Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Đông Nam Á’

Phát hiện mới về văn hoá Đông Sơn

Ngày 22.6.2009, một số đồ đồng Đông Sơn đã được phát hiện ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh). Hiện vật không lạ, nhưng góp thêm một bằng chứng thuyết phục về quá trình làm chủ biển Đông từ lâu của cha ông ta.

Hiện vật Đông Sơn được tìm thấy ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) - Ảnh do Bảo tàng Hà Tĩnh cung cấp

Hiện vật Đông Sơn được tìm thấy ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) - Ảnh do Bảo tàng Hà Tĩnh cung cấp

Theo tin từ Sở VHTTDL Hà Tĩnh, ngư dân xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh vừa thu được 2 hiện vật của văn hoá Đông Sơn nằm đã hơn 2.000 năm dưới đáy đại dương trong một chuyến ra khơi đánh cá. Nơi tìm được các hiện vật này có độ sâu khoảng 10m, thuộc vùng biển Vũng Áng, cách đất liền thuộc địa phận xóm Hải Phong của xã vào khoảng 2km.

Hiện vật thứ nhất là chiếc giáo đồng có họng tròn, dài, lưỡi hình lá, có sống nổi, dài 38cm. Đây là chiếc giáo thuộc loại hình quen thuộc của văn hoá Đông Sơn. Hiện vật thứ hai là chiếc rìu đồng xoè cân, cao 13cm.


Lưỡi rìu cong tròn đều đặn, họng rìu gần có hình đuôi cá, mặt cắt ngang họng có hình lục giác. Hai bên góc lưỡi nhô ra như hai mấu tròn. Mặt lưỡi có hoa văn đường chỉ nổi. Loại hình rìu này khá giống với loại rìu xoè cân đặc trưng cho lưu vực sông Lam của văn hoá Đông Sơn, tìm thấy nhiều ở địa điểm khảo cổ học Làng Vạc nổi tiếng, thuộc huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) và giống với nhiều chiếc rìu đồng xoè cân ở Indonesia.

Việc tìm thấy hai hiện vật chắc chắn của văn hoá Đông Sơn ở trong lòng biển khơi đã mang một ý nghĩa quan trọng.

Trước tiên, đây là lần đầu tiên tìm được hiện vật Đông Sơn ở vùng thềm lục địa VN, mở ra một khả năng còn tìm thấy nhiều hiện vật Đông Sơn ở khu vực này nữa. Đã đến lúc cần xúc tiến nhanh hơn việc ra đời một ngành khảo cổ học dưới nước, như nhiều nước ở Đông Nam Á đã có, để nghiên cứu những gì còn trong lòng biển Đông của các nền văn minh cổ xưa ở ta, bắt đầu từ các hiện vật đá của văn hoá Hoà Bình cách đây một vạn năm đến văn hoá Đông Sơn, các con tàu chìm của các triều đại phong kiến.

Bản đồ con đường giao lưu trên biển của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ nhân văn hóa Đông Sơn

Bản đồ con đường giao lưu trên biển của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ nhân văn hóa Đông Sơn

Việc tìm thấy hiện vật Đông Sơn dưới đáy biển đã bổ sung một chứng cớ tối quan trọng về việc làm chủ biển Đông của người Việt cổ: Từ lâu, các nhà khoa học đã tìm được nhiều hiện vật Đông Sơn ở các vùng đảo xa gần khắp Đông Nam Á.

Họ cũng đã nghĩ đến việc người Đông Sơn đóng thuyền để giao lưu văn hoá với nhiều khu vực lân bang, tuy nhiên, chứng cớ trực tiếp của việc đi biển thì chưa có. Nay với phát hiện này, đã khẳng định người Đông Sơn đã đi biển và họ đã để lại dấu vết hiện vật trong lòng biển.

Theo những nghiên cứu mới đây, chúng ta lại càng có cơ sở để khẳng định: Bằng con đường biển, người Đông Sơn đã để lại vết tích vật chất của mình xa nhất về phía bắc là chiếc trống đồng minh khí trong khu mộ Thượng Mã Sơn, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc). Về phía nam, một loạt trống Đông Sơn đã có mặt ở vùng quần đảo Cua ở Indonesia. Về phía tây, các trống Đông Sơn đã tìm được ở vùng đảo Cô Xa Mui, Thái Lan và vùng Công Pông Xun Gai Lang ở Malaysia.

Một điểm lưu ý là nơi tìm thấy hiện vật Đông Sơn mới đây là vùng Vũng Áng, điểm cực nam của địa bàn phân bố văn hoá Đông Sơn. Quá về phía nam là dãy Hoành Sơn, khó khăn cho việc giao lưu bằng đường bộ xuống phía nam đến các nền văn hoá khác cùng thời.

Chính vì thế mà phải chăng cửa biển Vũng Áng là nơi đã từng xuất phát các đoàn thuyền xuôi phương nam của người Việt đến các vùng đất xa xôi. Có thể những chiếc trống đồng và rìu đồng ở Indonesia giống với loại hình văn hoá Đông Sơn khu vực sông Lam đã gợi ý cho chúng ta một mối liên hệ này chăng?

Phát hiện mới này đã làm các nhà khoa học nhớ lại một phát hiện khảo cổ khác vào năm 1984 trên đảo Hòn Rái, thuộc xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, ở gần đảo Phú Quốc. Hòn đảo này cách đất liền gần 30km.

Một trống đồng Đông Sơn được chôn trong lòng đất của đảo. Bên trong trống có những chiếc rìu, lao, mảnh khuôn đúc, đồ gốm và xương người. Đây là một mộ táng của người Đông Sơn. Điều đó càng khẳng định người Đông Sơn là cư dân thạo đi biển. Trong một chuyến hải hành xuôi phương nam, có người đã chết và được chôn tại đảo này.

Phát hiện khảo cổ học mới về văn hoá Đông Sơn đã góp phần dựng nên diện mạo lịch sử của biển Đông cách đây khoảng 2.000 năm: Làm chủ biển Đông bấy giờ có 2 nhóm cư dân cổ đại tổ tiên của chúng ta: Cư dân Đông Sơn có những mối giao lưu ven biển đến các đảo xa phía nam, cư dân Sa Huỳnh lại có mối giao lưu đậm nét hơn băng qua vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để lại dấu ấn trên vùng quần đảo Philippines.

Các bằng chứng khảo cổ học đã chứng minh một cách rạch ròi một sự thật lịch sử là cả một vùng biển Đông rộng lớn đã được cha ông ta khai thác và làm chủ từ cách đây hơn 2.000 năm, còn trước thời điểm các triều đại phong kiến nước ta cử người đi trấn giữ quần đảo Hoàng Sa dễ đến hàng ngàn năm.

PGS-TS Trịnh Sinh

Phỏng vấn PGS-TS Trịnh Sinh

* Từ sự có mặt của 2 hiện vật Đông Sơn ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) để suy luận về con đường giao lưu văn hóa qua biển Đông và xa hơn nữa là quá trình làm chủ biển Đông, liệu có logic không, thưa ông?

TS Trinhsinh

PGS-TS Trịnh Sinh

– PGS-TS Trịnh Sinh: Đây là lần đầu tiên tìm thấy hiện vật Đông Sơn dưới đáy biển. Nên nhớ, trong phạm vi cư trú của người Đông Sơn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có một cạnh là biển Đông. Trước đây, chúng ta cũng đã tìm thấy một loạt di tích và hàng vạn di vật Đông Sơn ở vùng ven biển trải dài từ Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ. Hơn nữa, một trong những đặc điểm văn hóa của người Đông Sơn là chứa nhiều yếu tố biển. Vì vậy, việc họ để lại dấu vết ở biển Đông là điều dễ hiểu.

* Vậy quá trình “làm chủ” biển Đông là hiểu theo nghĩa nào?

– “Làm chủ” biển Đông tức là cư dân Đông Sơn thời kỳ đó đã khai thác, sử dụng, giao thương trên vùng biển liền khoảnh với đất liền của họ.

* Còn phạm vi xa hơn của Đông Sơn dưới đáy biển, về phía Nam thì sao, thưa ông?

– Người Đông Sơn có truyền thống đi biển, và họ đã đi xa đến vùng đảo Kiên Giang. Tại một hòn đảo cách bờ gần 30 km, chúng tôi đã tìm thấy trống đồng, đồ đồng Đông Sơn, xương người và xương người được chôn trong trống (đây là một trong những phương thức mai táng đặc trưng của cư dân Đông Sơn). Điều này chứng tỏ cách nay 2.000 năm, người Đông Sơn đã đi rất xa, vượt qua ranh giới đèo Ngang (Hà Tĩnh). Ngoài cư dân Đông Sơn, cư dân Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam cùng niên đại cũng đã từng một thời làm chủ biển Đông.

* Vậy đến nay đã có bằng chứng nào chứng tỏ phạm vi ảnh hưởng của văn hóa Sa Huỳnh ở biển Đông chưa?

– Văn hóa Sa Huỳnh chủ yếu phân bố ở miền Trung và một phần phía Nam. Cho đến nay, chúng ta đã tìm thấy những hiện vật của văn hóa Sa Huỳnh nằm rải rác ven biển Đông. Đó là các mẩu xương cá, công cụ chài lưới, những di cốt người được chôn trong các mộ vò ở ven biển, những kiểu hoa văn in hình vỏ sò. Từ năm 1966, nhà khảo cổ học người Mỹ Solhem đã miêu tả con đường giao lưu của cư dân Sa Huỳnh – Việt Nam sang quần đảo Philippines và Thái Lan với bằng chứng là những khuyên tai 3 mấu nhọn, khuyên tai 2 đầu thú – hiện vật đặc trưng của Sa Huỳnh được phát hiện tại đây.

* Nhưng cũng không loại trừ giả thuyết những hiện vật nói trên là sản phẩm của quá trình sản xuất tại chỗ của cư dân Philippines hoặc có thể cư dân Sa Huỳnh đã không băng qua biển Đông để sang Philippines mà đi bằng con đường khác?

– Người Sa Huỳnh không thể đi một đường nào khác để sang Philippines ngoài đường biển Đông, băng qua khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Họ cũng không thể đi vòng lên phía bắc, qua Trung Quốc rồi mới đến Philippines. Trong lịch sử, tuyến đường biển này là một trong những tuyến giao thương vô cùng quan trọng. Trước khi người dân đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi thời Nguyễn đi khai thác vùng biển Hoàng Sa thì tại Lý Sơn đã có 2 làng cổ trong thời văn hóa Sa Huỳnh là Xóm Ốc và Suối Chình với nhiều di vật.

* Có thể đưa ra giả thuyết 2 hiện vật (giáo và rìu) Đông Sơn được tìm thấy ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh) là di vật từ một con tàu đắm thời Nguyễn hay không?

– Cũng có thể giả thuyết cho vui rằng 2 hiện vật Đông Sơn nói trên là của một người chơi đồ cổ thời Nguyễn chăng? Nhưng điều đó khó xảy ra vì mỗi thời đều có một thứ “mốt” chơi riêng. “Mốt” của thời Nguyễn là chơi ấm uống trà, bình vôi, đồ gốm sứ chứ không phải giáo hay rìu. Theo nghiên cứu của chúng tôi, “mốt” chơi đồ cổ Đông Sơn ở các nhà sưu tầm cổ vật mới có khoảng 20 năm trở lại đây, còn thú chơi đồ cổ ở Việt Nam thì không quá sớm và chỉ mới bắt đầu từ thời Nguyễn. Về mặt logic, nếu 2 hiện vật Đông Sơn nói trên là của một nhà chơi đồ cổ thời Nguyễn thì ắt phải tìm thấy cả chiếc tàu cổ bị đắm, chứ không thể chỉ là 2 hiện vật rời rạc.

Y Nguyên (Thanh Niên)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Văn hóa và cổ vật Óc Eo

Đầu thế kỷ 20, không ít người tin rằng đã tồn tại một đế quốc Phù Nam thịnh vượng, rộng lớn. Khi phồn thịnh nhất lãnh thổ của nó bao chiếm phần lớn khu vực hạ lưu sông Mê Kông.

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

Di vật Óc Eo - sưu tập tư nhân

VĂN HOÁ ÓC EO

văn hóa khảo cổ được đặt tên theo di tích Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Di tích được phát hiện vào năm 1942 và được Malơrê (L. Malleret) khai quật lần đầu tiên vào năm 1944. Trước đó vào thế kỉ 19, những hiện vật trôi nổi của nền văn hoá này đã được giới nghiên cứu chú ý đến. Qua những cổ vật này, nhiều người đã liên hệ đến Vương quốc Phù Nam được ghi chép trong các thư tịch cổ, trong minh văn trên bi kí, trên các bệ thờ bằng đá.

covatoceo-1

Văn hóa Óc Eo (VHOE)

Từ 1977, các nhà khảo cổ Việt Nam đã nghiên cứu, thám sát và khai quật trên 90 di tích, làm rõ được phạm vi phân bố, các loại hình di tích, di vật của nền văn hoá này.

VHOE phân bố chủ yếu trong phạm vi các tỉnh Nam Bộ. Các di tích bao gồm: di chỉ cư trú có tầng văn hoá dày trên dưới 3 m, các công trình kiến trúc tôn giáo và các khu mộ táng. Hiện vật vô cùng phong phú. Nhóm tượng thờ có tượng Phật, tượng thần bằng các chất liệu gỗ, đá, đồng; tượng linh vật có yoni và linga, có hiện vật được làm bằng vàng. Nhóm phù điêu và con dấu khắc trên gốm, đá, thuỷ tinh, kim loại. Nhóm tiền kim khí đúc bằng vàng, đồng, chì thiếc, chì sắt. Nhiều hiện vật bằng vàng và vàng lá có hình chạm khắc, nhiều đồ trang sức bằng đá quý, đá màu, thuỷ tinh, kim loại, nhiều loại đồ gốm và những vật dụng bằng đất nung, đá, gỗ.

Những phát hiện mới đã làm rõ thêm vai trò của VHOE và cảng thị Óc Eo theo con đường tơ lụa trên biển đối với vùng Đông Nam Á hải đảo và sang tận Địa Trung Hải. Nhiều tư liệu phong phú của VHOE đã đóng góp vào nhận thức về một nền nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỉ 5. VHOE có sự kế thừa và phát triển lên từ các nền văn hoá tiền Óc Eo n_ trên mảnh đất Nam Bộ từ cuối thời đại đồ đồng. Hậu Óc Eo có liên quan đến nhà nước Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp.

Di chỉ Óc Eo:

Vào thập niên 1920, nhà khảo cổ học người Pháp đã dùng không ảnh chụp miền nam Việt Nam và phát hiện ra địa điểm này cùng với nhiều kênh đào và các thành phố cổ khác. Một trong những kênh đào này đã cắt tường thành của một khu vực rất rộng. Malleret thử tìm kiếm các cấu trúc này trên mặt đất và vào ngày 10 tháng 2 năm 1944, ông bắt đầu đào các hố khai quật. Malleret đã phát hiện được các di vật và nền móng các công trình chứng minh cho sự tồn tại của một địa điểm thương mại lớn mà các thư tịch của Trung Hoa đã từng miêu tả về vương quốc Phù Nam. Khu vực này rộng ước chừng 450 hécta.

Các kênh đào tách ra từ kênh đào chính tạo nên các hình chữ nhật đều đặn bên trong thành. Bên trong các khu vực hình chữ nhật này còn sót lại những dấu tích của các khu sản xuất đồ nữ trang, trong số các dấu tích tìm thấy các “hình khối” dùng để rót kim loại cùng với các đồ nữ trang. Các khu sản xuất thủ công mỹ nghệ khác cũng được tìm thấy tại đây. Malleret cũng khẳng định những di vật văn hóa ở đây thuộc hai giai đoạn. Cũng có các móng nhà bằng gỗ và các móng nhà bằng gạch của các toà nhà rộng hơn. Các viên gạch được trang trí bằng các hình sư tử, rắn mang bành, động vật một sừng và các động vật khác.  Những công bố sau đó của ông về bằng chứng của vương quốc Phù Nam cổ xưa, ước vào đầu công nguyên đến thế kỷ VII, đã gây chấn động trong giới cổ học thế giới.

Không cao niên về tuổi địa chất nhưng đồng bằng sông Cửu Long lại chứng kiến những bước chân văn minh đầu tiên của con người trên trái đất này. Những gì tìm được sơ bộ khi ấy cũng đã cho thấy dấu vết của thời đại đá mới bước sang thời đại kim khí, cư dân này cũng đã biết canh nông và đã có sự giao lưu với các nền văn hoá trong khu vực rộng lớn từ biển Đông thuộc Thái Bình Dương vươn dài về phía tây tới tận vịnh Bengan thuộc Ấn Độ.

Mất hơn 30 năm gián đoạn do chiến tranh, mãi sau 1975 những cuộc tìm kiếm dấu vết của vương quốc bị mất tích này mới được tiếp tục trở lại. Không chỉ có quanh vùng Óc Eo, dấu tích của vương quốc Phù Nam cổ xưa lần lượt hiện lên từ Cạnh Đền (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Gò Năm Tước, Gò Rộc Thanh (Long An) rồi ngày một lan toả ra các vùng Tiền Giang, TP.HCM, Đồng Nai, Vũng Tàu đến Nam Cát Tiên (miền Đông Nam Bộ).

