Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘ĐỒ CỔ’

Căn cứ Luật di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa;

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Di sản văn hóa;

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định loại di vật, cổ vật không được mang từ Việt Nam ra nước ngoài.

2. Loại di vật, cổ vật quy định tại Thông tư này không áp dụng đối với trường hợp di vật, cổ vật được mang ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc mang di vật, cổ vật từ Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 3. Loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài

1. Cá thể hoặc bộ phận hóa thạch người, động vật, thực vật thuộc thời kỳ Tiền sử Việt Nam;

2. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc thời kỳ Tiền sử và Sơ sử Việt Nam;

3. Tài liệu bằng các chất liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, chủ quyền quốc gia Việt Nam và anh hùng dân tộc, danh nhân có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia Việt Nam;

4. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc các giai đoạn lịch sử Việt Nam trước tháng 9 năm 1945;

5. Bản thảo tác phẩm văn học, bản gốc tác phẩm tạo hình (hội họa, đồ họa, điêu khắc), tác phẩm nhiếp ảnh có giá trị cao về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội được sáng tác từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

6. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và kiểm kê;

7. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học của các dân tộc thiểu số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sản xuất, sáng tạo trước năm 1975;

8. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu liên quan đến các sự kiện quan trọng và sự nghiệp của các Nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu, Nhà hoạt động chính trị, quân sự xuất sắc trong thời kỳ thành lập Đảng, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

9. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có xuất xứ từ nước ngoài (trừ trường hợp tạm nhập khẩu – tái xuất khẩu).

Danh mục cụ thể loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài được ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 4. Điều khoản thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2013.

2. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.

3. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.

 

BỘ TRƯỞNG

(đã ký)

Hoàng Tuấn Anh

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Tháng 11/2005, Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại”.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê,Jrai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Để chào mừng kỷ niệm 67 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; nhân ngày truyền thống của Ngành Văn hoá, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phối hợp với các cơ quan trung ương và Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo tổ chức “Những ngày văn hoá Tây Nguyên” tại Hà Nội.

Đây là lần thứ hai, chương trình được tổ chức với quy mô lớn về văn hoá – con người – sự kiện của một vùng đất cao nguyên phía tây nam Tổ quốc với mục đích: giới thiệu với nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước, bạn bè quốc tế những giá trị văn hoá và sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hoá dân tộc Việt Nam , tôn vinh các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên , khai thác và phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hoá truyền thống.

Với Sự tham gia của 05 tỉnh khu vực Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng với các thành phần dân tộc Jarai, Bahnar, Ê đê, Xêđăng, Mơnông, Cơho, Mạ, Churu, Giẻtriêng, Brâu, Rơmăm… Các đơn vị thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ,  các đơn vị thuộc UBND Thành phố Hà Nội.  Binh đoàn 15 – Bộ Quốc phòng ,  Uỷ ban Dân tộc  , Hội đồng Dân tộc Quốc hội , Ban Tuyên giáo Trung ương , Làng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hoá, Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam  . Các Hội chuyên ngành, các nhà nghiên cứu về văn hoá và lịch sử; các văn nghệ sĩ, nghệ nhân. Các nhà quản lý, các chuyên gia về văn hoá folklore cùng các cơ quan, đơn vị có liên quan. Cùng nhau phối hợp và thực hiện ngày hội văn hóa Tây  Nguyên tại hà Nôi lần II – 2012 với chủ đề chung của chương trình  : TÂY NGUYÊN  – TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  .

Được trưng bày thành hai khu vực với nội dung :

-Tây Nguyên – Bản sắc văn hoá truyền thống

-Tây Nguyên – Hội nhập và Phát triển

Tại không gian trưng bày của các  tỉnh Tây Nguyên , đồng bào các dân tộc còn mô phỏng lễ hội đâm trâu , mừng lúa mới kể sử thi hát khan; trình diễn cồng chiêng…Cùng với triển lãm, hội chợ sẽ giới thiệu, bày bán đặc sản, nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm du lịch đậm chất Tây Nguyên phục vụ công chúng.

Đặc biệt trong không gian trưng bày triển lãm lần này đã giới thiệu đến công chúng một bộ sách ‘’ KHO TÀNG SỬ THI TÂY NGUYÊN ‘’ mà trước đây chúng ta thường gọi  Trường Ca , Anh Hùng Ca , một thể loại tự sự dân gian truyền miệng , cho đến nay vẫn được Lưu giữ trong trí nhớ của người dân và thường được diễn xướng trong các dịp sinh hoạt cộng đồng . Việc phát hiện , sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi là cố gắng của nhiều thế hệ  các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn hóa dân gian gần một thế kỷ qua .

Năm 2001 chính phủ giao cho viện khoa xã hội VN chủ trì phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận thực hiện dự án điều tra , sưu tầm , bảo quản , biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên một cách quy mô , bài bản và đồng bộ . Dự án này cho thấy Tây Nguyên và các vùng phụ cận là vùng đất đã tồn tại và đang lưu giữ  một kho tàng sử thi vào loại phong phú , đồ sộ vào loại hiếm có trên thế giới .

Trong khuôn khổ của ngày hội với chủ đề TÂY NGUYÊN – BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG  . Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam  với hơn 400 tài liệu hiện vật  , hình ảnh triển lãm giới thiệu về bản sắc văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng của vùng  : địa vực cư trú , đời sống sinh hoạt , nghề thủ công , văn hóa cồng chiêng , nhạc cụ , lễ hội , tín ngưỡng tộc người … nhằm góp phần giới thiệu  tôn vinh giữ gìn , phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các tộc người ở Tây Nguyên trong cộng đồng các dân tộc VN . Cùng với những hình ảnh triển lãm vì màu xanh Tây Nguyên của Binh đoàn 15  đã cho thấy được một Tây Nguyên HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN  .

Bảo Tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những bảo tàng được đánh giá có vị trí quan trọng nhất trong việc lưu giữ

và phát huy kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Trong khuôn khổ những ngày văn hóa Tây Nguyên lần II – 2012 tại Hà Nội . Bảo Tàng Mỹ Thuật VN giới thiệu với công chúng hơn 60 tác phẩm hội họa và điêu khắc của gần 30 họa sĩ , nhà điêu khắc . Trong đó có nhiều họa sĩ nổi tiếng là người dân tộc Tây Nguyên . Với các chất liệu được sử dụng phong phú : phấn , bột màu , màu dàu , nàu nước , lụa , sơn mài …được các họa sĩ  Xu man , Nguyễn Vĩnh Nguyên , Hoàng Kiệt , Hà Xuân Phong , Sều Y Lun , Y Nhi , Kso  , Dinh Rú , Hồ Uông …. thể hiện qua các tác phẩm về đề tài Tây Nguyên .

Cùng Những hình ảnh Tây Nguyên Sắc màu Bazan được thể hiện qua những tác phẩm ảnh nghệ thuật thật sống động và mãnh liệt  của Hội Văn Học Nghệ Thuật Các Dân Tộc Thiểu Số .  Những tác phẩm trên  chứa đựng những cảm xúc chân thành với vùng đất và con người Tây Nguyên trong chiến tranh và trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới của các tộc người Tây Nguyên  .

Trung tâm  Unesco nghiên cứu , bảo tồn cổ vật VN  với không gian  CỔ VẬT TÂY NGUYÊN tập trung giới thiệu bản sắc văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng của các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên thông qua các hiện vật , hình ảnh công cụ lao động sản xuất , sinh hoạt ,  ….những nét văn hóa độc đáo giàu bản sắc văn hóa của vùng đất Tây Nguyên .

NST Khánh Hòa Thúy Nga – Tp Hồ Chí Minh triển lãm bộ sưu tập ‘’ NÉT VĂN HÓA TÂY NGUYÊN ‘’ Đây là những hiện vật được sưu tầm từ vùng đất Tây Nguyên  , là những hiện vật đặc trưng sinh hoạt thường ngày và văn hóa của các dân tộc bằng các chất liệu da , đồng , gốm , đá  , gỗ …. những vật dụng này gắn bó với đời sống thường nhật nhưng mang những giá trị tinh thần tâm linh và tính thẩm mỹ của con người vùng đất Tây Nguyên .

Hiện vật được sắp xếp thành các chủ đề bộ săn bắn trên cạn ( nỏ , cung tên , lao ) bộ dụng cụ sản xuất và đồ dùng thường ngày của các dân tộc . Bộ dệt với những đường nét hoa văn tinh tế và màu sắc hấp dẫn , bộ nhạc cụ ( trống , goong tốc lốc , đàn gió … ) đặc biệt là chiêng , một đặc trưng văn hóa của đồng bào Tây Nguyên  , là một loại nhạc cụ ‘’ thiêng ‘’có vị trí rất quan trọng đến đời sống tinh thần , tâm linh của các dân tộc ở Tây Nguyên …. hy vọng bộ sưu tập hiện vật ‘’ NÉT VĂN HÓA TÂY NGUYÊN sẽ phần nào cung cấp cho công chúng những hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa và lịch sử của các dân tộc Tây Nguyên .

Tây Nguyên là đề tài vô tận trong các loại hình nghệ thuật , trong đó có nhiếp ảnh . Đất và con người Tây Nguyên đẹp đến nỗi  tưởng chừng như ở góc máy nào cũng tìm thấy những bức ảnh đẹp khiến ta rung động . Không phải là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp , cũng không phải là một nhà nghiên cứu . Tác giả  Lâm Tứ Khoa  ở Đà Nẵng chỉ có may mắn được nhiều lần đến vùng đất Tây Nguyên  đem theo một chút đam mê và tình cảm  . Rồi khi bắt gặp được những hình ảnh sinh động , anh đã ghi lại những khoảnh khắc ấy đem về sắp xếp lại theo một trình tự  , từ đó dựng lên một không gian TÂY NGUYÊN TỰ TÌNH để chúng ta cùng nhau ngắm nhìn và cùng nhau cảm nhận .

Đến từ vùng đất Gia Lai Họa sĩ Hồ Thị  Xuân Thu   đã đem đến cho ngày hội văn hóa Tây Nguyên một ‘’ SẮC MÀU TÂY NGUYÊN ‘’ thật đậm nét , với hơn 30 tác phẩm sơn mài về hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên trong hầu  hết các sinh hoạt trong cuộc sống từ lao đông bình thường đến các lễ hội và tâm tư tình cảm , bằng đường nét dân gian , người xem sẽ thực sự xúc động trước một Tây Nguyên kỳ diệu , bí ẩn hoang sơ và mộc mạc .

Như vậy , sau mười năm Những Ngày văn Hóa Tây Nguyên lần II – 2012  lại được tổ chức tại Hà Nội  . Đây là chương trình được tổ chức với quy mô lớn , giới thiệu văn hóa – con người  – sự kiện và những giá trị văn hóa , sức sống mãnh liệt cũng như sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, tôn vinh các giá trị  văn hóa vật thể, phi vật thể của vùng đất đỏ cao nguyên, nổi bật là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Khanhhoathuynga

Hình ảnh : Khanhhoathuynga

This slideshow requires JavaScript.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Một bài viết về phố Lê Công Kiều – TPHCM  của DENNIS COLEMAN mời các bạn xem .

ĐỒ ĐỒNG BẮT MẮT  , chao đèn và đồng hồ Pháp trường phái Art nouveau , cổ vật Việt Nam hay Trung Quốc ….nếu bạn đang để mắt tìm vài món trang trí hoặc chỉ thuần túy rong chơi ngắm nghía thì đường Lê Công Kiều đúng là nơi vậy gọi , nhưng chớ để cuốn mình theo cơn cám dỗ . Còn nếu tính đến chuyện mua bán nghiêm túc thì hãy tâm niệm câu “” tiền trao cháo múc ‘’ để cẩn trong trong giao dịch , nhất là với giới du khách lượn qua nơi đây để mua sắm trong phút chốc .

Con đường chẳng dài gì . ta có thể đi lướt qua trong vòng mười  phút hoặc chìm đắm trong một cuộc sục sạo lâu lắc hơn …Tôi đã gây dựng được quan hệ giao thương tốt đẹp với một số chủ tiệm ở đây và đối với lưu khách ngắn ngày tôi có lời khuyện chung là cứ thưởng thức cái kho tàng này – giồng như cái thú khám phá kho đồ cũ của bà ngoại  – nhưng việc mua sắm thực thụ để giành cho những ai có thời gian thâm nhập khu này .

Nguyên tắc một   : tránh những tiệm chèo kéo nồng nhiệt  hoặc trưng bày hàng loạt vật phẩm giống nhau . Tôi dám chắc với bạn những món ‘’đồ cổ’’ này có thâm niên chưa tới một năm . Những chủ tiệm điềm đạm và kín đáo thường có những đồ vật giá trị . Đây là những người nên tạo quan hệ mua bán . hãy thử vào tiệm số 21 có chiếc Vespa hồng dựng  trước cửa hoặc đi xuôi chừng mười tiệm , các thiên thần tình yêu đội đèn sẽ chào đón quý khách trong một tiệm tí xíu bề bộn gần ngôi trường học .

Nguyên tắc hai : nên hiểu biết chút đỉnh về những món bạn đang tìm kiếm hoặc nhờ sự giúp đỡ của ai đó am hiểu . Đi cùng một người bạn VN hoặc phiên dịch cũng tốt  , miễn sao người ấy hiểu biết hoặc đành giá được chút đỉnh các món đồ .

Chỉ cần vài câu hoi mào đầu là có thể phân biệt vàng thau .Bất cứ người bán nào khi được hòi về tuổi tác các pho tượng deco hoặc đồ thủy tinh mà trả lời bằng câu ‘’ chừng mấy trăm năm ‘’ thì theo tôi nên khẩn trương giã từ . Tương tự người nào dám quả quyết mớ hộp quẹt Zippo là kỷ vật chiến tranh thì cũng khó có thể coi là nghiêm túc .Những câu phán ẩu về về xứ sở và nguồn gốc ly kỳ của hiện vật cũng nên bỏ ngoài tai . chỉ nên quan tâm đến những thương nhân nào có thể nói về nguồn gốc của đồ vật một cách chi tiết hơn bình thường .

Sau khi cân nhắc  thận trọng mới nên tiến đến đánh giá món hàng mình muốn mua  có đúng là món họ trình bày hay không  , để mua với một giá phải chăng và cũng nên quan tâm đến việc khai hải quan và các thông số tương thích về điện chẳng hạn .

Với những ai mê các món kiểu Pháp và kiểu Victoria thì sẽ không tránh khỏi bị mê hoặc bởi các ngọn đèn dầu tinh xảo  , các chân nến và chụp đèn đủ màu sắc và đường nét . Chúng được đội trên đầu các thiên thần tình yêu hoặc gắn trong các chùm trang trí trần nhà khiến ai đó cảm thấy có sứ mạng phải giải thoát chúng khỏi chốn bụi băm này để đưa về một nơi lộng lẫy nào đó ở Sài Gòn hay ngoại quốc  . Điều kỳ diệu là một số chụp đèn thủy tinh , màu hồng hoa anh thảo . màu xanh vỏ chanh tao nhã hay màu trắng đục mờ , đã sống sót qua chiến tranh điêu tàn và bao bàn tay phũ phàng sẵn sang khoái trá quẳng đi những tạo vật đẹp đẽ chỉ đơn thuần vì chúng đã trở nên cũ kỹ .

Tuy nhiên nếu săm soi kỹ lưỡng , nhất là với con mắt nhà nghề như anh chàng Piers Allbrook bạn tôi  , thì thường thấy các món đồ là một sự giao duyên giữa tân và cựu .

Thử bắt đầu với ‘’’ đồ đồng ‘’ một từ được dùng rất dễ dãi  , mà khởi thủy nghĩa là hợp kim của đồng đỏ với thiếc nhưng thường được pha nhiều hợp chất khác . đây không phải điểm trọng tâm , mà vấn đề ta quan tâm nhiều hơn là nó được tạo hình thế nào và gọt giũa ra sao . Chính những nhà buôn có uy tín cũng thú nhận rắng mấy bức tượng đồng thiên thần tính ái và chân đuốc cổ điển thường chẳng thuộc thời art deco của Pháp mà được chế tạo trong vùng .Nhữn món nguyên thủy sẽ có dáng vẻ đồng nhất , tinh xảo và mềm mại hơn . Đồ đồng tốt thường có đường khắc sắc sảo , minh bạch và không có đường ráp như trường hợp các món đồ thời nay được đổ khuôn hai nửa ráp lại .

Có những món xem kỹ thấy được làm từ khuôn riêng và rỗng ruột , được hàn theo kiểu hiện đại , khác với kiểu hàn đổ khuôn ép trước kia . Miết ngón tay lên bề mặt hoặc nhìn dưới ánh mặt trời sẽ thấy được cách chế tạo này .Nhớ luôn luôn nhìn dưới đế món hàng , nhưng nếu muốn làm thế với một cái chân đèn cao vài bộ , chóa thủy tinh thì trí thông minh va phép lịch sự sẽ mách bạn phải nhờ họ tháo cái bòng đèn ra trước kẻo phải móc túi đền cho một mớ mảnh vụn ! Xem xét đồ xưa từ dưới đế , ngoài chuyện khám phá về tuổi tác còn đem lại cho ta nhiều thông tin xác thực khác .Những chiếc bù loong  hay đinh vít thời nay gần dưới đế là chứng cứ rành rành ! Một điểm nữa  : các bức tượng đồng thủ công khác với tượng sản xuất trong xưởng ở chỗ chúng có những vết khiếm khuyết rất riêng giống như những người thợ đã tạo ra chúng .

Cũng như đồng , đồ thủy tinh cũng đòi hỏi phân tích cẩn thận . Mặc dù nhiều món thủy tinh giả cổ ngày nay chỉ đơn thuần thuộc loại thô , các nghệ nhân ngày càng lão luyện trong việc sáng tạo những kỹ thuật phục chế . Tất cả thủy tinh làm bằng tay đều mang dấu ấn của que sắt kẹp trong quá trình thổi thủy tinh  – dấu ấn này không nói lên tuổi tác mà chủ yếu là chất lượng .

Nếu bạn đang nghiêm túc mua một món đồ thủy tinh kiểu deco thì hãy tìm kiếm dấu ấn những năm tháng phai mòn dưới đế . Những tỉ lệ kích thước quá hoàn hảo chứng tỏ sản phẩm được chế tạo hàng loạt chứ không phải làm thủ công từng chiếc .

Cón nếu nói về những bảo vật cao cấp như thủy tinh Galle and Daum thì cái giá không bao giờ dưới mức năm con số 0 nếu bạn muốn có được sản phẩm của những nghệ nhân trường phái Art Nouveau  này . Những chiếc đèn thủy tinh Galle dùng đá chạm hoặc kỹ thuật ghép lớp , ghép hoa văn thành lớp rồi cắt bằng acid để phơi ra mẫu thiết kế hình hoa lá hoặc phong cách mơ màng đến bất ngờ  . Cón rất nhiều điều để tìm hiểu nếu bạn đam mê thủy tinh nhưng nếu chỉ muốn tìm một tạo vật đáng mặt và đáng tiền thì Lê Công Kiều có khá nhiều .

Trừ phi bạn đang chuẩn bị lấy học vị khảo cổ hoặc nghiền ngẫm những cuốn như ‘’ Các kho tàng ở Hội An “” catalogue của Butterfield  năm  2000 hoặc ‘’ gốm Việt Nam ‘’ ( song ngữ Việt Anh , nhà sản xuất bản mỹ thuật , 1996 ) hoặc hoàn toàn sành sõi qui định hải quan khi định mang các món đồ ra khỏi Việt Nam ( giả sử như đó là ‘’hàng xịn ‘’ ) , còn lại thì không nên động đến mảng cổ vật này . nếu món đó có chút gì đó hao hao giống với bảo vật thì bạn có khả năng phải trình với bộ văn hóa ở Hà Nội để xin chứng nhận , đóng thuế hoặc có cả nguy cơ bị thu hồi . Những món bằng ngà cũng nằm trong danh sách hàng hóa bất hợp pháp cho nên nếu không muốn mua phải hàng nhái làm bằng nhựa thông hoặc xương bo thì bạn cũng  không nên động đến mảng này .

Những ai nhớ nhung sài Gòn xưa có thể sục sạo trong đống ảnh đen trắng để tìm vài tấm mang về nhà treo lưu niệm trên tường .Nhiều bức có ca chữ viết phía sau  – có khi là một chút vết tích về số phân những con người xa xứ nay gọi là Việt Kiều .

Dù sao đi nữa , hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này .

 

DENNIS COLEMAN

 

 

Đúng như lời DENNIS COLEMAN nói  hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này … từ phố LCK này ta cũng có thể học hỏi được rất nhiều từ cách mua bán , giá cả hoặc những kinh nghiệm của họ  ,  nếu bạn là khách quen tại một cưa hàng náo đó , bạn có thể thoải mái lục lọi  , hoặc ngồi nói chuyện với họ hàng giờ mà có khi chẳng phải mua món gì cả  , vẫn niềm nở vẫn ần cần tiếp đón bạn một cách nhiệt tình  , đôi khi họ mua được những món đồ đúng với sở thích của mình , họ gọi điện thoại  nhắn tin hoặc để dành khi nào mình đến thì giới thiệu cho mình , đó cũng là một lợi thế khi là một khách quen của họ …..về giá cả thì ta cứ thoải mái trả giá  , vừa túi tiền ta đúng giá của họ thì ok …nhưng nếu bạn là dân mới tới phố lần đầu thì bạn cũng nên thận trong với những giá cả họ phán ra , bạn sẽ rất ngại khi phải trả giá một món đồ nếu chưa mua quen ở phố này , tình trạng nói thách của họ với giá nào của bạn trả cũng có thể …..bị hớ  , bây giờ ngoài dãy phố LCK  có nhiều cửa hàng đã mọc lên thêm trên con đường Nguyễn Thái Bình   một con đường cắt ngang đầu phố LCK …

Phố Lê công Kiều bây giờ chẳng còn nhộn nhịp như xưa nữa  , chắc có lẽ do tình hình kinh tế suy thoái  nên túi tiền của những người thích đồ xưa , đồ cũ ……cũng co lại  .Một buổi chiều tháng tư lang thang ngoài phố lê Công Kiều , con  đường tuy chẳng dài bao nhiêu ta có thể nhìn thấy từ đầu đường đến cuối đường một cảnh vật thật vắng vẻ và buồn ảm đạm , khg một bóng du khách hay những người khách thích thú với những  món đồ xưa cũ thường hay lùng sục tại các vỉa  hè phố LCK , chỉ thấy chủ cửa tiệm với những cái ngáp dài , đôi mắt mơ màng nhìn …. đâu đó , nhưng chính vì thế mà ta có thể mua được những món đồ ưng ý với một giá rẻ bất ngờ ….

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Tặng bạn Đỗ Hữu Thái , một người đam mê cổ vật chân chính 

 

I /  ĐỒ CỔ

Đồ cổ là những sản phẩm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá khứ lịch sử , bằng nhiều chất liệu khác nhau , được bảo tồn đến nay .

Đồ cổ có rất nhiều loại ,bằng nhiều chất liệu và có giá trị trên nhiều mặt . Từ những đồ cổ được sưu tập , sắp xếp có hệ thống và xác định niên đại hoặc thời đại , người ta có thể thấy được trình độ kỹ thuật , thẩm mỹ , tư tưởng , tình cảm của con người và cộng đồng dân tộc trong mỗi triều đại , thời kỳ lịch sử , có thể hiểu được nền văn hóa , văn minh của dân tộc ấy . Thông thường , đồ cổ có ý nghĩa và giá trị nổi bật trên hai mặt mỹ thuật và kinh tế . về mặt mỹ thuật , đồ cổ đem lại cho chúng ta tình cảm thẩm mỹ , thưởng thức cái đẹp hiếm có do người xưa để lại . về mặt kinh tế , đồ cổ có thể được định giá bằng tiền bạc , bằng vàng với giá trị vật chất lớn , do đó đồ cổ có thể được trao đổi , mua bán như những hang hóa đặc biệt .Thú chơi đồ cổ xuất phát chủ yếu từ yếu tố mỹ thuật của đồ cổ . Nghề buôn đồ cổ xuất phát từ giá trị kinh tế của sản phẩm này . Từ giá trị to lớn của đồ cổ và nhu cầu sử dụng rộng rãi chúng đã nảy sinh nghề làm giả đồ cổ . Thú chơi ấy , các nghề ấy xuất hiện và song song tồn tại ở nước ta , cũng như trên thế giới từ lâu đời .Việc sưu tầm săn lung và buôn bán đồ cổ xưa nay đã đem lại không ít vinh quang , sự giàu có , nhưng cũng xảy ra nhiều bất hạnh , đắng cay cho con người .

Người Việt Nam , từ Huế vào Nam thường gọi các loại mỹ nghệ phẩm được làm khoảng trăm  năm về trước là đồ xưa , còn người Miền Bắc thì gọi chúng là đồ cổ . Bây giờ thuật ngữ đồ cổ đang được dùng rộng rãi trong cả nước , chỉ tất cả các sản phẩm cổ xưa , phần lớn đều quý hiếm , đồ đồng , đồ đá , đồ vàng bạc , đồ gỗ , sách cổ , vv …. Từ trống đồng , tượng đồng , tượng đá , đồ gốm , bàn ghế , hòm tủ , đến câu đối , hoành phi , tranh khắc , tiền cổ …. Còn nghành bảo tàng thì gọi chúng bằng thuật ngữ cổ vật , hiện vật cổ .

1/ Cổ vật bảo tàng .

Cổ vật quốc gia được lưu giữ ở các bảo tàng trong nước .Xin hãy đến Viện bảo tàng Hà Nội , nơi đang lưu giữ bảo quản tới 5.500 cổ vật …. Trong hầm tối – theo đúng nghĩa của từ này . Các nhà chuyện môn cho biết đây là một kho tàng vô giá , có một không hai ở Việt Nam . Người duy nhất đang có trách nhiệm quản lý kho cổ vật này là bà Nguyễn Kim Nguyên , tốt nghiệp khoa Bảo tàng Đại học Lômônôxốp ( Liên Xô cũ ) , chuyên viên cổ vật của viện Bảo tàng Hà Nội . Đến nay , Viện đã có bộ hồ sơ hàng nghìn trang về các cổ vật của mình , do bà Lê Kim Nguyên âm thầm thiết lập trong suốt 4 năm qua .

Mỗi trang hồ sơ ấy mô  tả một cổ vật , bằng 4 tấm ảnh , kèm theo một bảng lý lịch ghi rõ tên cổ vật , nơi xuất xứ , chất liệu kích thước , kiểu thức trang trí . Niên đại , ngày xác định niên đại , người xác định niên đại , vv …chồng tài liệu dày 3300 trang chất cao từ nền nhà lên quá đầu người . Nếu một người xem liên tục có lẽ phải mất một tháng mới hết bộ hồ sơ này , bà Lê Kim Nguyên giải thích : ‘’ Có tất cả 5500 hiện vật , nhưng chúng tôi mới phân loại được 3300 cái ‘’ .

Thực ra , người chuyện viên cổ vật rất đáng khâm phục này chỉ trông coi cổ vật qua ảnh chụp trong bộ hồ sơ lớn đó  , đồng thời cũng là công cụ để bà giới thiệu vốn cổ vật với đồng nghiệp và khách thăm quan , nghiên cứu khi cần thiết . Còn kho đồ cổ thì để ở dưới tầng hầm kiên cố của tòa nhà Bảo tàng . Cửa kho luôn luôn có giấy niêm phong và lần lượt ba lớp khóa . Theo phóng viên tờ tuần báo Thanh Niên Huỳnh Ngọc Chênh ( số 22 (462 ) ra ngày chủ nhật  27 -2-1994 )thì trước đây , người tiền nhiệm của Lê Kim Nguyên đã phải bị tù oan trong Hỏa Lò chỉ vì đánh rơi tượng ngọc bích vào trong một lọ bình mà ba năm sau mới tình cờ phát hiện được .

Kho cổ vật có hang ngàn hiện vật từ tranh , tượng cổ của Trung Quốc , Nhật Bản đến đồ đồng cổ Việt Nam , từ đồ gốm đời Minh , Thanh đến đồ gốm sứ , ngà ngọc đời Lý Trần cho đến các vật dụng cổ của người Châu Âu . Theo Niên đại trong kho này có có mặt đầy đủ các hiện vật từ trước Công Nguyện cho đến đầu thế kỷ XX . Các cổ vật ở đây – dấu tích văn hóa hang nghìn năm của Việt Nam và nhiều dân tộc khác , một di sản quý giá của nhân loại được dồn nén lại trong một diện tích 50m vuông của căn hầm .

Nếu phân loại theo chất liệu , kho cổ vật này có các loại : đồ gốm , đồng , đá ,ngà , ngọc , vàng , bạc , thủy tinh , da , gỗ , giấy ..vv ., phân theo chủng loại , có tới 40 loại , gồm tranh , tượng , chuông , trống , bình , lọ , thạp , thống , chóe , chén , bát , ly , tách , bình vôi , nậm , đồng hồ , bàn là ….vv . , theo quốc tịch , chúng có xuất xứ ở Việt Nam , Trung Quốc , Nhật Bản ,Triều Tiên , Thái Lan , Ấn Độ và một số nước Châu Âu . Các cổ vật được xếp chồng trên các bệ gỗ , được bày la liệt trên sàn hầm , được đựng trong các thùng gỗ , hòm thiếc , giỏ tre ….

Nguyên là những cổ vật trôi nổi , chúng được tập hợp lại một cách khác thường .Loại cổ vật đầu tiên mà Bảo Tàng Hà Nội hiện có là do lượm nhặt được từ đống vật dụng bát nháo . Trong số ấy , quan trọng nhất là nhóm đồ đồng Đức Giang . Người ta định gom lại để đưa đi nấu đồng , nhưng may sao một vài người có trách nhiệm biết được đó là đồ cổ rất quý giá nên nhặt ra và đem về giao cho Bảo Tàng cất giữ .Đồng thời , hàng trăm đồ sành sứ , gốm quý hiếm thời Minh , Thanh và  Lý , Trần cũng được thu lượm theo con đường này .

Một loại tượng bằng đồng , gỗ , sành …. Của nhiều đình ,chùa ,am , miếu  được thu về khi các nơi tôn nghiêm ấy bị sập đổ , bị bom đạn chiến tranh , bị phá dỡ hay biến thành nhà kho , văn phòng hợp tác xã , hoặc tượng bị thu giữ chuẩn bị hủy trong phong trào chống mê tín dị đoan và nhiều hoàn cảnh xót xa khác .

Số khá lớn đồ cổ khác nữa của Bảo tàng Hà Nội do các cơ quan quản lý văn hóa và bảo vệ pháp luật ( Công an , hải quan , quản lý thị trường ) chuyển giao . đó là kết quả điều tra và khám phá các vụ buôn lậu đồ cổ ra nước ngoài . Trong số đồ cổ chuyển giao , có đôn nghê bằng đồng trị giá hàng triệu đô la Mỹ , nhưng năm 1991 bọn buôn lậu đã đem bán cho một người nước ngoài với giá 50.000 USD , cơ quan công an kịp phát hiện và thu lại được . Hoặc như bộ Long Đỉnh Bát Tràng , các đỉnh sứ , lục bình cao 1,40m có niên đại thế kỷ XIV, vv…. Cũng tịch thu được từ bọn buôn lậu .

20 trống đồng Cổ Loa cũng được tàng trữ tại kho cổ vật này . Chúng được tập hợp từ 20 địa điểm khác nhau , vơi những bối cảnh riêng biệt .Đây là bộ sưu tập vô cùng quý giá , khá hoàn chỉnh về trống đồng Cổ Loa ( từ thời An Dương Vương về sau ) mà không nơi nào có được , kể cả viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam (Bác Cổ , Hà Nội ) .

Cho đến nay công việc phân loại cổ vật của viện Bảo Tàng Hà Nội mới tiến hành được chưa quá 2/3 số cổ vật chưa lập hồ sơ , phân loại còn hơn 2.000 đơn vị . Hiện trạng đó cần phải khắc phục , nhưng do những  khó khăn thực tế về tài chính và cơ sở vật chất . Thêm vào đó , viện chưa có một địa điểm trưng bày nên cổ vật vẫn bị ‘’giam’’trong hầm kín ! bao trùm lên hết thẩy các trở ngại ấy là yêu cầu bảo vệ an toàn đối với cổ vật quốc gia một khi đem ra trưng bày , giới thiệu rộng rãi .

Bà Lê Kim Nguyên cho biết : cổ vật có giá trị rẻ nhất cũng khoảng  8 triệu đồng . cái đắt nhất cũng tính đến triệu USD . Nhưng theo bà , đồ cổ còn có một giá trị khác , rất cao , không thể định giá bằng tiền bạc . Chúng là nguồn tài liệu ( hiện vật ) hết sức quý  giá cho những người nghiên cứu lịch sử , văn hóa , khảo cổ học .Chúng góp phần quan trọng  cho việc hoàn thành nhiều công trình , đề tài nghiên cứu khoa học về quá khứ .

Vậy thì cổ vật Bảo Tàng cần đem ra giới thiệu cho công chúng , nó không thể bị ‘’ giam ‘’ , nhưng phải giữ gìn và bảo vệ nghiêm ngặt .

2/ Những cổ vật men Celedon ( Xêladong ) ở Hòn Dầm , Phú Quốc .

Khoảng 200 loại đại diện cho 15.359 đơn vị cổ vật ( đồ cổ ) tất cả đều là gốm men Celadon , trục vớt ở biển ven Hòn Dầm . Phú Quốc ( Kiên Giang ) đã được đem triển lãm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh , khai mạc vào ngày 1-9-1993 .

Kho tàng gốm cổ có giá trị này do tỉnh Kiên Giang và luên hiệp Xí Nghiệp trục vớt cứu hộ ( Visal) không có liên doanh với một công ty nước ngoài nào ,  trục vớt tại Hòn Dầm vào năm 1991 . Khu vực tàu chìm tương đối cạn , chỉ khoảng 20m bề sâu , nên việc trục vớt thuận lợi . Đây là cuộc trục vớt đồ cổ tàu đắm tại Hòn Dầm có quy mô và bài bản nhất , cũng là lần vớt triệt để các cổ vật trong con tàu đắm này .

Nói lần vớt quy mô , bài bản và triệt để nhất , bởi trước đó cổ vật ở đây đã được dân vớt khá tự do sau khi phát hiện ra ‘’ kho báu ‘’ .

Trở lại khởi điểm cách đây khoảng 20 năm , có vài ngư dân ở Phú Quốc , có lần đã câu được … cái tô! Lưỡi câu của họ mắc vào cái tô dính hầu (hà ) . Họ cho rằng cái tô đó của ‘’bà’’ của ‘’ cậu ‘’ nên vội khấn vái và thả xuống biển để trả ‘’thần ‘’ .Trong số họ . có người táo tợn hơn mang về nhà , như ông Nguyễn Văn Hoành ( xóm 3 , ấp 1 , xả An Thới , Phú Quốc ) cũng chỉ dám để trên bàn thờ làm đồ thờ .

Thời gian qua đi , câu chuyện những cái tô kỳ lạ như truyền thuyết chắc không còn làm cho ngư dân trong vùng biển Hòn Dầm chú ý , nếu không diễn ra sự  kiện mới . Đó là sự kiện các cổ vật trục vớt ở Hòn Cau , Côn Đảo được đem đấu giá tại Amstredam được 6,7 triệu USD vào năm 1990 , làm xôn xao dư luận . Thế là các thợ lặn ở Phú Quốc thi nhau đến vùng ông Đực vớt đồ tàu đắm .Họ vớt lên rất nhiều đồ gốm và tiền cổ . Đồ vớt được đem bán rẻ như ở chợ An Thới .Cấp ủy xã An Thới thấy vậy , đã kịp thời báo cáo lên huyện . Lãnh đạo huyện không hiểu hết giá trị  các đồ vật ấy ,cho là vật bình thường , nên không đánh thuế và để cho dân vớt bán tùy ý . Ngay cả một số đơn vị , cơ quan ở địa phương cũng đi vớt đồ cổ , bán gây quỹ . Bán 3 lô gốm cổ đi gán nợ , bình quân mỗi cái chỉ 5.000 đồng . mà chủ nợ cũng không nghe !

Đã có bao nhiêu đồ cổ được mò vớt tự phát và mua bán tự do như thế  , đến nay vẫn chưa ai thống kê được .

Đầu tháng 5 năm 1991 , các cơ quan hữu trách của tỉnh Kiên Giang đã kiểm tra đánh giá tình hình nói trên và cho tiến hành trục vớt . Kết quả thật bất ngờ . Trừ những chiếc bị vỡ hỏng  còn lại 15.539 cổ vật gốm Celadon đã được vớt lên nguyên vẹn , cùng với chiếc ngà voi ( sơ chế , đường kính 2,5 cm  dài 20 cm ) 7 cục thiếc lớn , 8 trong 10 đồng tiền cổ còn nguyên (  hình tròn có lỗ vuông ) mang dòng chữ Hoàng Tông thông bảo , Chí Nguyên thánh bảo , Tường Phù thông bảo , Vĩnh Lạc thông bảo đều của Trung Quốc đương thời ) .

Gốm men Celadon ở Hòn Dầm là một loại gốm rất quý thời Tống – có màu xanh lá cây nhạt , có điểm lấm tấm như hạt bụi – gọi chung là gốm Tống .

Thợ gốm Trung Quốc thời nhà Tống ( 980 – 1279 ) phát hiện và sử dụng men ấy để trang các loại tô , bát đĩa , bình chậu , thống …. Thoạt đầu thợ giỏi sản xuất gốm tập trung ở Hồ Nam .Bị quân Kim đánh chiếm , thợ Bắc Tống , nhất là thợ gốm hoàng gia phải chuyển tới Hàng Châu để tiếp tục sản xuất , đồng thời cũng xuất hiện một số lò gốm tại Thổ Cương .

Năm 1279 nhà  Tống bị tiêu diệt ‘’ theo một vài sách kể , thì thợ gốm di thần nhà Tống , không khứng phục nhà Nguyên , đã kéo đi lập nghiệp nơi ba chỗ khác nhau đều có sản xuất Celadon , đó là : Cao Ly Quốc , An Nam Quốc ( vùng Thanh Hóa ) và Xiêm La quốc ( vùng Sanvankhalog ) .

Các loại gốm Tống . do hình dáng và màu men độc đáo , ngay thế kỷ 15 đã được ưa chuộng ở vùng cận Đông  , và sau đó , bắt đầu xuất hiện tại thị trường Châu Âu vào thế kỷ 17 . Ở Pháp dưới thời vua Louis 16 ( 1774- 1791 ) , loại gốm này trở thành món hàng thời trang của giới quý tộc cung đình và thị dân khá giả . Người ta đặt cho nó cái tên Pháp là gốm Celedon ( celadon là tên chàng rất lãng mạn trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Honoré d’Urté – ý nói là đồ gốm lãng mạn ) .

Trở lại cổ vật gốm Celadon ở Hòn Dầm . Theo kết quả giám định của hội đồng giám định cổ vật thuộc Bộ Văn Hóa – thông tin các đồ gốm này được kết luận  : Chúng xuất xứ từ Thái Lan , do Thái Lan sản xuất vào thời kỳ đầu thế kỷ 15 .

Văn phòng chính phủ nước ta chỉ thị giữ lại cho Bảo Tàng Lịch Sử Trung Ương , Bảo Tàng Mỹ Thuật và Bảo tàng Kiên Giang mỗi nơi 2 bộ  , bao gốm các bộ gốm nguyên vẹn ( lành lân , men bóng , sang ) và tiền cổ vớt ở Hòn Dầm .Tổng số đồ gốm giữ lại là 126 chiếc , tiền cổ không nhiều lắm , được lựa chọn kỹ càng , đánh ký hiệu lưu trữ và dĩ nhiên được bảo vệ lâu dài .Số cổ vật còn lại , chiếm phần lớn , tới hơn 15 nghìn chiếc được đem trưng bày và bán trong nước , nước ngoài .

Kết Quả giám định về xuất xứ đồ gốm cổ ở Hòn Dầm của cơ quan chức năng ngành văn hóa chưa làm cho một số nhà nghiên cứu gốm cổ nhất trí . Người ta còn nghi vấn về xuất xứ các cổ vật này . Trên tờ Nguyệt san Thanh Niên ( số 32 , tháng 11 -1993 ) tác giả Q.H ( khg ký rõ tên ) nêu lên nhận xét và quan điểm của mình về sự ‘’ nghi vấn ‘’ ấy .

‘’ Đồ gốm Tống …. Vào thế kỷ 15 được sản xuất tại 4 nơi : Trung Quốc , Cao Ly ( Triều Tiên ) Savankhalog ( Thái lan ) và Thanh Hóa ( Việt Nam ) . Đồ Tống Thanh Hóa rất mỏng manh . nhẹ làm bắng đất nung , men ngà ngà và bóng , không có ánh kim sa . Cao Ly quốc ở quá xa vùng biển Phú Quốc , như thế đồ cổ vớt được ở Hòn Dầm chỉ có thể là gốm Trung Quốc hoặc Savankhalog .

‘’ Vậy căn cứ vào đâu để phân biệt hai loại đồ gốm cùng cấu trúc , cùng hình dáng , cùng có màu men Celadon đặc trưng này ? Nếu đúng là thuyền Thái Lan , tại sao trên thuyền chỉ có tiền cổ Trung Quốc tương ứng với thời gian tiền ấy được sử dụng ? Theo chúng tôi biết , lúc ấy ở Việt Nam không dung tiền Hán để trao đổi mua bán ! và dẫu sao , thủy thủ nước nào cũng phải ‘’lận lưng’’ vài đồng bạc của mình . Lại nữa , nếu thuyền Thái Lan chở đồ về hướng Phú Quốc , thì chắc chắn không phải để xuất khẩu sang vùng Cận đông  hoặc Phương Tây …Một đoàn du khách nước Đức ( do cán bộ VN hướng dẫn ) đến thăm nơi trưng bày cổ vật Hòn Dầm ( vào ngày 4- 9-1993 ) , nhận xét : ‘’ Đây là đồ cổ Trung Quốc “” .

Toàn bộ gốm cổ này đều bằng chất liệu nặng màu trắng , hoặc phủ một lớp men Celadon có trang trí hoa văn chìm hoặc để trơn ( không tráng men , không hoa văn ) . Chúng đều được nặn bằng một thứ nguyên liệu : sa thạch , có thể chia thành 7 chủng loại  chính , mỗi chủng loại được dung 3 loại nguyên liệu đất khác nhau , tạo thành các sản phẩm có trong lưỡng và kích thước khác nhau . Như vậy , 15.359 món đồ cổ này bao gồm 21 loại khác nhau .

Mặc dù vẫn chưa thống nhất về xuất xứ của ‘’kho báu ‘’ Hòn Dầm , từ Thái Lan hay từ Trung Quốc , nhưng về giá trị của nó thì ai cũng thừa nhận là quý và cổ . Đây là kho cổ vật quý , có thể làm phong phú thêm kho tàng cổ vật của nước ta , mặt khác , đã đem lại số tiền , nhất là ngoại tệ mạnh cho ngân sách nhà nước .

Việc giới thiệu , trưng bày các cổ vật này ( chủ yếu là đồ gốm Celadon ) có ý nghĩa tích cực , góp phần nâng cao kiến thức về một loại đồ cổ rất quý giá : gốm Tống hay gốm men Celadon .

II / THÚ CHƠI ĐỐ CỔ

Một thú chơi sang trọng , thanh tao , thi vị phát sinh trong xã hội loài người ở khắp nơi trên thế giới từ rất lâu đời là thú chơi đồ cổ .

Ngoài Trung Quốc có bản tính hiếu cổ .Các triều vua thời Đường , Tống , Minh , Thanh đều thích sưu tầm cổ vật quý  , như cổ khí , văn vật từ thời Hạ , Thương , Chu … để làm quốc bảo vật . Còn ở phương Tây , các nhà cầm quyền và giới quý tộc phong kiến , ngay từ thế kỷ XV , đã say mê tìm kiếm các loại cổ vật của phương Đông .

Thú chơi đồ cổ ở Việt Nam nảy sinh từ khá sớm .Có lẽ nó có nguyên nhân chủ quan và khách quan sau đây :

1/Nhu cầu thưởng ngoạn , giải trí của vua chúa , của các nhà quyền quý , của các nghệ nhân , trí thức nước ta .

2/sản phẩm thủ công cao cấp của ta rất đẹp , được làm từ rất xa xưa , nhiều loại không thua kém Trung Quốc , Nhật Bản .

3/Nhiều sản phẩm thủ công tuyệt hảo của nước Trung Quốc làng giềng sớm du nhập vào Việt Nam .

Dưới chế độ quân chủ chuyện chế , đồ cổ và các vật quý khác ( vàng , ngọc , ngà …) đều giành riêng cho vua và quan lại cao cấp sử dụng . Ngay cả những của ngon vật lạ , sơn hào hải vị , đặc sản quý đều phải cung tiến vua và triều đình phong kiến theo quy định . Vì vậy , dân gian gọi nhiều loại đặc sản do mình làm ra là ‘’tiến ‘’như  nhãn tiến (nhãn lồng ) vải tiến ( vải thiều ) , vv…Luật lệ cũ của triều đình không cho phép thường dân xây dựng nhà cửa to lớn , không sử dụng đồ vật sang trọng , quý báu như của vua , chúa và những người có phầm hàm , chức tước . Nhân gian nếu có đồ cổ , vật quý đều phải nộp cho triều đình , hoặc phải cúng kiến vào chùa chiền , đền miếu làm đồ thờ cúng .

Trước kia đồ cổ không phải là vật phẩm để chơi cho tất cả mọi người , như quan niệm ngày nay .

Mãi đến cuối thế kỷ XIX , khi d8a6t1 nước ta hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp , mọi trật tự xã hội và quan niệm truyền thống bị đảo lộn , thay đổi , uy quyền của vua chúa mất dần , nhà nước phong kiến suy yếu , thế lực địa chủ , thương nhân mạnh dần lên .Chính những người mới phất lên thành  giàu sang này đã nghĩ đến việc chơi đồ cổ .Bởi vì bấy giờ mới có điều kiện cả về kinh tế cả về xã hội để họ thực hiện mong ước của mình , cũng là mơ ước lâu đời của người dân .Do có tiền và muốn chơi sang , để chọi lại giới quyền quý xưa , cũng là để giải trí , những người chơi đồ cổ hồi bấy giờ cố công sưu tầm cổ vật quý Việt Nam và tìm mua đồ gốm sứ , hoặc các loại đồ gỗ gia dụng quý giá của Trung Quốc , sản xuất vào các thời Minh – Thanh . Họ bày  biện , trang trí nhà cửa bằng những đồ cổ ấy , nhiều khi được lựa chọn kỹ càng và sắp xếp theo yêu cầu mỹ thuật rất cao , nhằm tạo ra vẻ mỹ cảm đặc biệt hoặc nhấn mạnh sự giàu sang . Từ đó , thú chơi đồ cổ dần dần lan rộng trong nhân dân . Những kiến thức mới về khảo cổ và mỹ thuật được giới trí thức tân học tiếp thu rồi phổ biến trong dân chúng .

Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX , do kết quả của khảo cổ học , dân tộc học và nghiên cứu văn hóa song song với hoạt động của Viện Viễn Đông Bác Cổ ( Hà Nội ) và Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Huế ) các viện bảo tàng được thành lập ở Bắc Kỳ , Trung Kỳ và Nam Kỳ đã mở các cuộc triển lãm cổ vật giới thiệu những di sản văn hóa của dân tộc cho công chúng thưởng thức .

Tại kinh đô Huế , dưới triều Khải Định ( 1916 – 1925 ) , Viện bảo tàng Khải Định được mở ra . Bảo tàng này đã trưng bày các bảo vật của Hoàng gia , vốn trước đó được cất giữ bí mật .Cần nói them rằng : Khải định là ông vua rất ham thích đồ cổ . Dưới thời ông , các đại thần , quý tộc , hoàng thân quốc thích đều thi nhau chơi đồ cổ . Trong các nội phủ , các dinh thự vàng son , đồ cổ không chỉ để bày biện , trang trí , mà còn được dùng trong cúng tế , yến tiệc và cả trong sinh hoạt hàng ngày . Hơn nữa , ngay tại đất cố đô , nghề buôn đồ cổ được phép hoạt động . Lúc ấy , các nhà buôn đồ cổ tiếng tăm lừng lẫy ở Huế là các ông Tham Hòa , Nghè Hưng , Cửu Sung .

Trong thời gian ấy ở Bắc Kỳ , các nhà chính trị và giới thương gia cũng đua nhau chơi đồ cổ . Những viên quan khét tiếng như khâm sứ Hoàng Cao Khải  , tổng đốc Hoàng Trọng Phu , tổng đốc Nguyễn Văn Định … trưng bày la liệt kỳ trân , bảo vật trong nhà , ngoài sân dinh thự nhằm thỏa mãn thú chơi quyền quý , cao sang một thời .

Ở Hà Nội , trong giới chơi đồ cổ là các thương gia những năm đầu thế kỷ , đến nay người Hà Nội vẫn cón nhắc tới tên tuổi : Ông Hương Ký ( chủ hiệu ảnh Hương Ký ) ông Nguyên Ninh ( chủ doanh nghiệp bánh cốm Nguyên Ninh ), ông Mỹ Thắng ( phố Hàng Bạc ) và hai nhân vật nữ không kém nổi tiếng là bà Bé Tý , cô Tư Hồng . Các ông Hương Ký , Nguyên Ninh , Mỹ Thắng đều rất sành về đồ cổ , có những bộ sưu tập quý hiếm .

Đặc biệt , ở phố Hàng Trống lúc bấy giờ , có nhà buôn đồ cổ lừng tiếng Hàn Liên . Cụ là người kỳ cựu trong nghề buôn bán cổ vật , mà tiếng tăm đã vang khắp nơi trên Đông Dương và tới tận Pari , thủ đô nước Pháp .

Còn trên đất Nam Bộ , thú chơi ‘’đồ xưa’’ cũng lan rộng trong nhân dân từ thành thị đến thôn quê . Ở Sài Gòn thời Pháp thuộc , nổi tiếng sành chơi cổ vật hơn cả bà Đốc Phủ Hà Minh Phải . Trên đất Vĩnh Long cũng có ông Phán Nuôi được người đương thời mệnh danh ‘’ đệ nhất về đồ xưa ‘’ . Tại đường Catinat ( nay là đường Đồng Khởi , TPHCM )  có tiệm Pháp Vũ chuyên bán đồ cổ .Tiệm này chuyên cung cấp các đồ quý lạ cho những người sành điệu . Ở Chợ Lớn bấy giờ cũng có nhà buôn Chánh Đào Ngọc chuyên cung cấp các loại bình thường cho người miệt vườn vùng Lái Thiêu và các tỉnh miền Tây Nam Bộ .

Như vậy , thú chơi đồ cổ cũng như thú chơi non bộ và cá cảnh Việt Nam phát triển rộng rãi từ Bắc đến Nam ăn sâu bắt rễ trong nhân dân , đem lại niềm say mê mỹ cảm rất lành mạnh . Đồ cổ không chỉ đẹp , mà còn quý hiếm , cho nên việc chơi đồ cổ thường đi liền với việc buôn bán đồ cổ . Có thể nói các nhà chơi đồ cổ và các nhà kinh doanh đồ cổ bao giờ cũng là người có công sưu tầm và bảo quản các đồ vật . Tính sôi động của thị trường đồ cổ , phần đông là thị trường ngầm lắt léo và phức tạp sẽ được nói tới ở phần sau . Còn bây giờ ta hãy tìm hiểu thú chơi , kiểu chơi đồ cổ của người Việt Nam .

III/ CÁC TRƯỜNG PHÁI CHƠI ĐỒ CỔ

Nhìn chung ở nước ta có hai trường phái chính : Trường phái cổ đồ và trường phái sưu tập .

1/ Trường phái cổ đồ :

Chơi cổ đồ là dùng đồ cổ để bày theo đúng quy cách mỹ thuật cổ điển . Những người thuộc trường phái này luôn thấm nhuần tư tưởng triết học và quan niệm thẩm mỹ phương Đông cổ .

Cách chơi này phổ biến ở miền Bắc , phần nào chịu ảnh hưởng truyền thống Trung Hoa , nó toát lên phong cách tao nhã , triết lý sâu xa . Nhưng vẫn rất đậm nét ngầm phô trương chủ nhân là người cao sang , giàu có .

Để bày đồ cổ , người ta không đòi hỏi phải có nhiều hiện vật , mà chỉ đòi hỏi phải có vài thứ đồ cổ đích đáng , hội đủ ba điều kiện : ‘’ cổ , quý , kỳ ‘’ . Đồ phải thật sự là cổ , càng xa xưa càng hay . Đồ càng xưa càng quý . Nhưng chúng phải là loại sản phẩm kỳ lạ , tức là chất liệu và tạo dáng phải thật độc đáo . Những đồ cổ đẹp , đơn chiếc , có một không hai thường được người chơi ưa chuộng  nhất .

Món đồ được chọn phải toàn bích , men màu , kích thước , hình dáng phải hoàn hảo , nhìn ngắm kỹ hoặc dùng kính lúp để soi đều không thể chê điểm nào được .

Nghệ thuật trưng bày đồ cổ để thưởng ngoạn đòi hỏi một bối cảnh không gia hài hòa , vừa thoáng đãng , sang sủa , vừa có vật cảnh tạo nền .Thông thường , người ta tạo nền bằng các đồ gỗ cổ hoặc giả cổ tạo tác tuyệt khéo và hài hòa .Nền có tác dụng làm nổi bật các thứ đồ cổ , làm tang them giá trị nhiều mặt cũa chúng .Quan trọng  nhất là chủ nhân phải thông hiểu nghệ thuật trang trí Trung Quốc thời cổ với những bài bản ,  quy tắc của nó ở từng thời đại , thông hiểu phong cách nghệ thuật trang trí cổ Việt Nam , có kiến thức cần thiết về đồ cổ nói chung ,  hay ít ra cũng phải am tường loại đồ cổ mà mình quan tâm .

Người chơi ‘’cổ đồ ‘’thường chỉ đem những món độc đáo và quý giá nhất ( món ruột ) ra bày vào dịp lễ tết , hay những dịp quan trong khác , để giới thiệu với quý khách , bạn bè tri âm , tri kỷ . Chủ nhân cho đốt đỉnh trầm xông hương , tự tay pha trà , chuốc rượu mời khách . trong không khí thân tình và trang trọng ấy , chủ khách cùng nhau thưởng thức đồ cổ , săm soi phẩm bình , có chen thơ phú , xướng họa , tận hưởng cái thú tiêu dao , nhàn tản đầy thi vị như tao nhân mặc khách xưa .

2/Trường phái sưu tập

Trường phái sưu tập là một khuynh hướng lớn thứ hai ở Việt Nam của giới chuyên chơi đồ cổ  . Chơi đồ cổ theo cách này là người chơi phải tự chọn và quyết định sưu tập hiện vật theo một đề tài mà mình ưa thích .

Đề tài để sưu tập rất nhiều .Chủ nhân , nghệ nhân chỉ có thể chọn một lĩnh vực nào đó , như đề tài gốm Lý , Trần ( theo triều đại lớn ) bình vôi , ấm trà , hoặc gốm men ngọc , gốm hoa lam ( theo loại hình ) , khắc gỗ , khắc đá , tượng gỗ ( chất liệu – loại hình ) ,vv…

Người sưu tập theo trường phái này không đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế quá cao , cũng không hẳn phài có kiến thức sâu sắc về lịch sử Trung Quốc như những  chủ nhân thuộc phái cổ đồ .Điều cần thiết nhất là phải bền chí và có nhiều thì giờ . Bởi vì đã là người chơi đồ cổ , nhất là người sưu tập cổ vật thì ai cũng mất thời gian tìm kiếm những thứ vốn vô cùng hiếm hoi , phải đi nhiều nơi , giao thiệp rộng , có những hiện vật xưa rất rẻ như loại bình vôi chẳng hạn . Nhưng khi những vật dụng ấy được tập hợp lại  thành bộ , thành một hệ thống chúng trở nên vô giá !.

Người sưu tập thường có tính kiên trì , ngày nay qua ngày khác , năm nay qua năm khác nhặt nhạnh , tìm kiếm cổ vật , nhất là những đồ thuộc đề tài ưa thích của mình . Tiếp cận thường xuyện với hiện vật , cố gắng tích lũy kiến thức qua sách báo và tiếp xúc trao đổi với các nhà sưu tầm , nghiên cứu khoa học đã thành một nhu cầu của người sưu tập đồ cổ . Điều kiện ấy đã dễ dàng đưa họ bước vào lãnh vực nghiên cứu chuyên sâu .

Phần thưởng quý nhất giành cho người sưu tập là bản thân mình hoàn thành bộ sưu tập độc đáo , được dư luận và đồng nghiệp đánh giá cao , hay tình cờ phát hiện ra những điều bí ẩn trong món đồ cổ do mình có được sau bao năm âm thầm góp nhặt ‘’ đãi cát tìm vàng ‘’ .

Trường phái sưu tập một thời cực thịnh ở miền Nam . Nó ảnh hưởng  phương pháp Âu – Mỹ  . Người sang lập phái này là nhà sưu tập Vương Hồng Sển , giáo sư Dương Minh Thới và kỹ sư Dương Văn Khuê , họa sĩ Nguyễn Văn Rô , nhà văn Ngọc Sơn .vv…là những môn đệ xuất sắc của các lão sư  ấy . Những ai từng tiếp xúc , trao đổi đều cảm nhận ở các vị sự lịch duyệt và uyên bác trong chuyên môn , cũng như trường đời . Chính họ đã sưu tầm , gìn giữ cho Sài Gòn  – Gia Định nói riêng , cho nước nhà nói chung những bộ sưu tập đồ cổ tuyệt kỹ .

Cụ Vương Hồng Sển là người được giới sưu tập quý trọng nhất , do công lao sưu tầm hiện vật và nghiên cứu khoa học . Những công trình nghiên cứu và trước tác của cụ trong nửa thế kỷ nay đã trang bị cho các nhà sưu tập nhiều kiến thức về đồ cổ , đồng thời cũng cổ vũ những thế hệ sau rất mạnh mẽ . Năm 1991 , nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã cho ấn hành cuốn sách Khảo Cứu Về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa , một trong những cuốn sách có giá trị của Vương Hồng Sển , được các nhà nghiện cứu và sưu tầm gốm sứ đánh giá cao .

Thú chơi đồ cổ , xét cho cùng , là một thú chơi mang tính văn hóa – nó không những có ích cho bản thân , gia đình , mà còn có ích cho xã hội . Không ít bọ sưu tập của tư  nhân đã trở thành nguồn bổ sung cổ vật cho các bảo tàng của nhà nước .

Khi trong nước có nhiều người dân hiểu giá trị quý báu của đồ cổ , say mê đồ cổ và ra sức sưu tầm , bảo quản chúng thì có thể giảm bớt tệ nạn ‘’ chảy máu đồ cổ ‘’ của ta ra nước ngoài .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng

 

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

 

 

 

Read Full Post »