đài được tôn cao so với bề mặt chung quanh. Hai trụ đá được tôn cao, trên mỗi trụ được chạm khắc với đường nét tinh tế. Phần nối hai trụ với những mảng trang trí tinh tế. Trên thân của trụ đá có câu đối chữ Hán với nội dung:”Dũng sĩ trí thân phò Tổ quốc danh bi biểu trụ vạn cổ chấn lưu phương. Chinh hồn toàn tiết phân hương quan thu cúc xuân hoa truyền điệt tử” được thực hiện công phu bằng gốm với màu sắc hài hòa. Tấm bia đá khắc chữ Hán ghi tên những con người ở Biên Hòa đã bỏ mạng vì nước Pháp. Họ là những người dân thuộc địa bị bắt lính và chiến đấu trên những mặt trận xa quê hương mà thực dân Pháp chủ mưu. Bên chân hai trụ có hình tượng lân chầu bằng gốm. Bốn góc chân đài có hình ảnh của tượng rồng làm bằng gốm men xanh Biên Hòa tỏa xuất ra bốn hướng.)

Từ xa ta có thể nhìn thấy hai trụ cao của đài được dán bằng gạch gốm men xanh đen với hai câu đối

“Dũng sĩ tri thân phò tổ quốc danh bi biểu trụ vạn cổ chấn lưu phương.

Chinh hồn toàn tiết phân hương quan thu cúc xuân hoa thiên niên truyền điệt tử”

Mỗi đỉnh trụ đều cẩn búp sen bằng sành với ý nghĩa mong người đã khuất được siêu thăng cõi Phật. Giữa hai búp sen là hình mặt trời, dưới có 3 chữ Hán “Chiến sĩ đài”. Tấm bia đặt trong đài khắc 4 chữ Hán sắc xảo “vị quốc vong khu” để tưởng nhớ người bản xứ bỏ mình vì “Mẫu quốc đại Pháp”. Chính quyền thuộc địa xây dựng đài để làm gì? Những oan hồn mà tên họ khắc trên bia đá kia là ai? Nguyễn Ái Quốc trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã vạch rõ sự mị dân một cách lố bịch của chính quyền thuộc địa Pháp về sự kiện “Những ngày hội ở Biên Hòa” khi chúng tổ chức khánh thành “Đài kỷ niệm người Việt trận vong” ngày 21.1.1923. Theo bài diễn văn của công sứ Pháp đọc tại buổi lễ thì tên tuổi những người được tạc trên bia đá kia là “Những thanh niên bản xứ tình nguyện rời bỏ quê hương lên đường sang Pháp để chiến đấu bảo vệ “mẫu quốc” và hiến thân cho sự nghiệp cao cả ấy”. Con số thanh niên Việt Nam “tự nguyện hiến thân” ấy là bao nhiêu? Trong chương “Thuế máu” của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết “Tổng cộng có bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa”…

Để lấy tiền bỏ vào quỹ xây dựng “Đài kỷ niệm người Việt trận vong” của tỉnh Biên Hòa, Ban Tổ chức ngày hội đang tích cực chuẩn bị một chương trình tuyệt diệu. Người ta bàn tán sẽ có bao nhiêu là yến tiệc giữa vườn theo kiểu Anh, nào là chợ phiên, nào là khiêu vũ ngoài trời…Tóm lại, sẽ có nhiều và đủ thứ trò chơi để ai ai cũng có thể góp phần làm việc nghĩa một cách thú vị nhất đời…Ngày 21 tháng 11 tới, chúng ta hãy đi Biên Hòa, chúng ta sẽ vừa được dự những hội hè linh đình vui tươi, vừa được dịp tỏ cho những gia đình tử sĩ Việt Nam ở Biên Hòa thấy rằng chúng ta tưởng nhớ đến sự hy sinh của con em họ.

Thật là thời đại khác

Nhưng phong tục kỳ quái làm sao!

Người khẳng định “Như thế là trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm hai tội ác với nhân dân”.

Đài kỷ niệm ở Biên Hòa vẫn còn đó, sừng sững giữa không gian và thời gian. Ba phần tư thế kỷ khói lửa ngập tràn, những kẻ thù xâm lăng Pháp, Nhật, Mỹ lần lượt ra đi sau thất bại nhục nhã ê chề. Đài kỷ niệm ở Biên Hòa không chỉ là tấm bia sâu lắng về những người đã chết. Qua Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã biến nó thành bản cáo trạng hùng hồn, lên án chế độ thực dân tàn bạo, chà đạp lên một dân tộc. Những quốc gia, dân tộc và cả những số phận bị áp bức ấy chỉ còn một con đường duy nhất là vùng lên tư giải phóng. Không phải ngẫu nhiên mà ngày 1.5.1930 lá cờ đỏ búa liềm xuất hiện ngạo nghễ tung bay tại đây. Rồi mười lăm năm sau, hàng vạn người dân Biên Hòa, đội ngũ chỉnh tề, tầm vong vạt nhọn, cờ đỏ sao vàng rầm rập đi ngang qua đài kỷ niệm để đón chào nền độc lập tự do vào mùa thu tháng 8 năm 1945 lịch sử. Mùa xuân năm 1975 Đài kỷ niệm lại chứng kiến đoàn quân chiến thắng hùng hậu với xe tăng, trọng pháo tiến vào Biên Hòa, hoàn thành chiến dịch Hồ Chí Minh tại Đồng Nai.

Cuối năm 1992, Đài kỷ niệm được trùng tu, với một khuôn viên khang trang đẹp đẽ, những thảm cỏ xanh, đài nước, vườn hoa nhiều màu sắc hài hòa tôn tạo đài trở thành một công viên văn hóa tô điểm làm đẹp thành phố, thu hút đông đảo quần chúng đến vui chơi. Đài kỷ niệm mãi mãi là một bằng chứng không thể chối cãi tố cáo tội ác của thực dân Pháp, nhắc nhở người dân xứ Biên Hòa một thời lịch sử đau thương dưới ách thống trị ngoại bang để vươn lên tự cường, xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

“Đồng Nai di tích – lịch sử của Nhà Xuất bản Đồng Nai”

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Từ ngày 26/4 – 2/5, tại Nhà hát Trưng Vương, Đà Nẵng, Bộ VH – TT & DL tổ chức hoạt động triển lãm và lấy ý kiến nhân dân về Quốc hoa.

Quốc hoa là loài hoa tiêu biểu, là biểu tượng tinh thần và đặc trưng văn hóa dân tộc, được nhân dân yêu thích, chấp nhận và tôn vinh. Khi nhắc đến loài hoa anh đào người ta sẽ nghĩ ngay đến đất nước Nhật Bản, còn loài hoa Tulip lại gợi cho chúng ta nhớ về đất nước Hà Lan. Như vậy Quốc hoa rất quan trọng trong văn hóa của quốc gia, không những thế nó sẽ là biểu tượng trong các lễ nghi cấp nhà nước. Từ trước đến nay, loài hoa sen vẫn được ưa thích và được coi là Quốc hoa của Việt Nam.

Trong Triển lãm và lấy ý kiến nhân dân bình chọn Quốc hoa tại Đà Nẵng sẽ giới thiệu về các loài hoa đặc trưng ở các vùng miền trên cả nước. Ba nội dung sẽ được trưng bày chính trong triển lãm: Triển lãm ảnh “hoa mọi miền đất nước” giới thiệu các loài hoa đặc trưng của mọi miền trên đất nước: hoa ban, hoa mận đặc trưng vùng Tây Bắc; hoa mai vàng của miền Nam; hoa dã quỳ, phong lan của vùng đất Tây Nguyên… Triển lãm còn giới thiệu về cây tre với các hình thức trưng bày bằng ảnh, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, các dụng cụ lao động về tre, các công trình kiến trúc cố bằng tre…Điểm nhấn của triển lãm là phần giới thiệu về hoa sen với nhiều nội dung hấp dẫn: Tạo dựng các đại cảnh, các tác phẩm sắp đặt hoa sen, hồ sen… hoa sen trong tâm linh người Việt, tục lệ thờ cúng tổ tiên, trong Phật giáo Phương Đông và Phật giáo Việt Nam; hoa sen trong mỹ thuật truyền thống và đương đại Việt Nam được thể hiện qua các tác phẩm hội họa, công trình kiến trúc tiêu biểu như hoa sen với hình tượng Bác Hồ, hoa sen trong ẩm thực Việt Nam, bộ ảnh “Câu chuyện Hoa sen”; hoa sen qua bàn tay tài khéo của nghệ nhân thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống…Ngoài ra, triển lãm cũng giới thiệu bộ sưu tập Áo dài mùa hoa sen của nhà thiết kế Lan Hương.

Có 3.000 phiếu bình chọn được phát tại chỗ và lấy ý kiến đông đảo nhân dân về việc lựa chọn Quốc hoa hoặc thông qua hệ thống bình chọn http://www.cinet.vn và trang quochoavietnam.com.vn (chính thức hoạt động trong dịp triển lãm và lấy ý kiến nhân dân về Quốc hoa Việt Nam). Trước đó, Ban tổ chức đã phát 12.000 phiếu đến các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Có 6 tiêu chí để lựa chọn Quốc hoa Việt Nam bao gồm: Có nguồn gốc hoặc được trồng lâu đời ở Việt Nam, là loại hoa tiêu biểu, dễ trồng, phát triển được ở hầu khắp các vùng miền đất nước; thể hiện được bản sắc văn hóa, cốt cách và tinh thần dân tộc, ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam; hoa bền đẹp về hình thức và màu sắc, có hương thơm; có giá trị về mặt kinh tế, mang lại lợi ích cho nhiều người dân, thông dụng trong đời sống sinh hoạt, luôn có mặt trong sự kiện văn hóa ở trong nước và quốc tế; có giá trị văn học nghệ thuật và được đa số người dân yêu thích, chấp nhận và tôn vinh.

Trong cuộc bầu chọn ở khu vực miền Bắc thì tính đến tháng 8/2010, hai tháng sau khi tổ chức Hội thảo về Quốc hoa, hoa sen đứng ở vị trí đầu bảng với 40,3% số phiếu. Đến ngày 29/1/2011 trong Lễ hội “Hoa xuân và đồ uống Tết 2011”, tổ chức tại Hà Nội, với 35.000 phiếu phát ra tại Lễ hội thì 81,3% đồng ý chọn Hoa sen Hồng là Quốc hoa Việt Nam. Đứng sau hoa sen là hoa mai, hoa đào, hoa lúa, hoa tre…

Dự kiến, chương trình sẽ tiếp tục diễn ra từ 1 – 5/6 tại TP Hồ Chí Minh. Sau khi có kết quả của các đơn vị bình chọn cả 3 miền, Bộ VH – TT & DL sẽ có báo cáo Chính phủ làm cơ sở trình Quốc hội chấp thuận và công bố “Quốc hoa” Việt Nam.

Một số hình ảnh triển lãm tại Đà Nẵng

Gốm mỹ thuật Biên Hòa mang dấu ấn hoa sen tại cuộc triển lãm ( Chú thích của người trưng bày : nhà sưu tầm KhanhHoaThuyNga)

Minh Thoan ( nguồn Báo Xây Dựng điện tử – Cơ Quan của Bộ Xây Dựng)
(TNO) Chiều 30.4, Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam cùng Sở Văn hóa Thể thao Du lịch TP Đà Nẵng công bố kết quả bình chọn quốc hoa sau một tuần triển lãm và bình chọn tại Đà Nẵng.

Tại TP Đà Nẵng, hơn 97% ý kiến bình chọn hoa sen là Quốc hoa

Ban tổ chức đã phát 12.000 phiếu lấy ý kiến người dân các quận huyện, các sở, ban ngành và tổ chức tại TP Đà Nẵng, thu về 11.563 phiếu, trong đó có 97,69% ý kiến đồng ý chọn hoa sen là Quốc hoa Việt Nam.

Ngay tại triển lãm, Ban tổ chức cũng phát thêm 3.000 phiếu, thu về 2.022 phiếu với 96,68% bình chọn cho hoa sen. Các loại hoa khác có số lượng bình chọn rất thấp như hoa mai 0,025%, bông lúa 0,04%…

Kết quả bình chọn trên website http://www.cinet.vnhttp://www.quochoavietnam.com.vn tính đến ngày 30.4 cho thấy, hoa sen chiếm lần lượt 62,1% và 60,51% số phiếu bình chọn, bỏ xa các loài hoa khác như hoa đào 25,15%, hoa mai 14,5%…

Sau thủ đô Hà Nội và TP Đà Nẵng, Ban tổ chức tiếp tục thực hiện triển lãm và lấy ý kiến bình chọn Quốc hoa tại TP.HCM từ ngày 1 đến ngày 5.6. 

Bên cạnh đó, triển lãm còn trưng bày hình ảnh các loài hoa mọi miền đất nước, các không gian sắp đặt, làng nghề thủ công mỹ nghệ liên quan đến hoa, triển lãm cổ vật, thời trang hoa sen… để người dân tham khảo.

Tin, ảnh: Nguyễn Tú (nguồn Thanh Niên online)

Mời bạn đọc xem thêm hình ảnh có chú thích về cuộc triển lãm này ở bài:

»

 

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Older Posts »