Chắc chắn những vết lộ này còn chưa dừng lại ở đây nếu nó còn được tìm kiếm xa hơn về hướng Tây Nam trên lãnh thổ của hai quốc gia Campuchia và Thái Lan.

Sự phát hiện ngày một phong phú đã dẫn đến nhiều nhận định khác nhau về vai trò của khu di chỉ Óc Eo trong vương quốc cổ: “Là một đô thị rộng lớn, một thị cảng phồn vinh, một trung tâm kinh tế sống động với mối quan hệ giao thương Âu – Á khá rộng rãi.

Đồng thời, đô thị Óc Eo xưa cũng là một di tích tiêu biểu cho nền văn minh của một quốc gia cổ hình thành vào loại sớm nhất ở Đông Nam Á” (theo Louis Malleret); hay: “vùng di tích quanh núi Ba Thê với phạm vi rộng lớn tập trung nhiều di tích thờ cúng, lăng mộ, thật sự là một trung tâm lớn, đã quy tụ nhiều tinh hoa kỹ thuật – nghệ thuật các mặt của nền văn hoá này. Từ vị trí được xác định như vậy, chắc hẳn vùng này cũng là một trung tâm quyền lực” (nhận định của Lê Xuân Diệm).

Dù là trung tâm tập quyền hay kinh thương, cho đến thời điểm này, các nhà khảo cổ trong và ngoài nước vẫn thống nhất với nhau rằng, Óc Eo là trung tâm đô hội lớn nhất của toàn bộ nền văn hoá Phù Nam.

CỔ VẬT ÓC EO PHÁT HIỆN VÀ TRƯNG BÀY

covatoceo-3

năm 1944 ở VN, nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret khai quật cánh đồng óc Eo (xã Vọng Thê, Thoại Sơn, An Giang). Cuộc khai quật ấy khiến người ta củng cố lòng tin về vương quốc Phù Nam vốn đã láng máng biết trước đó qua thư tịch cổ Trung Quốc và minh văn trên bi ký.

TS Phạm Quốc Quân – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử VN – cùng nhiều nhà sử học Đông – Tây nghiêng về phỏng đoán rằng Phù Nam không phải đế quốc cai trị và bóc lột mà chỉ là tập hợp của những tiểu quốc.

GS Lương Ninh, trong một chuyên khảo đã định vị một trong số nhiều tiểu vương quốc đó là Naravaranagara ở miền Tây sông Hậu, mà Óc Eo lại nằm trong đất của quốc gia cổ đại này. Tất nhiên, đây cũng chỉ là một giả thuyết.

Sau 1975, giới khảo cổ VN kế tục công cuộc nghiên cứu của L.Malleret, khai quật hàng loạt di chỉ từ Đồng Nai tới Kiên Giang, mang về cho các bảo tàng Nam Bộ hàng vạn hiện vật giá trị.

Hơn 300 cổ vật đặc sắc văn hoá óc Eo hiện  được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử VN cho thấy quyết tâm muốn chứng minh tính bản địa và sự phát triển của văn hoá óc Eo (TK 2 – TK 8) và vương quốc Phù Nam tại VN của các nhà sử học trong nước.

Từ di tích cư trú, di chỉ di vật kiến trúc, mộ táng, tượng thờ, đồ sinh hoạt và sản xuất…đều cho thấy cư dân óc Eo cách chúng ta 8 – 13 thế kỷ rất giàu có, tôn giáo tín ngưỡng phát triển và nghề buôn bán bằng đường biển thì… cực thịnh.

covatoceo-9

Đá quý, thiếc, thuỷ tinh, vàng, mã não, rồi đồ gốm, chì lưới, mộ táng ở nền Chùa, óc Eo, Đá Nổi, kiến trúc đền thờ Bà La Môn giáo ở Nền Chùa (Kiên Giang), óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp)…, tất cả cho thấy một đời sống sinh động của cư dân Phù Nam. Độ tinh xảo trên một số đồ trang sức thể hiện rõ nét tài hoa của người thợ kim hoàn đương thời.

Sưu tập tiền với nhiều loại chất liệu bạc, đồng, kẽm, có những đồng tiền cắt tư, cắt tám để làm tiền lẻ tìm thấy ở óc Eo cũng khá phổ biến ở nhiều di tích ven Vịnh Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Myanmar.

Như vậy, đã hình thành một dòng chảy thương mại nối liền óc Eo với Ấn Độ Dương bằng đường biển qua Vịnh Thái Lan và có thể bằng cả đường bộ theo đường nội địa. Những quả cân nhỏ bằng kẽm và những con dấu (kiểu bản địa, kiểu ấn Độ, kiểu La Mã, Hy Lạp) là bằng chứng của nền thương mại mang tính quốc tế.

Các nhà khảo cổ VN cũng tìm thấy hiện vật giai đoạn tiền Óc Eo, chứng tỏ sự phát triển theo quy trình tiếp biến của văn hoá Óc Eo. Hơi tiếc, ở cuộc trưng bày, dấu ấn bản địa, nội tại chưa hẳn đậm đặc.

TS Phạm Quốc Quân nói: “Trước đây người ta thường né tránh nhắc tới vương quốc Phù Nam và Champa, nhưng bây giờ chúng ta đã đưa chúng vào Lịch sử VN. Chúng tôi muốn phần nào chứng minh rằng dù có tiếp nhận, tiếp biến từ La Mã, Ba Tư, ấn Độ, thì Óc Eo vẫn là nền văn hóa phát triển nội tại, bản địa tiến tới đỉnh cao của nó là vương quốc Phù Nam”.

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Tượng Óc Eo tìm thấy ở Gò Thành

Cổ vật Óc Eo trưng bày tại Viện Bảo Tàng

Ngày 24.6.2004, lần đầu tiên sau giải phóng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh phối hợp với 11 bảo tàng ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, cùng Bảo tàng Mỹ thuật và Bảo tàng Thành phố tổ chức trưng bày “Cổ vật văn hóa Óc Eo” quy mô lớn nhất từ năm 1944 đến nay. Hơn 400 hiện vật quý hiếm từ các vùng đất cực thịnh trước đây đã vén dần những màn sương từng bao phủ một nền văn hóa mang nhiều màu sắc bí ẩn để làm nên một diện mạo chung kể từ thời nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret có công phát hiện.

Hơn 400 cổ vật được trưng bày theo tiêu chí: chất liệu, lọai hình, niên đại; và chia thành bốn nhóm: cổ vật thuộc đồ gia dụng: khuôn đúc đồ trang sức, dụng cụ làm gốm, dụng cụ chế tác đồ kim hòan, nồi nấu kim lọai, bình có vòi, chì lưới, bàn nghiền… Đồ trang sức có các lọai nhẫn có chạm hình bò Nandin, bông tai hình lưỡi liềm, vòng đeo tay, chuỗi hạt, lá vàng hình hoa, chạm hình thú… Đồ trang trí đặc biệt ở cac cổ vật: đầu trụ, tượng đầu người, gạch kiến trúc, lá đề trang trí… Đồ thờ cúng gồm các cổ vật là tượng Phật, tượng thần, Linga, Yoni…

Tuy đây chỉ là một phần văn hóa Óc Eo (khu vực cư trú của nền văn hóa Óc Eo khá rộng, từ một phần đất Campuchia, Thái-lan, phía nam bán đảo Đông Dương, trừ Lào), song tính chất phong phú của bộ sưu tập này đã kích thích các nhà nghiên cứu và khảo cổ học đưa ra những giả thuyết mới. TS Phạm Hữu Công nhấn mạnh, một điều cơ bản mà khoa học chưa lý giải được tận bây giờ là nền văn hóa Óc Eo thuộc dân tộc nào, cho dù đã tìm thấy các bộ hài cốt. Theo nhiều nhà nghiên cứu về cổ nhân học, rất có thể đó là dân tộc đang sống dọc theo rìa Trường Sơn, hoặc ở vùng Bình Phước, Lộc Ninh (Mạ, Xtiêng, M’Nông…).

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7

Nhưng cũng không phủ nhận được một điều rằng nền văn hóa Óc Eo trong quá khứ từng có mối giao du với những trung tâm văn hóa lớn đương thời như Trung Quốc (trong những di chỉ đào lên), đế quốc La Mã (phát hiện đồng tiền La Mã thế kỷ thứ 2 khắc tên hoàng đế) và Ba Tư qua một số bức phù điêu. Đặc biệt, ảnh hưởng từ Ấn Độ là lớn nhất. Tượng Phật rất nhiều ở các vùng trên đất nước ta (tượng gỗ, đá), tượng thần Rama, Visnu (nhưng điều khó hiểu là ít thấy tượng thần Siva), những mặt người thể hiện trong thần thoại Ấn Độ, những thuỷ quái… Đặc điểm của những tượng mặt người này là sống mũi cao, thẳng, mắt to tròn, rất hiếm tượng có gương mặt của người Đông Nam Á. Đó là một điều đáng chú ý cho các nhà nhân chủng học.

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Tượng thần Brahma - niên đại 1500 năm - của BT An Giang

Điểm thứ hai, tuy không tìm thấy dấu vết tàu thuyền lớn đi các nước, nhưng có thể giải thích rằng đã có nhiều tàu thuyền từ các nước đến đây buôn bán giao dịch. Điểm thứ ba, không hề phát hiện ra vũ khí, nên có thể thấy đấy là một dân tộc sống hòa bình, và sự bình ổn của xã hội Óc Eo thời đó khá cao.

Các hiện vật tìm được gồm nhiều nhóm: đồ gốm, gỗ, đá, đồng, vàng. Nhóm đồ gốm khó có thể nhầm lẫn với đồ đương thời vì hình dáng đặc biệt và chất liệu đất nung do thời đó người ta còn chưa chế được men, như bình có vòi, phù điêu đậm chất Ấn Độ trang trí trên nền tháp, hình mặt người, đầu cột trụ, các viên gạch có hoa văn rất lạ, có in chữ vạn của nhà Phật.

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Di vật Óc Eo, sưu tập tư nhân Long An

Nhóm đồ gỗ gồm kiến trúc cột nhà sàn (hoặc biểu tượng linga), một vài vật dụng làm gốm, trục bánh xe và tượng Phật.

Nhóm kim loại có những vật tròn bằng thiếc bên trên có khắc hình mặt trời đang mọc, những đồng tiền cổ bị chặt làm bốn, làm tám, giá hai đầu thú bằng đồng, tượng thần Visnu, nữ thần Ấn Uma, tượng Phật Trung Quốc thời Bắc Nguỵ (thế kỷ thứ 3), gương đồng, các lá bùa bằng thiếc. Đồ vàng là những thành tựu lớn của cư dân Óc Eo: nhiều mảnh vàng được chế tác tinh vi, dát mỏng dính, có hình vẽ thần nhân của Bà La Môn, bò thần Nadin, nhẫn có bò Nadin (vật cưỡi của Siva). Theo TS Công, các cổ vật hiếm quý nhất là pho tượng Phật Thích Ca do chính cư dân Óc Eo chế tác, cao 1,2 m cách đây hơn 1.500 năm, tấm vàng dài ba, bốn tấc trên có khắc minh văn bằng chữ cổ Ấn Độ, đồng tiền La Mã…

Trong số các Bảo tàng tỉnh, Long An là nơi đóng góp nhiều hiện vật nhất: hơn 200. Riêng Đồng Tháp, một trong ba tỉnh giàu hiện vật văn hóa Óc Eo nhất ở Việt Nam (chỉ sau An Giang, trên Long An) lại từ chối mang hiện vật lên TP Hồ Chí Minh do tỉnh và Sở Văn hóa – Thông tin không cho phép. Như vậy, khiếm khuyết lần này là thiếu hụt các cổ vật khai quật ở Đồng Tháp.

Mặt người bằng đất nung.

Mặt người bằng đất nung.

Diện mạo văn hóa Óc Eo đã hiện khá rõ: một nền kinh tế phát triển về thủ công nghiệp, sớm mở mang buôn bán với nước ngoài, có quan hệ với một số trung tâm thương mại lớn trên thế giới và một trung tâm tôn giáo phát triển.

Tổng hợp từ Internet

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Kỷ niệm và triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu văn hóa Sa Huỳnh

100namsahuynh

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) hôm nay (8-7-2009) đã khai mạc triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh nhân kỷ niệm 100 năm phát hiện nền văn hoá này.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Từ năm 1909 đến nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hiện vật quý làm sáng tỏ nguồn gốc, niên đại, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh. Qua đó chứng minh nét bản địa của nền văn hoá này, cũng như sự giao lưu, tiếp biến với các nền văn hoá khác trong và ngoài nước.

Nhân dịp này, một hội thảo quốc tế mang tên “100 năm phát hiện, nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh” sẽ được tổ chức tại tỉnh Quảng Ngãi, từ ngày 20 đến ngày 24-7. Hội thảo do Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ngãi thực hiện.

100 năm phát hiện di tích văn hóa Sa Huỳnh

Đã 100 năm kể từ ngày một người Pháp tên là M. Vinet có thông báo ngắn và sớm nhất về sự có mặt của di tích Sa Huỳnh trong tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ. Từ đó đến nay, nền văn hóa mang tên một địa danh của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, đã được xác lập, nghiên cứu sâu.

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, cho biết từ những tư liệu của các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước, có thể xác định về mặt niên đại đây là nền văn hóa thuộc thời đại Kim khí, khi con người đã biết đến việc chế tác và sử dụng kim loại.

Văn hóa Sa Huỳnh có niên đại vào khoảng 500 năm trước Công nguyên đến đầu Công nguyên. Đây là 1 trong 3 đỉnh của tam giác văn hóa Việt Nam cổ: Đông Sơn-Sa Huỳnh-Óc Eo.

Về địa bàn phân bố, văn hóa Sa Huỳnh phân bố chủ yếu ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Khu vực tìm được đậm đặc nhất di tích Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh chính là hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Các địa điểm có di tích thường tập trung ở ven biển, nhất là khu vực cửa các con sông lớn đổ ra biển như sông Trà Bồng, Trà Khúc hoặc các vịnh biển như Sa Huỳnh, Cam Ranh. Các di tích gồm có các khu mộ táng lớn, thường chôn trong các mộ vò hay chum mà các nhà khảo cổ Pháp gọi là “bãi mộ chum”.

Đồ gốm Sa Huỳnh có những loại hình đồ gốm khá phát triển như nồi, bát, bình con tiện, chậu, vò… Đồ gốm được trang trí rất đẹp bằng cách tô màu, khắc vạch, in vỏ sò, tô ánh chì đen.

Sa Huỳnh còn có chum gốm để chôn người chết. Những chum này có nắp đậy và tô màu đỏ, trang trí hoa văn khắc vạch ngoài thân. Đặc biệt, người Sa Huỳnh đã sáng tạo ra các loại khuyên tai độc đáo và có sức giao lưu lan tỏa khá rộng khắp các vùng Đông Nam Á.

Họ còn sáng tạo nhiều đồ trang sức thủy tinh như các loại hạt cườm, hạt chuỗi rất đẹp, trang sức mã não đỏ…

Vào khoảng đầu Công nguyên, cách đây khoảng 2.000 năm, văn hóa Sa Huỳnh có sự chuyển biến thành nền văn hóa Chăm. Khi đó, tộc người vẫn là người Chăm cổ, tức người Sa Huỳnh trước đó, nhưng nền văn hóa đã có sự thay đổi, tự thân vận động mà cũng có giao lưu mạnh mẽ với những nền văn hóa khác như Đại Việt ở miền Bắc, Hán ở phương Bắc, với Ấn Độ và các văn hóa đến từ phía tây như Thái Lan.

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải cho biết trải qua 200 năm, vẫn có thể thấy được một số nét văn hóa Sa Huỳnh vẫn còn được lưu giữ tới ngày nay. Một số đồ trang sức của đồng bào dân tộc miền núi của miền Trung nước ta vẫn thích đeo đồ trang sức như cư dân Sa Huỳnh đã từng đeo. Đó là các loại hạt chuỗi mã não màu đỏ óng ánh.

Một số dân tộc ở tỉnh Quảng Nam ưa loại mã não này, thậm chí gần đây, một vài hạt mã não có thể đổi được cả một con trâu. Một số tộc người như người H’Rê ở Quảng Ngãi hiện còn đeo khá nhiều hạt cườm và hạt chuỗi giống hệt như cách đây hai ngàn năm.

Một số phong tục tập quán thể hiện trong cách chôn cất của người Sa Huỳnh có thể gặp được ở một số dân tộc Tây Nguyên trước đây. Việc người Sa Huỳnh rất thạo công việc luyện sắt cũng được một số dân tộc ở Tây Nguyên tiếp thu sau này.

Hình ảnh hiện vật triển lãm:

100namsahuynh-3

100namsahuynh-4

100namsahuynh-5

100namsahuynh-6

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 2 đầu thú

Khuyên tai 2 đầu thú

KhanhHoaThuyNga tổng hợp tin

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »