Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘điêu khắc Champa’

Tọa lạc tại số 97 A Phó Đức Chính  – phường Nguyễn Thái Bình – Q 1 – TP Hồ Chí Minh . Bảo tàng Mỹ Thuật  Thành Phố Hồ Chí Minh được thành lập  ngày  05 thánh 09 năm  1987  .

Khu nhà  của Bảo tàng Mỹ Thuật  trước đây là  của dòng họ  Hui  Bon Hoa  –  hay còn gọi là Hứa Bổn Hòa  ( tục gọi là CHú Hỏa  ) , một thương nhân người Hoa  giàu  có và nổi tiếng  nhất  Sài Gòn lúc bấy giờ  . Ngoài ngôi nhà trên  chú Hỏa  còn xây dựng nhiều công trình  nổi tiếng khác như    :  Khách sạn Majestic  , bệnh viện Từ Dũ  , trung tâm cấp cứu Sài Gòn  …..vv

Toà nhà do  ông   Rivea một kiến trúc sư  người Pháp thiết kế  theo phong cách kiến trúc Pháp cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX kết hợp một cách hài hòa của kiến trúc phương Đông trong trang trí bên ngoài, mái ngói, cột ốp gốm và các trang trí bằng gốm trên mái nhà … Trong các toà nhà này đã từng tồn tại nhiều đồ vật có giá trị mỹ thuật bằng nhiều chất liệu và có giá trị thẩm mỹ; từ đồ gỗ cẩn ốc xà cừ, đồ gỗ chạm tinh xảo, đồ gốm …

Khu nhà được xây dựng không phải với công năng của một bảo tàng, mà là nhà ở và làm việc. Đến  năm 1987  ngôi nhà  được cải tạo sửa chữa thành Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và chính thức mở cửa đón khách tham quan vào cuối tháng 5 /1989  cho đến nay .  Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày tài liệu, hiện vật tiêu biểu có giá trị về mỹ thuật và phản ánh  những nét đặc sắc của mỹ thuật cổ Việt Nam , các tác phẩm thế giới, đặc biệt là các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu của khu vực phía Nam.

Bảo tàng Mỹ Thuật thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm mỹ thuật lớn của Việt Nam , tọa lạc trên một diện tích rộng có không gian đẹp ở trung tâm Thành phố .  với tổng diện tích xây dựng là 3.514 m vuông  gồm 03 tầng lầu . Mặt bằng tổng thể khối nhà hình chữ U  được  đúc kiên cố , tường xây dày từ  40 cm – 60 cm  , cấu trúc bên trong tòa nhà gồm : tầng hầm dành cho khối văn phòng làm việc; tầng trệt dành cho các gallery hoạt động triển lãm và kinh doanh tranh  , lầu 1 là nơi trưng bày tranh tượng mỹ thuật; lầu 2 trưng bày các đồ gốm sứ, thủ công mỹ nghệ truyền thống  .

Ngoài các khu vực trưng bày cũ   , hiện nay  Bảo Tàng mở rông thêm khu trưng bày mới  có diện tích 1500 m vuông là nơi dành riêng để giới thiệu trưng bày các bộ sưu tập mỹ thuật  đặc trưng ,  khu trưng bày mới  này được xây dựng ngay cạnh Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, vẫn thuộc quần thể kiến trúc chung của bảo tàng.

Tháng 5 năm 2012 Bảo tàng đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố .

Một số hiện vật được trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ Thuật  Thành phố Hồ Chí Minh :

1/ Nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ

Tại phòng trưng bày nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ  gồm có các tác phẩm điêu khắc như các tượng  thần Ấn Độ Giáo và Phật Giáo có niên đại từ thế kỷ IV – XI

Tượng Thần Ấn Độ Giáo : gồm tượng  Vishnu, Surya, Laksmi, Uma, Ganesa, các nam thần và nữ thần có niên đại từ thế kỷ V-XI  với chất liệu sa thạch mịn

tượng Phật có niên đại từ thế kỷ IV – X, chất liệu gỗ bằng lăng và sa thạch mịn. Ngoài ra, còn có các hiện vật kiến trúc như các bức trang trí tạc nổi hình rắn Naga và chim thần Garuda, nam thần.

2/Nghệ thuật điêu khắc cổ Champa

Nghệ Thuật điêu khắc cổ Champa là một trong những nền nghệ thuật đặc sắc trong kho tàng di sản nghệ thuật Việt Nam , với nền văn hóa đa tôn giáo và đa dân tộc của Việt Nam , góp phần không nhỏ vào nền văn hóa đa dạng đó có văn hóa tôn giáo dân tộc Chăm  với nền văn hóa bản địa  lâu đời   ,  khi  các tôn giáo Ấn Độ du nhập vào Champa cũng giống như một số nền văn hóa trong khu vực Nam Á, Đông Nam Á, ngoài những ảnh hưởng tôn giáo của ấn Độ , người Chăm còn tiếp thu  cả nền văn hóa , phong tục và đặc biệt nghệ thuật kiến trúc , điêu khắc của Ấn độ  và   khi tiếp thu những thành tựu văn minh Ấn Độ  , người Chăm đã bản địa hóa  nhanh chóng và  sớm tạo nên những nét độc đáo hấp dẫn  đặc sắc  riêng của một phong cách Chăm trên  từng tác phẩm  điêu khắc  .

Trưng bày  tại bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh các bức  tượng  , phù điêu, bán phù điêu thần Ấn Độ Giáo, người, động vật như tượng Kinnara – vũ nữ thiên tiên, người cầu nguyện, phù điêu Dvarapala – thần Hộ Pháp, nữ thần, Kala – quái vật canh giữ đền đài, các hiện vật kiến trúc như đài thờ, trụ cửa, Bán phù điêu nam thần, sư tử. đều có niên đai từ thế kỷ thứ VII – XIV ,      với chất liệu chính là sa thạch thô , đất nung .

Điêu khắc cổ Champa có niên đại chung từ thế kỷ VII – XVI, với các phong cách Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VII – VIII), Hòa Lai (đầu thế kỷ IX), Đồng Dương (cuối thế kỷ IX), Trà Kiệu (thế kỷ X), Tháp Mẫm (thế kỷ XII – XIII), Po Klaung Garai (thế kỷ XIV – XVI).

3/Tượng nhà mồ Tây Nguyên – đầu thế kỷ XX

Điêu khắc nhà mồ và tượng nhà mồ ở Tây Nguyên là một mảng điêu khắc khá độc đáo trong nền nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Tục dựng nhà mồ, tạc tượng gắn bó với người dân Tây Nguyên từ trong lòng xã hội nguyên thủy. Một phần từ các quan niệm tín ngưỡng cổ sơ còn lại cho đến ngày nay.
Cũng chính vì nghệ thuật mang tính nguyên thủy luôn tự do không bị hạn chế của chức năng ma thuật nên tượng nhà mồ Tây nguyên khá đa dạng, đặc sắc và không như những dòng nghệ thuật điêu khắc khác, công cụ để làm nên những pho tượng nhà mồ cũng hết sức đơn giản, đơn thuần là những công cụ sản xuất thuần túy: rựa và dao.Có thể nói đây là một biệt tài của nghệ nhân Giarai và Bana. Theo quan niệm của người Giarai, Bana tượng thay thế người, nên những hình tượng được làm quanh nhà mồ không gì khác hơn là để phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của người chết. Phổ biến là tượng người ngồi khóc, tượng mẹ con, tượng đàn ông hoặc đàn bà khỏa thân, phụ nữ giã gạo…

Tượng nhà mồ ở Tây nguyên (cũng như tượng ở Châu Đại Dương và Châu Phi) đều phát triển theo chiều cao và trong phạm vi hình trụ, vì tất cả tượng đều làm theo thân cây. Ở đây nghệ nhân buộc phải dàn trải ý niệm của mình theo chiều cao và trong khuôn khổ tròn. Cũng do sự giới hạn đó của thân gỗ mà gờ dọc thành mũi, mắt, miệng thường được chạm chìm. Các pho tượng thường có lưng dài, chân ngắn không đúng tỉ lệ, thiếu chi tiết song đều thể hiện khái quát được đặc điểm chính của đối tượng, sự đồng nhất thiên nhiên với con người là sức truyền cảm mạnh mẽ của dòng nghệ thuật này. ( sử dụng nội dung bài trong trang Bảo Tàng Mỹ Thuật TPHCM )

4/Gốm Việt Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử , ngành gốm truyền thống Việt Nam vẫn phát triển và tồn tại . Dưới thời Lý (1010 – 1225), thời Trần (1226 – 1400), thời Lê (1428 – 1527)   nghề gốm phát triển rất mạnh và đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và cả kỹ thuật , các thợ gốm thời bấy giờ đã cho ra đời một loại gốm quý rất đẹp nổi tiếng trên thế giới đó là gốm  men ngọc  , gốm men nâu , gốm men rạn , gốm hoa lam ….  Kéo dài đến cuối thế kỷ XIX , đầu thế kỷ XX , các trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở Việt Nam như Bát Tràng , Thồ Hà , Phù Lãng , Hương Canh , Thanh Hóa , Bình Định , Biên Hòa , Thủ dầu Một  … tiếp tục cho ra đời những sản phẩm gốm hết sức đa dạng và phong phú từ kiểu dáng , chất liệu cho đến những đường net hoa văn được thể hiện trên gốm kết hợp với sự tinh tế điêu luyện và hài hòa  trong kỹ  mỹ thuật chế tác

Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh Trong phần trưng bày gốm Việt  đã giới thiệu một số dòng gốm nổi tiếng để người xem có thể thấy được sự phong phú đa dạng của gốm Việt Nam .

5/Mỹ thuật Nam Bộ thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XVII  vùng đất Nam Bộ – Việt Nam đã được hình thành  , sự gặp gỡ của những di dân người Hoa với người Việt và Khmer trên vùng đất Nam bộ. Đó cũng là cuộc gặp gỡ của những người nông dân, thợ thủ công, những kẻ lưu lạc vì chiến tranh , đành phải rời bỏ quê hương của mình  ,  tìm đến vùng đất mới này để tạo dựng cho mình một cuộc sống mới . Trong số những lớp người di dân đến vùng đất Nam Bộ ngoài những thương nhân có không ít thợ thủ công , những đóng góp của họ không nhỏ đó là mở mang và phát triển  các hoạt động thủ công nghiệp  . Với khối óc sáng tạo , đôi bàn tay khéo léo   vùng đất Nam bộ  thưở ban đầu khai mở tạo điều kiện cho việc phát huy tài năng , tay nghề của các thợ thủ công  , họ đã sớm nhận ra tiềm năng gốm sứ  và biết tận dụng những nguồn nhiên liệu dồi dào , đất sét tốt  cộng với cả kinh nghiệm để làm ra những sản phẩm gốm sứ đáp ứng nhu cầu của người dân Nam Bộ và kỹ thuật chế tác điêu luyện  đã tạo nên một phong cách đặc sắc trong văn hóa gốm sứ của Việt Nam và vùng đất Nam bộ.

Phòng trưng bày giới thiệu khái quát về mỹ thuật Nam Bộ qua các sưu tập đồ gốm, đồ gỗ, đồ đồng… ở Sài Gòn và các vùng phụ cận từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.

 

6/Mỹ thuật đồng Việt Nam thế kỷ XIX – XX

Nghề đúc đồng là một nghề thủ công có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và đặc biệt phát triển khá mạnh vào thế kỷ XIX.

         

     Theo thời gian, đồng chứng tỏ là một kim loại có nhiều ưu thế trong kỹ thuật chế tác cũng như sự bền chắc và trang trọng. Cùng với sự kết tinh của một bề dày kinh nghiệm, điêu luyện trong kỹ thuật, các nghệ nhân đã mang những cảm xúc thẩm mỹ và sự sáng tạo của mình hòa vào hiện vật. Tất cả đã mang lại cho những sản phẩm đúc đồng một sức sống mới với nhiều phong cách nghệ thuật thông qua các bộ sưu tập lư hương, tượng, ấm, bình… mang những đặc điểm truyền thống riêng biệt từng vùng tiêu biểu như: Ngũ Xã (Hà Nội), Phường Đúc (Huế), Tân Hòa Đông (Sài Gòn)…

 

     Các sản phẩm đồng mang một giá trị mỹ thuật cao trong việc tạo hình là những tư liệu quý góp phần vào việc nghiên cứu nghệ thuật và lịch sử của nghề đúc đồng thủ công Việt Nam.

 

     Bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng về loại hình, kiểu dáng, đồ án trang trí.  ( sử dụng nội dung bài trong trang BTMTTPHCM)

7/ Mỹ thuật đương đại:

trưng bày những tác phẩm (tranh và tượng) tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu, đại diện cho các xu hướng sáng tác của:

1.        Mỹ thuật giai đoạn từ đầu thế kỷ XX – 1975.

2.        Mỹ thuật giai đoạn từ 1975 – đến nay.

Thông tin cần biết

  • Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
    97A – Phó Đức Chính – phường Nguyễn Thái Bình – Quận 1 – TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (08) 38.294.441 – (08) 38.216.331
    Fax: (08) 38.213.508
    Web:   www.baotangmythuattphcm.vn
    Email:  btmthcm@hotmail.com
  • Giờ mở cửa
    Bảo tàng mở cửa từ 9h00 đến 17h00 hàng ngày, nghỉ ngày thứ hai hàng tuần.
  • Vé vào cửa
    * Người lớn: 10.000 đồng/1 người.
    * Trẻ em: 3.000 đồng/1 người.
    * Học sinh, sinh viên, quân nhân, các đối tượng chính sách tham quan tập thể, có chế độ miễn hoặc giảm.
  • Hướng dẫn khác
    * Có hướng dẫn, thuyết minh.
    * Không được quay phim, chụp ảnh trong các phòng trưng bày.
  • Nội quy tham quan
    * Mua vé tại phòng bán vé và xuất trình tại bàn trực.
    * Không được sờ vào hiện vật và tác phẩm trưng bày, mọi hư hỏng do khách gây ra phải chịu trách nhiệm bồi thường đúng giá trị hiện vật.
    * Không mang vũ khí, các chất dễ cháy nổ vào Bảo tàng, hành lý mang theo phải gửi vào tủ hành lý theo đúng quy định.
    * Không được chụp ảnh, quay phim các hiện vật trưng bày khi chưa được phép của Bảo tàng.
    * Giữ vệ sinh chung, không mang thức ăn, nước uống vào các phòng trưng bày.

*Theo thông tin từ cô nhân viên soát vé của bảo Tàng : một quý ( 4 tháng ) Các hiện vật trưng bày trong bảo tàng sẽ được thay đổi trưng bày và sắp xếp lại .

Mời các bạn xem :

 

 

Khanhhoathuynga

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

Advertisements

Read Full Post »

DI SẢN NGHỆ THUẬT CHĂM

Phạm Ngọc Tới

Cách đây mười năm (1999), khu thánh địa của người Chăm ở Mỹ Sơn, thuộc tỉnh Quảng Nam, đã được công nhận là di sản văn hoá thế giới. Sự kiện này, ngoài những lợi ích cụ thể về mặt kinh tế địa phương và du lịch ra, còn có một ý nghĩa quan trọng khác, đứng về mặt văn hoá, nghệ thuật. Đó là : những di sản văn hoá, nghệ thuật của người xưa để lại không phải là của riêng của một quốc gia, một dân tộc, hay một cộng đồng văn hoá nào, mà là của chung của nhân loại, do những giá trị nhân bản phổ biến của chúng.

Người ta có thể đặt câu hỏi, thế còn những khu di tích lịch sử và nghệ thuật khác của người Chăm thì sao ? Bởi chúng cũng đáng được chiêm ngưỡng, và đáng được bảo tồn lắm chứ : Đồng Dương, Trà Kiệu, Chánh Lộ, Tháp Bánh Ít, Tháp Mắm, Hoà Lai, Po Nagar, Po Klaung Garai, v.v. ? Nếu UNESCO đã ” công nhận ” Mỹ Sơn, thì lẽ ra cũng nên ” công nhận ” cả những di tích này một thể, nếu thật sự muốn bảo tồn một di sản nghệ thuật quý báu của nhân loại.

Bởi những dấu tích văn hoá, nghệ thuật thuộc những thời đại xa xưa của một dân tộc, là hiện thân của cái dĩ vãng của dân tộc đó, đồng thời cũng là một phần dĩ vãng của nhân loại. Con người cần cái dĩ vãng đó để nhìn lại mình và kẻ khác. Nó như một tấm gương, nhìn vào đó người ta thấy được lịch sử, thấy được những nét nhân bản, hay không nhân bản, trong một nền văn hoá, nghệ thuật, và từ đó nhận ra được những cái đẹp phổ biến, mà con người dù ở thời đại nào, thuộc nền văn hoá nào, cũng đều có thể cảm thụ được.

Tượng thần ở Đồng Dương Quảng Nam (thế kỷ X)

Tượng thần ở Đồng Dương Quảng Nam (thế kỷ X)

Nụ cười an nhiên, bình thản, trên tượng thần Siva ở Tháp Bánh Ít của người Chăm (thế kỷ XI, Bình Định), hoặc trên tượng vua Jayavarman VII, ở Kompong Svay, của người Khơ-me (phong cách Bayon, thế kỷ XII, Cam-pu-chia), có thể tìm thấy lại được trên nụ cười của bà hoàng hậu Ai Cập, ở một bức phù điêu cách đây 3100 năm, hoặc nữa, trên bức hoạ La Joconde nổi tiếng của Leonardo da Vinci (thời Phục Hưng Ý, đầu thế kỷ XVI). Phải chăng, cái đẹp của tâm hồn, của tình cảm con người, của đức tin, toát ra từ những nụ cười ấy, thông qua một ngôn ngữ nghệ thuật sống động, chính là cái nguyên nhân đã chinh phục được sự nhạy cảm của tâm hồn và khiếu thẩm mỹ của người xem ?

Tư thế và nụ cười an nhiên và bình thản của Siva, Tháp Bánh Ít, Bình Định (thế kỷ XI)

Tư thế và nụ cười an nhiên và bình thản của Siva, Tháp Bánh Ít, Bình Định (thế kỷ XI)

Nghệ thuật, đạt tới một trình độ nào đó, có một sức truyền cảm mãnh liệt, vượt qua mọi ranh giới văn hoá và tín ngưỡng.

Đứng trước những chiếc tháp Chăm uy nghiêm, hùng vĩ, hay đứng trước một pho tượng vũ nữ Trà Kiệu mềm mại, uyển chuyển, dù là người Á đông, hay là người Âu, Mỹ, bạn đều có thể có được những cảm xúc thẩm mỹ sâu sắc. Nghệ thuật Chăm, ở vào những thời kỳ rực rỡ của nó, có một sức thuyết phục và một khả năng truyền cảm mạnh mẽ, đó là dấu hiệu của những nền nghệ thuật lớn.

Vậy mà, dân tộc Chăm, người không đông, đất không rộng, lịch sử của họ cũng không phải là có từ lâu đời, vẻn vẹn tất cả kể từ lúc lập nước, thế kỷ II (192, theo Mã Đoan Lâm, sử gia Trung Quốc – thế kỷ XIII, và nhiều giả thuyết của các học giả tây phương), cho đến lúc mất nước, thế kỷ XIX (1832) được đúng 1640 năm. Lịch sử nghệ thuật của họ lại còn ngắn ngủi hơn thế nữa, ít ra nếu chỉ tính từ những thời kỳ hưng thịnh (bắt đầu từ thế kỷ VII), với những tượng, tháp đầu tiên ở Mỹ Sơn, cho đến lúc suy vong (thế kỷ XV-XVI), với các phong cách Yang Mum, Po Rome, Po Klaung Garai, một phong cách nghệ thuật bắt đầu bị thoái hoá cùng với Ấn Độ giáo đang đi vào giai đoạn suy đồi.

So với lịch sử nghệ thuật của các nền văn minh lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, hay lịch sử nghệ thuật Kitô giáo ở Âu châu, chẳng hạn, thì đương nhiên không thể nào so sánh được. Song, về mặt kiến trúc và nhất là về điêu khắc, nghệ thuật Chăm đã đạt đến một trình độ ngang bằng với những nền nghệ thuật lớn, ở quy mô thế giới cũng như ở quy mô vùng Đông Nam Á, ít ra trên một vài khía cạnh : Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Java, Khơ-me, nghệ thuật roman (Kitô giáo Âu châu, thời trung cổ), v.v.

Nhìn vào nghệ thuật điêu khắc Chăm, người ta thấy rằng, nền nghệ thuật này đã có được một số tác phẩm có giá trị từ thế kỷ VI – VII đến thế kỷ XII – XIII. Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng Dương, là những cái nôi tập trung nhiều di vật nhất.

Dân tộc Chăm, thuộc ngữ hệ Nam đảo, và theo giả thuyết của các học giả phương tây, thì thiên di từ đảo Borneo, thuộc Indonesia ngày nay, từ vài thế kỷ trước công nguyên đến vùng đất mà sau này trở thành nước Lâm Ấp (192), phía bắc giáp với quận Nhật Nam, phía nam giáp với nước Phù Nam, phía tây giáp nước Chân Lạp. Năm 192, người Lâm Ấp (tức tổ tiên trực tiếp của người Chăm) tự giải phóng được khỏi ách đô hộ của nhà Hán, và lập ra nước Lâm Ấp, đến thế kỷ V thì mới trở thành vương quốc Chămpa.

Người Chăm chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ bắt đầu từ thế kỷ IV-V. Tuy nhiên, ngoài nền văn hoá gốc Nam đảo của mình ra, người Chăm trên đất nước Chămpa cũng còn chịu nhiều luồng ảnh hưởng khác nữa : văn hoá Sa Huỳnh, Óc Eo, từ phía nam ; văn hoá Đông Sơn, và văn hoá Trung quốc, từ phía bắc.

Tượng thần Siva trong tư thế múa, Phong Lê, Đà Nẵng (đầu thế kỷ X)

Tượng thần Siva trong tư thế múa, Phong Lê, Đà Nẵng (đầu thế kỷ X)

Trên cơ sở kinh Veda của Bà La Môn giáo, Ấn Độ, (thế kỷ XVI-V tr. Kitô), người Chăm thờ Brahmâ, nguồn gốc của vũ trụ, và là vị thần đứng trên hết tất cả các vị thần khác. Brahmâ là thể thống nhất của ba vị thần, ba ngôi (giống như 3 ngôi trong Kitô giáo) : Brahmâ, thần Sáng tạo, Visnu, thần Bảo tồn, và Siva, thần Huỷ diệt. Các tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ (Tam Kỳ, Quảng Nam), tháp Dương Long (Bình Định), đều là những bộ ba tháp thờ cả ba vị thần này ở cùng một nơi.

Song, nét đặc thù trong tín ngưỡng của người Chăm, so với các dân tộc vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá Ấn Độ, là họ chủ yếu thờ thần Siva, và do đó trong các tượng thờ, tượng Siva có nhiều nhất và xuất hiện dưới nhiều hình thức nhất. Thánh địa Mỹ Sơn, được bắt đầu xây dựng từ thế kỷ IV-V bởi vua Bhadravarman, chính là nơi dành riêng cho các vua chúa để thờ vị thần này.

Hiện tượng nghệ thuật điêu khắc Chăm không khỏi làm cho người ta nghĩ đến những nền nghệ thuật của các dân tộc theo Ấn Độ giáo và Phật giáo ở vùng núi Hy Mã Lạp Sơn, và cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ : Népal, Tây Tạng, v.v. Các tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là các bức tượng bằng kim loại và tranh thờ của họ, đã làm cho thế giới phải ngạc nhiên.

Đó là những nền nghệ thuật tôn giáo, trong đó tất cả những biểu hiện nghệ thuật đều có nội dung tôn giáo và nhằm phục vụ tôn giáo (Bà La Môn giáo, Ấn Độ giáo và Phật giáo). Những truyện tích, trong các tôn giáo tự chúng đã có tính chất đạo lý, và tính chất văn học, nghệ thuật cao, cho nên chúng luôn luôn là những nguồn cảm hứng phong phú, những động cơ thúc đẩy, tạo nên những tác phẩm có sức thuyết phục, và sức truyền cảm mạnh mẽ. Thêm vào đó là đức tin, là tình yêu, là lòng đam mê của những nghệ nhân thực hiện các tác phẩm ấy.

Phải chăng, vì mục đích của tôn giáo là đem đến lời giải đáp cho những nỗi đau khổ, và những khát vọng, của con người, cho nên không lấy gì làm lạ là nghệ thuật tôn giáo trước hết là một nền nghệ thuật giàu tính chất đạo lý, giàu tính dân gian và nhất là giàu óc tưởng tượng ?

Óc tưởng tượng ấy được thể hiện từ ngay trong cách cụ thể hoá các thần linh, với những hình thức biến tướng ngoạn mục và phong phú. Nếu ở trong nghệ thuật điêu khắc và tranh thờ Ấn Độ giáo và Phật giáo của người Népal, có các cặp thần linh mà địa vị và chức năng rất huyền bí, như cặp Hevajra và Nairàtmà, Acala và Dvesavajri, Cakrasamvara và Vajravàràhì ; hoặc như các nữ thần Vasudhàrà, Durgà, Kàlì ; các thần voi (Ganesa), thần chim (Garuda) ; các tượng Phật Thích Ca, tượng Bồ tát, và các đồ hình Mandala, v.v., thì trong nghệ thuật điêu khắc của người Chăm, về mặt Ấn Độ giáo, các biểu hiện cụ thể chỉ giới hạn ở các tượng thần Siva, Visnu, Ganesa, Garuda, v.v. còn về mặt Phật giáo, thì chỉ có tượng Phật, và tượng nhà sư.

Chiếc Linga ở Trà Kiệu (thế kỷ X)

Chiếc Linga ở Trà Kiệu (thế kỷ X)

Song, tác phẩm nổi bật và độc đáo nhất trong nghệ thuật tôn giáo Chăm, là chiếc Linga, biểu tượng được cách điệu hoá của sinh thực khí nam trong tín ngưỡng phồn thực của các cư dân nông nghiệp xưa. Có giả thuyết cho rằng nó có thể có nguồn gốc từ Ấn Độ, rồi theo các nhà tu hành người Ấn Độ (Bà La Môn giáo, Ấn Độ giáo, hoặc Phật giáo) xâm nhập vào vương quốc Chămpa vào đầu công nguyên, rồi truyền sang cả nước Đại Việt (biểu tượng Linga có mặt ở một số chùa cổ Việt Nam). Ngoài ra, còn có tượng các hàng vú, các thú vật, v.v. Song, chiếm tỷ lệ quan trọng nhất, là tượng vũ nữ. Các tượng này thường được dùng để trang trí các bộ phận kiến trúc của tháp : nền, bệ, v.v. Hiện tượng này nói lên vai trò hàng đầu của nhạc và múa trong văn hoá và tôn giáo của người Chăm. Thần Siva thường được thể hiện trong động tác múa. Ngoài ra, còn có cả tượng của những người dân thường (như tượng Người đàn ông đóng khố, thế kỷ VI, nhưng đây chắc cũng là một “nhân vật”, có thể là một đô vật, trong lễ hội của người Chăm.

Nói tóm lại, các tượng vũ nữ, tượng hàng vú, tượng thú vật, có thật, hay thần thoại, đều là những tác phẩm có tính chất dân gian rõ rệt. Tính chất đó được thể hiện không phải bằng những nét châm biếm, hài hước, hoặc bằng những nét chạm khắc khoẻ mạnh, mộc mạc, như trong nghệ thuật điêu khắc gỗ ở các đình chùa Việt Nam thời Lý, Trần, Lê, song nó cũng toát ra được một sức sống dồi dào, một niềm hưng phấn, thể hiện bằng những nhịp điệu và hình khối sinh động.

Những biểu tượng như chiếc linga, hay vũ nữ, đều là những đề tài được thể hiện dưới muôn hình dạng, được cách điệu hoá đến mức trừu tượng, song ở mức độ nào thì người ta cũng nhận biết ra ngay, và chấp nhận sự cách điệu đó một cách dễ dàng, một khi những vật thể, hay những tín ngưỡng đó là những gì quá quen thuộc, và trở nên một đề tài có tính chất dân gian.

Hiện tượng này càng cho ta thấy, là ở đằng sau nghệ thuật bao giờ cũng có cả một nền văn hoá. Ở đây chủ yếu là tín ngưỡng, nhưng trên cái nền phông tín ngưỡng ấy, là cả một cõi nhân gian có thật và đầy sự sống : chiếc linga với ý nghĩa biểu tượng phồn thực và tính dục, những vũ nữ điệu nghệ, duyên dáng, những tràng vú đầy khêu gợi, những thú vật sinh động. Ngay cả thần Siva cũng nhảy múa như người thường, với tất cả sự khêu gợi tính dục ! Trong nghệ thuật tôn giáo của người Ấn Độ, Népal, hay Tây Tạng, ta cũng đều bắt gặp hiện tượng này : lồng trong nghệ thuật, là văn hoá (có, hay không có tôn giáo), và sự sống.

Tuy nhiên, trong trường hợp các nền nghệ thuật tôn giáo, như nền nghệ thuật Chăm và các nền nghệ thuật kể trên, sự thôi thúc nội tâm mãnh liệt của người nghệ sĩ, động cơ khiến cho họ thực hiện được những kiệt tác về mặt nghệ thuật, không thể nào không có nguồn gốc từ một đức tin mãnh liệt .

Có lẽ cũng vì lý do ấy, mà khi Ấn Độ giáo suy tàn ở vương quốc Chămpa vào những thế kỷ XIII, XIV và XV, thì nghệ thuật điêu khắc Chăm ở vào các thời kỳ này cũng đều mang nặng dấu hiệu của một sự suy thoái cả về nội dung lẫn hình thức ?

Ngày nay, hầu hết các tác phẩm điêu khắc Chăm đều được chăm nom kỹ càng trong các viện bảo tàng trên khắp thế giới. Điều này, về một mặt nào đó, là một điều may mắn, đáng mừng.

Tuy nhiên, người ta cũng không khỏi ước mong rằng, một ngày nào không xa, khi những ngôi đền tháp Chăm nằm trải dài trên dải đất miền trung của nước ta được bảo quản chu đáo hơn, và trở thành những viện bảo tàng đích thực, mở rộng cho khách du lịch thập phương, thì những tác phẩm nghệ thuật của người Chăm, hiện lưu lạc ở khắp mọi nơi, thi thoảng sẽ có dịp được đưa về đây “trưng bày” tại hiện trường, trong chính môi trường cũ của chúng, là những ngôi đền tháp , lúc đó sẽ không còn là những nơi hoang phế nữa.

TÓM TẮT

Những dấu tích văn hoá, nghệ thuật thuộc những thời đại xa xưa của một dân tộc, là hiện thân của cái dĩ vãng của dân tộc đó, đồng thời cũng là một phần dĩ vãng của nhân loại. Con người cần cái dĩ vãng đó để nhìn lại mình và kẻ khác. Nó như một tấm gương, nhìn vào đó người ta thấy được lịch sử, thấy được những nét nhân bản, hay không nhân bản, trong một nền văn hoá, nghệ thuật, và từ đó nhận ra được những cái đẹp phổ biến, mà con người dù ở thời đại nào, thuộc nền văn hoá nào, cũng đều có thể cảm thụ được.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »