Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘di sản’

Nhấn vào tựa bài để xem:

Nghề “nhân bản” tượng Chăm ở thị trấn Bình Định

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Ứng xử tàn bạo với di tích

Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật” – PGS-TS Trần Lâm Biền

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Một ngôi chùa hơn 400 năm tuổi, được xếp hạng di tích cấp quốc gia, đang bị xuống cấp nghiêm trọng ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Chùa bị “làm mới”

Chùa Linh Tiên (thuộc làng Hội Xá, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm cũ, nay thuộc P.Phúc Lợi, Q.Long Biên, Hà Nội) đã được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH-TT-DL) xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1995. Vào thời điểm đó, chùa còn lưu giữ được hệ thống kiến trúc (tòa Tam bảo) và hệ thống tượng, đồ thờ, chuông, bia niên đại trải dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Đặc biệt, chùa có bộ tượng Tam thế Phật được đánh giá là “độc nhất vô nhị”. Theo hồ sơ xếp hạng di tích cấp quốc gia, bộ Tam thế này vừa mang nét phong cách nghệ thuật phương Nam, lại gần với nghệ thuật Ấn Độ. Tượng để hở nửa ngực, vai và cánh tay bên phải; các nếp áo uốn lượn mềm mại, thể hiện chiều sâu suy tư. Đài sen của cả 3 pho tượng đều mang phong cách nghệ thuật thời Mạc (nửa cuối thế kỷ 16 – nửa đầu thế kỷ 17). Tiếc rằng 9 năm trước, ba pho tượng Tam thế đặt trên ba bệ tượng đều đã bị đánh cắp.

Chùa Linh Tiên có kết cấu hình chữ “đinh” bao gồm Tiền đường (5 gian) và Phật điện. Nhưng đến nay, 3 gian phía bên trái của Tiền đường đã bị đổ sụp, chỉ còn lại 2 gian phía bên phải. Cửa phía trước của tòa Tiền đường thì chắp vá bởi những thanh gỗ khác nhau. Pho Khuyến thiện niên đại thế kỷ 19 bị bật cả đế lên và đổ nghiêng về phía sau. Pho Trừng ác phía bên phải lại đổ nghiêng về phía trước và bị gãy một cánh tay. 9 pho Thập điện Diêm vương thì ở các tư thế nghiêng ngả. Mùa mưa năm 2008, mái ba gian giữa cũng bị “thông thiên”, hệ thống tượng do bị mưa nắng xói mòn đã xuống cấp nghiêm trọng.

Điều đáng kinh ngạc là thay vì tu bổ, sửa sang ngôi chùa cũ, năm 2000 – 2001, nhà chùa và người dân trong vùng lại quyên tiền để xây mới một ngôi chùa cao 2 tầng bề thế. Tam bảo mới xây của ngôi chùa mới không tuân theo bất kỳ quy chuẩn nào. Công trình xây dựng không phép này đã vi phạm pháp luật hiện hành, lại nằm trong khu vực bảo vệ I (tức khu vực bất khả xâm phạm được ghi rõ trong hồ sơ xếp hạng di tích của Bộ VH-TT-DL), phá vỡ cảnh quan gốc, kể cả không gian hình thức và không gian tâm linh của chùa.

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Chính quyền địa phương không có biện pháp ngăn chặn, chấn chỉnh, còn các chuyên gia Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) thì đến bây giờ mới biết “sự cố” này. “Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật. Người ta truất ngôi của “ông già”, viết giấy khai tử cho ông, bằng cách đặt ngay sát ông một “thằng bé” vô hồn lai căng vô lối: chẳng phải Tây, không phải Tàu và chỉ “giả vờ” là Việt Nam”, PGS-TS Trần Lâm Biền (Cục Di sản, Bộ VH-TT-DL) thốt lên.

Tượng hộ pháp đổ nát

Tượng hộ pháp đổ nát

Đình cũng chẳng còn

Trong cuộc gặp với chính quyền và người dân Hội Xá mới đây, các nhà khoa học và quản lý di tích đều bày tỏ sự “đau lòng”, “chua xót” trước thực trạng của cụm di tích chùa Linh Tiên và đình Hội Xá. Ông Nguyễn Doãn Tuân, Trưởng ban quản lý di tích, danh thắng Hà Nội đã yêu cầu UBND Q.Long Biên phải nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và phối hợp với các chuyên gia tư vấn, bảo tồn để lập quy hoạch tổng thể mặt bằng cho cụm di tích, đồng thời lên phương án tôn tạo lại ngôi chùa chính và ngôi đình đã hư hỏng nghiêm trọng. Riêng với ngôi chùa 2 tầng mới, Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) sẽ cân nhắc để có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí có thể tính tới phương án phá bỏ.

Đình Hội Xá (có từ thời Lê) nằm cạnh chùa Linh Tiên, tạo thành quần thể di tích. Theo hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1994 thì đình Hội Xá vẫn còn khá vững chãi. Các bức ảnh chụp cho thấy đình được dựng với mặt bằng chữ “nhị”, có cánh cửa đề 3 chữ “Phúc Thọ Môn”. Nóc của đình được chạm trổ kỹ lưỡng với các họa tiết vân xoắn, lá cúc cách điệu… Ngoài ra, trong đình còn nhiều ngai, bài vị, y môn và một số đồ thờ tự mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18. Đáng chú ý là 2 bức phù điêu hình chữ nhật chạm rồng nổi. Còn theo tư liệu của PGS-TS Bùi Xuân Đính (Viện Dân tộc học), đình Hội Xá là một trong những ngôi đình thuộc loại bề thế ở miền Bắc. Thế nhưng, tới nay, ngôi đình gốc này cũng không còn vì người dân đã tự tiện dỡ ra để làm mới. Giờ đây, đình Hội Xá chỉ còn trơ lại một ngôi nhà nhỏ, được làm theo kiểu chữ “đinh”, ba gian tường hồi, bào trơn đóng bén, chẳng khác gì một ngôi miếu!

Theo Thanh Nien online

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Kỷ niệm và triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu văn hóa Sa Huỳnh

100namsahuynh

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) hôm nay (8-7-2009) đã khai mạc triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh nhân kỷ niệm 100 năm phát hiện nền văn hoá này.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Từ năm 1909 đến nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hiện vật quý làm sáng tỏ nguồn gốc, niên đại, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh. Qua đó chứng minh nét bản địa của nền văn hoá này, cũng như sự giao lưu, tiếp biến với các nền văn hoá khác trong và ngoài nước.

Nhân dịp này, một hội thảo quốc tế mang tên “100 năm phát hiện, nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh” sẽ được tổ chức tại tỉnh Quảng Ngãi, từ ngày 20 đến ngày 24-7. Hội thảo do Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ngãi thực hiện.

100 năm phát hiện di tích văn hóa Sa Huỳnh

Đã 100 năm kể từ ngày một người Pháp tên là M. Vinet có thông báo ngắn và sớm nhất về sự có mặt của di tích Sa Huỳnh trong tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ. Từ đó đến nay, nền văn hóa mang tên một địa danh của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, đã được xác lập, nghiên cứu sâu.

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, cho biết từ những tư liệu của các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước, có thể xác định về mặt niên đại đây là nền văn hóa thuộc thời đại Kim khí, khi con người đã biết đến việc chế tác và sử dụng kim loại.

Văn hóa Sa Huỳnh có niên đại vào khoảng 500 năm trước Công nguyên đến đầu Công nguyên. Đây là 1 trong 3 đỉnh của tam giác văn hóa Việt Nam cổ: Đông Sơn-Sa Huỳnh-Óc Eo.

Về địa bàn phân bố, văn hóa Sa Huỳnh phân bố chủ yếu ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Khu vực tìm được đậm đặc nhất di tích Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh chính là hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Các địa điểm có di tích thường tập trung ở ven biển, nhất là khu vực cửa các con sông lớn đổ ra biển như sông Trà Bồng, Trà Khúc hoặc các vịnh biển như Sa Huỳnh, Cam Ranh. Các di tích gồm có các khu mộ táng lớn, thường chôn trong các mộ vò hay chum mà các nhà khảo cổ Pháp gọi là “bãi mộ chum”.

Đồ gốm Sa Huỳnh có những loại hình đồ gốm khá phát triển như nồi, bát, bình con tiện, chậu, vò… Đồ gốm được trang trí rất đẹp bằng cách tô màu, khắc vạch, in vỏ sò, tô ánh chì đen.

Sa Huỳnh còn có chum gốm để chôn người chết. Những chum này có nắp đậy và tô màu đỏ, trang trí hoa văn khắc vạch ngoài thân. Đặc biệt, người Sa Huỳnh đã sáng tạo ra các loại khuyên tai độc đáo và có sức giao lưu lan tỏa khá rộng khắp các vùng Đông Nam Á.

Họ còn sáng tạo nhiều đồ trang sức thủy tinh như các loại hạt cườm, hạt chuỗi rất đẹp, trang sức mã não đỏ…

Vào khoảng đầu Công nguyên, cách đây khoảng 2.000 năm, văn hóa Sa Huỳnh có sự chuyển biến thành nền văn hóa Chăm. Khi đó, tộc người vẫn là người Chăm cổ, tức người Sa Huỳnh trước đó, nhưng nền văn hóa đã có sự thay đổi, tự thân vận động mà cũng có giao lưu mạnh mẽ với những nền văn hóa khác như Đại Việt ở miền Bắc, Hán ở phương Bắc, với Ấn Độ và các văn hóa đến từ phía tây như Thái Lan.

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải cho biết trải qua 200 năm, vẫn có thể thấy được một số nét văn hóa Sa Huỳnh vẫn còn được lưu giữ tới ngày nay. Một số đồ trang sức của đồng bào dân tộc miền núi của miền Trung nước ta vẫn thích đeo đồ trang sức như cư dân Sa Huỳnh đã từng đeo. Đó là các loại hạt chuỗi mã não màu đỏ óng ánh.

Một số dân tộc ở tỉnh Quảng Nam ưa loại mã não này, thậm chí gần đây, một vài hạt mã não có thể đổi được cả một con trâu. Một số tộc người như người H’Rê ở Quảng Ngãi hiện còn đeo khá nhiều hạt cườm và hạt chuỗi giống hệt như cách đây hai ngàn năm.

Một số phong tục tập quán thể hiện trong cách chôn cất của người Sa Huỳnh có thể gặp được ở một số dân tộc Tây Nguyên trước đây. Việc người Sa Huỳnh rất thạo công việc luyện sắt cũng được một số dân tộc ở Tây Nguyên tiếp thu sau này.

Hình ảnh hiện vật triển lãm:

100namsahuynh-3

100namsahuynh-4

100namsahuynh-5

100namsahuynh-6

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 2 đầu thú

Khuyên tai 2 đầu thú

KhanhHoaThuyNga tổng hợp tin

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Làng gốm Cây Me – Bình Định

Ngày 26/4/2009, Phòng VHTT, Trung tâm VH huyện và UBND xã Nhơn Mỹ đã có biên bản sơ bộ đề nghị cơ quan chức năng tỉnh Bình Định lập kế hoạch khảo sát, đánh giá và bảo tồn di tích làng gốm Cây Me, thôn Đại Bình, xã Nhơn Mỹ.

 

Di tích này vốn chỉ được cư dân địa phương phát hiện và tự phát “khai thác” từ tình trạng xâm thực, xói lở liên tục dọc bờ sông Côn. Tại hiện trường, nhóm công tác ghi nhận có nhiều mảng gốm vỡ xuất lộ dày đặc dưới chân luỹ tre chắn sóng. Trong khi đó, một số hiện vật có hoạ tiết tinh xảo, hình dáng nguyên vẹn như chén, dĩa, bình vôi tráng men… đã được “thu gom”, cất giữ bởi những hộ dân quanh vùng (ảnh).

Huyện Tây Sơn, huyện An Nhơn, huyện Tuy Phước, thuộc tỉnh Bình Định nằm trên lưu vực sông Côn, đất đai màu mỡ trù phú, nước sông Côn không bao giờ khô cạn, thuyền bầu nan tre xưa có thể giao thương từ đầm Thị Nại lên đến thượng nguồn. Từ thời Chămpa đã hình thành các thành cổ dọc sông như Thành Cha ở Đông Lâm, Nhơn Lộc, An Nhơn hay kinh đô Đồ Bàn ở Nam Tân, Nhơn Hậu, An Nhơn…và thương cảng Nước Mặn ở Phước Quang, Tuy Phước.

 

Các làng nghề cũng hình thành dọc lưu vực sông Côn, trong đó các làng gốm thịnh hành nhất, các di tích làng Gốm ngày nay còn lưu dấu như: Làng Gốm Gò Sành ở Phụ Quang, Nhơn Hoà, An Nhơn; Làng Gốm Trường Cửu, Nhơn Lộc, An Nhơn; Làng Gốm Gò Hời và Làng Gốm Cây Ké ở Tây Vinh, Tây Sơn…

 

Theo đánh giá ban đầu, làng gốm Cây Me có thể là một phần của “kinh đô gốm Chămpa” cổ nổi tiếng mà dấu tích và sản phẩm từng được biết đến qua các địa danh: Gò Sành, Trường Cửu, Gò Hời, Cây Ké…; một làng gốm mà còn nguyên di tích, chưa được khai quật khảo cổ, đang có nguy cơ xói mòn do giòng nước lũ sông Côn xâm thực, đó là di tích làng Gốm Cây Me

Sau những mùa lũ hằng năm dòng sông Côn chảy qua phần đất giáp ranh từ huyện Tây Sơn đến huyện An Nhơn đã tạo dòng chảy bên lỡ bên bồi. Bên bờ sông phía thị tứ An Thái bối đắp thành dãi cát vàng rộng dài, tạo thuận lợi cho làng nghề bún Song Thằn làm bãi phơi bún…

Bãi cát dùng phơi bún Song Thằn và phơi bánh tráng, bún các loại

Bãi cát dùng phơi bún Song Thằn và phơi bánh tráng, bún các loại của làng nghề bún bánh An Thái, Nhơn Phúc, An Nhơn


Phía trên bãi cát dân làng  phơi bún bánh Phía dưới bãi cát thành mỏ...cát thoải mái tận thu!?

Phía trên bãi cát dân làng phơi bún bánh Phía dưới bãi cát thành mỏ...cát thoải mái tận thu!?


Còn bên bờ sông Đại Bình xói lỡ hàng năm, ông cha ta nghìn năm đã trồng tre chống xói dọc bờ sông, nhưng nguy cơ sụt lỡ không tránh khỏi nếu không chăm sóc luỹ tre mà chỉ biết chặt tre thu hoạch! Do xói mòn lộ dần phế tích một làng nghề Gốm Cổ:

Dưới các bụi tre dọc sông Côn ở xóm Mỹ Kim nước lũ xói lộ dấu tích làng Gốm xưa

Dưới các bụi tre dọc sông Côn ở xóm Mỹ Kim nước lũ xói lộ dấu tích làng Gốm xưa

Mãnh vỡ các loại đồ dùng bằng gốm Xếp chồng chiều dày trên một mét, dưới mặt đất khoảng hơn mét

Mãnh vỡ các loại đồ dùng bằng gốm Xếp chồng chiều dày trên một mét, dưới mặt đất khoảng hơn mét

Mãnh vỡ chén tô, dĩa các loại...

Mãnh vỡ chén tô, dĩa các loại...

Một mãnh vỡ ...cái tô có màu xanh ngọc, và màu men chàm...

Một mãnh vỡ ...cái tô có màu xanh ngọc, và màu men chàm...

Lu, thạp... màu đất nung... hay là những bao nung?

Lu, thạp... màu đất nung... hay là những bao nung?

Dấu tích làng Gốm Xưa kéo dài mấy trăm mét dọc sông

Dấu tích làng Gốm Xưa kéo dài mấy trăm mét dọc sông


Chúng tôi ngỡ ngàng trước một dấu tích còn lưu lại một làng nghề Gốm Cổ một thời hưng thịnh của một Vương Triều! Trên gò làng nghề Gốm Cổ này còn lại các cây me cổ thụ, nên tục danh gò còn gọi là gò Gốm Cây Me:
Cây me cổ thụ nằm sát bờ sông Côn có nguy cơ ngã đỗ...vì lũ!

Cây me cổ thụ nằm sát bờ sông Côn có nguy cơ ngã đỗ...vì lũ!

Chúng tôi khảo sát cả một khu rộng lớn, nhiều người dân sau cơn lũ, trên đáy sông, hay dọn bờ làm ruộng, hoặc đào lỗ trồng trụ điện…đã nhặt được các vật dụng bằng Gốm Cổ…Dân ai cũng biết đã thấy, nhưng ngại thu…nên không ai cho xem!?

May sao chúng tôi gặp một em bé nghèo nghỉ học, năm 2008 học hết lớp 10 trường công lập số 2 huyện, không có khả năng theo học dù rằng kết thúc năm học lớp 10 điễm trung bình trên 6, đang chăn mấy con bò! Em đã nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi đến nhà em để cha em và em cho xem các cổ vật Gốm Cổ mà em đã nhặt được

 

Cha con em đã trân trọng gìn giữ cổ vật Gốm Xưa dù có nhiều người sưu tầm gạ mua, nhưng không bán!

Cha con em đã trân trọng gìn giữ cổ vật Gốm Xưa dù có nhiều người sưu tầm gạ mua, nhưng không bán!

Bát Gốm Sành xưa...

Bát Gốm Sành xưa...

Dĩa Gốm Cổ...

Dĩa Gốm Cổ...

Tô Gốm Cổ....

Tô Gốm Cổ....

Dĩa Gốm Cổ...

Dĩa Gốm Cổ...

Bình vôi cổ màu xanh ngọc...

Bình vôi cổ màu xanh ngọc...

Bình vôi cổ màu nâu đen...mất quai!

Bình vôi cổ màu nâu đen...mất quai!

Bình vôi cổ màu ...da lươn?

Bình vôi cổ màu ...da lươn?

Bình vôi cổ màu...da lươn?

Bình vôi cổ màu...da lươn?

Ly uống nước cổ...

Ly uống nước cổ...

Bình vòi rượu và vật dụng giống...ly rượu?

Bình vòi rượu và vật dụng giống...ly rượu?

Theo Lao Động & Làng Nghề

Read Full Post »

Nhà cổ ở Bình Dương

(hình ảnh trang trí không có nội dung minh họa)

Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Cấu trúc địa chất cơ bản là vùng bán sơn địa nhưng có nhiều dạng địa hình tự nhiên như đồi gò, đồng bằng, sông ngòi, rừng nguyên sinh… Nơi đây là vùng đất lý tưởng vì sự đa dạng về thổ nhưỡng và môi trường sinh thái: vừa giàu có về rừng cây gỗ quý nổi tiếng một thời, vừa có chất đất thuận lợi để trồng cây công nghiệp và có cả đồng bằng phù sa màu mỡ.

nhaco

Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi nên nhìn chung dân cư Bình Dương có đời sống ổn định, nền nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Theo Đại Nam Nhất Thống chí  thời Tự Đức, Bình Dương xưa thuộc trấn Phiên An, giữa hai huyện Bình Dương (Tân Bình) và Phước Long, dân cư trù mật, nhà ngói, phố chợ liền lạc, là xứ phồn hoa đô hội của đất Gia Định, cả nước không đâu sánh bằng. Ngày nay dấu ấn xứ phồn hoa đô hội  ở Bình Dương vẫn còn được lưu giữ qua nhiều ngôi nhà cổ, một loại hình di tích văn hóa độc đáo của vùng đất này.

Làng xã ở Bình Dương thường nằm yên bình, tĩnh lặng giữa thiên nhiên đầy cây xanh của vườn cây trái hay vườn cây cảnh, trên vùng đồi gò đã được khai phá thành vườn tược hay trên những cù lao nằm giữa dòng Đồng Nai. Có lẽ phong cảnh nhà vườn với nếp sống phong lưu thể hiện rõ nhất nơi những căn nhà bề thế, cổ kính trên những cù lao trù phú như cù lao Mỹ Hoà, Mỹ Quới (tên cũ của Bạch Đằng, Tân Uyên) cù lao Rùa, cù lao Thạnh Hội… Cù lao ở đây đã được con người chọn để cư trú từ lâu đời, nơi có nhiều dòng họ giàu có “tam đại đồng đường” trong những ngôi nhà cổ đồ sộ giữa vườn cây trái bạt ngàn, không gian tĩnh mịch và môi trường sinh thái trong lành.

Tại Bình Dương hầu như có đủ các kiểu nhà thường thấy ở Nam Bộ.

Nhà chữ đinh: là loại nhà phổ biến nhất tại Bình Dương. Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ đinh (丁¡)  trong Hán tự. Đặc điểm của nhà chữ đinh là cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng (tức ở  đầu hồi nhà), do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới, đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới. Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ. Dù nhà bằng vật liệu bán kiên cố hay kiên cố, phần lớn nhà chữ đinh tại Bình Dương đều thuộc dạng nhà chữ đinh có cầu nối  đặc trưng của miền Trung, tức là nhà có phần trung gian nối vách và mái giữa nhà trên và nhà dưới thành một tổng thể chứ không tách rời nhau.

Để cất được một căn nhà chữ đinh, trước tiên phải có diện tích đất khá rộng, sau nữa chi phí cho vật liệu xây dựng khá cao, vì vậy chỉ những gia đình khá giả trở lên mới có khả năng đáp ứng. Có những ngôi nhà chữ đinh diện tích nhà trên đến 250m2 (ngang 10m dài 25m), được xây dựng bề thế với những cột gỗ lớn, các bộ phận trang trí kiến trúc được chạm khắc tinh xảo. Đi khắp Bình Dương, nhất là những nơi có cư dân lâu đời như thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, Dĩ An, Thuận An… đâu đâu cũng có những ngôi nhà chữ đinh cổ xưa với dạng nhà vườn giống nhau. Phổ biến là nhà chữ đinh có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Nhà chữ Nhị  cũng khá phổ biến tại Bình Dương. Loại nhà này có hai căn: nhà trên ở phía trước và nhà dưới liền ngay phía sau nhà trên, do đó hai cây đòn dông của nhà trên và nhà dưới nằm song song với nhau như chữ nhị (二þ). Bố cục mỗi căn nhà thường là ba gian, tuy nhiên sau này người ta cất nhà dưới dài thêm một gian so với nhà trên để lấy ánh sáng. Nhà dưới là không gian cư trú, còn nhà trên chủ yếu dành làm nơi thờ tự. Nhà chữ nhị cũng thuộc loại nhà có diện tích đất tương đối lớn.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhị là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà ba gian hoặc ba gian hai chái là loại nhà phổ biến trong dân chúng. Không gian của căn nhà vừa để ở, vừa có chức năng thờ tự và tiếp khách. Nhà ba gian phân bố ở vùng nông thôn và cả thành phố. Để tận dụng diện tích làm nhà ở, theo độ che rộng của mái nhà, người ta xây dựng thêm một hoặc hai chái hai bên nhà ba gian.

– Nhà năm gian hai chái  tại Bình Dương được tầng lớp điền chủ, phú gia, trí thức giàu có ưa chuộng. Kiểu nhà này chiếm diện tích đất rộng, kỹ thuật xây dựng công phu, vật liệu tốn kém vì là sự kết hợp giữa kiểu nhà gỗ truyền thống với phong cách kiến trúc và vật liệu xây dựng của phương Tây, thường được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XX: nền nhà cao có bậc tam cấp, tường xây gạch dày, tô hồ quét vôi. Cột nhà có khi là cột bê-tông nhưng vì kèo gỗ và lợp ngói, có trần nhà.

nhacoa

Nhà cổ ở Bình Dương cũng thể hiện tính chất chung của nhà cổ Nam bộ, đó là có kết cấu nhà cột giữa (nhà rôi) và nhà xuyên trính (nhà rường) theo hệ thống khung chịu lực truyền thống như ở miền Bắc, miền Trung. Về sau có thêm dạng nhà đúc kết cấu bê tông chịu lực theo kiểu phương Tây.

Nhà cột giữa thuộc kết cấu cổ truyền, cột cái (cột giữa) kết gắn trực tiếp vào đòn dông và giao điểm của hai cây kèo, tạo thành một bộ vì nhà giản đơn, thích hợp với loại hình nhà thô sơ, bán kiên cố. Hạn chế của nhà cột giữa là không gian nhà chật hẹp do sự hiện diện của hàng cột giữa.

Nhà xuyên trính  còn gọi là nhà rường phổ biến hơn nhà cột giữa. Bộ khung sườn nhà này không có hàng cột cái ở giữa nên không gian nội thất khá rộng rãi. Một số nhà rường biến thể là nhà bát dần được xây cất rất qui mô. Mái ngói của dạng nhà bát dần kéo sà thấp xuống (giống như chữ Bát…..trong Hán tự). Bên ngoài nhìn vào kiểu “mái xụ” này thấy nhà có vẻ thấp, nhưng bước vào bên trong sẽ thấy hệ thống kèo cột và trần nhà rất cao làm cho nhà thoáng mát vì kiểu mái đó có tác dụng che mưa và ánh nắng chói chang vùng nhiệt đới, đồng thời hạn chế được tầm nhìn từ bên ngoài. Nhà ông Trần Công Vàng ở thị xã Thủ Dầu Một là một ngôi nhà rường theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, dài 24m, ngang 22m với 6 hàng 24 cây cột, đầu kèo chạm trổ tinh xảo. Cột nhà xưa thường bằng các danh mộc như sao, cẩm lai, gỗ mun.

Bình Dương hiện còn nhiều ngôi nhà cổ có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật, niên đại trên dưới 100 năm, chủ yếu tập trung ở thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên, như nhà ông Trần Văn Tề (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Văn Hổ (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Công Vàng (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Nguyễn Văn Đằng (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Đỗ Cao Thứa (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Nguyễn Tri Quang (xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một)… Trong số đó có hai ngôi nhà được công nhận Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia vào năm 1993, đó là nhà ông Trần Văn Hổ và nhà ông Trần Công Vàng.

Hầu hết nhà cổ ở Bình Dương có giá trị về mỹ thuật kiến trúc và trang trí là nhà chữ đinh. Riêng nhà của một số gia đình giàu có nổi tiếng ở thị xã Thủ Dầu Một, ở huyện Tân Uyên thì có qui mô khá lớn và hình thức đa dạng chứ không chỉ là kiểu nhà chữ đinh truyền thống. Nhà ông Trần Văn Hổ thuộc kiểu nhà 5 gian 2 chái rất rộng lớn, hoàn toàn bằng gỗ chạm trổ kỹ lưỡng từ cột, kèo đến vách. Kiểu nhà này xưa vốn là đặc quyền của tầng lớp quan lại cao cấp thời Nguyễn, thường dân không được phép xây dựng. Nhà ông Nguyễn Văn Đằng theo kiểu nhà chữ công £¨工¤£©  có hai gian lớn gọi là Đông lang – Tây lang; hay kiểu nhà chữ khẩu £¨口£© (gồm 4 căn với hướng đòn dông tạo thành hình vuông) của ông Nguyễn Tri Quang. Hầu hết những căn nhà cổ vừa nêu trên đều khẳng định chức năng thờ cúng ông bà tổ tiên và thể hiện niềm tự hào về gia tộc trên các bức đại tự như Trung Nghĩa Đường, Trần Miêu Duệ, Nguyễn Phủ Đường… tại gian thờ chính trong nhà.

Việc xây dựng nhà ngày xưa rất công phu. Gia tộc ông Đỗ Cao Thứa cho biết nhà xây 3 năm mới hoàn thành, do những người “thợ Bắc” thi công. Vì địa thế vùng Tân Uyên thấp nên nhà phải đắp nền cao rất công phu. Đất phải lấy từ ấp Bình Hóa (xã Uyên Hưng) vận chuyển bằng xe bò đến bờ sông, sau đó chở đất bằng ghe qua sông rồi mướn người gánh về đổ đắp nền nhà. Nền cao hơn mặt đất 0,8m, xung quanh nền nhà được bọc móng rất kiên cố bằng những tảng đá ong vốn có nhiều ở miền Đông Nam Bộ.

nhacoab

Nhà cổ tại Bình Dương là dấu ấn thời kỳ phong kiến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Hầu hết nhà cửa thời kỳ này còn tồn tại cho tới nay đều nhờ kỹ thuật xây dựng kiên cố với các loại danh mộc quý, chắc như lim, căm xe, cà chất… Khung sườn các nhà xưa hầu hết sử dụng kỹ thuật lắp ghép tự nhiên (lắp mộng) chưa dùng đinh sắt. Các bức vách gỗ phía trước nhà hoặc vách ngăn giữa gian thờ tự với gian nhà trong, những cây kèo, hoành phi, câu đối, bao lam, bàn thờ, trang thờ, bình phong… đều được chạm trổ tinh xảo theo phong cách chạm lộng, chạm thủng, chạm chìm khéo léo. Ngôi nhà vừa là công trình kiến trúc tài hoa, vừa chứa đựng những tác phẩm điêu khắc phản ánh các giai đoạn của nền mỹ thuật Nam Bộ: giai đoạn sớm là chạm trổ trên gỗ mộc, toàn bộ chỉ để gỗ tự nhiên, giai đoạn muộn hơn là dùng sơn ta để sơn son thếp vàng hoặc cẩn ốc, khảm trai, sơn mài…

Thời kỳ đầu nhà cổ tại Bình Dương được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định (thường gọi chung là “thợ Huế”). Bên cạnh đó còn có thợ mộc của “trường phái thợ Thủ” (Thủ Dầu Một) với tay nghề giỏi nức tiếng đã dần đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. “Thợ Thủ” không chỉ  hành nghề ở Bình Dương mà còn ở nhiều nơi khác. Người ta rước “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà hàng năm để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Những thế hệ nghệ nhân “thợ Thủ” đã trải nghiệm tài nghệ của mình và lưu danh về kỹ thuật xây cất và nghệ thuật trang trí nội thất những ngôi nhà trên khắp Nam Bộ. Trong “Nam kỳ nhân vật phong tục diễn ca” Nguyễn Liên Phong đã nêu:

…“Nhà khéo cất tốn bạc muôn

Tiếng đồn thợ Thủ ráp khuôn kỹ càng”

Những nghệ nhân nghề mộc khéo léo, tài giỏi của Bình Dương xưa đã để lại những tác phẩm nghệ thuật của mình trên các kèo đùi ếch, trên “lá dung” đầu kèo, bao lam, hoành phi, câu đối, bàn ghế, tủ thờ… được chạm, cẩn tinh xảo, làm nổi bật sắc gỗ mộc thanh cảnh, vàng óng, đỏ tươi và sắc mun ánh ngời bóng loáng của sơn ta, của xà cừ… Đặc biệt toàn bộ vách trước những căn nhà truyền thống ở Bình Dương thường được “thợ Thủ” chạm trổ tỉ mỉ tài hoa, tạo nên vẻ đẹp sinh động nhưng tôn nghiêm cho căn nhà. Từng khung vuông, khung chữ nhật của bức vách trước được chạm khắc nhiều đồ án hoa văn các môtíp điển hình như tứ linh, tứ quý, quả lựu, hoa mẫu đơn… Vách trước cũng thường chạm đôi “mắt cửa” hay biểu tượng của âm dương, nhật nguyệt và khung viền cửa trước (bao lam) thường chạm trổ kiểu đòn võng khéo léo.

Nhà xưa ở Bình Dương hầu hết lợp ngói âm dương, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Trong nhà theo mô thức trang trí nội thất thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa. Ở một góc nhà có tủ kiếng để chưng bày các cổ vật kỉ niệm. Bàn thờ, nhất là các câu đối trên cột hoặc các bài minh bằng Hán tự đặt trên bàn thờ tổ tiên đều được cẩn ốc hoặc sơn son thếp vàng. Nội dung các câu đối, bài minh hầu hết đều đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Ngoài dấu ấn đặc trưng của tâm thức Nho giáo đương thời thể hiện như yếu tố chủ đạo trong nội dung các câu đối, bài minh… chủ đề trang trí trong những ngôi nhà xưa tại Bình Dương còn thấy một nội dung khác của văn hoá Nho giáo, đó là những bài thơ cổ tả phong cảnh hay là điển tích xưa. Ngoài đồ trang trí nội thất chủ yếu bằng gỗ như tủ thờ, bàn thờ, trường kỷ, bộ ván, mấy bộ bàn ghế… trong nhà còn có nhiều đồ gốm Biên Hòa, gốm Lái Thiêu như đôn tròn, lục giác, đôn voi, chậu kiểng, độc bình. Nhiều ngôi nhà cổ còn có vài vật dụng Tây phương như đèn Măng sông, quạt trần, máy hát đĩa…

Về Bình Dương đắm mình trong không gian tĩnh lặng của những ngôi nhà cổ giữa khu vườn êm ả, tiếng ồn, khói bụi đường xa dường như không len lỏi vào đến nơi đây, cuộc sống xô bồ gấp gáp chốn thị thành dường như không hiện diện ở nơi đây… Chợt thấy mình như được quay về với những ngày xưa yêu dấu…

Tham khảo: Tài liệu của Ban quản lý di tích tỉnh Bình Dương – TS Nguyễn thị Hậu

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Nhà cổ dân gian tại Bà Rịa, Vũng Tàu

Trên vùng đất Bà Rịa -Vũng Tàu ngày nay, vẫn còn tồn tại hàng trăm ngôi nhà cổ xưa . Mỗi một ngôi nhà không chỉ là một tác phẩm kiến trúc có giá trị mang đậm nét tài hoa của những nghệ nhân hàng mấy trăm năm trước mà còn  ẩn chứa sâu sắc những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể .

nhacobaria

Bà Rịa Vũng Tàu vốn nổi tiếng là một vùng đất trù phú, xuất hiện khá sớm trong lịch sử khai phá của người Việt.Từ thế kỷ XVII lớp cư dân đầu tiên ngoài vùng Ngũ Quảng đã tiến vào Nam lập nghiệp. Họ dừng chân nơi đây và cùng nhau khai khẩn đất hoang, khơi thông nguồn lạch, lập ấp dựng làng. Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi, nên dân cư Bà Rịa Vũng Tàu xưa có đời sống ổn định, nề nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Ngày nay, dấu ấn về một cuộc sống phong lưu nhưng nề nếp ấy vẫn còn được lưu giữ trong nhiều ngôi nhà cổ kính với nét rêu phong phủ mờ bởi thời gian. Trải qua hàng thế kỷ,  dãi dầu cùng mưa nắng của xứ nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, nhưng những ngôi nhà cổ xưa vẫn giữ được nét đẹp bình dị . Mỗi ngôi nhà đều ghi dấu những kỷ niệm, những câu chuyện dài của cha ông trong hành trình đi mở cõi vùng đất phương Nam.

Thống kê chưa đầy đủ cho thấy, trên địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu hiện còn 177 kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống, có niên đại xây dựng cách nay gần 70 năm đến trên 100 năm, tập trung chủ yếu ở các huyện Long Điền, Đất Đỏ, thị xã Bà Rịa. Trong số đó có 46 nhà có niên đại xây dựng trước năm 1900. Qua bao biến cố lịch sử, biến cố cuộc đời nhưng nhiều ngôi nhà vẫn được các thế hệ con cháu nối tiếp nhau gìn giữ nguyên vẹn. Nhà ở dân gian truyền thống trên địa bàn tỉnh có nguồn gốc từ loại nhà cột giữa và nhà rường của các tỉnh miền Trung.  Chúng được xây cất từ những kíp thợ từ xứ Ngũ Quảng, miền Trung vào Bà Rịa lập nghiệp, từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18,  chứ không phải từ kinh nghiệm truyền thừa của những chủ nhân ở vùng đất Mô Xoài vốn sớm có mặt khoảng đầu thể kỷ XV. Vì thế, nhà cổ xưa ở  BRVT đđược  nhìn nhận như một phần quan trọng của kho tàng văn hóa kiến trúc quý giá của cư dân vùng đất Bà Rịa Vũng Tàu tạo dựng được trong quá trình mưu sinh và khai khẩn vùng đất phương Nam.

nhacobaria01

Theo kiến trúc sư Mai Quý – giám đốc trung tâm  kiến trúc sư miền Nam: Nhà cổ xưa ở Bà Rịa Vũng Tàu rất phong phú về kiểu dáng kiến trúc gồm kiểu chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Tam, chữ Đinh, chữ Công…Hầu hết đều lợp ngói âm dương, ngói vẩy cá hay ngói mốc, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Nhà có ba gian trên làm nơi thờ tự và tiếp khách, ba gian dưới dùng cho người nhà sinh họat, nghỉ ngơi và chứa lương thực dự trữ. Bề thế và sự am tường của gia chủ được thể hiện rõ trong cách bày trí trong ba gian thờ tự . Gian giữa đặt bàn thờ Phật, hai gian bên thờ tổ tiên, ông bà. Những gia đình giàu có thường mời những nhóm thợ mộc nổi tiếng về đặt làm khám thờ bằng gỗ quý, chạm trổ tinh xảo với các mô típ truyền thống như : lưỡng long chầu nguyệt, hổ phù, tùng, trúc, cúc, mai…sau đó sơn son thếp vàng . Các tủ thờ thường được cẩn xà cừ công phu, trên bàn thờ bài trí hai bên đặt bộ chân đèn bằng đồng, giữa là chiếc đỉnh dùng để đốt trầm, bát nhan sứ trắng men lam hoặc men đồng. Phía trước tủ thờ còn đặt thêm sập thờ, nơi bày trái cây, món ăn trong ngày tết, giỗ chạp.Phía ngoài cùng đặt thêm bộ bàn ghế dùng tiếp khách . Tại xà ngang của gian giữa còn treo thêm vài bức đại tự bằng chữ Hán cũng được sơn son thếp vàng. Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối .Nội dung đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Cách bài trí này không chỉ nói lên sự quyền quý của chủ nhân tại thời điểm tạo dựng mà chủ nhân của những ngôi nhà cổ này hẳn có ý muốn để lại dấu ấn của mình cho con cháu sau này

Hai bên gian còn lại là nơi đặt hai bộ ván ngựa bằng gỗ, để cho đàn ông và khách nghỉ ngơi. Bộ ván ngựa thường được làm bằng gỗ tốt, dày 20 cm, kiểu chân quỳ. Nhiều bộ ván dùng lâu trở nên đen bóng rất đẹp. Ba gian nhà dành cho sinh họat đặt vài bộ ván ngựa, bàn ghế đơn sơ làm nơi sinh họat,ăn uống, nghỉ ngơi, khâu vá. Phía trước nhà là khỏang không thư giãn, được bố trí một hòn non bộ, trồng vài chậu mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế hoặc nguyệt quế… tỏa hương thơm ngát bốn mùa.

Nhà chữ Đinh là một trong những kiểu nhà cổ phổ biến nhất tại Bà Rịa Vũng Tàu, thường có có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ Đinh   trong Hán tự. Điển hình nhất là nhà của ông Lê Văn Còn, ở khu phố Phước Trung- thị trấn Đất Đỏ. Trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, bao biến cố của lịch sử những thành viên trong gia đình không còn nhớ chính xác ngôi nhà đượcxây dựng từ năm nào, chỉ phỏng đoán được xây dựng từ những năm cuối thể kỷ 19 đầu thể kỷ 20.

Cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng, do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ Đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới. Và đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới trong gia đình.Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ.

nhacobaria02

Nói đến nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu, không thể không nhắc đến nhà của ông Nguyễn Văn Hồng , ở khu phố Thanh Long _ thị Trấn Đất Đỏ. Ngôi nhà này đã từng được mượn làm bối cảnh cho nhiều bộ phim Việt Nam. Tổng thể căn nhà theo hình chữ Nhất với lối kiến trúc thuần Việt cổ. Mặt tiền nhà về hướng Nam – theo thuật phong thủy – “Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng Nam”. Hệ thống cột kèo toàn bằng danh mộc quý hiếm. Trên các đầu kèo, đầu đòn,  kể cả những chi tiết nhỏ trong các ngóc ngách đều chạm khắc kỳ công theo kiểu tứ linh,  mai – điểu, liễu – phụng .  Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối. Nội thất trong nhà được trang trí theo mô thức thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa.  Phía trước hiên nhà bố trí hòn non bộ và vài chậu cây cảnh tạo nên không gian tươi xanh. Anh Hồng cho biết : căn nhà này được ông sơ của anh- vốn là Đại hương cổ cả đình làng, một người có học thức và có uy tín trong làng, xây cất từ năm 1922. Để tạo dựng được căn nhà này, ông sơ của anh phải mời cánh thợ khéo tay nhất của miền Trung vào nuôi ăn, nuôi ở để làm nhà  suốt hơn một năm ròng.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhất là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà cổ tại Bà Rịa Vũng Tàu không phải chỉ được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định mà còn có một số căn được  nhóm mộc của “trường phái thợ Thủ” (ở Thủ Dầu Một – Bình Dương) với tay nghề giỏi nức tiếng  đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. Điển hình như căn nhà anh Phạm Văn Võ, ở ấp An Trung- Xã An Nhất- Long Điền . Năm Nhâm Tý 1902, ông nội của anh đã  khởi công xây cất và rước nhóm “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Không thua gì thợ mộc xứ Ngũ Quãng, những nghệ nhân “thợ Thủ” khéo léo tài hoa đã chạm khắc, chạm trổ kỳ công trên những thân cột, rường, kèo, mái nhà những hình long lân quy phụng, song long chầu nguyệt hay những câu chuyện về nhân -lễ- nghĩa- trí -tín …mang những ý tưởng về một cuộc sống thanh bình, nhàn hạ, đậm đà tình quê hương, nghĩa đồng bào.

Nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu gắn liền với giai đọan lịch sử quan trọng, nơi dừng chân đầu tiên của cha ông ta đến khai phá mảnh đất này. Nó còn là nhân chứng trong suốt quá trình con người  đấu tranh với những biến cố thiên nhiên và lịch sử để tồn tại . Người Việt xưa vốn coi ngôi nhà là tổ ấm tâm linh nên nhà cổ cũng mang đậm nét văn hóa đặc thù của nhiều thế hệ, gắn liền với truyền thống uống nước nhớ nguồn, tôn ti trật tự, mối quan hệ gắn bó trong gia đình, họ hàng, dòng tộc. Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngôi nhà cổ đang có nguy cơ biến mất . Nhiều gia đình do kinh tế khó khăn, thiếu thốn chưa có điều kiện để trùng tu, nên xuống cấp trầm trọng hoặc chủ nhà sửa chữa theo ý muốn của họ, nên đã làm biến dạng. Vì vậy “cái cổ” trong một ngôi nhà cổ đã mất đi sự đồng bộ.

Ông Phạm Chí Thân- giám đốc bảo tàng tổng hợp tỉnh cho biết: Nhà cổ là nét duyên xưa,nét đẹp văn hóa mà người xưa để lại cho bao đời sau – thông qua việc tạo nên những ngôi nhà cổ vô giá.Giữ gìn, bảo tồn và phục dựng đúng cách những ngôi nhà cổ cũng là một nét đẹp – một sự kế thừa truyền thống văn hóa của cha ông để lại.

theo BRT

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Gốm Gò Sành – gốm Chăm cổ

Từ lâu, Gò Sành hay xóm Sành – tên một xóm nhỏ thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định – đã trở thành điểm tham quan, tìm hiểu của giới nghiên cứu gốm cổ trong nước và quốc tế.

Nằm cạnh quốc lộ nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, vị trí Gò Sành rất thuận lợi cho những ai có dự định đến thăm.

Người dân Phụ Quang kể rằng, trong khi đào đất xây dựng hoặc canh tác, họ thường gặp những vùng đất ken dày các mảnh gốm sứ với nhiều bát, đĩa, cốc còn nguyên vẹn. Tuy không biết chúng đã bị vùi lấp từ bao giờ nhưng họ cho rằng chủ nhân của những cổ vật này là người Chăm.

Vào khoảng những năm 70 thế kỷ trước, gốm Gò Sành đã theo chân giới buôn bán đồ cổ đi đến nhiều vùng, gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam và thế giới. Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ TP HCM đã đến Phụ Quang để tìm hiểu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào tại Gò Sành nhưng họ cũng đưa ra giả thuyết, người Chăm đã làm ra những sản phẩm gốm này.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng

go-sanh

Tượng gốm Gò Sành.

Hơn 10 năm sau, những hiện vật gốm Gò Sành lại được nhắc đến. Dựa vào những hiện vật có nguồn gốc từ Gò Sành của một nhà sưu tầm trong nước, Rosana Brown, một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á, dành một chương trong luận văn tiến sĩ của mình viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định. Cho đến trước năm 2000, đã có bốn cuộc khai quật được tiến hành liên tục tại khu di tích này.

Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có năm nhóm. Ở huyện An Nhơn có Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các đều nằm dọc hai bờ sông Kôn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy.

Những cuộc khai quật khảo cổ tại Gò Sành được thực hiện vào các năm 1991, 1992, 1993. Cuộc khai quật năm 1994 có sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò số 1, số 2 và số 3 là ở Gò Sành.

Lò số 1 có tên là lò Cây Quăng, hiện còn khá nguyên vẹn, từ tường, nền và sản phẩm nung cuối cùng. Nó có dạng hình ống với tổng chiều dài 14 m. Buồng lò hình chữ nhật, mở rộng dần về phía cuối, đo được 1,6 m. Chiều rộng ở phía trước là 2,8 m.

go-sanh2

Gốm Gò Sành có nhiều sản phẩm độc đáo

Ở một bên tường có cửa để vào xếp và dỡ sản phẩm. Một bức tường thẳng cao 0,5 m tách riêng phần buồng lò và bầu đốt. Chỗ tường phía cuối lò cũng xây bằng những bao nung để thoát lửa và khói, được xếp thành hàng ngang với 6 lỗ trống. Hai lớp nền thuộc hai thời kỳ khác nhau, được phân biệt rõ ở phần buồng lò, với lớp nền dày 0,3 m. Tường lò được xây bằng bao nung, nhồi đất sét kín ở bên trong. Đây là kỹ thuật xây rất mới mà các nhà nghiên cứu chưa thấy xuất hiện ở đâu khác trên đất Việt Nam.

Lò số 2 có tên là lò Cây Mận (Cây Roi), nằm ở phía nam của Gò Sành. Về kỹ thuật, nó giống như lò số 1, tường cũng xây bằng những bao nung lèn đất. Cách sắp xếp cột chia lửa trong bầu đốt cũng tương tự.

Lò số 3 nằm dưới lò số 2. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là lò có niên đại xây dựng sớm nhất. Tường không làm bằng bao nung mà hoàn toàn bằng đất. Lò rộng 1,2 m chỗ gần bầu đốt, 1,7 m ở phía sau. Chiều dài thân lò 5,3 m. Ở cuối tường mở bốn lỗ trống thoát khói. Ống khói nhỏ, góc thoát lên trên, lối dẫn lửa vào nằm ở cùng độ sâu với buồng lò, cho phép lửa từ bầu đốt đi lên. Đây là kiểu đốt lửa độc đáo của người Chăm mà trước đây chưa thấy một tư liệu nào nói đến.

go-sanh3

Hiện vật tại hố khai quật Gò Sành

Hiện, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định thu thập và lưu giữ một bộ sưu tập khá phong phú các sản phẩm gốm Gò Sành. Việc xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập có thể giúp hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Sản phẩm sành sứ chủ yếu được sản xuất tại đây bao gồm bát, đĩa, chậu tráng men, ngói không men và vật trang trí kiến trúc. Những chiếc bát đĩa tráng men Celadon và bình hũ tráng men nâu có đặc điểm tương tự với sản phẩm các lò Phúc Kiến (Trung Quốc).

Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn có xương màu xám mực, đỏ nhạt, giai đoạn sớm dùng kỹ thuật con kê, men tráng gần sát đáy; giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.

Gốm Gò Sành sản xuất ra không chỉ để phục vụ tại chỗ mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan thuộc Philipphines có hàng nghìn đồ gốm Gò Sành.

Cho đến nay, chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắn chắn niên đại khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung. Nhưng qua những kết quả khai quật tại Gò Sành và ở nước ngoài, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của làng nghề này nằm trong khoảng thế kỷ 15-16. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng, việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, chậm lắm là đến thế kỷ 16.

Dựa vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, loại hình các sản phẩm được làm ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu kết luận, chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Chămpa cổ.
Theo Địa Chí Bình Định

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »