Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Đức Chính’

Đầu Xuân Nói Chuyện Quốc Hoa

Tản mạn: Đức Chính

Quốc hoa là gì nhỉ? Hình như nhiều người cho đó là câu hỏi vớ vẫn, nhưng bình tâm tâm ngẫm xét lại xem: quốc hoa hơn loài hoa khác điểm gì. Quốc hoa không là thứ đua đòi danh tiếng, nó phải là loài hoa đi vào hồn dân tộc và gắn bó với sự thăng trầm của dân tộc. Trong dòng tư duy triết lý ẩn tàng trong quốc hoa bộc lộ ra dân tộc tính thuần chất của hầu hết mọi người cùng chung sống trên một mảnh đất được gọi là quốc gia.

Quốc hoa không thể gượng ép trao cho, nó hình thành từ trong tâm tư của người dân khi nhớ tưởng đến nó và nó phải là một biểu hiện tâm linh đặc thù của một dân tộc. Gía trị tâm linh đó không thể là dòng triết lý hay tín ngưỡng du nhập, càng không phải là tư tưởng riêng cho một nhóm người. Quốc hoa phải là loài hoa để mọi người không phân biệt tuổi tác, tín ngưỡng, địa vị xã hội cùng cảm nhận linh hồn của nó.

Gần đây có trào lưu phong hiệu quốc hoa quốc tửu. Một số đông bầu chọn hoa sen. Hoa sen là loài hoa cao quý, nhưng dòng tư tưởng đó du nhập từ Thiên Trúc qua nhiều ngã, trong đó không ít sự pha trộn dòng triết học Trung Hoa. Đành rằng sự du nhập đó đã trải qua nhiều thế hệ, ăn sâu vào lòng người, nhưng trong chừng mực nào đó gần như mặc nhiên coi là biểu tượng Phật giáo. Nên hay chăng gán ép người theo Cơ Đốc chấp nhận một quốc hoa mà trong đức tin của họ không hòa đồng được với những nét sâu xa thâm trầm mà hoa sen vốn có. Hay là vì tên gọi một loài quốc hoa khiến họ thành một bộ phận tách rời sống trong lòng một dân tộc. Linh hồn của một quốc hoa là để mọi người trong một dân tộc cùng hoài cảm như nhau: vậy hoa sen có nên là quốc hoa hay không? Chúng ta cứ suy tư mà tự trả lời.

Cũng có bài báo nêu cây lúa. Lúa ư! Đáng trân trọng lắm đấy chứ, nhưng xưa nay nào ai đã bẻ một nhánh lúa đòng đòng trưng trong nhà đâu mà gọi là hoa. Hơn nữa, dòng tư tưởng gắn với cây lúa không mang đậm triết lý sống. Vậy có nên chọn một loài cây có tâm linh thiếu nồng thắm như thế làm quốc hoa chăng?

Thế còn cây mai vàng. Ở đây nói đến loài mai vàng chưng tết, không nói đến loài mai mơ đặc nét Trung Hoa.

Có thể lắm chứ. Ngày xuân trong buổi họp mặt gia đình mà thiếu cây mai hình như không khí kém đi phần thiêng liêng của tinh thần gia tộc. Ai cũng cố tìm cho mình một canh mai vàng thật đẹp trong buổi đầu xuân, cầu mong một điều may mắn (mai trại là may) như một tâm nguyện của người dân xứ nghèo muôn đời lo chiến tranh loạn lạc. Cây mai hình như có một linh hồn, người Việt xa xứ thường cố tìm một cành mai để kỹ niệm ngày tết riêng của dân tộc mình thay vì nhánh đào đỏ thắm. Nhiều Việt Kiều lớn tuổi ngắm cành mai vàng qua ngày rụng từng cánh mà rưng rưng nước mắt nhớ về kỹ niệm ấu thơ, nhớ về quê hương. Cây mai vàng không được thêu dệt nhiều huyền thoại tâm linh chép thành sách như người Trung Hoa hay thêm thắt cho tín ngưỡng của mình, nhưng ngay chính nó có một thứ triết lý ‘vô ngôn’ chỉ những người vì hoàn cảnh xa quê cha đất tổ mới cảm được. Há thứ triết lý đó chẳng phải quá sức thâm trầm vượt ngoài ngữ nghĩa. Chỉ có trực tâm hoài cảm mới thấu được đạo lý “nguồn cội” của cành mai vàng vào đầu xuân nơi xứ lạnh.

Nếu cây đào còn mang dấu ấn của Trung Hoa, cây mai vàng hình như chỉ có ở Việt Nam đưa vào hàng hoa kiểng. Xứ Châu Phi không thiếu loài mai vàng nhưng họ có trân trọng  như người Việt chúng ta đâu. Người Nhật đặc trưng với quốc hoa Anh Đào vì chính họ và chỉ riêng họ biết nâng niu loài hoa ấy. Cây mai vàng của chúng ta có nét thuần túy dân tộc riêng như Anh Đào, có một tâm linh huyền diệu như thế, sao không là quốc hoa?

Hoa Champa (hoa sứ) là quốc hoa của Chiêm Thành nhưng dân tộc này chẳng bao giờ gọi nó là quốc hoa. Chí sau này các nhà nghiên cứu mới nói thế. Chẳng qua vì loài hoa đó gắn với dân tộc Chăm như cành mai vàng gắn với người Việt. Cả hai đều là sự hòa quyện linh hồn vào dân tộc, cả hai không là thứ gượng ép áp đặt. Quốc hồn quốc túy là thứ tự sinh ra và tiệm biến trong lòng dân tộc, nó không vay mượn hay ‘chế biến’ mà thành. Hãy cho bất cứ người dân Việt nào khi ngắm quốc hoa đều thấy hồn mình trong đó và kiêu hãnh đó là loài hoa đặc thù của dân tộc mình. Đáng buồn nhất là một ngày nào đó có du khách nước ngoài bảo loài hoa X gì đó là quốc hoa của dân tộc Y từ hàng thế kỷ rồi, chứ không gượng ép được chọn hồi thế kỷ 21. Hoa mai vàng chưa có dân tộc nào chọn làm quốc hoa và chắc chắc chẳng có dân tộc nào gửi nhiều tâm khảm vào loài mai vàng bằng dân tộc Việt. Mai vàng là quốc hoa được chăng?

Chuyện quốc hoa dần sang quốc tửu! Tôi chẳng muốn nói có cần hay không cần chọn một loại quốc tửu, chỉ muốn nói khi nhấp ly quốc tửu đó tâm linh người Việt thế nào? Nào ai cùng tôi rót ba ly rượu nếp tiêu biểu ba miền: rượu làng Vân, rượu Bàu Đá, rượu Gò Đen. Ai sành rượu xin mời phân biệt đúng tên từng loại rượu. Có lẽ người có khả năng này chỉ đếm trên đầu ngón tay, nếu không muốn nói không có, thế thì lạm bàn quốc tửu có quá lời chăng? Cũng như ai nhấp thử một ly rượu đủ sức nói đúng cách chế biến men, phân biệt được lửa già lửa non, trái gió hay không  trái gió khi nấu, … Có cao nhân như thế kẻ hèn này xin nâng chén tôn làm thầy. Tôi nói ý này chỉ với mục đích: hãy nghiên cứu cho kỹ rồi bàn về quốc tửu. E rằng rất nhiều kẻ huyên hoang cổ động quốc tửu này quốc tửu nọ nhưng thú thưởng rượu chẳng biết được bao nhiêu.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Advertisements

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát:  ĐỨC CHÍNH

Bài 4:  HỌA TIẾT HOA , LÁ -DÂY LÁ VÀ QUẢ

Trong nghệ thuật trang trí của người An Nam, giới thực vật cũng được sử dụng với họa tiết hoa, lá, dây là, và quả.

Lá là họa tiết trang trí đơn giản (hình LXXV, LXXIX), còn dây lá rườm rà và có kích thước rộng hơn (hình LXXXVII). Khi họa tiết chạy viền khổ hẹp theo một khung thì gọi là ‘đằng’ (dây leo) như liên đằng (dây trang trí lá sen[1]), lan đằng (dây trang trí cây lan) (hình LXXIV)

Chỉ thỉnh thoảng mới thấy họa tiết lá mang hình dáng tự nhiên (hình XCIII), còn thường thì đều cách điệu hóa. Khi lá ló ra từ một trung tâm dày mẫm thì gọi là bẹ (hình LXXX, CX, …), loại này thường để trang trí gờ mái nhà hay đôi lúc dùng trang trí đỉnh cột (hình CXV). Ở bắc kỳ, đỉnh cột hay được trang trí hình bốn con chim phượng ‘cắt đuôi’, hình tượng này không thất vùng quanh Huế.

Tên các họa tiết hoa lá thật khó xác định, ngay các nghệ sĩ An Nam cũng nhiều khi không biết và họ hay biến đổi hình dáng theo ngẫu hứng. Tuy nhiên cũng có thể giới một một số như họa tiết “lá lật[2], được biến cách thành đầu rồng nhìn chính diện (hình LXXXI, LXXXII, LXXXIII, LXXXIV). Nhưng phần lớn các nghệ sĩ không biết gọi tên họa tiết này là gì, có người gọi là ‘’ có người gọi là ‘mặt nạ’ (hình CXXXVI).

Họa tiết thường dùng ở bờ mái nhà và mép đồ gỗ có tên ‘lá đề’, lá chẻ ba thùy và thùy giữa nhọn đầu. Nhưng một số nghệ sĩ Huế lại gọi là ‘vân kiên’雲肩 (vai áo hình như cụm mây). Quả quân lính An nam thời xưa trên vai áo và quanh cổ có miếng vải hình giống như thế. Một số khác lại đặt tên cho nó là ‘tam sơn’三山 (ba ngọn núi) vì ba thùy lá chẻ ra giống như vậy (hình LXXI, LXXII. Xem thêm y phục các vị thần ở hình CCVIII, CCXI). Ví dị này cho thấy các nghệ sĩ An Nam không thống nhất thuật ngữ họa tiết, khi thì gọi tên này khi thì gọi tên kia, chủ yếu dựa vào hình dáng họa tiết giống man máng vật họ từng thấy.

Hoa đã cách điệu cũng khó định danh, khó lòng đặt tên khi ở trên cụm lá quy ước. Một loại mô-típ hoa có thùy rộng nằm giữa họa tiết lá (hình LXXVI, LXXVII. LXXVIII), đôi khí ở ngay những nét đầu tiên của đầu rồng nhìn chính diện, có vẽ là hoa mẫu đơn. Nhưng giữa các nghệ sĩ có nhiều bất đồng tên gọi loại hoa này. Một số gọi đó là ‘bông tây’, một số khác gọi là nụ hoa cách điệu tranh trí ở cuối mô-típ hoa hay mô-típ chùm lá (hình LXXV). Tên này hay được các nghệ sĩ điêu khắc gọi đùa, có lẽ chịu ảnh hưởng của mô-típ trang trí du nhập từ Pháp qua hồi thế kỷ 18 hay đầu thế kỷ 19.

Họa tiết ‘hoa đào’ (hình XII) chỉ có 4 cánh hơi nhọn ở đầu. Họa tiết ‘hoa mai[3] có năm cánh (hình IX, X), đầu cánh bầu tròn. Họa tiết ‘bông bèo’ (giống hình cây bèo ở đần lầy) có bốn cánh, mép cánh có khía và co rúm giống hoa ở cây họ hoa hồng. Họa tiết ‘hoa chanh’ có tám cánh, trong đó có bốn cánh dài khá thon mảnh và bốn cánh trung gian ngắn hơn (hình II). Họa tiết ‘hoa thị’ do bốn hình tròn cắt nhau, có bốn thùy dài thỉnh thoảng chen vào các cánh trung gian ngắn hơn (hình XIV, XV, III). Họa tiết ‘hoa quỳ’ kết lại từ vành các cánh nhỏ hình tròn.

Chúng ta thấy hoa lá không thuần túy là họa tiết trang trí thôi, chúng còn là những biểu tượng hay điển cố. Một biểu tượng khá quen thuộc là ‘tứ thời’ (bốn mùa) gồm cây mai (mơ) tượng trưng cho mùa xuân, cây sen tượng trưng cho mùa hạ (hình XCV), cây cúc tượng trưng cho mùa thu, và cuối cùng cây tùng tượng trưng cho mùa đông (hình XCVII). Một số người gọi biểu tượng bốn mùa là ‘tứ quý’ gồm cây mai, cây sen, cây cúc và cây trúc (mai liên cúc trúc). Người ta dùng các mô-típ này (lá, hoa và dây lá trang trí trên những tấm ván của đồ gỗ, trên các chi tiết sườn nhà, … Hoa sen chủ yếu đi vào các trang trí Phật giáo. Hoa sen được cách điệu một cách đặc biệt (hình C, CI, CII) gợi lên hình ảnh tòa sen của Đức Phật.

Họa tiết cây cũng thường được biến cách theo truyền thống: nhánh mai hay nhánh đào mô-típ thành ‘phụng’, tùng và trúc thành ‘long’ (hình XCVII), sen thành ‘quy’, cúc thành ‘lân’; loa kèn thành ‘long’. Thế nhưng ngẫu hứng của người nghệ sĩ còn cho phép họ biến cách mọi loài cây thành một con vật huyền thoại có quyền năng thần bí.

Có một loài hoa mà chúng ta chưa nhắc đến: ‘mẫu đơn’. Ở An Nam không có loài hoa này, tên nó dùng chỉ một loài hoa khác mọc hoang trên các ngọn đồi hay đánh trồng trong chậu kiểng; đó là cây ‘đơn’ (ixore?) có hoa hình tán từa tựa hoa mẫu đơn và người ta tin là vậy nên đưa vào điêu khắc và hội họa. Đó là sự nhầm lẫn. Hoa mẫu đơn thường biến cách thành con lân, đôi khi thành chim phụng (hình XCVIII), hay bất kỳ con vật siêu nhiên nào khác.

Nếu người nghệ sĩ giữ đúng truyền thống họa tiết, các loài hoa nói trên dễ thống nhất tên gọi. Nhưng khi do thiếu kiến thức, do sơ xuất hay là do ngẫu hứng, họ pha trộn các mô-típ với nhau thì khó xác định tên. Chẳng hạn có một trang trí dưới chân là một chùm lá cúc bị kéo dài ra, rồi cho thêm vào mấy lá ngắn và tròn hơn cỉa cây mẫu đơn, hai đầu lại có hoa mai (mơ). Tôi lưu ý trường hợp này lọt vào các nghệ sĩ làm hàng cho người Châu Âu nhưng lại có những ngẫu hứng đáng tiếc như vậy (hình XCV).

Các loại trái cây các tay điêu khác và hội họa An Nam hay dùng có: lê, đào, phật thủ, lựu, mảng cầu (quả na); hiếm hơn có nho, dưa (gọi là qua) và trái bầu (hình CV, CVI, CVII, CVIII). Quả lê biến cách thành ‘lân’, đào thành ‘quy’, phật thủ thành ‘đầu rồng nhìn chính diện’ (hình CIX), quả na thành ‘phụng’. Theo một số nghệ sĩ, bốn loại quả lê, lựu, đào, na thuộc bộ ‘tứ hữu’ (bốn người bạn).

Phần lớn các hia quả đều mang một ý nghĩa biểu tượng. Đào là loài cây được coi có tính thần bí, gỗ của nó trừ tà trục quỷ. Ở Trung Hoa các đạo sĩ thường khắc ấn bằng gỗ đào, gỗ đào còn được chuốc thành các mũi tên để bắn ma quỷ mưu toan hãm hại trẻ em. Mấy người bị bệnh mà người ta cho là do tà ma sẽ bị đánh bằng roi gỗ đào[4].

Ở An Nam hiếm có cây đào nên các tục mê tín này ít thịnh hành. Nhưng người ta đưa cây đào vào trang trí mỹ thuật là do du nhập tín ngưỡng từ Trung Hoa, cho rằng quả đào biểu tượng cho sự trường thọ. Tích Trung Hoa có kể: vua Hán Võ Đế được bà Tây Vương Mẫu ban cho bảy quả đào tiên, loại đào này ba ngàn năm mới nở hoa một lần và chờ ba ngàn năm nữa trái mới chín. Bà Vương mẫu mỗi năm háo đào tiên để mở hội Bàn Đào thết đãi chư tiên, vì thế nhiều vị tiên hoan hỉ đến dự hội để được ăn đào tiên. Người ta còn truyền tụng trong quả đào có chứa tiên dược. Nhân quả đào gọt thành hình cái khóa để làm bùa cho trẻ em đeo. Thêm nữa, Thọ Tinh (Ông Thọ), vị thần chủ về sự trường thọ, nhiều lúc được biểu tượng bằng quả đào. Chính những truyền thuyết và tín ngưỡng đó đã đưa quả đào vào nỹ thuật An Nam; loại quả này biểu tượng cho sự trường thọ, cho phúc đức. Trong văn học An Nam lại còn dựa vào quả đào có lớp lông mịn màng để mô tả cô gái đẹp (mơn mỡn đào tơ).

Quả lựu biểu tượng cho sự ‘con đàn cháu đống’ vì trong quả lựu có vô số hạt hồng hồng, mỗi hạt tượng trưng cho một đứa con đứa cháu. Do vì tiếng Hán hạt là chữ ‘tử’ cũng có nghĩa là con nên ở Trung Hoa người ta hay biếu quà cưới bằng quả lựu.để cô dâu chú rễ chúc đông con nhiều cháu.

Sen cũng có biểu tượng giống như lựu vì trong búp sen có nhiều hạt. Thêm nữa, hoa sen lại là biểu tượng của Phật giáo.

Quả lê ở Trung Hoa cũng là biểu tượng cho đứa con do từ chữ ‘lê tử’ (quả lê) được trại ra thành ‘lập tử’ (có con). Vì có sự phát âm khác nên biểu tượng này ít dùng ở An Nam.

Ở Trung hoa quả dưa (qua 瓜) cũng được coi là biểu tượng đông con do quả dưa có nhiều hạt. Biểu tượng này có thấy ở những bức chạm, nhưng hiếm thôi.

Quả bầu có hai ngăn dùng chứa nước cũng thấy trên các tấm biển, nó là một trong ‘bát bảo’ mà chúng ta đã có dịp nói đến. Quả bầu cũng thấy dùng trang trí ở giữa gờ nóc mái nhà nhưng hạn chế trong phạm vi phủ đệ và chùa chiềng[5], biểu tượng cho sự trù phú, giàu có (hình VII, XLIX).

Trung Hoa coi mẫu đơn là nữ hoàng các loài hoa. Mẫu đơn đỏ tượng trưng cho sự hưởng thụ và giàu sang vì ở Trung Hoa và An Nam màu đỏ là màu cát tường. Hoa này cũng biểu tượng cho người ái thiếp. Lã Đồng tân, vị tiên bảo trợ cho văn nhân, thường thưởng ngoạn hoa mẫu đơn vì bà vợ xinh đẹp như tiên của ông từ đó hiện ra.

Ở Trung Hoa hoa mai (mơ) tượng trưng cho sự ngăn ngừa ma tà; còn ở An Nam tượng trưng cho cô gái đẹp qua hai câu thơ:

Lách mình vô bẻ bông mai,

Bẻ rồi, cửa đóng then cài uy nghi.

Cây trúc cũng được coi là biểu tượng của sự bất tử như cây tùng vì hai cây này luôn xanh lá. Trong một bản rập của Trung Hoa, hình ảnh cây tùng tượng trưng cho thọ tinh. Còn trong thi ca An nam, cây tùng là hình ảnh một cô gái đẹp:

Một bên bồn lựu, một bên bồn tùng.

Anh đây cũng muốn thờ chung hai bồn.

Bức tranh có hình cây tùng và con nai (tùng lộc) thường thấy trong các họa tiết trang trí cũng mang một ý nghĩa biểu tượng: cây tùng tượng trưng cho sự sống lâu (nên nhiều khi thấy đi chung với con hạc, cũng biểu tượng cho trường thọ), con nai chỉ ‘lộc’ được hưởng (tức làm quan, phú quý và may mắn). Chúng ta thấy tùng lộc là lời cầu chúc cho sống lâu và giàu sang. Họa tiết tùng hạc cũng có ý nghĩa như thế.

Phần sau chúng ta sẽ thấy theo truyền thống cổ xưa chúng ta sẽ thấy nhiều con thú được kết hợp với nhiều loài thảo môc khác nhau.

Đa số các trang trí dấu nhấn, nghĩa là các trang trí là bật lên độ cong của một đường nét hay thấy dùng trong kiến trúc, đều mượn từ họa tiết thực vật, Ở đây chúng ta đi từ đơn gián đến phúc tạp các họa tiết loại này: mỏ neo (hình CX:1), mỏ chim cu (hình CX:2), lá bẹ (hình CX:3), guột bẹ hay cuộn bẹ (hình CX:4), guột vân hay cuộn mây (hình CX:5-6), lá, hồi văn., tứ linh, cá.

Trong số các trang trí này có một số thoát sinh từ mô-típ trang trí khác. Chẳng hạn mỏ cu là họa tiết mỏ neo được làm dịu mắt bởi nền guột. Guột mây cũng có thể coi như mỏ cu, chỉ khác phần cuốu thay vì nhọn lại tròn và lớn hơn mỏ cu. Guột bẹ cũng là lá bẹ nhưng phần đuôi lá tròn đi và cuộn lại. Cụm lá cũng là những chiếc lá được kéo dài mãi ra và gấp khúc lại. Nói cho đúng, guột mây, lá bẹ, guột bẹ và cụm lá chỉ là sự phát triển lên hai yếu tố thuần túy ban đầu: mỏ neomỏ cu.

Hẳn nhiên hồi văn và họa tiết hình thú thuộc nhóm khác nhưng nói thêm ở đây vì có quá trình biến cách thành chúng. Kinh điển là sự biến cách của lá (lá hóa). Cụm lá đôi khi được dùng đơn thuần, nhưng thường thì phần dáy cụm lá hay hóa thành đầu giao long (hình CXVI). Hoặc guột chính của dây lá cổ con rồng đang ngẩng cao hay cổ con phụng được ghép thêm vào. Trường hợp này cũng thấy ở hồi văn. Guột mây thỉnh thoảng có một con mắt mà người ta nói giống đầu con thủy long (rồng nước). Cũng không nên không nhắc đến họa tiết mỏ cu khiêm tốn trang trí trên nóc máu giống hình con cá giản lược hóa đang quẩy đuôi.

Chủ đề dùng họa tiết dấu nhấn khá rộng, tựu trung có mấy quy tắc chính để theo.

Đôi khi ở đầu chái nhà có trang trí mỏ neo. Hoặc là tương ứng với mỏ neo này trên gờ nóc mái có mỏ cu. Khi gờ nóc máu có hình lá bẹ, hay thường nhất là cụm lá, thì gờ nóc chái trang trí mỏ cu. Các ví dụ này đủ mang lại sự hình dung lối trang trí đơn giản. Khi xuất hiện họa tiết con vật linh – và đó là trường hợp ở cung điện hay chùa chiềng – con rồng luôn ngự trên nóc mái trừ phi ngôi chùa thờ Phật bà và trường hợp này thay bằng con phụng. Khi trang trí đến tứ linh, con lân luôn đứng sau con phụng và con rồng, dưới nữa là con rùa. Và tứ linh luôn kèm theo hoặc là họa tiết lá bẹ hoặc là họa tiết hồi văn, hoặc ít ra phải có mỏ cu hay mỏ neo; đôi khi có tất cả các họa tiết này cùng một lượt nhưng luôn luôn có sự giảm tiết dần. Đó là trang trí lớn.

Trong tranh trí cấp trung bình chúng ta thấy trên nóc mái có có long hay phụng; ở gờ các đầu hồi có lá hóa long, ở gờ đòn tay có hồi văn đơn giản hay biến cách. Hai mô-típ sau này có kèm theo lá bẹ, mỏ cu hay mỏ neo. Nhưng như tôi đã nói, các mô-típ này dược áp dụng một diện khá rộng (hình CXXXIX, CXL, CLVIII, …).


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 5: Họa tiết hình thú – Con rồng)


[1] Tác giả dịch cây sen là nénuphar. Có lẽ đây là sự nhầm lẫn vì nénuphar là cây súng (loài cây hầu như không thấy trong mỹ thuật cổ Việt Nam). Cây sen tiếng Pháp là lotus – ND

[2] Tên một loài cây giống như cây sồi. ND

[3] Đây là loài mai mơ chứ không phải mai vàng chưng tết. Tiếng Pháp là prumier. ND

[4] Theo Recherches sur les Supertitions en Chine (Nghiên cứu về các tục mê tín ở Trung Hoa) của Henri Doré (trang 477)

[5] Như đã chú thích, có lẽ tác giả nhầm lẫn với đền thờ Đạo giáo. Quả bầu không trang trí ở chùa.

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

BÀI 3 : HỌA TIẾT HÌNH TĨNH VẬT

Nhiều món tĩnh vật đã đi vào họa tiết trang trí của người An Nam. Hồi văn hình kệ trên doanh liên (cặp biển câu đối) chúng ta đã thấy ở hình XXXV là một ví dụ.

Trên cao đề kỷ (món đồ gỗ có dạng hồi văn) người nghệ sĩ đặt trên đó những món đồ thờ, như bộ tam sự gồm lư hương, bát nhang và ống nhang đèn; hoặc bộ ngũ sự như chúng ta đã biết hồm ba món trên và hai cái chân đèn.[1] Tuy nhiên người nghệ sĩ có thế thế một vài món trong đó bằng bình hoa trang nhã (hình LIV, LV, LVI) hay quả bồng (plateau à offrandes) đựng thức cúng, một cái khánh tượng trưng cho đại phúc, một pho sách, một quản bút lông … (hình LVII). Tất cả các món này thể hiện độc lập với cao đề kỷ đỡ chúng bên dưới.

Cuốn thư có công dụng lớn. Về nguyên tắc đó là một cuộn giấy giỡ ra nửa chừng, hai đầu hơi cuộn vào. Người dùng cuốn thư thay cho hoành phi (en-tête des panneaux à sentence – hình LVIII) hay trang trán tường phía trên cửa (fronton de porte). Nhưng thông thường nó dùng trang trí các biểu tượng (hình LIX). Phần lớn các bìnhphong đều có dạng cuốn thư gấp, có thể còn nguyên dạng hay đã biến cách ít nhiều. Các tấm bình phong, còn nguyên tấm hay có trổ lỗ, là nơi hội tụ mọi họa tiết trang trí (hình LXI, LXVII, CLVII).

Hỏa châu (trái châu, quả châu) thường thấy ở chính giữa gờ nóc đền chùa. Mô-típ thông thường của hỏa châu gồm một ‘mặt nguyệt’ (một dĩa hình tròn tựa trên mấy cụm mây) xung quanh có các ngọn lửa. Nhưng cũng có biến cách: mặt nguyệt để trên đầu con rồng nhìn chính diện, v.v… Họa tiết này thường kèm theo hình hai con rồng ở hai đầu gờ nóc mái, gai on rồng có thể thể hiện nguyên hình hay có biến cách đi. Mô-típ này có tên là “lưỡng long triều nguyệt”. Chúng ta có thể thấy hỏa châu ở một trán bia (hình LXIV). Có khi hỏa châu kết hợp với biểu tượng âm dương (hình LXV) có khi với hoa mẫu đơn, hai con rồng có thể ở xa hai ñaàu hay áp sát lại gần hỏa châu (hình LXVI, LXVII).

Trên gờ nóc mái có khi thay thế hỏa châu bằng trái bầu, trường hợp này chí thấy chùa chiềng và phủ đệ. Đó là biểu tượng cổ của Phật giáo, mang ý nghĩa mọi thứ trù phú[2].

Hồi nhớ lại có thể kể thêm những món thứ yếu khác: quả tua và tua viền (ví dụ hình XXX), ngọn lửa (hình LXIII, LXIV), dãi vải (hình LXIX) và dãi vải đôi khi có biến cách thành ngọn lửa, khói (hình LIV, LV), mây vây quanh rồng (hình CXXII), sóng biển cách điệu uốn cuộn gọi là thủy ba (hình CLXV); đá cách điệu (hình CCXIV), quả cầu ở hình tượng sư tử hí cầu (hình CXCV),.

Đôi chỗ họa tiết thể hiện nhiều hình tĩnh vật, thường thấy nhất là ‘bát bửu’, ở đòn tay, ở giữa tấm vách ngăn buồng, hiếm thấy hơn như trên đồ gỗ và hòm rương. Tĩnh vật trong bộ bát bửu rất lan man. Tùy từng tác giả có khi thêm vào món này có khi bỏ ra món khác. Một bộ bát bảo thấy ở nhiều tác giả như sau: quả bầu, quạt, gươm, đàn, quyển sách, bút, cây sáo, phất trần; và xin nói thêm thành ngữ bát bảo (tám món đồ báu vật) nghe có vẽ quá đáng so với mấy món đồ kia. Trong cuốn Cour Supérieur d’Annamite (Pháp Ty Viện An Nam), đệ nhất lục cá nguyệt 1909, ông H. Tissot kê bát bảo gồm: pho sách, như ý, lẵng hoa, bầu rượu, cây đàn, cái quạt, phất trần. Còn ông G. Dumoutier trong cuốn Les Symboles, les Emblèmes, les Accessoire de Culte Annamute (Biểu tượng, Biểu trưng và Tự khí An Nam) cho là: hai cây sáo ghép đôi, cây đàn tỳ bà, cái quạt, lẵng hoa, pho sách, cuốn thư, cái khánh, và quả bầu.

Còn đây là bát bảo theo Trung Hoa, thấy chẳng khác gì của An nam. Trong cuốn L’Art Chinois (Mỹ Thuật Trung Hoa), các trang 237-239, Bushell viết:

“Biểu tượng của Đạo giáo,tám món bửu bối của các vì tiên: cây quạt của Chung Ly Quyền có phép quạt hồi sinh người chết, thanh gươm tầhn của Lã Động Tân ; quả bầu tiên của Lý Thiết Quài, cặp sênh phách của Tào Quốc Cựu, giõ hoa của Lam Thái Hòa, ống trúc và đôi gậy của Trương Quả Lão, cây sáo của Hàn Tương Tử, hoa sen của Hà Tiên Cô.

“Bách cổ (100 món cổ vật) bao gồm bát bảo và bốn ngón mỹ thuật ‘cầm, kỳ, thi, họa’.

“Bát bảo này có châu, kim tiền, cuốn thư (biểu tượng chiến thắng) , thư (sách), họa (bức tranh), khánh ngọc, cặp chén rượu sừng tê giác, lá bối.”

Còn phức tạp thêm khi thấy có bát bảo của Phật giáo: bánh xe pháp, tù và, bảo cái, bảo tán, hoa sen, bình bát, mỏ, dây liên hoàn. Có khi còn có thêm chữ vạn, lư hương bốn chân, một chữ cổ, cái chuông.

Quả là vô ích khi muốn xác định bát bảo, ai cũng thấy vậy. Nhưng nó là một quan niệm cho rằng những vật đó mang lại sự tốt lành cho con người. cho con người thụ hưởng mọi mặt về iinh thần lẫn tâm hồn. Như giỏ hoa biểu tượng cho sự trẻ trung, thanh gươm nóilên sự vinh quang của người lính, khánh chỉ về hạnh phúc tột cùng.

Các họa tiết bát bảo xem ở hình LXIX, và các hình I, III, IV, V, VI, VII. X, XII, XIV, XVIII, XX.


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 4: Họa tiết hoa, lá – dây lá  và quả)


[1] Tác giả có nhầm lẫn. Tam sự gồm lư hương và hai cái chân đèn; ngũ sự gồm bộ tam sự thêm ống nhang đèn và quả bồng đựng trái cây dâng cúng. Bát nhang là vật luôn phải có dù không có bộ tam sự đi nữa. Nhiều nhà dân dã nghèo khó bàn thờ chỉ có bát nhang và vật tạm dùng để thắp nến.

[2] Tác giả có nhầm lẫn. Phật giáo không lấy trái bầu làm biểu tượng, mà Lão giáo dùng trái bầu để biểu tượngcho vũ trụ, cho thái cực và muôn vật trên đời. Do vậy chúng ta thấy trái bầu gắn liền với đạo sĩ chứ không với tăng sĩ.

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

Bài 2: HỌA TIẾT CHỮ

Trong Hán tự có nhiều chữ tượng ý dù rằng thuở ban đầu chữ Hán là hình vẽ dùng để chỉ sự vật. Lối chữ Hán cổ đã được tiến hóa rất đáng kể nên có giá trị trang trí rất lớn. Chẳng hạn hình vẽ ba đỉnh nhọn nằm ngang trên cùng một đường chân trời để chỉ trái núi, rồi sau này biến thể thành chữ ‘sơn’ (山); tuy rằng hiện nay đôi khi vẫn còn thấy lối viết cổ trên một vài tấm biển nhỏ.

Chữ hiện nay khác rất xa với chữ cổ, tác dụng trang trí thêm nhiều hơn. Hoặc mềm mại và liền nét, hoặc rộng và phẳng lì, hoặc cong cong và cứng còng; dù cho đan chen hay chồng lớp lên nhau theo hình kỷ hà, nằm gọn trong một ô vuông hay tự do phóng túng nét; chữ hiện đại vẫn là thứ trang trí hết sức phong phú khiến cho một ngôi chùa dù hư nát cũng trang trọng lên.

Tên các tấm giấy to lại thấy có tác dụng khác: nghệ thuật mang nét phóng khoáng. Người nghệ sĩ phóng bút thảo nhanh các nét chữ chẳng chút ngượng tay, cho ra một tác phẩm trang nhã hài hòa với ý tưởng tinh tế của câu chữ. Những nét móc, nét xổ, nét ngang, … được tuôn ra từ ngọn bút lông thấm mực. Tôi có biết một nghệ sĩ Huế đã quá cố từng vẽ chữ chỉ bằng đầu ngọn tre đập cho tưa dập, nó khiến cho tác phẩm của ông có nét vừa mộc mạc quê mùa vừa có tính tìm tòi sáng tạo. Ông có biệt danh là Khóa Cọ như người ta thường gọi. Bởi vì ông không vẽ như mọi họa sĩ thông thường mà là “chùi cọ”, nhưng nói theo nghệ thuật phương Tây là vẽ phác. Với mực Tàu, ông chẳng những viết chữ mà còn vẽ thêm các tích cổ với hình hoa, lá, chim, đá , … vào các câu đối (hình LIII), đúng là một bậc thạc nho. Quả là nghệ thuật, nhưng phải thú nhận đó là thứ nghệ thuật hiện đang suy tàn.

Trong các trường hợp này mục đích trang trí là thứ yếu. Điều mà người ta muốn nói lên trước tiên là tư duy: người nghệ sĩ làm sao cho chữ viết thanh cao nhất.

Nhưng đối với một số chữ, mục đích trang trí có tính nhạy cảm hơn như chữ ‘phúc’, chữ ‘lộc’, chữ ‘thọ’, chữ ‘hỉ’, v.v. … (hình XXXVI). Trên hết tất cả, các chữ này đều hàm ý mang đến điều may mắn như ý, như một thứ bùa cầu may lồng trong chúng. Người ta tin điều đó có hiệu quả nên ban phát chúng khắp nơi; công việc thường làm đó đã dẫn người nghệ sĩ dùng chúng làm họa tiết trang trí. Chúng được cách điệu bằng mọi kiểu (hình XXXVII, XXXVIII, XXXIX); chúng bị giản lược lại rất nhiều, chỉ còn nét vòng vòng hay khúc khuỷu, giản lược thành hình chữ nhật của chữ triện (hình XXIX, XLII, XLV, LXXXIII, CIV v.v. …), cho chúng mang hình cái lư hương (hình XLIII, XLVII, ,,,); cho chúng kết hợp với hồi văn (hình XLIII, XLIV, XLV); với dây lá (hình XLVI, XLVII, XLVIII, XLIX). Chúng được trang trí cho các bình phong, màn trướng, tường bao, cửa sổ tròn hay vuông (hình XL, XLI, XLII).

Thường chữ ‘thọ’ được dùng nhiều và rất đa dạng. Nhiều người An Nam, trong đó có cả nho sĩ, hay dùng chữ ‘thọ’ cách điệu để trang trí. Chưa bao giờ tôi đủ khả năng phân biệt sự khác biệt giữa chữ ‘thọ’ với chữ ‘phúc’ hay chữ ‘lộc’ đã được cách điệu hóa để dùng trong mục đích trang trí. Tôi đành chấp nhận lối giải thích của người An Nam và sưu tập tất cả các dạng chữ ‘thọ đó.

Có một chữ rất đặc thù là chữ ‘hỉ’. Một đôi khi nó được dùng một mình nhưng thường được ghép đôi hai chữ với nhau, gọi là ‘song hỉ’ (hình LII). Đó là biểu tượng trang trí mang ý nghĩa chung vui, hạnh phúc lứa đôi, tức niềm mong ước của những vợ chồng mới cưới.


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>


MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: ĐỨC CHÍNH

***********

BÀI  I : HỌA TIẾT TRANG TRÍ HÌNH KỶ HÀ

Thực khó phân loại cho rõ ràng văn tự các họa tiết (motifs) trang trí vì chính các nghệ sĩ, thợ nề, nhà điêu khắc và cả những người chuyên nghiệp cũng không thống nhất thuật ngữ dùng cho chúng; lúc thì người ta chi li phân chia chủ đề các họa tiết tưởng chừng như cùng giuộc với nhau, lúc thì một tên dùng chỉ nhiều họa tiết khác hẳn nhau. Phần đông trong số họ có kiến thức nghệ thuật không đều, lại nhiều khi sửa tên họa tiết theo ý riêng; các họa tiết thường trùng lặp, lại lấy cái này tô điểm thêm cho cái kia hay kết hợp các họa tiết với nhau, nhiều lúc chẳng biết gọi là gì nữa. Chúng ta sẽ thấy sự mơ hồ trong thuật ngữ chỉ các họa tiết hình thú, hình cây lá và cả họa tiết Hán tự nữa. Vì thế chúng ta tạm chia ra họa tiết kỷ hà thành ba nhóm: mắc lưới, vòng tròn và hồi văn.

Họa tiết mắc lưới thường hình thoi, dài ngắn khác nhau, cạnh thẳng (hình I, II, II) và thỉnh thoảng hơi cong nhẹ (hình CXXXIX). An Nam gọi lối trang trí này là ‘mắt vọng’ (mắc lưới) vì có dạng giống như thế. Nhưng nếu nó đặt kế bên họa tiết hình thoi uốn cung sẽ thấy có nét tương đồng rõ rệt. Họa tiết này ít khi trang trí đơn độc vì ít mãn nhãn, thường kết hợp với họa tiết hoa. Nó được dùng làm nền các tấm chạm hay bức họa.

Họa tiết mắc lưới lục giác có tên An Nam là ‘kim qui’ (rùa vàng). Thực ra nó giống vảy con rùa thì đúng hơn. Đôi chỗ họa tiết này được dùng đơn độc (hình IV), nhưng thường dùng làm nền hay được điểm xuyết thêm họa tiết hoa (hình VI, VII, VIII). Các tác phẩm cổ có gia công xà cừ thường có họa tiết này (hình VIII). Ở các bình phong xây gạch họa tiết này riềng ngoài bìa và các lục giác kéo ra rất dài, khi thì đứng một mình khi thì hòa trộn với những hàng hình thoi nhỏ khác (hình LXI, LXII). Nếu xếp chồng họa tiết lục giác này lên nhau sẽ có loại họa tiết hình sao, gọi là ‘kim qui gài’ (hình V, xem thêm hình XVI).

Họa tiết mắc lưới không đều có tên là ‘mặt rạn’ hay còn gọi ‘kim qui thất thế’ (rùa vàng mất dáng). Thực ra hình trang trí này hình như sao chép hình các nhánh đào cách điệu.

Họa tiết mắc lưới tam giác gọi là ‘nhân tự’ (chữ nhân) do có dạng hao hao chữ nhân (人). Họa tiết này cũng được dùng làm nền, đứng riêng lẻ hay kết hợp với hoa (hình XI, XII).

Họa tiết vòng tròn có ‘kim tiền’(đồng tiền vàng). Họa tiết này có hai vòng tròn đồng tâm tạo thành gờ mép bên ngoài và trong có các vòng tròn khác chia cắt vòng ngoài làm bốn phần, tạo ra ở tâm một lỗ hình vuông (hình XIII).

Hoa thị là một họa tiết thoát sinh từ họa tiết vòng tròn cắt lẫn nhau và đi qua cùng một chỗ sao cho tạo nên ở chỗ ấy thành tâm một ngôi sao bốn cánh (hình XIV, XV). Hoa thị chỉ là cách gọi chứ hoa thị màu vàng ngoài đời không đáp ứng được yêu cầu trang trí và không mang một ý nghĩa nào cả. Nghĩa là họa tiết hoa thị này không bắt nguồn từ thực vật giới cách điệu ra, chỉ là một cái tên đặt theo lối dân dã. Họa tiết hoa thị được dùng làm nền, có khi chỉ thuần túy hoa thị nhưng cũng có khi kèm theo hoa lá cách điệu hóa.

Họa tiết có hai vòng tròn gọi là ‘song hoàn’, nhiều vòng liên kết với nhau gọi là ‘liên hoàn’. Liên hoàn cũng là loại thoát sinh từ họa tiết vòng tròn và có thể là tiền thân của họa tiết hoa thị, có các vòng tròn nối kết với nhau theo mọi chiều. Ở đây chúng ta có một ý nghĩa tôn giáo: chỉ sự thân ái, tình yêu, sự kết giao chặt chẽ và không thể chia lìa, một sự tương thân tương ái. Nhóm họa tiết này có nhiều dạng: hai vòng tròn gốc gấp khúc lại thành lục giác (hình XVI, số 1) và tương tự như vậy cho ra hình lục giác chồng lợp (hình XVI, số 2) mà chúng ta đã thấy (hình V); hay là gấp khúc lại thành hình thoi (hình XVI, số 3), có một cái nhân đôi lên (hình XVI, số 4). Trang trí ‘dây thắt’ gồm năm hình thoi xếp thành hàng và cắt vào nhau; loại họa tiết một hình thoi ở giữa và bốn hình thoi cắt vào ở bốn góc hình như cũng liên quan đến họa tiết này (hình XVI, số 5&6). Còn nhiều mẫu phức tạp hơn những hình trình bày ở đây.

Loại họa tiết hai vòng tròn bị kéo dài ra thành bầu dục hay bị dồn vào trong một hình chữ nhật thường được đặt vào trang trí dây lá hoặc làm tâm cho một bức chạm. Bên trong có chữ ‘thọ’ được cách điệu, hoặc hồi văn cuộn xoáy, hoặc các hình vẽ khác. Họa tiết ‘song thọ’ (hình XVII) thì bên trong có hai chữ thọ. Họa tiết này có một thể biểu khác gọi là ‘vạn thọ’, với mô thức này bên trong một vòng tròn có hồi văn xoắn ốc chữ vạn và ở một vòng khác có chữ thọ cách điệu. Không nói ra cũng biết đó là biểu tượng của ‘phúc đức’.

Các họa tiết chúng ta vừa kê ra chỉ là thứ yếu, loại họa tiết quan trọng nhất là họa tiết hồi văn (回文). Các chữ Hán-Việt được thể hiện gấp khúc vào nhau, bẻ gập lại, kéo dài ra, hay vuốt thon tuỳ theo ngẫu hứng của người nghệ sĩ.

Họa tiết có tên ‘á tự’ gợi dáng nét chữ á (亞) trong tiếng Hán, là một họa tiết hồi văn (hìnhXVIII và XIX). Họa tiết này dùng trang trí nền. Người ta còn gọi là hồi văn chữ thập. Một loại khác gọi là ‘hồi văn chữ vạn’, trước kia ở giữa họa tiết này có chữ vạn Phật giáo (卐) nay là chữ vạn Hán tự (萬). Tôi đặt tên cho nó là hồi văn xoắn ốc vì từ ở tâm các hàng trang trí cuộn xoắn đi ra. Hồi văn này cũng dùng làm nền và thường có điểm thêm hoa.  Hồi văn chữ công (工) giống với hồi văn ở Phương tây nhất và nó có nhiều kiểu thức (modèles), được dùng trang trí khung, với dạng thuần túy hay kết hợp các loại họa tiết khác (hình C). Loại thuần túy tuy không có tên riêng nhưng được dùng nhiều, nhất là dùng để viền khung, dùng để trang trí góc, đầu hồi, sống mái nhà, quai bình, chân bàn, giữa hoành phi, nói tóm lại ở mọi đồ mỹ thuật (từ hình XXI đến XXIX và ở nhiều hình khác nữa).

Họa tiết ‘hồi văn lá’ thường kết thúc bằng hình nắp đệm hay tua diềm, nó tỏa ra các hình hoa lá cách điệu. Hồi văn lá biến thể thành ‘hồi văn hóa giao’ (hồi văn biến thể thành giao long), có các nếp gấp dồn lại và xoay tròn theo dạng cuộn khói (hình XXVII).

Có lẽ dạng hồi văn kỳ lạ nhất là họa tiết dây xích, dùng trang trí nhẹ ở mép bàn (hình XXX, XXXI, XXXII).

Hồi văn còn biến cách trong các món đồ gỗ hay cái kệ gọi là ‘cao đề kỷ’ (高提几: cái ghế dựa chỗ thấp chỗ cao) hay vắn tắt là ‘cao đề’. Có khi họa tiết này dùng một mình dưới dạng có hay không có chân (hình XXXIII và đế đèn có tên được bài này chọn làm nhan đề Họa tiết trang trí hình kỷ hà) có khi điểm thêm các họa tiết trang trí khác (hình XXXIV). Nó được đưa vào trang trí các tấm biển, hoặc biển dựng đứng (hình XXXV) hoặc biển để nằm (hình LV, LVII). Dù dùng trong trường hợp nào loại họa tiết này cũng có nét duyên dáng và rất mỹ thuật.

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 2: Họa tiết chữ)

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM



Read Full Post »