Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘di tích’

Rồng đá, rùa đá bị chặt đầu: Hé lộ những ân oán lịch sử
Có những lời nguyền lịch sử tưởng mãi vùi sâu vào quên lãng. Nhưng có những phát hiện ngẫu nhiên trong lòng đất lại hé lộ những ân oán qua các vụ chặt đầu linh vật (?!).

Gần đây, khi thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản thế giới, khi kiểm lại kho báu di sản, các nhà khảo cổ mới thấy ngoài tòa thành đá đẹp nhất Đông Nam Á, các hiện vật phát lộ ngày một nhiều theo các cuộc khai quật khảo cổ, trong số đó có một cặp rồng đá lớn và độc nhất vô nhị, nhưng lại… mất đầu!

Rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ.

Đôi rồng đá này được dân địa phương tìm thấy cách đây 74 năm khi một người nông dân xứ Thanh đang cày ruộng phát hiện được. Nơi tìm thấy rồng đá là giữa trung tâm Hoàng thành của thành Tây Đô này. Nhưng lạ một nỗi, cả đôi rồng đều bị chặt đầu. Không thể là một sự ngẫu nhiên. Từ bấy đến nay, quanh đôi rồng đá có bao sự tích truyền miệng.

Nhiều phóng viên đã lặn lội về tận nơi tìm hiểu thực hư. Nhưng có lẽ mỗi một người đều được giải đáp theo một cách.

Phải chăng rồng bị chặt đầu là do một nhóm người đập nát đầu rồng để tìm ngọc quý giấu trong đôi mắt? Chẳng thể có lý, khi mà chưa một rồng đá nào ở Việt Nam lại được yểm vàng bạc châu báu trong đôi mắt cả, kể cả những đôi rồng đá ở điện Kính Thiên và đền An Dương Vương. Mà những tay ăn trộm cổ vật thì quá khôn ranh, phải tìm đến đúng địa chỉ có cổ vật. Đó là các loại mộ táng, nhất là loại mộ gạch cách đây gần 2.000 năm có các đồ tùy táng quý, kể cả vàng, ngọc. Phần nhiều những mộ này khi khai quật khảo cổ thì đều đã bị đào trộm từ xa xưa mà dấu vết còn nguyên cả một ngách đào từ đỉnh gò mộ xuyên thẳng xuống.

Có thuyết lại cho rằng là do dân làng Xuân Giai ở ven cổng Nam tin rằng, làng hay bị cháy là do đầu rồng quay về hướng làng mà phun lửa, nên phải chặt đầu rồng? Cũng không có khả năng này, vì nếu thế thì nhiều ngôi làng sẽ bị cháy và nhiều rồng đá bị chặt đầu. Mà xem ra, chuyện rồng bị chặt đầu là chuyện hy hữu và chuyện rồng phun lửa đốt làng cũng không phải là tích chuyện phổ biến trong dân gian. Vả lại, chuyện chặt đầu một linh vật như thế, hẳn không phải người trong một làng mà dám làm như vậy.

Truyền thuyết cũng chỉ là truyền thuyết mà nhiều khả năng là truyền thuyết mới có sau khi rồng được đưa lên mặt đất, khó có thể coi là sự thật lịch sử. Mà sử cũ cũng không có dòng nào nói về chuyện chặt đầu rồng hiếm có này.

Đôi rồng đá mang đặc trưng của rồng thời Trần-Hồ, với thân hình uốn khúc, có bờm uốn lượn, bốn chân, ba móng. Chiều dài toàn thân khoảng hơn 3 mét. Rồng được đặt ở thềm bậc của cung điện, nhưng là cung điện nào trong thời đại ngôi thành đá này còn là chốn kinh đô? Cũng còn phải chờ thêm các cuộc khai quật mới trả lời được. Chỉ biết rằng, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì khi đó, trong Hoàng thành có lầu son, gác tía điệp trùng như: điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ, cung Phù Dực, Đông Cung, Thái Miếu. Đôi rồng đá khi đó là biểu tượng của một triều đại ngắn ngủi, kéo dài có 7 năm (1400-1407) dưới sự trị vì của Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Một thời điểm có nhiều cải cách cấp tiến như sử dụng tiền giấy, chế độ hạn nô, hạn điền, thi cử, chọn hiền tài…, nhưng cũng là thời điểm đầy những sự kiện bi thương. Lòng người chưa yên, phương Bắc nhà Minh đang rình rập.

Đôi rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ, Thanh Hóa.

Có thể đôi rồng đá bị chặt đầu ngay sau khi triều đại Hồ Hán Thương bị sụp đổ. Ai là người oán ghét triều đại này đến nỗi “giận cá chém thớt”, chém luôn cả biểu tượng của một triều đại? Mọi chuyện dường như có nguyên do từ cuộc “chính biến” năm Kỷ Mão 1399 tức là trước khi Hồ Quý Ly lên ngôi một năm. Khi đó, Thượng tướng quân Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Ly, nhưng việc bị bại lộ (về sau Trần Khát Chân được Vua Lê Thánh Tôn phong làm Trung thần Nghĩa sĩ). Ông bị hành hình trên núi Đốn Sơn cạnh thành nhà Hồ. 370 người gồm các tướng theo ông và gia quyến bị giết đến nỗi mà thư tịch ghi lại: “con gái bắt làm nô tỳ, con trai từ 1 tuổi trở lên bị chôn sống hoặc bị dìm nước”. Cuộc trả thù còn kéo dài vài năm nữa. Đó cũng là một dấu lặng buồn của lịch sử giống như  Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cũng bị “tru di tam tộc” trong vụ án oan Lệ Chi Viên, sau vụ án Trần Khát Chân 43 năm.

Những người dám cả gan chặt đầu một linh vật, biểu tượng triều đại, có thể là những người thoát được cuộc trả thù năm Kỷ Mão. Họ đã tìm về mảnh đất còn lưu dấu hình bóng một vương Triều, để chặt đầu rồng và có những lời nguyền lịch sử. Sau đó, lịch sử đã sang trang. Thành nhà Hồ đã trở thành phế tích, đôi rồng đá chứng nhân của lịch sử cũng bị vùi trong lòng đất dễ đến hơn 500 năm.
Những tưởng rồng đá bị chặt đầu đã là chuyện lạ, nhưng ngay cả rùa đá cũng bị chặt đầu. Có lẽ trong tâm thức người xưa, hai con vật thuộc diện “tứ linh” (Long, Ly, Quy, Phượng) mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, cho một sự suy thịnh của một vương triều. Vì thế, chém đầu các con vật thiêng này gần như là một cuộc đòi nợ “ân oán” nào đó mà sử sách không ghi lại một dòng nào, nhưng chứa đầy những thông điệp lịch sử không thành văn.

Một tượng rùa đá khá to sẽ mãi mãi chìm trong lòng đất và mang theo bao uẩn khúc của lịch sử, nếu như vào ngày 15/11/2004, các chiến sĩ thuộc Đơn vị E600, Bộ Tư lệnh Cảnh Vệ đã phát hiện ở độ sâu 1,3 m trong lúc đào móng xây dựng doanh trại ở cạnh vườn Bách Thảo Hà Nội. Rùa đá kích thước khá lớn: chiều dài mai rùa đã là 2,01 m. Chiều rộng mai là 1,58 m, chiều cao thân rùa là 43 cm. Tượng rùa là phần bệ để đỡ một tấm bia đá bị mất từ trước.  Một chân đế phẳng có độ dày khoảng 27 cm làm nền cho tượng. Phần thân rùa còn nguyên vẹn, mai có hình gần bầu dục, hơi cong vồng.

Rùa đá bị chặt đầu phát hiện ở gần vườn Bách Thảo, Hà Nội.

Đáng ngạc nhiên là tượng rùa bị chặt đầu và chặt một bên chân sau. Vẫn còn thấy 3 chân còn lại, có 5 móng nhọn sắc, quặp xuống và phần đuôi tròn uốn lượn, nằm vắt lên mai rùa. Rùa bị chặt đầu và chân một cách có chủ ý, vết chặt còn gọn và sắc. Người chặt đầu rùa chắc là phải có ân oán gì đó sâu nặng lắm mới “ra tay” một cách ghê gớm nhường vậy?!.

Đi tìm niên đại của rùa Bách Thảo là một công việc khó khăn, vì rùa đã bị mất đầu, vốn là bộ phận lưu dấu nhiều họa tiết tạo hình đọng lại dấu ấn thời gian. Nhưng qua so sánh với 82 tấm bia ở Văn Miếu khắc tên của 130 vị Tiến sĩ, có thể thấy rùa đá này giống với rùa của bia năm 1466 và 1478 ở đặc điểm chân có 5 móng thò ra ngoài, mai rùa hình bầu dục, cong vồng, phần đuôi cong uốn lượn… Rùa Bách Thảo cũng có nét giống với rùa trên bia đá Lam Kinh, Thanh Hóa. Vì thế, có thể đoán định “ngày sinh” của rùa vào khoảng thời Lê Sơ là hợp lý. Đi tìm lý do nào khiến rùa bị chặt đầu đã hấp dẫn các nhà khảo cổ để giải tỏa nỗi oan khiên, dễ đến khoảng 500 năm cho rùa.

Vị trí rùa được tìm thấy chỉ cách điện Kính Thiên thời Lê khoảng 700 m, liệu có liên quan gì đến Hoàng thành Thăng Long? Đây cũng là địa giới của thôn Khán Sơn xưa, bị phá từ cuối thế kỷ XIX để làm vườn Bách Thảo. Trước đây thôn có một ngôi chùa tên là Khán Sơn tự, có mặt trên bản đồ Hồng Đức từ năm 1490. Liệu đây có phải là rùa đội bia đá chùa Khán Sơn?

Vậy rùa đá có tội gì mà bị chặt đầu? Có lẽ câu trả lời nằm ở chỗ phải có những người ghét cay ghét đắng nhà Lê mới tìm đến để trả thù biểu tượng trường tồn của triều đại này. Họ hoặc con cháu họ bị oan khiên lớn lắm trong thời Lê thì mới tìm về để chặt đầu một vật vô tri vô giác là tượng đá?.

Thực ra, các nhà khoa học còn biết đến 2 con rùa đá bị chặt đầu nữa nằm ngay ở trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đó là năm 1976, tìm được trong lòng hồ Văn Miếu tượng rùa đá có chiều dài 1,15 m, cũng bị chặt đầu. Năm 1990, lại tìm thêm được một rùa đá nữa dài 1,36 m và đầu cũng bị chặt. Hai con rùa đá này trên lưng vẫn còn được khoét rãnh để đặt bia. Rõ ràng đây là những rùa đá đội bia tiến sĩ. Tiếc rằng bia không còn nữa, vì thế khó đoán niên đại rùa.
Việc khai quật được thêm 2 rùa đá bị chặt đầu ở Văn Miếu, đã cho thấy xưa nay nhiều người quan niệm Văn Miếu chỉ có 82 tấm bia còn nguyên đặt trên lưng 82 con rùa là không chính xác.

Thực ra nếu tra cứu thư tịch cổ, số năm có khoa thi, số năm tổ chức khắc bia thì con số bia và rùa còn nhiều hơn thế. Trải bao năm tháng, bia và rùa cũng tản mát các nơi. May mà 2 rùa đá bị chặt đầu vớt được dưới hồ Văn Miếu, mới nâng tổng số rùa đá lên đến 84 con. Ngày nay, đến Văn Miếu, khách tham quan có thể thấy có 2 con rùa đá để ngay cạnh cổng đi vào khu nhà bia. Vẫn đội mưa nắng vì không có mái che như 82 con rùa đá khác. Cũng một chút ngậm ngùi cho số phận đôi rùa này, người đời giận nhau mà rùa bị chém đầu, nay lại còn không được nằm trong nhà bia như đồng loại.

Bia thì bị vứt, cho đến nay không tìm được. Rùa đội bia cũng mang vạ lây. Có thể đây là cách trả nợ ân oán giữa các triều đại. Khi mà người ta còn thấy một số bia Văn Miếu cũng bị đục bỏ một số chữ, thường là có tên các chúa Trịnh và một số tên các vị tiến sĩ. Một giả thuyết cho rằng khi Vua Minh Mạng nhà Nguyễn Bắc tuần năm 1821, đã ra lệnh đục những chữ liên quan đến chúa Trịnh. Chắc là vị vua này vẫn còn nhớ đến thuở Trịnh – Nguyễn phân tranh thuở nào hay cho rằng chúa Trịnh không thể sắp ngang hàng với vua Lê, kể cả trên bia đá?
Vì thế chuyện rùa bị chặt đầu, nhiều khả năng liên quan đến các ân oán triều đại. Có thể chính rùa đá Bách Thảo cũng là một trong số nhiều rùa vốn đội bia tiến sĩ Văn Miếu, vì thời thế đổi thay mà phải chịu cụt đầu và lưu lạc tới tận thôn Khán Sơn xưa.

Trong tương lai, có thể khảo cổ học sẽ phát hiện ra các tượng rùa đá nữa, vốn là linh vật đội bia Văn Miếu, bị chặt đầu và còn vùi trong đất, vì số lượng bia Văn Miếu vẫn còn chưa đủ so với sử sách ghi lại. Còn nhiều vấn đề ân oán nữa mà chính sử  không ghi, nhưng một điều  cho thấy rằng việc chặt đầu các linh vật như rồng đá, rùa đá cũng là những thông điệp lịch sử quan trọng để nghiên cứu sự thăng trầm của lịch sử cũng như bài học cho các thế hệ sau.

* Ảnh minh họa của Viện Khảo cổ học

Theo PGS.TS Trịnh Sinh (An Ninh Thế Giới)

 

 

 

Read Full Post »

DI TÍCH ĐÀI KỶ NIỆM

Di tích Đài Kỷ niệm (Đài chiến sĩ) được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 1288/VH-QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.

Đài Kỷ niệm nằm ở trung tâm thành phố Biên Hòa, ngay kế khu trung tâm văn hóa Quảng Trường tỉnh, nằm giữa hai trục lộ: Quốc lộ I và Quốc lộ 1K. Công trình này được chính quyền thực dân Pháp xây dựng vào năm 1923 với tên gọi “Đài Kỷ niệm người Việt trận vong”. Trước đây, Đài thuộc làng Bình Trước, tổng Phước Vinh Thượng, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Lối kiến trúc của Đài mô phỏng theo kiểu Ngọ môn Huế thời nhà Nguyễn. Đài Kỷ niệm là một công trình đặc sắc, mang màu sắc dân tộc, do hai giáo sư người Pháp là ông Robert Balick và bà Balick thiết kế và trực tiếp hướng dẫn thợ và học sinh trường Bá nghệ Biên Hòa thi công.

( Bệ chân đài được tôn cao so với bề mặt chung quanh. Hai trụ đá được tôn cao, trên mỗi trụ được chạm khắc với đường nét tinh tế. Phần nối hai trụ với những mảng trang trí tinh tế. Trên thân của trụ đá có câu đối chữ Hán với nội dung:”Dũng sĩ trí thân phò Tổ quốc danh bi biểu trụ vạn cổ chấn lưu phương. Chinh hồn toàn tiết phân hương quan thu cúc xuân hoa truyền điệt tử” được thực hiện công phu bằng gốm với màu sắc hài hòa. Tấm bia đá khắc chữ Hán ghi tên những con người ở Biên Hòa đã bỏ mạng vì nước Pháp. Họ là những người dân thuộc địa bị bắt lính và chiến đấu trên những mặt trận xa quê hương mà thực dân Pháp chủ mưu. Bên chân hai trụ có hình tượng lân chầu bằng gốm. Bốn góc chân đài có hình ảnh của tượng rồng làm bằng gốm men xanh Biên Hòa tỏa xuất ra bốn hướng.)

Từ xa ta có thể nhìn thấy hai trụ cao của đài được dán bằng gạch gốm men xanh đen với hai câu đối

“Dũng sĩ tri thân phò tổ quốc danh bi biểu trụ vạn cổ chấn lưu phương.

Chinh hồn toàn tiết phân hương quan thu cúc xuân hoa thiên niên truyền điệt tử”

Mỗi đỉnh trụ đều cẩn búp sen bằng sành với ý nghĩa mong người đã khuất được siêu thăng cõi Phật. Giữa hai búp sen là hình mặt trời, dưới có 3 chữ Hán “Chiến sĩ đài”. Tấm bia đặt trong đài khắc 4 chữ Hán sắc xảo “vị quốc vong khu” để tưởng nhớ người bản xứ bỏ mình vì “Mẫu quốc đại Pháp”. Chính quyền thuộc địa xây dựng đài để làm gì? Những oan hồn mà tên họ khắc trên bia đá kia là ai? Nguyễn Ái Quốc trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã vạch rõ sự mị dân một cách lố bịch của chính quyền thuộc địa Pháp về sự kiện “Những ngày hội ở Biên Hòa” khi chúng tổ chức khánh thành “Đài kỷ niệm người Việt trận vong” ngày 21.1.1923. Theo bài diễn văn của công sứ Pháp đọc tại buổi lễ thì tên tuổi những người được tạc trên bia đá kia là “Những thanh niên bản xứ tình nguyện rời bỏ quê hương lên đường sang Pháp để chiến đấu bảo vệ “mẫu quốc” và hiến thân cho sự nghiệp cao cả ấy”. Con số thanh niên Việt Nam “tự nguyện hiến thân” ấy là bao nhiêu? Trong chương “Thuế máu” của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết “Tổng cộng có bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa”…

Để lấy tiền bỏ vào quỹ xây dựng “Đài kỷ niệm người Việt trận vong” của tỉnh Biên Hòa, Ban Tổ chức ngày hội đang tích cực chuẩn bị một chương trình tuyệt diệu. Người ta bàn tán sẽ có bao nhiêu là yến tiệc giữa vườn theo kiểu Anh, nào là chợ phiên, nào là khiêu vũ ngoài trời…Tóm lại, sẽ có nhiều và đủ thứ trò chơi để ai ai cũng có thể góp phần làm việc nghĩa một cách thú vị nhất đời…Ngày 21 tháng 11 tới, chúng ta hãy đi Biên Hòa, chúng ta sẽ vừa được dự những hội hè linh đình vui tươi, vừa được dịp tỏ cho những gia đình tử sĩ Việt Nam ở Biên Hòa thấy rằng chúng ta tưởng nhớ đến sự hy sinh của con em họ.

Thật là thời đại khác

Nhưng phong tục kỳ quái làm sao!

Người khẳng định “Như thế là trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm hai tội ác với nhân dân”.

Đài kỷ niệm ở Biên Hòa vẫn còn đó, sừng sững giữa không gian và thời gian. Ba phần tư thế kỷ khói lửa ngập tràn, những kẻ thù xâm lăng Pháp, Nhật, Mỹ lần lượt ra đi sau thất bại nhục nhã ê chề. Đài kỷ niệm ở Biên Hòa không chỉ là tấm bia sâu lắng về những người đã chết. Qua Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã biến nó thành bản cáo trạng hùng hồn, lên án chế độ thực dân tàn bạo, chà đạp lên một dân tộc. Những quốc gia, dân tộc và cả những số phận bị áp bức ấy chỉ còn một con đường duy nhất là vùng lên tư giải phóng. Không phải ngẫu nhiên mà ngày 1.5.1930 lá cờ đỏ búa liềm xuất hiện ngạo nghễ tung bay tại đây. Rồi mười lăm năm sau, hàng vạn người dân Biên Hòa, đội ngũ chỉnh tề, tầm vong vạt nhọn, cờ đỏ sao vàng rầm rập đi ngang qua đài kỷ niệm để đón chào nền độc lập tự do vào mùa thu tháng 8 năm 1945 lịch sử. Mùa xuân năm 1975 Đài kỷ niệm lại chứng kiến đoàn quân chiến thắng hùng hậu với xe tăng, trọng pháo tiến vào Biên Hòa, hoàn thành chiến dịch Hồ Chí Minh tại Đồng Nai.

Cuối năm 1992, Đài kỷ niệm được trùng tu, với một khuôn viên khang trang đẹp đẽ, những thảm cỏ xanh, đài nước, vườn hoa nhiều màu sắc hài hòa tôn tạo đài trở thành một công viên văn hóa tô điểm làm đẹp thành phố, thu hút đông đảo quần chúng đến vui chơi. Đài kỷ niệm mãi mãi là một bằng chứng không thể chối cãi tố cáo tội ác của thực dân Pháp, nhắc nhở người dân xứ Biên Hòa một thời lịch sử đau thương dưới ách thống trị ngoại bang để vươn lên tự cường, xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

“Đồng Nai di tích – lịch sử của Nhà Xuất bản Đồng Nai”

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Biến di tích 400 tuổi thành… 1 ngày tuổi!

(LĐ) – Thành nhà Mạc (thành Tuyên Quang) tính đến nay đã trải qua 418 năm tồn tại, dẫu hoang phế song nó vẫn xứng đáng là một pho sử kỳ vĩ, một di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Thế rồi, thành Tuyên Quang được người ta lập dự án ngót chục tỉ đồng để “trùng tu tôn tạo”.

Đổi hơn 400 năm cổ lấy cái “lò gạch”

Gạch rêu ố, chỗ đỏ au, tường thành nứt toác, cây dại phong kín, những chùm thân rễ si cổ thụ uốn lượn như mãng xà. Người Tuyên Quang có phong trào chụp ảnh cưới bên trăm năm cổ thành, nhiều hoạ sĩ, nghệ sĩ đã đoạt nhiều giải thưởng qua các tác phẩm “sáng tác” bên vẻ đẹp bể dâu hiếm có đó. Nay, bỗng dưng, hai cái cổng cũ của thành Tuyên Quang bị “gọt bỏ rêu phong”, đắp điếm gạch mới và bêtông sắt thép vào, đỏ son, mới tinh. Nhiều người yêu lịch sử, văn hoá, kiến trúc bày tỏ quan điểm rõ ràng: Việc “khoác tấm áo mới” cho cổ thành hôm nay đã khiến toà thành từng là “pháo đài thép” bên bờ sông Lô kia đã… “thất thủ” vĩnh viễn. Nó thất thủ sau ngót nửa thiên niên kỷ trụ vững trước bao nhiêu là binh lửa, giặc giã, mưa dập gió vùi.

Thành nhà Mạc trước khi trùng tu.
Thành nhà Mạc trước khi trùng tu.

Hiện nay, trên các trang mạng, đặc biệt là trong các câu chuyện của bà con Tuyên Quang, kể cả câu chuyện của cán bộ văn hoá tỉnh khi trả lời phỏng vấn PV Lao Động, ba chữ “cái lò gạch” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trùng tu, không lẽ là việc “làm mới di tích” thế ư? Sao lại đánh đổi bức cổ thành mỹ miều và hoang phế tuyệt diệu mà phải mất hơn 400 năm chúng ta mới có được kia lấy một cái “lò gạch một ngày tuổi”?

Anh Quang Minh – một nghệ sĩ chơi ảnh nổi tiếng ở thành phố Tuyên Quang, người đã 51 năm sống ở phường Tân Quang, nơi toà thành toạ lạc, người đã 20 năm cầm máy chụp ảnh cho các cặp uyên ương trong ngày cưới với phông nền là cổng cổ, tường thành cũ nhà Mạc… Gặp tôi, anh Minh chán ngán: Họ trùng tu kiểu gì, làm thành thấp lùn đi, xấu xí đi. Bà con bảo nó như cái lò gạch. Nhà văn Phù Ninh – nguyên Giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Tuyên Quang – thở dài: Trùng tu gì thì trùng tu, phải tôn trọng nguyên trạng của di tích chứ. Rồi ông già kiệm lời mang cho tôi xem một bức ảnh cổ thành ở phương Tây in trong cuốn lịch treo tường nhà ông: Đấy, ở nước ngoài, các bức tường thành cổ, họ để nguyên cây dại, gạch đá cũ, họ bảo vệ cho nó không sập giúp người sau thấy được bước đi, vẻ đẹp và sự khắc nghiệt của thời gian, của lịch sử in dấu trên di tích đó.

Người viết bài này có ít nhiều gắn bó với đất Tuyên Quang, lần nào chạm vào thị xã (mới “lên” thành phố được ít ngày), cũng sững người khi thấy các toà cổng, các tường thành rêu phong cổ kính của di tích quốc gia thành nhà Mạc. Giữa tấp nập “phồn hoa đô hội” thời mới, giữa một “đảo” (ngã tư) đường trung tâm có một phom cổng cổ (cổng Tây thành Tuyên Quang). Nó khiến ta nghĩ về một cõi u hoài, một sự cảm khái nao lòng, về số phận và lịch sử của miền địa linh nhân kiệt nằm gọn trong vòng tay ôm, tròn trịa, thân ái, tốt tươi của sông Lô đó. Ở Việt Nam còn quá ít các toà thành, các cổng thành cổ kiểu này. Thành Bắc Ninh thì không cho du khách vào thăm ngắm. Thành Sơn Tây còn lại 3 cổng thì bỗng dưng người ta “trùng tu” phá tan toà cổng đẹp nhất, nếu báo chí không lên tiếng thì hai cổng còn lại cũng sẽ bị “làm mới” theo đúng kế hoạch kiểu “đạn đã lên nòng”.

Đã có lần tôi dừng xe, đưa chính em gái mình đứng trong toà khum khum, nứt toác, xanh rì và cuồn cuộn cây dại của cổng Tây thành Tuyên Quang mà chụp ảnh, rồi lo lắng: Hy vọng họ sẽ không trùng tu cẩu thả, để làm mới di tích văn hoá, “bảo tàng” tự nhiên này (như thường thấy). Thật không ngờ, như các cụ nói, “phỉ phui cái mồm”, hôm nay trở lại, đã gặp hai cái lò gạch mới toe như lời bà con Tuyên Quang nói với tôi.
Tôi không bất ngờ, không khó hiểu, nhưng tôi thật sự bất bình.

và sau khi được
và sau khi được “rót” tiền tỉ để trùng tu. Ảnh: Đ.D.H.

“Quy trình” đánh tráo cây đèn Alađin

Làm việc với cán bộ hữu quan tỉnh Tuyên Quang về dư luận ầm ĩ xung quanh vụ cái lò gạch mới được đầu tư to tiền nhất tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi mới giật mình: Dự án khoảng 9,8 tỉ đồng trùng tu thành nhà Mạc này đã được thực hiện rất “đúng quy trình”. Tiền từ “bộ” rót về đấy chứ. Tức là: Nhiều lần cử tri chất vấn ngành văn hoá tỉnh trong các kỳ họp Hội đồng Nhân dân (có văn bản kèm theo), rằng sao có tiền mà không trùng tu thành nhà Mạc, để nó nhếch nhác quá. Ngành văn hoá kết hợp với Cty tu bổ di tích ở trung ương lập kế hoạch, dự toán đủ thứ suốt gần hai chục năm. Rồi đưa lên Sở Kế hoạch – Đầu tư thẩm định. Rồi trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh, trình Thường trực Tỉnh uỷ, xin thỏa thuận của Cục Di sản văn hoá, xin Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ VHTTDL). Duyệt, cấp kinh phí, lập đủ ban bệ rồi mới “thi công”. Vẻ như, không có ai tùy tiện hay ngẫu hứng làm cho thành Tuyên “thất thủ” trước sự thiếu kiến thức hay quá khích “phá thành đào đất làm lò gạch” cả. Nhưng…

“Không hiểu sao bà con, cư dân trên mạng, kể cả những người trả lời phỏng vấn chúng tôi, những người thật sự yêu thành Tuyên Quang… đều thất vọng, bất bình, “nổi đoá” lên vì việc biến thành Tuyên thành cái… như là lò gạch nhỉ?” – tôi hỏi một cán bộ sở trực tiếp giữ toàn bộ hồ sơ, tham gia vụ “trùng tu tôn tạo” này từ đầu chí cuối, giữa lúc anh đang ôm tài liệu để trả lời nhà báo, thì anh nói: “Đúng là tôi có nghe, bà con bảo nó giống như cái lò gạch mới quá”. Nói rồi, anh cán bộ im lặng.

Chúng tôi ra giữa “đảo giao thông”, nơi toà cổng phía Tây tuyệt đẹp của thành Tuyên Quang đã biến mất hoàn toàn vẻ quyến rũ cách đây ít ngày. Một cổng thành như vừa được dựng lên bằng bìa cáctông để… diễn kịch “vẽ nhọ bôi hề” hiện ra. Có lẽ, Tuyên Quang là tỉnh duy nhất ở Việt Nam có một toà cổng thành hơn 400 năm tuổi lại nằm giữa cái bùng binh của ngã tư đường trung tâm của thành phố tỉnh lỵ như vậy. “Di tích 1 ngày tuổi” nằm trọn vẹn, tơ hơ ở đó, gạch mới đỏ au, tinh tươm, mới mẻ từ chân lên đầu, từ trong ra ngoài, gạch đá trét ximăng trắng lốp tứ bề. Xung quanh “đảo” là chi chít cọc bằng inox sáng choang. Cọc to, giữa các cọc có xích sắt to bằng ngón chân cái, buông chùng để… bảo vệ. Phải trèo qua hàng rào inox vào trong cổng thành, thì may ra bạn mới nhìn thấy vài dấu vết của mấy viên gạch cũ.

Thành Tuyên hình vuông, mỗi bề dài 275m; tường cao 3m; dày 0,8m đã vật vã tồn tại 418 năm qua trước bao nhiêu dâu bể – thế rồi, giờ đây, nó phải “quy hàng” rồi bị dồn đến chỗ “thất thủ” trước dự án gần 10 tỉ đồng kia. Không lấy ý kiến nhân dân, không tham khảo ý kiến những người thật sự yêu mến, thích thú, am hiểu về di tích thành nhà Mạc trên xứ Tuyên và cả nước, thế nên, dự án đã có một “quy trình” thực thi mà tự những người trong cuộc cứ thế vừa “đá bóng” vừa “thổi còi”, rồi tự cho mình là đúng! Tôi có cảm giác, toà cổ thành 418 năm tuổi, đã hội tụ bao nhiêu thương yêu, cả máu và nước mắt của bao thế hệ người xứ Tuyên kia như chiếc đèn thần của Alađin, thế rồi, người ta bỏ gần chục tỉ đồng ra để “đánh tráo” nó đi, “đền” vào đó một cây đèn đồng nát.

Trước tập hồ sơ dày cồm cộp, dấu triện đỏ, bản vẽ mênh mông mà người ta đặt trước mặt mình để “giải trình” về việc thành Tuyên biến thành lò gạch một cách đúng quy trình ra sao, tôi chỉ biết ngậm ngùi. Ai duyệt, ai vẽ dự án, ai thi công, ai giám sát, ai nghiệm thu, ai xuất ra tiền tỉ (từ tiền thuế của dân) để đẩy thành cổ ra nông nỗi: Một “di tích” phủ bóng gạch mới và vôi vữa ximăng, kèm theo xích sắt và cọc sắt sáng quắc này? Bất kể là bộ hay là cục, là UBND tỉnh hay sở nọ sở kia, thì vẫn có một sự thật: Người ta đã gọt bỏ rêu phong, đã phá đi dấu tích 418 năm lịch sử tuyệt vời của thành Tuyên để thu về cái thứ “1 ngày tuổi”.

Lại còn thế này, có người thậm chí còn yêu cầu “dỡ gạch hai bên tường (của cổng thành) thấp xuống, mở rộng tầm nhìn cho xe cộ” (trích văn bản mà chúng tôi đang có trong tay), ôi chao, trùng tu như thế là… chọc tiết di tích đấy, các vị ơi. Nữa, các phom cổng, các bức tường thành lưu dấu mấy trăm năm dâu bể đẹp rực rỡ như thế, vì sao phải phun hoá chất “diệt trừ tận gốc cây dại” để làm mới di tích, trong khi các “toà thiên nhiên” cây bám, dây leo, cây cổ thụ đã là một phần giá trị không thể thiếu của di tích?

Sự kỳ khôi này, có lẽ, chỉ những người trong cuộc mới hiểu nổi.

alt

Thành nhà Mạc 418 năm tuổi, sau khi bộ “rót” tiền tỉ vào đầu tư, nó đã mới toe như mới 1 ngày tuổi; và... kém thẩm mỹ như thế này đây!
Thành nhà Mạc 418 năm tuổi, sau khi bộ “rót” tiền tỉ vào đầu tư, nó đã mới toe như mới 1 ngày tuổi; và… kém thẩm mỹ như thế này đây!

“Giữ nguyên di tích gốc hiện có” theo kiểu… “làm mới”?

Từ ngày 1.3.1996, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang – ông Vũ Mạnh Thắng đã có thông báo về chủ trương đầu tư trùng tu di tích thành nhà Mạc. Có vẻ thận trọng lắm, bởi phải 11 năm sau, năm 2007, UBND tỉnh Tuyên Quang đã có tờ trình gửi thường trực Tỉnh uỷ, theo đó, “nguyên tắc trùng tu” là phải: “Phải tận dụng, sử dụng loại vật liệu xây dựng của di tích gốc đã có; nghiêm cấm không được làm thay đổi, biến dạng di tích gốc và phải đảm bảo giữ nguyên di tích gốc hiện có”.

Và, đến tháng 12.2007, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang đã ký quyết định “phê duyệt chủ trương” với nguyên tắc trùng tu tương tự. Tuy nhiên, không biết họ làm kiểu gì, mà việc “giữ nguyên di tích gốc hiện có lại đồng nghĩa với việc biến các phom cổng thành cổ, hoang phế, đẹp như một kỳ quan kia thành cái… “lò gạch mới”.

Đỗ Doãn Hoàng

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Ứng xử tàn bạo với di tích

Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật” – PGS-TS Trần Lâm Biền

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Một ngôi chùa hơn 400 năm tuổi, được xếp hạng di tích cấp quốc gia, đang bị xuống cấp nghiêm trọng ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Chùa bị “làm mới”

Chùa Linh Tiên (thuộc làng Hội Xá, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm cũ, nay thuộc P.Phúc Lợi, Q.Long Biên, Hà Nội) đã được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH-TT-DL) xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1995. Vào thời điểm đó, chùa còn lưu giữ được hệ thống kiến trúc (tòa Tam bảo) và hệ thống tượng, đồ thờ, chuông, bia niên đại trải dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Đặc biệt, chùa có bộ tượng Tam thế Phật được đánh giá là “độc nhất vô nhị”. Theo hồ sơ xếp hạng di tích cấp quốc gia, bộ Tam thế này vừa mang nét phong cách nghệ thuật phương Nam, lại gần với nghệ thuật Ấn Độ. Tượng để hở nửa ngực, vai và cánh tay bên phải; các nếp áo uốn lượn mềm mại, thể hiện chiều sâu suy tư. Đài sen của cả 3 pho tượng đều mang phong cách nghệ thuật thời Mạc (nửa cuối thế kỷ 16 – nửa đầu thế kỷ 17). Tiếc rằng 9 năm trước, ba pho tượng Tam thế đặt trên ba bệ tượng đều đã bị đánh cắp.

Chùa Linh Tiên có kết cấu hình chữ “đinh” bao gồm Tiền đường (5 gian) và Phật điện. Nhưng đến nay, 3 gian phía bên trái của Tiền đường đã bị đổ sụp, chỉ còn lại 2 gian phía bên phải. Cửa phía trước của tòa Tiền đường thì chắp vá bởi những thanh gỗ khác nhau. Pho Khuyến thiện niên đại thế kỷ 19 bị bật cả đế lên và đổ nghiêng về phía sau. Pho Trừng ác phía bên phải lại đổ nghiêng về phía trước và bị gãy một cánh tay. 9 pho Thập điện Diêm vương thì ở các tư thế nghiêng ngả. Mùa mưa năm 2008, mái ba gian giữa cũng bị “thông thiên”, hệ thống tượng do bị mưa nắng xói mòn đã xuống cấp nghiêm trọng.

Điều đáng kinh ngạc là thay vì tu bổ, sửa sang ngôi chùa cũ, năm 2000 – 2001, nhà chùa và người dân trong vùng lại quyên tiền để xây mới một ngôi chùa cao 2 tầng bề thế. Tam bảo mới xây của ngôi chùa mới không tuân theo bất kỳ quy chuẩn nào. Công trình xây dựng không phép này đã vi phạm pháp luật hiện hành, lại nằm trong khu vực bảo vệ I (tức khu vực bất khả xâm phạm được ghi rõ trong hồ sơ xếp hạng di tích của Bộ VH-TT-DL), phá vỡ cảnh quan gốc, kể cả không gian hình thức và không gian tâm linh của chùa.

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Chính quyền địa phương không có biện pháp ngăn chặn, chấn chỉnh, còn các chuyên gia Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) thì đến bây giờ mới biết “sự cố” này. “Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật. Người ta truất ngôi của “ông già”, viết giấy khai tử cho ông, bằng cách đặt ngay sát ông một “thằng bé” vô hồn lai căng vô lối: chẳng phải Tây, không phải Tàu và chỉ “giả vờ” là Việt Nam”, PGS-TS Trần Lâm Biền (Cục Di sản, Bộ VH-TT-DL) thốt lên.

Tượng hộ pháp đổ nát

Tượng hộ pháp đổ nát

Đình cũng chẳng còn

Trong cuộc gặp với chính quyền và người dân Hội Xá mới đây, các nhà khoa học và quản lý di tích đều bày tỏ sự “đau lòng”, “chua xót” trước thực trạng của cụm di tích chùa Linh Tiên và đình Hội Xá. Ông Nguyễn Doãn Tuân, Trưởng ban quản lý di tích, danh thắng Hà Nội đã yêu cầu UBND Q.Long Biên phải nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và phối hợp với các chuyên gia tư vấn, bảo tồn để lập quy hoạch tổng thể mặt bằng cho cụm di tích, đồng thời lên phương án tôn tạo lại ngôi chùa chính và ngôi đình đã hư hỏng nghiêm trọng. Riêng với ngôi chùa 2 tầng mới, Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) sẽ cân nhắc để có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí có thể tính tới phương án phá bỏ.

Đình Hội Xá (có từ thời Lê) nằm cạnh chùa Linh Tiên, tạo thành quần thể di tích. Theo hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1994 thì đình Hội Xá vẫn còn khá vững chãi. Các bức ảnh chụp cho thấy đình được dựng với mặt bằng chữ “nhị”, có cánh cửa đề 3 chữ “Phúc Thọ Môn”. Nóc của đình được chạm trổ kỹ lưỡng với các họa tiết vân xoắn, lá cúc cách điệu… Ngoài ra, trong đình còn nhiều ngai, bài vị, y môn và một số đồ thờ tự mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18. Đáng chú ý là 2 bức phù điêu hình chữ nhật chạm rồng nổi. Còn theo tư liệu của PGS-TS Bùi Xuân Đính (Viện Dân tộc học), đình Hội Xá là một trong những ngôi đình thuộc loại bề thế ở miền Bắc. Thế nhưng, tới nay, ngôi đình gốc này cũng không còn vì người dân đã tự tiện dỡ ra để làm mới. Giờ đây, đình Hội Xá chỉ còn trơ lại một ngôi nhà nhỏ, được làm theo kiểu chữ “đinh”, ba gian tường hồi, bào trơn đóng bén, chẳng khác gì một ngôi miếu!

Theo Thanh Nien online

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Hồi sinh pháp lam Huế

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Ngoài trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam còn có giá trị trong nghệ thuật trang trí tranh, phù điêu. Pháp lam cùng với gốm và sơn mài là ba nghề được chọn tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009.

Đây là một nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Tuy nhiên do biến động lịch sử, pháp lam đã thất truyền gần 200 năm. Thời gian thất truyền quá lâu, ngay cả người dân Huế cũng cảm thấy xa lạ.

Gần 200 năm thất truyền bí ẩn

Pháp lam là kỹ thuật tráng men nhiều màu lên cốt đồng đỏ và nung chín tạo nên tác phẩm mỹ thuật hay chi tiết trang trí trong kiến trúc với họa tiết rực rỡ màu sắc.

Sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước Công nguyên khi thợ kim hoàn vùng Mycenaean (Hy Lạp) tráng men thủy tinh trên khuyên tai bằng vàng.

Ở Việt Nam, kỹ nghệ này du nhập vào đầu thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đưa một số công nhân Việt Nam sang học nghề chế tác pháp lam ở Trung Quốc.

Sau đó, nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục (xưởng sản xuất pháp lam đặt ở khu Canh nông trong Thành nội) gồm 15 người do ông Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình).

Pháp lam Huế phát triển đến thời vua Tự Đức thì phôi pha dần rồi thất truyền một cách bí ẩn. Trong 60 năm tồn tại, từ năm 1827, pháp lam Huế đã sản xuất rất nhiều vật phẩm có giá trị để trang trí, cúng tế theo yêu cầu của triều đình, trong đó phục vụ cho nhu cầu trang trí nội ngoại thất, tế tự và nhu cầu thường nhật trong cung đình.

Cách đây 10 năm, ba nhà nghiên cứu khoa học ở Huế gồm tiến sĩ dược học Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế), kỹ sư chuyên ngành silicat Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Thừa Thiên-Huế) và thạc sĩ vật lý Đỗ Hữu Triết (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) đã cùng nghiên cứu để phục hồi pháp lam Huế.

Tuy ba người với ba trường phái khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung là cùng tạo ra được màu men, phục hồi thành công pháp lam Huế sau gần 200 năm vắng bóng.

Những người hồi sinh pháp lam

Trong hai năm 2003-2004, tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất pháp lam phục chế tu bổ di tích Huế” và thu được thành công khi tạo ra được ba mẫu phục chế hoàn hảo theo nguyên mẫu của di tích Huế.

Đóng góp lớn nhất, có giá trị thiết thực của tiến sĩ Đức cùng cộng sự của ông là làm sống lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc, niềm tự hào một thời của mỹ thuật cố đô Huế. Những sản phẩm do ông và cộng sự làm ra đã được ứng dụng vào việc trùng tu các công trình di tích Huế như trang trí chùa Thiên Mụ, điện Thái Hòa, hai nghi môn tại hoàng thành Huế.

Kỹ sư Trần Đình Hiệp thì hoàn thiện được kiểu tráng men trên mặt phẳng với độ bền màu trong nhiều môi trường khác nhau, hồi sinh loại pháp lam mỹ thuật trang trí và ngói âm dương.

Còn với Đỗ Hữu Triết, sau những năm tháng nghiên cứu về phục dựng bảo tồn di tích Huế, anh đã kết duyên với đề tài về phục hồi pháp lam. Niềm đam mê và ước vọng hồi sinh pháp lam Huế đã được anh truyền vào công trình luận án thạc sĩ với đề tài “Men và màu cho đồ gốm sứ ở di tích Huế” năm 2005.

Luận án được đánh giá rất cao khi người thực hiện đã phục hồi thành công men màu trong pháp lam mỹ nghệ, pháp lam trang trí nội thất và được ứng dụng vào sản xuất pháp lam.

Sau thành công đó, Triết thành lập Công ty pháp lam Sao Khuê (nay là Công ty TNHH Thái Hưng) để phục hồi kỹ nghệ sản xuất pháp lam, quy tụ 15 thợ có tay nghề giỏi về làm.

Anh Triết cho biết: “Pháp lam bị thất truyền là một mất mát quá lớn đối với nghệ thuật kiến trúc, nhất là những công trình pháp lam ở các di tích Huế bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng cần phải trùng tu. Ngoài giá trị trong việc trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam hồi sinh còn có giá trị to lớn trong nghệ thuật trang trí các sản phẩm như tranh, phù điêu. Đặc biệt, thành công trong việc phục hồi pháp lam đã tạo ra một loại tranh có chất liệu mới trong hội họa và được ứng dụng vào ngành mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất, đồng thời phục hồi và phát triển một nghề truyền thống đặc biệt của Huế đã bị thất truyền từ lâu”.

Tại Festival nghề truyền thống Huế 2009, anh Đỗ Hữu Triết đã cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trưng bày các sản phẩm pháp lam và mở một quy trình sản xuất pháp lam để du khách có thể tự tay vẽ lên pháp lam làm sản phẩm lưu niệm cho mình.

“Mặc dù đạt được những thành công bước đầu trong việc hồi sinh pháp lam Huế, tuy nhiên Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế mới chỉ làm được có ba loại hình kỹ thuật pháp lam, trong khi đó thế giới có đến 17 loại hình. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là đạt trình độ của pháp lam thế giới” – anh Triết tâm sự.

Theo http://www.phapluattp.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »