Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam’

Bát Tràng, Truyền Thống Liên Tục TK 14 – 17

Song song với sự phát triển của đồ gốm Chu Đậu là đồ gốm Bát Tràng. Khởi đầu từ thế kỷ 14, gốm Bát Tràng là truyền thống nối dài từ đồ gốm Thanh Hóa, nên Bát Tràng giữ một địa vị rất quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm Việt Nam. Một số lớn đồ gốm cổ được sưu tập ngày nay như các bình ấm, bát đĩa, men nâu, men trắng từ đời Trần, Lê, Mạc có thể chính là đồ gốm do làng Bát Tràng sản xuất.

Làng Bát Tràng cổ nằm ở bên bờ sông Hồng, ngay ở Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội hiện nay. Làng Bát Tràng bây giờ nằm ngay trên bãi sông Hồng bên ngoài bờ đê, đất chật, đường ngõ hẹp, ngoắt nghéo, không có vườn cây và bụi tre, hầu hết đất đai được dùng làm nhà ở, sân phơi, lò nung, bãi chứa nguyên liệu…Dư Địa Chí (viết xong năm 1435) của Nguyễn Trãi chép: “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang, hai làng ấy cung ứng đồ cống Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm” (Bát Tràng làm đồ bát chén, Huê Cầu nhuộm vải thâm). Làng Bát Tràng có từ đời xưa, dù sử không chép, nhưng chắc Bát Tràng đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển đồ gốm đời từ đời Lý hay trước đó.

Tục truyền vào đời Lý, Hứa Vĩnh Kiều (hay Cảo), Đào Trí Tiến, Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) đi sứ nhà Tống, trên đường về học thêm được các nước men mầu về Việt Nam truyền dậy, Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men trắng, Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà nước men đỏ, Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng nước men vàng thẫm), như vậy dân các làng này vốn đã làm đồ gốm từ trước đó rồi, nay chỉ thêm các mầu men khác mà thôi.

Đồ gốm Bát Tràng có thể xuất phát từ Thanh Hóa với những người gốc vùng này theo Lý Thái Tổ dời đô vào Thăng Long năm 1010 (như dòng họ của Nguyễn Ninh Tràng) mang nghề gốm vào lập nên làng Bát (tên cổ của Bát Tràng). Ở Thanh Hóa có làng Bồ Xuyên và trang Bạch Bát chuyên làm đồ gốm từ thời cổ, như trong câu đối còn ghi lại ở đình làng Bát Tràng:

Bồ di thủ nghệ khai đình vũ

Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần

(Nghề từ làng Bồ ra, khởi dựng đình miếu

Lòng thành như hương lan, cúng tạ thánh thần) (1)

Cùng với Chu Đậu và các nơi chuyên làm đồ gốm khác, Bát Tràng đã là một trung tâm sản xuất đồ gốm lớn, cung ứng cho thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Đồ gốm Bát Tràng được xuất cảng sang Nhật Bản, Đông Nam Á và nhiều nơi khác. Vào thế kỷ 17, các hãng buôn tây phương thường ghé Việt Nam để mua hàng chuyển sang các nước khác, trong đó đồ gốm và đồ gốm Chu Đậu, Bát Tràng… góp phần lớn. Trước đó là các tầu buôn Nhật Bản mua hàng về nước.

Mặc dù Bát Tràng nổi tiếng về gạch, nhưng thật ra đó chỉ là phó sản của lò gốm. Những viên gạch vuông được dùng để làm bao nung, chứa các món đồ gốm khác khi được nung trong lò. Sau 3 lần nung gạch trở nên cứng, được gọi là ‘gạch da sắt’. Gạch da sắt trên thị trường gọi là gạch Bát Tràng, thường rất được ưa chuộng để lót sân, lót đường.

Bát Tràng và Chu Đậu phát triển song song với nhau, lại cũng không ở xa nhau lắm. Tuy nhiên đồ gốm ở mỗi nơi phát triển theo một đường khác nhau. Đồ gốm Chu Đậu có nghệ thuật cao hơn Bát Tràng, nhưng từ cuối thế kỷ 17, đồ gốm Chu Đậu đã bị Trịnh Tùng huỷ diệt vì dân Hải Dương đã theo nhà Mạc mà chống lại vua quan nhà Trịnh. Một số nhỏ đã dời đến Bát Tràng, tiếp tục nghề cũ nhưng không làm đồ gốm theo kiểu Chu Đậu nữa.

Có thể nói, không có thứ đồ gốm nào mà không được Bát Tràng sản xuất, từ chén bát đĩa, gạch cho đến bình, ấm, thạp, chậu, âu, ang, khay, choé, hũ, nậm rượu, bình vôi, điếu thuốc lào… của sinh hoạt dân gian hàng ngày cho đến các món đồ thờ cúng như chân đèn, chân nến, lư hương, lư trầm, đỉnh thờ, đài thờ, mâm, kiếm thờ, tượng rồng, tượng nghê, tượng hổ, tượng voi, tượng thánh, tượng thần, tượng Phật,… Không có món đồ gốm thường dùng nào trong đời sống mà không được Bát Tràng làm. Với các vật tích còn lại, người ta thấy đĩa, chân đèn, lư hương được làm từ thế kỷ 14, bát chén từ thế kỷ 15, ấm, nậm rượu thế kỷ 16, long đình, tượng thế kỷ 18, tượng, đỉnh, đài thờ thế kỷ 18, bình vôi thế kỷ 18, đặc biệt đến thế kỷ 20 lại xuất hiện thêm loại đài thờ hình chữ nhật.

Gốm Bát Tràng cũng nhiều nước men mầu, trắng ngà, trắng xám, nâu, xanh rêu… Hoa văn phong phú, đủ mọi thể loại, từ hoa lá, muông thú đến các sự tích Trung Hoa. Ghi những niên hiệu nhà Mạc, nhà Lê, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn. Tuy nhiên Bát Tràng thật ra đã góp phần trong nền đồ gốm Lý Trần rực rỡ bắt đầu từ thế kỷ 11 trước đó rồi. Cũng vẫn theo truyền thống đồ gốm Việt Nam cổ truyền, dưới đáy của đồ gốm Bát Tràng thường để trơ đất mộc, không tráng men.

Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc (trong ‘Gốm Bát Tràng – thế kỷ XVI – XIX) còn cho biết thêm: tượng nghê và tượng ngựa xuất hiện từ thế kỷ 17, tượng Phật, tượng rồng hổ xuất hiện từ thế kỷ 18.

Về nước men, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc viết rằng: ‘TK XIV – XV men nâu chẳng những còn được thể hiện theo phong cách truyền thống mà còn được vẽ theo kỹ thuật men lam, tạo ra một hiệu quả mới lạ. Từ TK XVI đến TK XIX, men nâu còn được dùng trong việc điểm tô thêm cho các đề tài trang trí. Men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen xẫm. TK XVI – XVII tuy không phát triển nhưng men lam còn thấy dùng vẽ hoa lá và điểm thêm vào các phần trang trí nổi. TK XVIII – XIX men lam mới được phục hồi trên gốm Bát Tràng. Men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ TK XVII đến TK XIX. Mặc dù loại men này mỏng, màu vàng ngà bóng nhưng thích hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ (đặc biệt là chân đèn, lư hương)

Men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra một dòng “Tam thái” rất riêng của Bát Tràng ở TK XVI – XVII.

Men rạn, là dòng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối TK XVI và phát triển liên tục qua các TK XVII, XVIII và XIX’

Tượng nghê thường có men nâu hay men xanh xám, các món khác thường có men trắng ngà, trắng xám, men rạn, men xanh rêu, men nâu, men lam. Hoa văn tứ linh (long ly quy phụng), hổ phù, hoa cúc, cánh sen, nghê, hạc, cúc trúc mai lan, hoa dây, chữ vạn, chữ thọ, chữ phúc, hình người… Sang thế kỷ 19 có thêm các hình cảnh trang trí như ‘ngư ông đắc lợi, bát tiên quá hải, Tô Vũ chăn dê, tam đa (cành quả đào, cành lựu, cành phật thủ), lục bảo (kiếm, thư bút, túi gấm, đỉnh ngọc, đàn, bình lá ngọc)… Ngoài hoa văn do men mầu vẽ cảnh, ta còn thấy hoa văn vẽ bởi men cạo hay hoa văn đắp nổi trên các món đồ thơ như chân đèn, lư hương, nghệ thuật chạm nổi rất tinh tế, chứng tỏ trình độ nghệ thuật rất cao. Đây là nét đặïc biệt của gốm Bát Tràng, trổi vượt hơn hẳn các loại đồ gốm khác, trước đó.

Trên các món đồ cũng thường có minh văn ghi tên họ người đặt hàng, tên họ người làm và năm tháng chế tạo. Niên hiệu thì đủ cả, từ năm Diên Thành, Hưng Trị, Đoan Thái, Sùng Khang thứ 7 (1572) đời nhà Mạc, Vĩnh Trị, Cảnh Thịnh, Cảnh Hưng đời Lê cho đến đời Quang Trung, Gia Long. Như cặp chân đèn làm năm Diên Thành thứ 2 (1579) có ghi tên người đặt hàng là Lê Thị Lộc, hay một chân đèn khác làm ngày 3 tháng 5 năm Đoan Thái thứ 2 (1587) có ghi người chế tạo là Đỗ Phủ cùng vợ là Nguyễn Thị Bản, con trai là Đỗ Xuân Vi cùng vợ là Lê Thị Ngọc làm. Người đặt hàng là Đoan Quân Công Mạc Ngọc Liễn và Phúc Thành công chúa cùng một số người khác. Cũng như các món đồ gốm Chu Đậu, rất nhiều đồ gốm Bát Tràng ghi tên đàn bà chế tạo hay đặt hàng, chứng tỏ thêm rằng người đàn bà trong xã hội cổ Việt Nam rất được coi trọng, khác hẳn tục trọng nam khinh nữ của xã hội Trung Hoa, Nhật Bản…

Mới đây Chu Đậu đã bắt đầu làm đồ gốm trở lại và cũng rất nổi tiếng về phẩm chất cao, rất được dân chúng ưa chuộng, mua dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Trong khi đó suốt từ xưa đến nay Bát Tràng vẫn tiếp tục sản xuất chén đĩa, bình ấm… cho nhu cầu trong nước, kéo dài một truyền thống đã khởi đầu từ hơn 10 thế kỷ trước. Tuy rằng so với Chu Đậu, nước men Bát Tràng không mịn bằng, hoa văn lại khá lem luốc.

Làng Bát Tràng hiện nay lớn hơn và ở ngay cạnh làng cũ đãï bị phù sa chôn vùiø, trở nên một trung tâm sản xuất đồ gốm quan trọng. Có thể nói Bát Tràng là trung tâm sản xuất đồ gốm lâu đời nhất ở Việt Nam. Một trung tâm văn hóa chính yếu. Từ miền bắc Việt Nam, hy vọng rằng đồ gốm Hải Dương, đồ gốm Bát Tràng sẽ được bán rộng ra toàn quốc và xuất cảng đi khắp nơi làm rạng danh truyền thống đồ gốm tốt đẹp quê nhà.

Chú thích:

theo Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc – Gốm Bát Tràng Thế Kỷ XIV – XIX, nxb Thế Giới, Hà Nội 1995

Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

PHỤ BẢN : GỐM MEN NÂU ĐỜI LÝ

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN



Advertisements

Read Full Post »

Thiệu Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam – Phần 3

Chu Đậu, đỉnh cao của đồ gốm cổ truyền Việt Nam – Thế kỷ 14 – 16

Từ cuối thế kỷ 14 ta thấy phát triển loại men, loại hoa văn vô cùng độc đáo, rất cao cả về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Đó là thời kỳ tột đỉnh của đồ gốm Việt Nam, loại đồ gốm mà ngày nay được biết dưới tên ‘Đồ Gốm Chu Đậu’ . Tiếc thay nền kỹ thuật và mỹ thuật này đã tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, sau những chận triến dữ dội thời Lê Mạc ở nơi đó.

Đồ gốm Chu Đậu chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy biển suốt mấy trăm năm. Những món còn được lưu giữ ở các viện bảo tàng bên Châu Âu thì đã từng bị xếp lộn vào đồ gốm Trung Hoa. Gốm Chu Đậu chỉ được biết đến và tìm hiểu từ năm 1980, khi ông Makato Anabuki (thuộc tòa đại sứ Nhật Bản ở Hà Nội) nhìn thấy ở Tokapi Saray Museum, Istanbul, Turkey, một bình cao cổ men trắng xanh, hoa văn cánh sen và hoa mẫu đơn, với câu ‘Thái Hoà bát niên. Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút’ – nghĩa là: ở phủ Nam Sách, năm Thái Hòa thứ tám, họa sĩ Bùi thị Hý vẽ. Từ đây chúng ta gọi bình này là bình Tokapi Saray. Bình này cao 54 cm, tuyệt đẹp. Dù hiện nay thuộc về Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng chính phủ Việt Nam nên tìm cách xin hay chuộc về làm quốc bảo.

Địa danh Nam Sách châu cho ta biết nơi chế tạo (phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương), và chữ Thái Hòa bát niên cho ta biết năm chế tạo (1450 năm Thái Hòa thứ tám, đời vua Lê Nhân Tông). Từ đây những nhà khảo cổ mới hướng về phủ Nam Sách, rồi năm 1983 ở làng Chu Đậu, dưới vườn nhà một nông dân là ông Vang, người ta đào được các di tích lò gốm. Rồi việc tìm kiếm, khai quật bắt đầu, và tìm thấy cả một nền đồ gốm rực rỡ, thịnh vượng kéo dài 3, 4 thế kỷ.

Những khai quật này đưa đến trung tâm của nền nghệ thuật này: Phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ở đây ngoài làng Chu Đậu còn có các lò gốm khác ở làng Vạn Yên, làng Gốm, làng Ngói, làng Phú Điền, làng Phúc Lão, làng Cậy…. Đồ gốm Chu Đậu được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ, đình chùa, từ đường và nhiều nhất là dưới các tầu buôn chìm ngoài khơi Hội An, Đà Nẵng…

Từ đây người ta ít gọi các món đồ này là đồ men trắng chàm (nền men trắng, hoa văn màu chàm – màu xanh lơ) mà gọi bằng tên đồ gốm Chu Đậu. Gọi là đồ gốm Chu Đậu, bởi vì đây là nơi di tích các lò gốm cổ sản xuất loại đồ gốm này được khám phá ra trước nhất. Những khai quật trong năm 1986, 1987, 1989, 1991, 1992 và 1993, cho thấy đồ gốm Chu Đậu được sản xuất ở rất nhiều nơi gần bờ sông trong tỉnh Hải Dương mà tập trung nhiều nhất ở phủ Nam Sách.

Công lớn về những khám phá này là của ông Tăng Bá Hoành, giám đốc viện bảo tàng Hải Dương. Người đã nghiên cứu, gìn giữ và viết rất kỹ lưỡng về đồ gốm Chu Đậu tìm được trong các cuộc khai quật này. Đồ gốm Chu Đậu hình dáng thanh tao, nước men trong mà mỏng, hoa văn đầy hình ảnh đời sống thôn làng Việt Nam.

Đồ gốm Chu Đậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ 14, rực rỡ nhất vào thế kỷ 15, 16 rồi tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, trong khi các lò gốm khác ở Hải Dương còn sản xuất những món đồ không men (nồi đất, chum, vại…) cho đến thế kỷ 18, hay cho mãi đến bây giờ như làng Cậy, làng Lâm Xuyên (chuyên làm nồi đất không men).

Làng Chu Đậu từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu. Trước đây, ở ngoài Bắc, khi trong nhà có người lập gia đình, người khá tiền thường mua một vài cặp ‘chiếu Đậu’ để cho cô dâu chú rể dùng. Dân làng bây giờ chỉ còn biết làm ruộng và dệt chiếu, họ không biết làm đồ gốm nữa và cũng không ngờ rằng ông cha họ đã từng làm những món đồ gốm tinh xảo, tuyệt mỹ. Các lò gốm ngày xưa nay đã nằm sâu dưới ruộng nương, vườn tược. Một địa danh trong làng là ‘Đống Lò’ nhưng chính dân làng vẫn không biết là lò gì.

Từ đầu thế kỷ 17, nghề làm đồ gốm ở đây như tự nhiên mất tích, không còn lò gốm, không còn người làm đồ gốm. Dấu vết chìm sâu dưới lòng đất, biến hẳn trong ký ức dân làng!

Bao quanh bởi nhiều con sông lớn, người dân làng Chu Đậu có những phương tiện giao thông tiện lợi. Họ có thể chuyển đồ lên Thăng Long, ra Phố Hiến, Vân Đồn để bán trong nước, để xuất cảng ra nước ngoài. Họ có thể chuyên chở đất sét mịn mua từ Hố Lao (Đông Triều, Quảng Yên) chỉ cách đó 30km một cách nhanh chóng, dễ dàng. Thành công về thương mãi, họ có cơ hội, có phương tiện, có động cơ phát huy nghệ thuật và kỹ thuật rất cao. Tiếc thay, thời cuộc đã hủy diệt mất một nền kỹ thuật và mỹ thuật giá trị của dân ta.

Những dòng họ tài danh nhất về đồ gốm ở làng Chu Đậu là họ Đặng, họ Vương. họ Bùi, họ Đỗ. Với những kỳ tài như Vợ chồng Đặng Huyền Thông – Nguyễn Thị Đỉnh, Đặng Hữu, Đặng Tính Không. Ông Tăng Bá Hoành, trong ‘Gốm Chu Đậu’ có trích gia phả nhà Họ Vương câu: ‘Nam Sách phủ, Thanh Lâm huyện, Đặng Xá xã, dĩ đào bát vi nghiệp, hậu nhất chi di cư Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã. Cụ Vương Quốc Doanh hưng công dĩ đào bát vi nghiệp’ (họ Vương ở xã Đào Xá huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách làm nghề đồ gốm; Sau một chi di cư về xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, và cụ Vương Quốc Doanh làm hưng thịnh nghề đồ gốm ở đấy).

Đồ gốm Chu Đậu cũng có nhiều thứ như men ngọc (celadon), men nâu, men trắng, men lục. Tuy nhiên tiêu biểu nhất là men trắng trong với hoa văn mầu xanh (men trắng chàm) và men trắng trong với hoa văn ba mầu vàng, đỏ nâu và xanh lục (men tam thái)

Men ngọc, men trắng, men nâu và men nâu đen thường bị lẫn với đồ gốm đời Lý Trần, tuy nhiên, hoa văn trên men Lý nhiều ảnh hưởng Phật Giáo, hoa văn Chu Đậu phản ảnh đời sống nông thôn Việt Nam, hoa văn trên men Lý thường được vẽ bằng cách khắc chìm hay khắc nổi, hoa văn Chu Đậu được vẽ bằng men mầu.

Men ngọc thời Chu Đậu cầm thấy nặng tay, chất đất thô hơn và tiếng gõ không thanh như men ngọc của người Tầu. Bình ấm thời Lý thường có vòi hình đầu rồng, hình vòi voi, hình đầu chim, hình makara, gurada (makara: thủy quái của thần thoại Ấn Độ, gurada: chim thần của thần Vishnu – Ấn Độ giáo)…

Các bát đĩa đời Lý thường còn sót lại dấu con kê rõ ràng, đồ gốm Chu Đậu khéo hơn dấu con kê không còn nữa. Đáy các chén đĩa thời Lý thường để trơ đất mộc, đáy của đồ gốm Chu Đậu thường được quét một lớp son nâu, mầu đậm, thường khi vẫn còn nguyên dấu bút. Lớp son nâu này không phải là men, mà chỉ là một lớp son pha bằng mầu nâu rất mỏng để bảo vệ đáy chén đĩa. Đây là những đặc điểm phân biệt đồ gốm ta và đồ gốm Tầu. Gốm Tầu không bao giờ để trơ đất mộc, hay quét son nâu. Gốm Tầu cũng không bao giờ có dấu con kê. Con kê là một kỹ thuật hoàn toàn Việt Nam. Kỹ thuật này dù làm cho món đồ kém đi chút phẩm chất, nhưng lại là một phát kiến riêng của người thợ Việt Nam nhằm tránh cho chén đĩa không bị dính vào nhau khi nung mà lại tiết kiệm được diện tích lò.

Men trắng Chàm và men tam thái nổi danh và được ưa chuộng hơn cả. Men trắng chàm (nền men trắng, hoa văn mầu xanh biếc) chiếm số lượng cao nhất. Các món đồ vớt được ở ngoài khơi Đà Nẵng – Hội An cũng đều là men trắng chàm. Do đó, khi nói về đồ gốm Chu Đậu, người ta chỉ thường biết về loại này mà ít để ý đến các loại men khác.

Đồ gốm Chu Đậu men trắng chàm thường thấy bây giờ là những món Chu Đậu chúng tôi coi là thuộc hạng kém hơn về phẩm chất. Những món có phẩm chất cao, tuyệt đẹp đã nằm trong tay các nhà sưu tập chuyên nghiệp ở Âu Châu, ở Úc Châu, ở Singapore, ở Hong Kong, ở các viện bảo tàng Hoa Kỳ, Âu Châu và Ả Rập… Từ giữa thập niên 1980 cho đến giữa thập niên 1990, những nhà sưu tập này đã vào Việt Nam vào mua hết tất cả, với những giá rất rẻ. Loại đồ gốm Chu Đậu hạng nhất này nhiều món đẹp tuyệt vời, bứt xa đồ nhà Minh, và đẹp không kém gì đồ gốm men lam của nhà Thanh bên Tầu.

Vì kỹ thuật giản dị nên mầu đỏ và mầu xanh lục của men tam thái Chu Đậu không bền. Những món đồ này nằm trong lòng đất hay ngâm dưới đáy biển đã bị lợt đi hết. Phần lớn những món men tam thái ta thấy bây giờ là được người ta tô lại chứ hiếm khi là nước men ba mầu nguyên thủy.

Tuyệt vời nhất là hoa văn trên men trắng chàm và men tam thái. Hình ảnh thuần túy Việt Nam. Họ vẽ tàu lá chuối, nhánh rong, chim sẻ, chim chích chòe, con tôm, con cá bống, con cóc, con rùa, cọng rau muống, bông hoa cúc, hoa sen. Cũng như các bình ấm Việt Nam đời trước, thảng hoặc lắm ta mới thấy một vài bình, ấm thời Chu Đậu có quai cầm, còn ngoài ra, nơi quai cầm chỉ là một vật trang trí như con rùa, con cá, bông sen… như đồ gốm Việt Nam các thời trước.

Bình, đĩa Chu Đậu trang trí hình hoa mẫu đơn (Peonie), chim sẻ, chim chích chòe, hoa cúc, lá tre, hình vẽ khi thì phóng túng, phác bút, khi thì tỉ mỉ với nhiều chi tiết. Nét vẽ đậm nhạt khi rõ khi mờ, chứng tỏ người nghệ sĩ đã rất ý thức trong việc sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật nhiều hơn là sản xuất một món đồ dùng hàng ngày. Vì thế cái phóng túng của người nghệ sĩ Việt càng biểu lộ rõ. Những hoa văn hoàn toàn thoát khác hẳn những khuôn khổ Trung Hoa.

Đây là thời kỳ với những bình, những ấm mà khi vẽ vừa xong, men còn ướt, người thợ tạt nước lên cho hình vẽ nhoè đi, mờ mờ, ảo ảo nhìn rất thích mắt. Họ lựa chọn nhũng hình ảnh mà người nghệ sĩ Trung Hoa không bao giờ nghĩ đến (Con tôm, con cua, con chuồn chuồn, chim sẻ, chim chích chòe, cá bống, cá chép hóa rồng …

Về thứ loại, về hình dạng thì đồ gốm Chu Đậu thật phong phú: Bát chân cao, Bát chân thấp, Tô, Đĩa, Chén, Tước, Bình, Ấm, Âu, Chậu, Lu, Hũ, Chậu, Bát Hương, Bát Trầm, Chân Đèn, Hộp, Lọ, Bình Vôi, nghiên mực thì lại cũng dùng hình ảnh nông thôn như nghiên mực hình con trâu, con cua, rồi lại còn đồ chơi của trẻ em như các hình tượng con gà, con cóc, con lợn, người cưỡi ngựa… thôi thì đủ cả, từ các món đồ dùng trong nhà người dân, trong đình chùa, trong nhà giới trưởng giả, cho đến đồ xuất cảng…

Nhưng xem đồ gốm Chu Đậu mà bỏ qua bình tỳ bà thì thật là uổng. Món này xa lạ với sinh hoạt dân gian Việt Nam. Ngoài các cuộc khai quật ở các lò gốm cũ ở làng Chu Đậu, loại bình này thường được tìm thấy từ các tầu buôn đắm ngoài khơi Hội An – Đà Nẵng. Phải chăng nó chỉ được làm để xuất cảng sang Ả Rập? Người Ả Rập dùng làm gì? Đây là những câu hỏi thú vị.

Như tên gọi, bình tỳ bà có hình dáng giống cây đàn tỳ bà để dựng đứng. Mình thuôn tròn, cổ nhỏ, miệng loe, thân tròn phình to. Thường có bốn tầng hoa văn, trong lòng miệng bình cũng có hình vẽ hoa lá. Tầng thứ nhất ở chung quanh cổ bình hoặc vẽ những tầu lá chuối hay hình cây lúa, tầng thứ hai thì khi hình hoa cúc, hoa mẫu đơn, khi thì những chuỗi hình xoắn ốc đứng, tầng thứ ba lớn nhất là hình chim chích choè, chim sẻ hay là những ô vẽ đợt sóng biển bên cạnh những ô vẽ hình hoa lá, tầng dưới cùng là các ô với những vòng tròn hình bầu dục chồng lên nhau.

Bình tỳ bà to nhỏ khác nhau, nhưng đa số thường có đường kính dưới đáy bình độ 9cm, chỗ to nhất ở thân bình phình ra vào khoảng 14cm, đường kính ở cổ bình là 4cm, và ở vành miệng loe là 8cm, b ình cao khoảng 30, 32cm.

Tước (hay bôi), tức là ly uống rượu chân cao, thì ngoài những tước men ngọc, mầu xanh trong, còn có những sáng kiến kỳ diệu như tước thần kim quy. Ẩn trong chân tước này là một quả nổi để lộ hình rùa thần kim quy ngồi dưới đáy, khi rượu được rót vào, thì hình thần kim quy từ từ nổi lên theo mực rượu trong lòng tước.

Đĩa Chu Đậu rất đẹp, men trắng trong với hoa văn mầu chàm. Có những đĩa tam thái rất lớn (đường kính đến khoảng 50cm), nhưng thường thường thì vào khoảng hơn 25cm đường kính. Hoa văn trong lòng đĩa thường gồm hai phần. Vành đĩa là một vành rộng 5cm vẽ cành rau, nhánh lá, tâm đĩa vẽ nhiều hình rất đẹp: Hình con công, con vạc, con nghê, cá chép vượt vũ môn, hươu chạy trên đồng cỏ, bên khóm trúc, bờ lúa, đôi chích chòe, đàn vịt bơi trên hồ sen, trận thủy chiến, cành mai, đóa cúc, đóa mẫu đơn… đường kính độ 15cm. Vành ngoài thành đĩa cũng vẽ những hình hoa lá rất chi tiết. Hoa văn mầu xanh chàm, đĩa lớn thì thường là men ba mầu (tam thái).

Cùng với bình tỳ bà và bát Chu Đậu, đĩa Chu Đậu là những món đẹp và nổi tiếng, được rất nhiều viện bảo tàng và nhà sưu tập quốc tế ưa chuộng. Tiếc thay! cũng chính vì thế mà không còn bao nhiêu món đẹp trong tay người Việt.

Bát Chu Đậu cũng thường là men trắng chàm, đường kính ở miệng bát từ 14 đến 16cm, cao từ 8 đến 10cm. Nhiều loại hoa văn khác nhau. Khi thì chim sẻ đậu trên cành mai, khi thì đóa cúc, đóa mẫu đơn, khi thì lại là khóm phong lan… trong lòng bát. Vành trong của bát cũng vẽ những vòng tròn hoa lá. Hoa văn ở mặt ngoài bát thường gồm hai tầng, phía trên là một vành hoa mai, hoa cúc cao khoảng hơn 3cm, tầng dưới, khoảng 4cm, là những ô có hình các vòng xoắn ốc tiêu biểu của gốm Chu Đậu, trên vành ngoài của miệng bát cũng có những vòng đồng tâm.

Trôn bát không có men đã đành, vành miệng bát thì cũng thường không có men nữa. Tại sao? Bởi vì nếu hai món đồ tráng men mà để chạm nhau trong lò, khi nung chín, các món này sẽ dính chặt vào nhau, không còn dùng được nữa. Ngoài việc dùng con kê (vòng tròn bằng đất mộc đễ giữa các bát đĩa cho khỏi dính vào nhau, người ta còn chừa vành bát đĩa, trôn bát đĩa trơn, không tráng men. Rồi khi xếp vào lò nung, thì cứ lần lượt, miệng cái xấp úp vào miệng cái ngửa, trôn cái ngửa đặt lên trôn cái xấp, thế là chồng được vài ba tầng mà không bị hỏng. Ngoài ra ta còn những bát có vành men cạo ở giữa đáy bát, với đường kính to bằng trôn bát. Đây cũng là một kỹ thuật tuy kém tinh vi nhưng lại thực dụng vì khi xếp chồng các bát chén này để nung, chúng không bị dính vào nhau.

Một món đồ kỳ thú, có hình dáng nửa đĩa nửa bát. Đường kính miệng độ 11cm, đường kính đáy độ 7cm, cái thấp thì cao gần 4cm, cái cao vào khoảng hơn 6cm. Dùng làm bát thì trẹt quá, dùng làm đĩa thì nhỏ quá mà chân lại cao. Chân chén là hoa văn hình tròn đồng tâm, hay là những đám mây bay, vành ngoài, vành trong là những vòng hoa lá, tâm chén thường có một chữ Hán (chữ Phúc, chữ Chính, chữ Trung, chữ Ngọc, chữ Kim…). Nhiều chén loại này cũng có vành men cạo. Những món này không thấy có trong đồ gốm đời Lý Trần, mà cũng không thấy trong đời sống người Việt. Tới chừng thấy người Ả Rập bây giờ dùng một thứ tương tự để uống trà, ta mới hay đây là đồ dùng để chỉ xuất cảng sang vùng đó.

Cũng làm để xuất cảng sang Ả Rập là các hộp phấn và lọ nước hoa. Hộp phấn tròn, đáy hộp cao 4cm, nắp hộp cao gần 2cm, chỗ phình lớn nhất khoảng 6cm, cũng men trắng trong hoa văn mầu chàm, thân hộp thường để trắng, nắp hộp vẽ cảnh giòng sông, lâu đài hay đóa sen, bông cúc. Lọ nhỏ cũng cao khoảng 6cm, miệng gần 2cm, chỗ phình lớn nhất khoảng hơn 6cm đường kính. Hoa văn trên lọ bao giờ cũng nhiều hơn hoa văn vẽ trên nắp hộp. Vành miệng thường là hoa sen, thân lọ thì là cành hoa, nhành lá rất mỹ thuật. Ngoài những loại men trắng chàm này, đôi khi ta cũng thấy những hộp lớn hơn, mà thấp. Đường kính của các hộp này vào khoảng 10 – 12cm, cao độ 4cm, Có cái không hoa văn, nắp khắc nổi hình vỏ sò, hay bông sen. Có những hộp lớn này, mà cả nắp lẫn thân hộp cũng có những hoa văn như trên các bát đĩa Chu Đậu khác.

Đơi khi ta thấy một loại đĩa nhỏ độ 4, 5cm, có chân, trong lòng không tráng men, nhưng lại có hoa văn rất dầy chạm bằng mũi nhọn làm cho lòng đĩa nhám. Rất nhiều người lầm rằng loại này là một thứ đế kê các chén nhỏ. Nhưng thật ra, đây là đĩa của phụ nữ thời xưa dùng mài phấn bôi mặt. Phấn thời đó được làm thành từng thỏi, khi đánh phấn người ta phải mài phấn vào trong lòng nhám của đĩa để lấy bột phấn xoa lên mặt.

Ngoài ra còn có rất nhiều hồ rượu hoa văn trắng chàm và hoa văn 3 mầu (tam thái). Lại có các hồ rượu hình chim vẹt hình con gà, các chén uống trà có quai cầm là chim vẹt. Lư hương và chân đèn thời Chu Đậu lớn và đẹp vô cùng. Có những chân đèn cao 70, 80cm, lư hương cao 35, 40cm. Một số lớn có ký tên người làm và đề rõ năm tháng, như vợ chồng Đặng Huyền Thông – Nguyễn Thị Đỉnh, vợ chồng Đỗ Xuân Vi, Lê Thị Ngọc, vợ chồng Bùi Duệ, Lê Thị Cận, Đặng Hữu, Đặng Tính Không, Bà họ Đỗ ở Phủ Quốc Oai, Bà Bùi Thị Hý ở Phủ Nam Sách… Chân đèn gồm hai phần chồng lên nhau, chỗ cắm nến rất lớn, đắp nổi hình rồng bốn móng chứng tỏ đây là đồ dùng trong chùa.

Năm tháng đề trên các món này tỏ rõ một giai đoạn lịch sử. Hải Dương là đất tổ của giòng họ Mạc. Những món đã làm khi nhà Mạc chưa lên (1527) thì đề niên hiệu vua Lê. Khi nước ta chia hai thành Bắc Triều (nhà Mạc) và Nam Triều (nhà Lê) thì các niên hiệu trên những món đồ gốm này là niên hiệu của nhà Mạc chứ không phải là niên hiệu nhà Lê nữa. (Một chân đèn ghi rõ: Hưng Trị tam niên, nhị nguyệt tạo, Nam Sách Phủ, Thanh Lâm Huyện, Hùng Thắng xã, Đặng Huyền Thông thê Nguyễn Thị Đỉnh – nghĩa là Đặng Huyền Thông cùng vợ là Nguyễn Thị Đỉnh quê tại xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách tạo vào tháng 2 năm Hưng Trị thứ ba (1590). Chân đèn cũng vẫn là men trắng hoa văn mầu chàm, thường gồm năm tần, dưói cùng là vành hoa sen, có khi đắp nổi hình những bông cúc, rồi đến thân của chân đèn là hai tầng lớn, tầng dưới là những hoa cúc, tầng trên là hình rồng uốn quanh, đắp nổi bằng đất mộc. Đây vẫn là con rồng Việt Nam: mình nhỏ dài, uyển chuyển, vẩy láng, râu dài, mặt hiền chứ không phải con rồng Tầu của đời Nguyễn sau này (mà buồn thay ta vẫn thấy người Việt bây giờ vẽ). Người Trung Hoa khi vẽ rồng, bao giờ cũng chỉ vẽ rồng với mây mà thôi. Người Việt Nam lại thêm hoa cúc, hoa sen vào. Người nghệ sĩ Việt coi mỗi món đồ là một tác phẩm nghệ thuật. Lư hương rất đẹp, nhiều cái hình tròn, nhưng nhiều cái lại hình chữ nhật, rất nhiều hoa văn rất nhiều hình chạm, hình đắp nổi hoa sen, hoa cúc và những biểu tượng Phật Giáo.

Trở ngược giòng lịch sử, chúng ta cần cải chính một hiểu biết sai lầm rất lớn về văn minh Việt Nam: đó là ảnh hưởng Trung Hoa. Qua Nho học, qua những năm Bắc Thuộc, tất nhiên ta có tiếp nhận những nét đại cương của văn minh Trung Hoa. Tuy nhiên phần lớn những ảnh hưởng này chỉ ở trong giới quan lại, trưởng giả mà thôi. Còn quần chúng Việt Nam vẫn cứ giữ nguyên văn minh Việt hoặc khéo hơn, họ Việt hóa những điều đã học được cho phù hợp với tâm tình, nếp sống riêng. Vì thế sau cả một ngàn năm Bắc Thuộc ông cha ta, không những vẫn còn giữ nguyên được tiếng nói dân tộc, mà còn làm cho tiếng Việt phong phú hơn với những từ ngữ Trung Hoa đã được Việt hóa.

Một điểm rõ ràng là trong khi ở Trung Hoa cho mãi đến thế kỷ 20, khi Tôn Dật Tiên thành công trong việc tiêu diệt chế độ quân chủ, thì trên pháp luật quyền của người phụ nữ Trung Hoa mới được công nhận. Trước đó họ không có quyền làm chủ cơ sở thương mại, kỹ nghệ, không được làm chủ đất. Nếu chồng chết đi mà chưa có con trai thì gia tài thuộc về các em trai nhà chồng, chứ họ không được thừa hưởng.

Trong khi đó ở nước ta, bộ luật Hồng Đức của vua Lê Thánh Tông đã cho người đàn bà được làm chủ ruộng đất, hiệu buôn… Rồi ta thấy, Đặng Huyền Thông và Nguyễn Thị Đỉnh ký tên chung trên các món đồ họ làm, bà Bùi Thị Hý, bà họ Đỗ cũng tự ký tên mình trên các chân hương, chân đèn, tên các bà sãi Nguyễn Thị Liên, Vũ Thị Dương cũng được viết lên các món họ đặt cho chùa… (Bà Bùi Thị Hý là người làng vốn hay chữ đã giả trai để đi thi, đậu đến Tam Trường thì bị phát giác. Nên trở về quê, kết duyên cùng ông Đặng Sỹ, người làm chủ một lò gốm lớn ở Chu Đậu. Với tài vẽ đẹp, chữ tốt, bà đã vẽ hoa văn cho rất nhiều món đồ do lò gốm gia đình sản xuất). (8)

Việc coi trọng phụ nữ ở Việt Nam không phải đến đời Lê mới có. Từ thời thượng cổ, qua thời Hán Thuộc, mặc cho người Tầu, mặc Tích Quang, mặc Nhâm Diên, người Việt vẫn cứ coi trọng người đàn bà, người mẹ. Bà Trưng, Bà Triệu dấy binh, cầm quân cầm tướng, có ai là người bảo là không được đâu? Mấy ông anh hùng bên Tầu bên Nhật tìm đỏ mắt cũng không bao giờ có những trang sử oanh liệt như thế. Rồi hãy đọc vài câu ca dao như: Mẹ em tham thúng xôi vò – Tham con lợn béo tham vò rượu tăm…. Bố em đâu rồi, sao quyết định của mẹ lại là quyết định một mình, quyết định tối hậu như thế? Bởi vì người đàn bà Việt mới thực sự là người cầm cân nẩy mực cho các sinh hoạt trong gia đình. Vì thế mà những ông Tú Xương tha hồ rong chơi, khi các bà Tú Xương đã lo toan tất cả mọi thứ, từ tiền nuôi con, từ tiền cho chồng uống rượu, cho đến tiền chồng đi hát cô đầu…

Đồ gốm Chu Đậu, những món tuyệt phẩm, những hoa văn dân tộc, những nước men trong mịn, những hình dạng thanh tú. Khởi đi suốt những ngàn năm lịch sử phát triển dân tộc, quả tình đến đây đồ gốm Việt Nam trở nên những món hàng được ưa chuộng từ trong nước đến ngoài thị trường quốc tế. Nào xuất cảng sang Nhật Bản, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan cho đến những nước Ả Rập xa xôi. Lại cũng được ưa chuộng, lưu giữ trong các nhà qúy tộc Âu Châu (Năm 1590, Duke of Florence đã tặng cho Prince-Elector of Saxony một bình Chu Đậu men trắng hoa lam hình tròn đường kính 25cm, vẽ hoa sen và hoa mẫu đơn. Bình này hiện nay được chưng trong viện bảo tàng Johannaun ở Thụy Điển).

Người Nhật rất hãnh diện về Trà Đạo của họ, nhưng mấy người Việt biết rằng Trà Đạo với đầy đủ nghi thức chỉ mới xuất hiện ở Nhật Bản từ thế kỷ 16. Và vào thời đó họ chưa biết làm đồ gốm đẹp, các ấm, bát uống trà của Trà Đạo Nhật chính là những món đồ gốm Chu Đậu nhập cảng từ Việt Nam qua. Những tổ sư của Trà Đạo Nhật Bản quý chuộng đồ Chu Đậu hơn đồ Trung Hoa và Đại Hàn. Thời đó chỉ có những gia đình quý tộc, những tổ sư Trà Đạo danh tiếng như Takeno Joo (1502-1555), Sen No Rikyu (1522-1591), Toyotomi Hideyoshi (1537-1598) Tokugawa Ieyasu (1542-1616), sứ quân Yoshiharu Tokugawa (1737-1786)…. mới sắm nổi đồ Chu Đậu, mà ngày nay con cháu họ vẫn giữ làm của gia bảo là vài ví dụ điển hình. (1)

Vậy thì tại sao làng Chu Đậu không còn ai biết làm những món đó nữa? Tại sao hai chú cháu họ Vương dời qua Bát Tràng (Hà Nội) cũng không làm được những thứ đồ tuyệt vời này?

Sự bức tử của đồ gốm Chu Đậu

Người ta cho rằng bởi vì vào thế kỷ 17, sau khi vua nhà Minh bỏ lệnh cấm người Tầu buôn bán với nước ngoài, các đồ gốm Việt Nam đã không cạnh tranh nổi và tàn lụi. Chúng tôi hoàn toàn bác bỏ giả thuyết này. Bởi vì cứ xem những món đồ Chu Đậu trong các viện bảo tàng ở Châu Âu, trong các bộ sưu tập lừng danh, thì đồ gốm ta và đồ gốm Tầu chưa chắc ai đã hơn được ai. Trên trường thương mãi, không ai có thể trong một lúc mà đột ngột mất trọn tất cả thị trường vốn lớn mạnh của mình như thế được.

Vả lại mất thị trường Ả Rập, thị trường Á Châu Thái Bình Dương, thì vẫn còn thị trường nội địa chứ. Đình Chùa vẫn cần lư hương, chân đèn, người dân vẫn cần bát đĩa. Không làm nhiều thì làm ít, lẽ đâu cả làng phải đổi sang nghề dệt chiếu. Lẽ đâu cả phủ Nam Sách chỉ còn người làm nồi đất không men. Lẽ đâu khi chú cháu Vương Quốc Doanh dời về Bát Tràng lại không tiếp tục làm được đồ gốm đẹp như lúc còn ở Chu Đậu. (Làng Bát Tràng nằm bên bờ sông Hồng, ngày nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Mỹ thuật đồ gốm Bát Tràng phát triển gần như song song với gốm Chu Đậu. Có những bình hương, chân đèn ghi niên hiệu nhà Mạc (như Diên Thành, Hưng Trị, Đoan Thái), cũng có những món ghi niên hiệu nhà Hậu Lê, làm vào thế kỷ 17 (sau khi nhà Mạc đã bị diệt) như Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), Cảnh Trị, Chính Hòa (1688), Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) và nhà Nguyễn (Gia Long 1802-1819).

Nhìn vào những năm tháng cuối cùng của thế kỷ 16, chúng tôi nghĩ rằng: Đồ gốm Chu Đậu bị bức tử. Kẻ bức tử đồ gốm Chu Đậu là Trịnh Tùng. Người thắng cuộc tranh giành quyền lực với nhà Mạc.

Khi viết 13 chữ ‘Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu…’ lên cái bình Tokapi Saray bà nghệ sĩ Bùi Thị Hý đã cho ta biết đó là năm 1450, đời vua Lê Nhân Tông. Đến khi vợ chồng Đặng Huyền Thông-Lê Thị Đỉnh làm những bình hương, những chân đèn (và tất nhiên là nhiều bình, ấm, đĩa, bát tuyệt vời khác), thì ta thấy niên hiệu của nhà Lê không còn được họ dùng nữa (4), mà thay vào đó là niên hiệu của nhà Mạc, như Diên Thành tam niên của Mạc Mậu Hợp, (5), Diên Thành thứ năm (6), Hưng Trị tam niên (7)… thì ta thấy niên hiệu của nhà Lê (Nam Triều) không được dùng nữa, mà thay vào đó là các niên hiệu của nhà Mạc (Bắc Triều).

Tỉnh Hải Dương với nhiều sông nước bao quanh như các sông Thái Bình, sông Thương, sông Luộc, sông Kinh Thầy, sông Kẻ Sặt, sông Đò Đáy…lại cũng không xa gì sông Hồng; Hải Dương nằm giữa vùng đồng bằng và vùng cao nguyên, giữa Hà Nội và Hải Phòng, đã từng là nơi có giá trị chiến thuật rất cao. Nào Đông Triều (nơi nhà Trần dùng làm cứ địa khi chống quân Nguyên) nào Bãi Sậy (căn cứ của Hoàng Hoa Thám chống Pháp), nào Cổ Am (nơi Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học từng chống nhau kịch liệt với quân đội Pháp)… Từ đây tiến đánh Thăng Long cũng dễ mà rút về núi rừng Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên hay về vùng bờ biển Hải Phòng, Thái Bình lại rất tiện. Thương mãi và nông nghiệp nơi đây luôn phồn thịnh với sông nước, hàng hóa được chở thẳng lên Thăng Long hay xuôi xuống Phố Hiến (để xuất cảng) vừa tiện, vừa gần.

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, từ bản khắc in năm 1697, các sử thần đời trước đã cho ta rất nhiều chi tiết về giai đoạn máu lửa thảm khốc ấy.

– Từ năm 1504 nhà Lê chỉ còn những ông vua trẻ tuổi, bất tài, hoang dâm, tàn ác, kể từ Lê Uy Mục (vua quỷ) Lê Tương Dực (vua lợn)… Xã hội suy đồi, loạn lạc, giặc giã triền miên, dân tình nghèo đói. Mặc Đăng Dung được coi là kẻ có thể ổn định trật tự xã hội, phát triển đất nước, được phần lớn triều đình và dân chúng hướng theo, Mạc Đăng Dung chiếm ngôi của nhà Lê năm 1527.

– Trong số người không theo họ Mạc có Điện Tiền Tướng Quân Nguyễn Kim. Nguyễn Kim bỏ sang Lào nương náu, tìm cách chống lại họ Mạc. Mãi gần mười năm sau, năm 1533, Nguyễn Kim mới tìm được người con út của Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, Kim lập Duy Ninh lên làm vua là Trang Tông, đóng ở Sầm Châu bên Lào, mưu việc khôi phục nhà Lê. Năm 1543, Nguyễn Kim đưa được Lê Trang Tông về Tây Kinh (Thanh Hóa). Đến năm 1545 Nguyễn Kim bị nhà Mạc cho người đánh thuốc độc chết, binh quyền về tay con rể là Trịnh Kiểm. Nước ta chia làm hai phần, Nam Triều ở Tây Kinh của nhà Lê-Trịnh, Bắc Triều ở Đông Kinh của nhà Mạc. Hai bên đánh nhau rất nhiều lần, suốt từ năm 1533 đến hết thế kỷ 16.

Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527, truyền qua các đời vua Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên; Rồi Mạc Mậu Hợp lên nối ngôi vào năm 1561. Lúc này binh quyền của Nam Triều (nhà Lê) thuôc trọn tay Trịnh Tùng. Từ năm 1533 đến năm 1623, nhà Mạc và nhà Trịnh (dưới chiêu bài phù Lê) đánh nhau không ngừng. Lúc đầu chiến trận xảy ra ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, nơi vua Lê và chúa Trịnh đồn trú, nhưng kể từ năm 1587, Trịnh Tùng bắt đầu đem quân ra đánh vào sâu hơn trong lãnh thổ nhà Mạc. Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long năm 1591, Mạc Mậu Hợp rút về Hải Dương.

Vì đất Hải Dương là quê hương nhà Mạc, v́ địa thế chiến lược quan trọng, phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương trở nên chiến trường đẫm máu giữa Trịnh Tùng và nhà Mạc suốt từ năm 1533 đến 1623. Chỉ kể riêng từ năm 1592 đến năm 1601 đã có đến 12 trận đánh đẫm máu ở nơi đây. Cứ hễ quân chúa Trịnh đuổi được nhà Mạc, rồi rút đại quân đi thì dân địa phương lại nổi lên theo nhà Mạc để chống lại chúa Trịnh. Mỗi lần quay lại chiếm Hải Dương, quan quân họ Trịnh lại trả thù, tàn sát dân cư không tiếc tay, lần nào cũng giết cả ngàn người. Cùng với những người theo họ Mạc, các giòng họ chuyên về gốm Chu Đậu bị quan quân nhà Trịnh thanh toán hết cả.

Vì thế chúng tôi cho rằng Trịnh Tùng đã bức tử đồ gốm Chu Đậu trong những lần ông cho quan binh tàn sát dân vùng Nam Sách để trả thù việc họ đã dám theo vua quan nhà Mạc

Nói như thế có người sẽ vặn lại rằng: Chẳng lẽ suốt từ thế kỷ 17 đến bây giờ chúng ta không làm đồ gốm sao? Thế còn Bát Tràng, thế còn Thọ Xương, thế còn Thanh Hóa, thế còn Biên Hòa, Bình Dương, thế còn biết bao nơi làm bát đĩa nồi niêu khác? Chẳng lẽ người Việt không còn dùng đồ gốm nữa sao?

Ông cha chúng ta vẫn còn tiếp tục làm đồ gốm để dùng hàng ngày. Tuy nhiên nền nghệ thuật và kỹ thuật cao của đồ gốm Việt Nam từ các thế kỷ trước, từ đời Lý, đời Trần, đời Lê, và phát triển đến mức tột đỉnh để kết tinh vào đồ gốm Chu Đậu đã biến mất, còn lại chỉ là những lò gốm sản xuất các món đồ tầm thường, có hay không có tráng men (đồ sành).

Từ thời các chúa Trịnh, từ các đời vua nhà Nguyễn, triều đình, quan lại và cả dân gian đã dùng những món đồ đặt làm đồ hay mua từ các lò gốm Trung Hoa, đã nhập cảng các món đồ sứ từ Anh Quốc (3), và sau này là từ Nhật Bản. Nền kỹ thuật đồ gốm ở Bình Dương, ở Biên Hòa… sản xuất ra những món chúng ta vẫn dùng hàng ngày, nhưng đó lại là loại đồ gốm mà những người Tầu dưới sự lãnh đạo của Dương Ngạn Địch sang nước ta tỵ nạn, khi quê hương của họ bị người Mãn Châu chiếm năm 1644 khai lập, chứ không phải là sự tiếp nối nghệ thuật và kỹ thuật của đồ gốm dân tộc nữa.

Dân số của tỉnh Hải Dương, của phủ Nam Sách thời ấy được bao nhiêu? Bao nhiêu người là những tay có học và có tài làm đồ gốm như gia đình họ Đặng, họ Bùi, họ Đỗ, họ Vương…? Cuộc chiến đã làm xáo trộn nếp sinh hoạt nghệ thuật, kỹ thuật và thương mãi của họ như thế nào?

Tuy nhiên dù loạn lạc, binh đao dài lâu hay đau thương thế nào, thì sau khi chúa Trịnh đã toàn thắng thì những người làm đồ gốm cũng sản xuất trở lại những món đồ theo sự truyền dạy của ông cha chứ? Thế nhưng cả làng Chu Đậu quay ra dệt chiếu, thế nhưng cả phủ Nam Sách chỉ còn đôi ba chỗ làm nồi đất niêu đất không men! Thế nhưng dân vùng đó không còn gia phả, ký ức gì về thời cha ông họ là những nghệ nhân tuyệt vời của đồ gốm Việt! Thế nhưng ruộng vườn đã vùi lấp dấu tích của các lò gốm xưa! Dân cư Nam Sách làm nghề dệt chiếu sau này có bao nhiêu phần là người các nơi khác đến vùng ấy cư ngụ sau khi quan quân nhà Trịnh đã bách hại dân địa phương, vì thế không có liên hệ gì đến nghệ thuật gốm Chu Đậu?

Bảo rằng vì vào cuối thế kỷ 16 vua nhà Minh bỏ lệnh cấm người Tầu buôn bán với nước ngoài (7), cho nên đồ gốm ta bị mất thị trường và tàn lụi, là một lập luận sai và yếu. Bởi vì các món đồ gốm Chu Đậu lưu giữ ở Âu Châu và ở Ả Rập có phẩm chất rất cao, men rất trắng, rất mịn, hoa văn rất linh động, sắc sảo. Người ta đã từng nhìn lầm ra là đồ Trung Hoa. Đồ gốm Chu Đậu vốn rất được ưa chuộng ở thị trường Nhật Bản, thị trường Đông Nam Á, và thị trường Ả Rập. Không ai có thể mất trọn vẹn tất cả các thị trường một cách đột ngột như thế được. Vả lại chúng ta vẫn còn thị trường quốc nội nữa chứ, tại sao lại hoàn toàn ngưng không làm các món đồ men trắng hoa văn mầu lam vốn rất được ưa chuộng này nữa? Thiên tai, lụt lội chăng? Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thường kê rõ những năm tháng có lụt lột, thiên tai, mất mùa, nhưng không hề nói gì để cho ta có thể suy ra rằng dân Hải Dương thời ấy bị thiệt hại nặng vì thiên tai. Hay là đất sét trắng (kaolin) ở nơi đây đã cạn, nên đồ gốm tuyệt chủng? Không thể như thế được, bởi vì ngoài các mỏ kaolin địa phương như ở bờ sông Kinh Thầy, ở Trúc Thôn, Hoàng Thạch gốm Chu Đậu còn làm bằng đất mua từ Hố Lao, Đông Triều (cách đó 30km đường sông), mà những nơi này hiện nay vẫn còn được khai thác.

Đích thực Trịnh Tùng đã bức tử đồ gốm Chu Đậu trong những lần ông cho quan binh tàn sát dân vùng Nam Sách để trả thù việc họ đã dám theo vua quan nhà Mạc. Chắc rằng khi Trịnh Tùng giết những người dân vùng Hải Dương chống ông, ông đã giết đi hết những người làm đồ gốm men trắng chàm này của văn hóa Việt Nam. Việc người thắng bạo hành, tru diệt tàn dư của kẻ bại vẫn là những chuyện xảy ra thường xuyên trong lịch sử nước nhà.

Chắc rằng cuộc tàn sát phải ghê gớm và toàn vẹn lắm cho nên chẳng còn ai sống sót mà trốn đi mang nghề nghiệp ông cha đến nơi khác làm ăn, hay dù có người thoát đi được nơi khác (như chú cháu nhà họ Vương đến Bát Tràng) thì họ cũng vì sợ lộ tông tích mà không làm, không truyền nghề cũ nữa. Gia phả của giòng họ bà Bùi Thị Hý cũng chép rõ rằøng: ‘… làng mạc bị tàn phá, con cháu thất tán, không sản xuất được phải cải họ đến 3-4 đời, sau đó nghề vinh của giòng họ thất truyền…’. Chúng tôi nghĩ rằng đồ gốm nhà Minh nhà Thanh đã không thắng được đồ gốm Việt Nam trên thị trường mà chỉ là điền khuyết vào phần thị trường mà đồ gốm Chu Đậu đã bỏ trống thôi.

Than ôi! một nền mỹ thuật và kỹ thuật đặc biệt, tuyệt đẹp của ông cha ta đã không còn được tiếp tục phát triển đến những mức độ cao hơn nữa mà lại tàn biến mất rất ngậm ngùi. Vào thời điểm ấy, năm 1644 người Mãn Châu vào chiếm Trung Hoa, diệt nhà Minh, lập nên nhà Thanh. Đồ gốm Trung Hoa cũng theo thời gian mà phát triển rực rỡ. Cái màu xanh lam đục mờ, đã trở thành màu xanh lam sáng biếc, thành nét vẽ thanh thoát trở nên đặc điểm của đồ gốm Trung Hoa.

Nơi quê ta, thay vì ông cha ta phát triển rực rỡ được nghệ thuật đồ gốm tuyệt vời của mình song song với họ, thì đau đớn thay, cả nền nghệ thuật ấy bị bức tử, đến nỗi con cháu sau này không còn biết gì về nền nghệ thuật ấy nữa. Để rồi sau đó, chính Trịnh Sâm, và triều đình nhà Nguyễn, rồi giới quyền quý, kẻ có tiền phải đặt phải mua bình ấm bát đĩa từ những lò gốm của nhà Thanh bên Tầu! Nào đồ ‘Nội Phủ’, nào đồ ‘Khánh Xuân’, nào đồ ‘Mai Hạc’, đồ ‘chữ nhật’, đồ ‘Ngoạn Ngọc’, đồ ‘Trân Ngọc’, đồ ‘Nhã Ngọc’… Mà lúc ấy đồ gốm Việt Nam đã chết tức tưởi rồi! Và sau đó, từ một xã hội không biết làm đồ gốm, Nhật Bản đã học, đã phát triển mạnh và trở nên bá chủ của thị trường đồ sứ trên toàn thế giới.

Ôi! tại sao lịch sử lại khắc nghiệt với người Việt Nam như thế! Tranh bá đồ vương, chiến tranh, binh lược đã bao năm, đã bao lần làm cho sức sống dân tộc thui chột, làm cho nền văn hóa tuyệt vời của người Việt bị mất đi những cơ hội tiếp tục đơm hoa kết trái, khoe mặt, khoe tài cùng bốn biển năm châu, và có thể trở nên một cường quốc kinh tế, thương mãi, văn hóa, nghệ thuật… Ôi! sự giành giựt triều đình, giành giựt quyền lực của những kẻ tham tàn mù quáng đã làm cho nước ta trở nên một xã hội nhược tiểu chậm tiến về nhiều mặt. Chúng tôi lại nghĩ thêm rằng, ngày nay, nếu chúng ta không nghiên cứu, không tìm hiểu và không phổ biến văn hóa thuần Việt, nếu chúng ta cứ tiếp tục xưng tụng những sai lầm, thiếu xót về lịch sử, về văn hóa ông cha, chúng ta cũng đã vô tình góp phần hủy diệt di sản văn hóa thuần Việt, như họ Trịnh đã lầm lỗi trước đây vậy.

Hình ảnh:

 Gốm Chu Đậu rất dễ trưng bày trong mọi không gian nội thất

Gốm Chu Đậu rất dễ trưng bày trong mọi không gian nội thất

Óc sáng tạo của người thợ gốm thể hiện qua nét vẽ các loài linh thú

Óc sáng tạo của người thợ gốm thể hiện qua nét vẽ các loài linh thú

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

 Ấm rượu hình con gà

Ấm rượu hình con gà

Nắp hộp phấn đắp nổi dát vàng

Nắp hộp phấn đắp nổi dát vàng

Đĩa cánh sen với hoạ tiết được bố cục chặt chẽ, hài hoà nổi bật hình ảnh lân cách điệu trong lòng đĩa

Đĩa cánh sen với hoạ tiết được bố cục chặt chẽ, hài hoà nổi bật hình ảnh lân cách điệu trong lòng đĩa

tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

Chim chích choè - hình ảnh khá phổ biến trên hiện vật gốm Chu Đậu

Chim chích choè - hình ảnh khá phổ biến trên hiện vật gốm Chu Đậu

Chú Thích:

1. Từ thế kỷ thứ X, người Nhật bắt đầu uống mạt trà. Tràn tán nhỏ ra như bột, pha vào nước sôi. Mạt trà được nhập cảng từ bên Tầu qua, lúc đầu chỉ được coi là một thứ thuốc (tiên dược) có khả năng giải bệnh hơn là giải khát. Trà được dùng ờ triều đình Nhật từ thời nhà Tống bên Tầu, nhưng đến thế kỷ 14, trà mới bắt đầu trở nên phổ thông, nhưng chén bát uống trà còn lộn xộn, hoàn toàn khác nhau, tùy theo ý người uống. Trà xanh được dùng khi ‘Trà Đạo’ (Chanoyu) được khởi xướng bởi Murata Juko (1452 – 1502). Sau đó Takkeno-Jo O (1502 – 1555) và rồi sau nữa là Thiền Sư Sen Rikyo mới dọn xếp tất cả lại thành trà đạo trong phong tục, văn hóa Nhật.

2. Có người đọc niên hiệu của vua Lê Nhân Tông là Đại Hòa vì chữ này viết không có dấu chấm, theo Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, thì cách viết này có 2 cách đọc, có thể đọc là Đại mà cũng có thể đọc là Thái. Chúng tôi cho rằng niên hiệu của vua Lê Nhân Tông phải đọc là Thái Hòa, bởi vì những bộ sử đời sau (như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) dùng chữ ‘thái’ có dấu chấm để ghi niên hiệu của vua Lê Nhân Tông, như cách viết chữ ‘thái’ thường thấy.

3. Một chân đèn có ghi: ‘Hưng Trị Tam Niên, nhị nguyệt tạo, Nam Sách phủ, Thanh Lâm huyện, Hùng Thắng xã, Đặng Huyền Thông thê Nguyễn Thị Đỉnh’, nghĩa là: Tháng hai năm Hưng Trị thứ ba (1590) Đặng Huyền Thông cùng vợ là Nguyễn Thị Đỉnh làm ở xã Hùng Thắng, huyện Thanh Liêm, phủ Nam Sách.

4. Năm 1568, nhằm vào năm Quang Hưng thứ ba đời Lê Thế Tông.

5 Năm 1587, nhằm vào năm Quang Hưng thứ mười đời Lê Thế Tông.

6. Năm 1590, nhằm vào năm Quang Hưng thứ mười ba đời Lê Thế Tông.

7. Nhà Minh cấm dân Tầu buôn bán với nước ngoài từ năm 1371 đến năm 1567, nhà Thanh cấm từ năm 1644 đến năm 1684.

8. Theo gia phả họ Bùi ở Hải Dương thì bà Bùi Thị Hý người trang Quang Anh (nay là thôn Quang Tiền, xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc) tỉnh Hải Dương. Bà sinh năm Canh Tý (1420) mất năm Kỷ Mùi (1499), là cháu nội của tướng quân Bùi Quốc Hưng, thân phụ bà là cụ Bùi Đình Nghĩa, cũng là một vị tướng quân dựng nước của vua Lê Thái Tổ (cụ Nghĩa đã hy sinh trong một trận hỗn chiến với quân Minh ở thành Đông Quan). Sau khi bị phát giác tội giả trai để đi thi, bà Bùi Thị Hý trở về kết duyên cùng ông Đặng Sỹ, một đại gia về đồ gốm ở Chu Đậu. Bà có biệt tài làm bình gốm hoa lam, lò gốm của ông bà Đặng Sỹ-Bùi thị Hý sản xuất rất nhiều đồ gốm Chu Đậu xuất cảng khắp nơi. Năm 1452, ông bà về Quang Anh để giúp em trai là Bùi Đình Khởi lập lò gốm ở gần sông Định Đào. Từ đó họ Bùi ở Quang Anh cũng trở nên giầu mạnh về nghề làm đồ gốm cho đến khi cùng với dân vùng này bị họ Trịnh tru diệt.

Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam – Phần dẫn nhập

ĐỒ GỐM CỔ,

MỘT NỀN VĂN HÓA THUẦN VIỆT

BỤT CHÙA NHÀ…

Trong quá trình tiến hóa, sự tồn tại và phát triển của một giống sinh vật hay thực vật dựa trên sức mạnh của giống vật ấy. Đối với một giòng giống, một văn hóa con người, sức mạnh ấy dựa trên hai yếu tố: ý chí và bản chất đặc biệt. Ngoài yếu tố thể chất, bản sắc đặc biệt ấy là nền văn hóa của mỗi dân tộc. Chính ý chí và bản chất của dân Do Thái đã làm cho dân tộc này tồn tại suốt hai nghìn năm vong quốc. Mãnh mẽ hơn thế nữa là sự tồn tại của dân tộc Việt Nam qua một nghìn năm bị người Trung Hoa đô hộ, qua một nghìn năm thường xuyên chống trả với những cố gắng đồng hóa dân Việt về văn hóa và chủng tộc.

Tuy nhiên trong đôi ba trăm năm gần đây, bên cạnh những nỗ lực phi thường để mở mang bờ cõi trở về vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Việt lại trở nên nhu nhược về sự sống còn của văn hóa Việt. Từ trí thức tới chính quyền, tới dân giả người ta trở nên lơ là với văn hóa ‘thuần Việt’, người ta trở nên thiếu hiểu biết rõ ràng và trung thực về lịch sử, nguồn gốc và văn hóa Việt Nam. ‘Bụt chùa nhà đã trở nên hết linh thiêng’ trong tâm trí người Việt. Tất nhiên không ai nhận vậy, nhưng nhìn vào các hành vi của đa số chúng ta, đó là một sự kiện rõ ràng.

Chỉ vì ‘bụt chùa nhà không thiêng’ mà trong biết bao năm qua, chúng ta đã không tìm hiểu, không nghiên cứu và không phổ biến nền văn hóa thuần Việt. Tệ hơn chúng ta lại cho rằng cái gì không từ bên ngoài mang vào thì không tốt, không quý. Để làm giảm mặc cảm tự ti, chúng ta đã tự gán mình làm một nhánh phụ của Trung Hoa. Phụ bạc bao công lao gìn giữ nòi Việt của tổ tiên.

Người tây phương vẫn coi là văn hóa Việt Nam chỉ là một nối dài của văn hóa đa dạng Trung Hoa; họ vẫn coi văn hóa nòi Việt không khác gì văn hóa của một tỉnh phương nam nước Tầu. Hiểu biết về lịch sử, về văn hóa Việt Nam của tây phương dựa trên sách vở do người Pháp viết lúc còn cai trị nước ta, mà sách Pháp lại dựa trên sách Tầu, những kẻ luôn luôn muốn coi Việt Nam là một tỉnh của họ và coi văn hóa Việt Nam chính là bản sao chép của văn hóa Tầu.

Họ coi như thế vì chúng ta cho phép họ coi như thế, bởi vì rất nhiều người Việt chúng ta lại cũng coi như thế, dậy nhau như thế. Trong bao năm qua, chúng ta đã lệ thuộc vào sách vở do người Pháp viết, người Tầu viết ấy để làm cơ sở cho hiểu biết của mình về văn hóa Việt. Những sách vở này có nhiều nhận xét, nhiều kết luận bắt nguồn từ những thành kiến và những chủ đích ngoài phạm vi văn hóa, khoa học thuần túy mà bỏ qua những yếu tố, những sự thực khác. Trong bao năm qua, giới trí thức Việt Nam, đã như ‘những con vẹt’, học và dậy nhau những sai lầm về văn hóa về nguồn gốc dân ta một cách rất hồn nhiên, vô tư. Chúng ta học mà không hỏi, thuộc lòng mà không suy nghĩ, nhai lại mà không tìm hiểu, không nghiên cứu. Đến bây giờ, với vài triệu người ở hải ngoại, nhu cầu học hỏi về dân tộc của giới trẻ ngày càng tăng, mà những người đi trước vẫn còn tiếp tục truyền dậy cho họ những điều mình nhắm mắt học thuộc lòng từ những năm đi học trước đây. Trong khi đó thì nền giáo dục ở trong nước hiện nay thoái hóa trầm trọng.

Bên cạnh những lỗi lầm khác, lỗi lớn nhất của rất nhiều trí thức Việt Nam là không có hiểu biết rõ ràng về bẳn sắc văn hóa Việt Nam, không có ý chí tìm hiểu, truyền bá nền văn hóa ấy. Thế nhưng cũng trong suốt bao nhiêu năm qua, nhiều người đã tìm hiểu, đã cố gắng viết lên các nét đặc biệt của văn hóa thuần Việt, các sự thực, đúng sai của lịch sử, của nguồn gốc dân tộc. Nhưng những công trình này không được giới giáo dục và giới truyền thông (hai lực lượng mạnh nhất của sự tìm hiểu, phổ biến văn hóa) chú ý tới.

Ở miền Nam, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc của những thế hệ sinh vào thập niên 1940 cho đến 1960 chỉ dựa trên bộ sách viết cho học sinh trung học của ông bà Tăng Xuân An (tóm lược từ bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim), hay những bộ sách giáo khoa trung học tương tự. Ở bậc đại học, nếu người ta có học về sử Việt, thì cũng không thêm được bao nhiêu. Trong những thời gian tốt, những hiểu biết ấy được truyền dậy từ thế hệ này sang thế hệ kia, trong những thời gian xấu thì còn tệ hại hơn hàng ngàn lần. Ở miền Bắc lại càng tệ hơn nữa,… Đọc lại bộ sử giá trị của Trần Trọng Kim, ta thấy rõ rằng, những điều cụ đã dè dặt, đã nhấn mạnh là truyền thuyết không đáng tin lắm, thì lại bị dậy thành những những sự thực về dân Việt.

Hai lầm lẫn ghê gớm nhất về giòng giống chúng ta là:

1- Người Việt có nguồn gốc từ một giống người ở Nam Trung Hoa (thuyết Bách Việt)

2. Văn hóa Việt Nam mang nặng ảng hưởng Trung Hoa.

Các sử gia Việt Nam đời trước viết rằng: ‘… Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến Ngũ Lĩnh, lấy con gái Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục… Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng hiệu là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm nhâm tuất (2879 BC) và lấy con gái Đông Đình Quân là Long Nữ, đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai (Đế Lai là con Đế Nghi) tên là Âu Cơ đẻ ra được một bọc nở ra trăm người con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: ‘ Ta là dòng dõi Long Quân, nhà người là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay ta được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải’. Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương…’

Trần Trọng Kim viết thêm rằng: ‘…có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy là một điều nói phỏng, chứ không lấy gì làm đích xác được’. Ở trang kế tiếp, Trần Trọng Kim viết tiếp: ‘…Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là chuyện có thực’.

Quả vậy, đây không phải là một câu chuyện kể lại một sự kiện lịch sử. Mà là một truyền thuyết có tính cách triết lý. Cũng giống như người Nhật Bản khi họ truyền dạy nhau câu chuyện Thái Dương Thần Nữ, họ không thể nào tin một cách khoa học rằng nữ thần mặt trời đã sinh ra dân tộc họ; Ông cha chúng ta khi tạo ra truyền thuyết này, đã không chú trọng vào tích cách xác thực khoa học của nó, mà muốn truyền cho chúng ta một khái niệm triết lý trừu tượng nhằøm khơi động tinh thần dân tộc tự chủ của chúng ta sau này. Khi nhắc lại truyền thuyết này, Trần Trọng Kim tỏ rõ ý nghi ngờ về tính cách xác thực của nó. Nhưng tiếc thay những chi tiết phụ trong truyện đã được người đời nay chú trọng quá đáng mà làm lu mờ ý nghĩa đích thực của truyền thuyết vẻ vang này. Nói như thế không phải là phủ nhận truyền thuyết này, mà ngược lại, chính là để nhấn mạnh ý nghĩa cao sâu của nó, để nhận rõ, để duy trì tinh thần dân tộc Việt Nam, để hãnh diện với nguồn gốc độc lập và cá biệt của nòi Việt.

Về phương diện triết lý, điều chính yếu chúng ta phải ghi nhận từ truyền thuyết ‘Con Rồng, Cháu Tiên’ là:

Dân tộc ta là một dân tộc độc lập. Đế Nghi giữ đất phương bắc, Lạc Long Quân giữ đất phương nam. Văn hóa ta không phải là văn hóa Tầu nối dài.

Chúng ta thuộc về một giòng giống oai hùng, linh thiêng (con cháu của Rồng và Tiên).

Với các nhà nho Việt thủa xưa, những gì liên hệ tới lời nói, hành vi, quê hương của Khổng Tử đều có tính cách cao quý. Họ cho rằng để làm tăng thêm phần cao cả, chính thống, họ phải nói rằng chúng ta bắt nguồn đâu đó từ những thời, từ những người mà Khổng Tử ca ngợi (Tam Hoàng Ngũ Đế). Vì thế Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Minh, Đế Nghi được đưa vào truyền thuyết này.

Ngày nay ta phải thấy rằng truyền thuyết này là một trong nhiều phương cách ông cha ta đã dùng để truyền dậy tính cách cao cả, khác biệt và độc lập của nguồn gốc, của văn hóa Việt Nam, để giữ vững tinh thần dân tộc Việt Nam, và nhờ đó ông cha ta đã thành công, đã giành lại, đã giữ vững quyền tự chủ. ‘Bụt chùa nhà chúng ta đã rất linh thiêng và còn mãi mãi rất linh thiêng’.

Giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ, trong bộ sách ‘Mỹ-thuật Cổ-truyền Việt-nam’, nhấn mạnh rằng ‘thuyết bách Việt không chính xác, vì theo thuyết Bách Việt thì các nước Việt (Đông-Việt, Mân-Việt, Điền-Việt, Nam-Việt…) chỉ có sau khi nước Việt của Câu Tiễn bị nước Sở thôn tính, người Việt chạy xuống phương Nam, lập thành nhiều bộ lạc người Việt, tức là từ thế kỷ thứ 6 về sau’. Ông cha ta đã sinh sống đã phát triển văn hóa ở vùng Bắc Việt từ rất nhiều ngàn năm trước đó rồi.

Về phương diện nhân chủng, người Trung Hoa thuộc giống Mongoloid từ tây bắc châu Á đi xuống. Chúng ta thuộc giống Malayo-Polynesien, nghĩa là thuộc các sắc dân từ các hải đảo phía nam Thái Bình Dương đi lên. Từ nhiều ngàn năm trước thiên chúa giáng sinh. Ông Bình Nguyên Lộc đã dày công nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc qua khoa ngôn ngữ học cũng đã chứng minh rằng tổ tiên chúng ta từ phương nam đi lên, chứ không phải từ phương bắc đi xuống.

Nhìn vào bản đồ, ta thấy nước Tầu thời cổ đại chỉ quanh quẩn ở vùng núi rừng phía tây bắc, mà từ đó đi về lãnh thổ của các Hùng Vương xa vô cùng (15 Bộ của Hùng Vương nằm trọn trong vùng Bắc Việt và Bắc Trung Việt bây giờ).

Sử Tầu cũng chép những điều ngược với truyền thuyết ‘chạy về phương nam’ của người Việt. Trong Thông Chí, Trịnh Tiều viết: ‘Năm Mậu Thân thứ năm đời Đường Nghiêu, sứ giả Việt Thường qua hai lần sứ dịch sang dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến hơn nghìn năm, mình nó dài ba thước, trên lưng có dấu khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang về sau, vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch’.

Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên cũng viết: Năm Tân Mão (1109 BC) đời vua Chu Thành Vương, sứ giả nước Việt Thường sang cống chim bạch trĩ, phải qua ba lần thông ngôn, rồi dùng xe chỉ nam để về nước.

Như vậy đây là hai dân tộc, hai nước biệt lập, cách xa nhau và có rất ít trao đổi văn hóa, chính trị, nhân chủng. Phải qua hai, ba lần thông dịch mới hiểu được nhau, thì làm sao mà văn hóa Tầu ảnh hưởng vào văn hóa ta được. Lại nữa nếu câu chuyện sứ giả Việt Thường dâng cho vua Nghiêu con rùa thần với dấu khoa đẩu trên lưng (mà vua Nghiêu dùng làm căn bản cho lịch pháp) là có thật, thì văn hóa truyền từ phương nam lên phương bắc hay truyền từ phương bắc xuống phương nam?

Chúng ta vẫn chỉ nhớ các bài Việt Sử dậy theo tài liệu thiếu sót trước đây, mà không chú ý gì đến những kết quả nghiên cứu nghiêm chỉnh của các nhà khảo cổ và nhân chủng hiện thời. Trong số này có những người như nhà nhân chủng học Mỹ, Dr. Paul K Benedict sau khi phân tích nguồn gốc nguyên thủy của một số tiếng dùng trong ngôn ngữ của các dân tộc thuộc vùng Đông Nam Á, đã nói rằng những tiếng mà trước đây người ta lầm tưởng là dân Đông Nam Á mượn của tiếng Tầu, thì thật ra người Tầu mượn những tiếng đó từ ngôn ngữ của dân vùng Đông Nam Á. Ông còn nói thêm rằng đã có nhiều trao đổi văn hóa giữa Trung Hoa và vùng Đông Nam Á, trong những trao đổi này, Trung Hoa chịu ảnh hưởng chứ không cho ảnh hưởng vào nền văn hóa ở vùng Đông Nam Á này (‘with Chinese as the recipients rather than the donors’). Dr. Wilhelm G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học trường đại học University of Hawaii, đã viết rằng: ‘…trước đây người ta cho rằng văn hóa truyền từ tây qua đông và từ bắc xuống nam. Trước đây người ta cho rằng văn minh nhân loại bắt nguồn từ vùng Lưỡng Hà Địa (Mesopotamia) và Ai Cập, rồi sau đó là Hy Lạp và La Mã. Văn minh lần hồi truyền qua Ấn Độ và Trung Hoa, Đông Nam Á là vùng thụ nhận sau cùng. Người Âu Châu thấy văn minh Trung Hoa và Ấn Độ đã tiến cao, khi gặp những tương tự về kiến trúc, trong đời sống trưởng giả ở vùng Đông Nam Á, họ lập tức cho rằng vùng này học theo Ấn Độ và Trung Hoa. Vì thế họ còn đặt tên vùng này là Indochina’. Ông Carl Sauer, cũng cho rằng ‘canh nông bắt nguồn trên thế giới trước nhất là ở Đông Nam Á, từ nền văn hóa Hòa Bình’. (Dấu vết của văn hóa Hòa Bình không chỉ giới hạn ở Bắc Việt Nam bây giờ, mà còn ở toàn Việt Nam và chạy dài qua vùng Thái Lan, hiện nay). Năm 1968, ông Donn Bayard tìm thấy ở Non-Nok-Tha một mảnh đồ gốm có dấu hột lúa. Khi dùng carbon-14 để định tuổi, người ta thấy mảnh đồ gốm này cổ hơn năm nghìn năm (vào khoảng 3,500BC). Đây là dấu tích cho thấy lúa gạo ở Đông Nam Á đã có trước Trung Hoa cả một ngàn năm. Khi dùng carbon-14 để định tuổi chất than gỗ trên các dụng cụ bằng đồng ở nơi này, họ thấy các vật bằng đồng này đã được đúc vào khoảng trước 3,000 BC. Ông Whilhelm Solheim đã kết luận rằng kỹ thuật đúc đồng bằng khuôn đôi (double molds) đã có ở Đông Nam Á hơn năm ngàn năm rồi, trước Trung Hoa một ngàn năm. Vì di tích đó cổ như thế, ông kết luận rằng: ‘Kỹ thuật đúc đồng phát xuất từ Đông Nam Á chứ không phải từ vùng Cận-Đông như trước đây lầm tưởng’. Ông Chester Gorman tìm thấy nhiều mảnh thực vật đã hóa than trong đó có vài hột đậu, một củ mã thầy, một quả ớt, vài miếng bầu và dưa leo, bên cạnh những đồ dùng bằng đá của văn hóa Hòa Bình. Nơi đây ông Gorman cũng còn thấy những mảnh xương súc vật đã được cắt thành miếng nhỏ nhưng không có vết cháy, đây là điều chứng tỏ thịt được cắt ra và nấu chín chứ không nướng trên lửa. Thử carbon-14, những vật tích này có tuổi từ 6,000 BC cho tới 9,700 BC. Thêm vào đó, dưới các lớp đất sâu hơn còn có những vật cổ hơn như thế. Cũng tìm thấy ở chỗ khai quật này là các đồ gốm với dấu dây in, với nét vẽ bằng mũi nhọn, những dao đá và dụng cụ đá, tất cả đều thuộc văn hóa Hòa Bình. Ngày nay những vật tích (dụng cụ và dấu rau cỏ canh nông) của văn hóa Hòa Bình vẫn còn tiếp tục được tìm thấy ở đây. Những vật tích với nét đặc biệt của văn hóa Hòa Bình (đồ gốm trang trí bằng dấu giây in và hình vẽ băng mũi nhọn) còn được tìm thấy ở Đài Loan, xa nhất về phương Tây, dấu vết này còn được thấy ở hang Padah-lin phía đông Miến Điện.

Wilhelm Solheim kết luận rằng đồ đá của văn hóa Hòa Bình đã có từ 20,000 BC và canh nông xuất hiện ở vùng này vào khoảng 15,000 BC. Đồ gốm từ trước 10,000 BC. Thuyền độc mộc được chế ra ở Đông Nam Á vào khoảng 4,000 BC tới 5,000 BC đã đưa dân Đông Nam Á đến vùng Đài Loan và Nhật Bản. Rồi vào khoảng hai nghìn năm trước đây, người vùng Đông Nam Á còn di chuyển xa về phương tây, lập nghiệp ở Madagasca và mang nhiều giống cây canh nông vào đông bộ Phi Châu, cũng trong khoảng thời gian này đã có nhiều trao đổi thương mại giữa Việt Nam và vùng Địa Trung Hải.

Những di tích khảo cổ học này, cho thấy ở vùng Bắc Việt bây giờ đã có một nền văn minh cao và khác hẳn văn minh Trung Hoa, từ hơn mười nghìn năm trước. Những người sống ở nơi này vào thời đó chắc chắn không phải là con cháu Đế Minh bởi vì lúc ấy chưa có Đế Minh (theo sử Tầu thì thời Phục Hy vào khoảng 4480 BC – 4365 BC. Thần Nông vào khoảng 3220 BC – 3080 BC)

Nhà sử học Nguyễn Khắc Ngữ đã chia các thời kỳ văn hóa tiền sử Việt Nam như sau:

A. Cựu thạch với các di tích ở Núi Đọ, Sơn Vi, Hoà Bình I, Bắc Sơn đã có cách nay 300,000 năm

B. Trung Thạch: với các di tích cụ thể ở Hòa Bình II, đã có cách nay 10,000 năm

C. Tân Thạch: với các di tích ở Bắc Sơn II, Bàu Tró, Hạ Long đã có cách nay khoảng 5,000 năm

D. Kim Loại: với các di tích ở Phùng Nguyên, Đông Sơn đã có cách nay khoảng 4,000 năm

Ngôn ngữ hai dân tộc Việt, Hoa hoàn toàn khác nhau. Ở bên Tầu, người tỉnh này không thể nói chuyện với người tỉnh khác được, vì tiếng nói mỗi nơi mỗi khác. Tuy nhiên đó chỉ là sự khác biệt về cách phát âm, tiếng Tầu ở nơi nào cũng có chung cấu trúc, cho nên họ vẫn hiểu nhau qua chữ viết (bút đàm). Ví dụ: những bài ca, những chuyện cổ của người Quảng Đông khi viết ra giấy thì người Phúc Kiến vẫn hiểu như thường, đem đọc lên bằng giọng Phúc Kiến, thì dẫu người nghe có không biết chữ vẫn hiểu rõ ràng như nghe những chuyện cổ vùng họ. Họ không cần chuyển dịch gì cả. Nhưng tiếng Việt của chúng ta hoàn toàn khác tiếng Tầu. Để hiểu nhau, nói hay viết, ta và họ phải dùng thông ngôn, phải chuyển dịch. Bởi vì đây là hai ngôn ngữ khác nhau, của hai giống người khác nhau (Cũng như tiếng Anh khác hẳn tiếng Pháp…). Cấu trúc của tiếng Việt ngược hẳn với tiếng Tầu. Họ nói ‘bạch vân’ (tĩnh tự đi trước danh tự) ta nói ‘mây trắng’ (tĩnh tự đi sau danh tự). Ta có mượn nhiều từ ngữ của họ, nhưng lại đem dùng theo cách riêng của ta, mà nhiều khi biến đổi hẳn ý nghĩa của những chữ ấy (Ví dụ như khi dùng chữ ‘tử tế’ ta hàm ý ‘tốt bụng’ nhưng chữ tử tế của tiếng Tầu lại có nghĩa ‘kỹ lưỡng’…) Để ghi chép, người Tầu ở nơi nào cũng dùng chữ Hán được. Nhưng chúng ta không thể làm như thế được, ta đã phải mượn chữ Hán để chế ra chữ Nôm mà dùng, và người Tầu lại hoàn toàn không đọc được, không hiểu được chữ Nôm. (Gần đây số lượng chữ Hán du nhập vào tiếng Việt càng nhiều hơn vì hai yếu tố : 1- Khi soạn bộ ‘Danh từ kỹ thuật’ ông Hoàng Xuân Hãn đã gần như dịch trọn một quyển tự điển kỹ thuật của người Tầu. 2- Chính quyền Việt Nam ở Hà Nội ưa dùng chữ của cơ cấu hành chánh, kinh tế của người Tầu, mà bỏ đi những chữ vốn có từ trước – ví dụ trước nói ‘ghi tên’ , thì nay nói ‘đăng ký’ , trước nói ‘trở ngại kỹ thuật’ thì nay là ‘sự cố kỹ thuật’, trước nói ‘sổ gia đình’ thì nay là ‘sổ hộ khẩu …). Thêm vào đó, những tên người, tên đất mà chúng ta biết về lịch sử Việt thời thượng cổ, cũng không chắc gì là đúng. Thời ấy chúng ta đã có tiếng nói riêng, có văn hóa riêng, thì không có cớ gì chúng ta tự gọi là Lạc Long Quân, là Âu Cơ, là Xích Quỷ, là Văn Lang, là Việt Thường, là Hùng Vương… bởi vì đây là những chữ Hán Việt. Chẳng qua là vì chúng ta không có những quyển sử viết bởi ông cha mình từ thời đó, và cũng đã mất cả chữ viết riêng của mình, nên đành phải dùng những tên người tên đất theo sách vở Trung Hoa, mà người Trung Hoa vì không nói được tiếng ta, không chép được tiếng ta, nên khi thì họ phiên âm, khi thì họ dịch nghĩa những tên ấy và ngày nay ta đành chỉ biết thế mà thôi.

Trong quyển ‘Lịch sử âm nhạc Việt Nam – từ thời Hùng Vương đến thời Lý Nam Đế’, Lê Mạnh Thát đã dẫn ra những sử liệu hùng hồn chứng minh rằng nguồn gốc dân tộc ta vốn từ phương nam tràn lên và văn hóa Việt Nam cổ thời đã ảnh hưởng sâu đậm vào văn hóa Trung Hoa. Lê Mạnh Thát đã dẫn Hậu Hán Thư của Phạm Việp về việc Mã Viện tịch thu trống đồng của Việt Nam để đúc ngựa dâng vua nhà Hán rằng: ‘Viện ưa cưỡi ngựa, nên ở Giao Chỉ được trống đồng Lạc Việt bèn đúc ngựa phép, trở về dâng lên vua…’ . Địa Lý Chí của Tuỳ Thư, chép rằng: ‘Giao Chỉ là một nơi đô hội…(người Giao Chỉ) hết sức cấy cầy, khắc gỗ làm phù thế. Lời đã thề thì đến chết không đổi. Cha con làm nghề khác nhau. Cha nghèo thì sống nhờ những người con. Chúng đều đúc trống đồng lớn…’. Sau này, đến năm 981, Lý Phưởng cũng viết: ‘Đại Chu chính nhạc nói rằng: Trống đồng đúc bằng đồng, trống một mặt để trống, một mặt bịt mà đánh lên. Những thứ của An Nam, Phù Nam, Thiên Trúc đều như vậy cả…’. Lý thú nhất là việc Lê Mạnh Thát giải mã bài Việt Ca ghi lại trong Thuyết Uyển. Lưu Hướng viết bộ sách này vào khoảng năm 16 BC, kể chuyện Trang Tân kể chuyện Ngạc Quân Tử Tích (sống vào thế kỷ 6 BC) nghe người Việt ôm chèo hát bài Việt Ca. Khi nghe, Ngạc Quân Tử Tích nói không hiểu bài ca bằng tiếng Việt nên gọi người Việt tới giải nghĩa. Lưu Hướng chép lại lời phiên âm bài ca giọng Việt và bản dịch bằng tiếng Sở. Từ bản ghi âm giọng Việt, Lê Mạnh Thát đã dùng phương pháp phân tích các từ cổ để ghi lại bài Việt Ca theo giọng nói của chúng ta bây giờ. Ngoài ra Lê Mạnh Thát còn dùng Tiền Hán Thư và Sử Ký của Tư Mã Thiên để chứng minh rằng văn hóa Việt Nam đã thâm nhập vào văn hóa Trung Hoa đầu tiên qua các thuật bói gà, tín ngưỡng nhà cháy và loại hình âm nhạc như Việt Ca… hay sự kiện bộ Việt Luật của Hùng Vương được lưu hành rộng rãi tại nước ta mà sau khi đánh hạ Hai Bà Trưng năm 43 AD, Mã Viện đã phải sửa hơn mười việc cho hợp với luật nhà Hán.

Những chứng liệu ấy cho thấy rõ ràng là văn hóa thuần tuý của người Việt đã rất cao dưới thời Hùng Vương. Lê Mạnh Thát đã thành công trong việc chứng minh bốn nghìn năm văn hiến của lịch sử Việt Nam.

Dân tộc chúng ta, có nguồn gốc xa xưa từ những giống dân ở những hải đảo phía nam biển Thái Bình, chứ không phải từ nam Trung Hoa, phương bắc. Nền văn hóa dân gian Việt Nam khác hẳn văn hóa Trung Hoa. Phần ảnh hưởng chỉ là phần kỹ thuật, không phải là phần ý nghĩa, tâm tình, hay cách biểu hiện. Có những yếu tố văn hóa hoàn toàn ngược với văn hóa Trung Hoa. Ở bất cứ nơi nào trên đất Trung Hoa người ta cũng ‘trọng nam, khinh nữ’, còn ở Việt Nam thì – ngoài giới hạn của những gia đình quan lại, nho học – vai trò của người phụ nữ được tôn trọng, được đề cao, được coi là cột trụ của gia đình, xã hội. Cũng như bất cứ nền văn hóa nào khác của nhân loại, chúng ta thu nhập ảnh hưởng văn hóa từ nhiều nguồn, bên cạnh những ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, ta cũng có những ảnh hưởng Ấn Độ, Tây Phương và văn hóa ta còn mang nhiều dấu vết văn minh Nam Đảo.

Xin trích trang 17 của ‘Mỹ Thuật Cổ Truyền Việt Nam’ của nhà sử học Nguyễn Khắc Ngữ: ‘Trước đây người ta thường lầm lẫn mà cho rằng nguồn-gốc văn-minh Việt-nam bắt nguồn từ Trung-quốc mà ra. Sự-thực, từ đời Thượng-cổ, Việt-nam và Trung-quốc đã có hai sắc thái văn-minh khác-biệt.

Dựa vào các cuộc khảo-cổ ở Việt-nam, Thái-lan, Trung-hoa, Mã-lai, Nam-dương, Phi-luật-tân, người ta đã chứng minh được rằng: Tổ tiên người Đông-Nam-Á đã biết trồng-cây, mài đá làm đồ-dùng, làm đồ-gốm trước người Trung-hoa, Ấn-độ và cả Cận-đông hàng mấy ngàn năm.

Về thuật đúc đồng bằng khuôn đôi, theo một số chuyên-gia, vùng này đã có từ 3,000 năm trước –Kỷ-nguyên Tây-lịch, nghĩa là trước cả người Trung-hoa và có thể trước cả người Cận-đông.

Tất-nhiên, sau này, qua các cuộc đô-hộ kéo dài hàng ngàn năm, ảnh-hưởng của văn-minh Trung-quốc không thể tránh được, nhưng nó không thể xóa-bỏ hẳn nền văn-minh cổ-truyền của Việt-nam, mà nó chỉ đóng-góp thêm cho nền văn-minh Việt-nam càng thêm súc-tích mà thôi’.

Sự tồn tại và phát triển văn hóa Việt Nam, là một công trình vĩ đại của tiền nhân ta, nhất quyết chống trả với cuộc đồng hóa của người Tầu. Ngoài những cuộc đấu tranh võ lực, đã có biết bao nhiêu cuộc chiến âm thầm nhưng quyết liệt giữa hai giòng văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Ta phải nhận rằng văn hóa Việt Nam đã thắng. Chúng ta đã thắng bởi vì âm mưu đồng hóa chủng tộc của người Tầu đã thất bại. Về thể chất ta vẫn giữ nguyên những yếu tố Việt. Về văn hóa, không những ta đã duy trì, đã phát triển được nền văn hóa cá biệt của mình, mà lại còn thu nhập được cái hay cái đẹp của văn hóa Trung Hoa; Hơn thế nữa, nhiều yếu tố văn hóa Việt Nam lại còn ảnh hưởng vào văn hóa Trung Hoa. Biết được điều này nên vua nhà Minh đã ra lệnh cho quan quân của mình phải ‘ tịch thu tất cả những gì có chữ viết mang về Tầu, những gì không mang được như bia đá, kiến trúc… phải đốt cháy, phải đập tan…’ Số lượng sách vở, kiến trúc bị họ đã diệt nhiều vô cùng, tuy nhiên cái mà họ không hủy được là những yếu tố văn hóa Việt Nam trong tinh thần, trong đời sống dân gian của ông cha chúng ta.

Trong cuộc chiến đấu cam go và dài hàng ngàn năm như thế, ông cha ta đã chứng tỏ văn hóa thuần Việt mạnh vô cùng. Nhìn vào sinh hoạt, phong tục dân gian, nhìn vào ngôn ngữ văn hóa Việt Nam dù có những ảnh hưởng Trung Hoa, nhưng nét thuần Việt vẫn là nét chính, bao quát khắp đời sống Việt. Ta vẽ mình, ăn trầu, nhuộm răng… người Tầu, cho dù là Tầu ở Hoa Nam cũng không hề có những tập tục ấy. Tổ chức đình làng là một tổ chức không có trong xã hội Trung Hoa. Nguời Tầu mặc áo cài cúc bên trái, ta cài cúc bên phải…

Hãy nhìn vào đồ gốm cổ truyền Việt Nam, một nhành văn hóa ít được biết đến, ít được nghiên cứu, ta sẽ thấy tính chất thuần Việt sắc bén, phong phú và mạnh vô cùng. Chính Đạo Phật cũng truyền thẳng từ Ấn Độ vào nước ta trước khi truyền sang Tầu. Từ chữ Buddha chúng ta dã chuyển âm thành tên gọi ‘Bụt’ , trước khi các nhà nho theo kinh điển Trung Hoa mà gọi là ‘Phật’. Thiền Uyển Tập Anh, chép rằng: Năm 1016, Quốc Sư Thông Biện khi trả lời Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Lý Nhân Tông) đã dẫn sách Tục Cao Tăng: Sư Đàm Thiên (542-607) trả lời vua Tùy Cao Tổ rằng ‘Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật Pháp lúc mới tới thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu (Giao Chỉ) lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy có Khâu Đà La, Ma La Kỳ Vực, Thương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. Các vị sư Ấn Độ này sống vào thời Sĩ Nhiếp đang làm Thái Thú Giao Châu (187-226) như vậy để có chừng đó ngôi chùa và dịch chừng đó kinh thì đạo Phật đã vững vàng lắm ở đất ta, như thế chắc đã phải truyền vào cả trăm năm trước.

Ngày nay, thế giới đang sôi nổi trong vận động toàn cầu (globalization). Vì thế vấn đề tìm hiểu, phổ biến và duy trì những nền văn hóa cá biệt của nhân loại càng trở nên khẩn thiết. Vì toàn cầu không có nghĩa là mọi người bỏ quên đi các cá biệt để trở nên giống nhau, để suy nghĩ như nhau, để nói một thứ tiếng mà thôi. Càng chung nhau nhiều chừng nào càng phải duy trì những cái riêng hay đẹp nhiều chừng nấy. Toàn cầu để xoá bỏ cương giới hành chánh, kinh tế, để giao lưu văn hóa, không phải để làm cho tất cả mọi người trên thế giới đồng nhất về mọi mặt, vì toàn cầu chính là ‘hòa nhi bất đồng’.

Các nhà giáo dục và truyền thông Việt Nam, trong bao nhiêu năm qua, đã không chịu tìm hiểu rõ ràng, đã nhắm mắt nhai lại những điều học thuộc lòng mà không suy xét, không nghiên cứu, không đọc thêm các tài liệu, các phát hiện mới, mà cứ dậy nhau những hiểu biết sai lầm, nông cạn về các truyền thuyết cổ và những kiến thức sai lầm tạo ra từ người Tầu và người Pháp vào đầu thế kỷ 20 với những dụng ý chính trị.

Khi viết về văn hóa Việt, người Tầu luôn có thái độ rằng Viêït Nam là giống “man”, là một phần của Trung Hoa, cần phải được cai trị, giáo hóa (An Nam). Người Pháp khi viết về văn hóa Việt lại dựa trên sách Tầu, chữ Tầu, nên những điều người Tầu viết lại được người Pháp nhắc lại. Người Việt học sách Tầu, sách Pháp với tinh thần nô lệ sách lại truyền bá các điều sai lầm khắp nơi.

Trong những lỗi lầm của trí thức Việt Nam, lỗi lầm ấy, lỗi tiếp tục duy trì những ý thức hệ vong bản, những sai lầm sử học đã làm thui chột tinh thần dân tộc, đã duy trì tinh thần nô lệ, vọng ngoại là lỗi lầm lớn nhất, tai hại nhất. Tai hại hơn nữa là ngày nay nó còn tiếp tục được truyền dạy cho giới trẻ, còn tiếp tục làm cơ sở cho những tìm hiểu, nhận định về nguồn gốc dân tộc và văn hóa Việt Nam.

Trong buổi bình minh của xã hội toàn cầu, nếu chúng ta không còn ý chí để duy trì và phát triển bản chất dân tộc, thì tương lai nòi Việt sẽ ra sao? Chúng ta sẽ đóng góp gì vào cái xã hội mới này?

‘Bụt chùa nhà chúng ta linh thiêng vô cùng’ , chúng ta phải mau mau sửa chữa lại những hiểu biết thiếu xót và sai lầm về nguồn gốc và về tính cách biệt lập của văn hóa thuần Việt mà gióng chuông ca ngợi mà tự hào về nguồn gốc về nền văn hóa ấy. Ông cha chúng ta đã giành được hoàn toàn quyền tự chủ về chính trị, hành chánh từ suốt thế kỷ thứ 10, vậy thì chúng ta không có cớ gì để trở lại làm nô lệ văn hóa cho người Tầu.

Hãy để cho Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai ngủ yên trong sử Tầu. Lạc Long Quân và Âu Cơ là người phương nam chứ không phải là người phương bắc. Chúng ta chính là ‘Con Rồng Cháu Tiên’ với nguồn gốc với nền văn hóa thuần Việt, phong phú, rực rỡ, nhân bản và khác hẳn người Tầu, khác hẳn văn hóa Trung Hoa.

Viết tới đây, lòng tôi thêm bồi hồi, nhớ lại bài học thuộc lòng “Giờ Quốc Sử” của Đoàn Văn Cừ, mà tôi đã học lúc còn nhỏ, sống với gia đình ở phố Hàng Cau, Nam Định vào đầu thập niên 1950:

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu

Trên non sông làng mạc ruộng đồng quê

Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe

Tiếng thầy giảng khắp trong giờ quốc sử

Thầy tôi bảo các em nên nhớ rõ

Nước chúng ta là một nước vinh quang

Bao anh hùng thủa trước của giang san

Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc

Các em phải đêm ngày chăm chỉ học

Để sau này nối được chí tiền nhân

Ta chắc rằng sau một cuộc xoay vần

Dân nước Việt lại là dân hùng liệt

Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt

Giống anh hùng trên đất nước Việt Nam

Bên những trang lịch sử bốn ngìn năm

Đầy chiến thắng, đầy vinh quang, hạnh phúc

Vâng, văn hóa thuần Việt sẽ chói ngời, và sau một cuộc xoay vần mới, dân nước Việt sẽ lại là dân hùng liệt như thời Lý, thời Trần thủa trước.

BỤT CHÙA NHÀ…

Trong quá trình tiến hóa, sự tồn tại và phát triển của một giống sinh vật hay thực vật dựa trên sức mạnh của giống vật ấy. Đối với một giòng giống, một văn hóa con người, sức mạnh ấy dựa trên hai yếu tố: ý chí và bản chất đặc biệt. Ngoài yếu tố thể chất, bản sắc đặc biệt ấy là nền văn hóa của mỗi dân tộc. Chính ý chí và bản chất của dân Do Thái đã làm cho dân tộc này tồn tại suốt hai nghìn năm vong quốc. Mãnh mẽ hơn thế nữa là sự tồn tại của dân tộc Việt Nam qua một nghìn năm bị người Trung Hoa đô hộ, qua một nghìn năm thường xuyên chống trả với những cố gắng đồng hóa dân Việt về văn hóa và chủng tộc.

Tuy nhiên trong đôi ba trăm năm gần đây, bên cạnh những nỗ lực phi thường để mở mang bờ cõi trở về vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Việt lại trở nên nhu nhược về sự sống còn của văn hóa Việt. Từ trí thức tới chính quyền, tới dân giả người ta trở nên lơ là với văn hóa ‘thuần Việt’, người ta trở nên thiếu hiểu biết rõ ràng và trung thực về lịch sử, nguồn gốc và văn hóa Việt Nam. ‘Bụt chùa nhà đã trở nên hết linh thiêng’ trong tâm trí người Việt. Tất nhiên không ai nhận vậy, nhưng nhìn vào các hành vi của đa số chúng ta, đó là một sự kiện rõ ràng.

Chỉ vì ‘bụt chùa nhà không thiêng’ mà trong biết bao năm qua, chúng ta đã không tìm hiểu, không nghiên cứu và không phổ biến nền văn hóa thuần Việt. Tệ hơn chúng ta lại cho rằng cái gì không từ bên ngoài mang vào thì không tốt, không quý. Để làm giảm mặc cảm tự ti, chúng ta đã tự gán mình làm một nhánh phụ của Trung Hoa. Phụ bạc bao công lao gìn giữ nòi Việt của tổ tiên.

Người tây phương vẫn coi là văn hóa Việt Nam chỉ là một nối dài của văn hóa đa dạng Trung Hoa; họ vẫn coi văn hóa nòi Việt không khác gì văn hóa của một tỉnh phương nam nước Tầu. Hiểu biết về lịch sử, về văn hóa Việt Nam của tây phương dựa trên sách vở do người Pháp viết lúc còn cai trị nước ta, mà sách Pháp lại dựa trên sách Tầu, những kẻ luôn luôn muốn coi Việt Nam là một tỉnh của họ và coi văn hóa Việt Nam chính là bản sao chép của văn hóa Tầu.

Họ coi như thế vì chúng ta cho phép họ coi như thế, bởi vì rất nhiều người Việt chúng ta lại cũng coi như thế, dậy nhau như thế. Trong bao năm qua, chúng ta đã lệ thuộc vào sách vở do người Pháp viết, người Tầu viết ấy để làm cơ sở cho hiểu biết của mình về văn hóa Việt. Những sách vở này có nhiều nhận xét, nhiều kết luận bắt nguồn từ những thành kiến và những chủ đích ngoài phạm vi văn hóa, khoa học thuần túy mà bỏ qua những yếu tố, những sự thực khác. Trong bao năm qua, giới trí thức Việt Nam, đã như ‘những con vẹt’, học và dậy nhau những sai lầm về văn hóa về nguồn gốc dân ta một cách rất hồn nhiên, vô tư. Chúng ta học mà không hỏi, thuộc lòng mà không suy nghĩ, nhai lại mà không tìm hiểu, không nghiên cứu. Đến bây giờ, với vài triệu người ở hải ngoại, nhu cầu học hỏi về dân tộc của giới trẻ ngày càng tăng, mà những người đi trước vẫn còn tiếp tục truyền dậy cho họ những điều mình nhắm mắt học thuộc lòng từ những năm đi học trước đây. Trong khi đó thì nền giáo dục ở trong nước hiện nay thoái hóa trầm trọng.

Bên cạnh những lỗi lầm khác, lỗi lớn nhất của rất nhiều trí thức Việt Nam là không có hiểu biết rõ ràng về bẳn sắc văn hóa Việt Nam, không có ý chí tìm hiểu, truyền bá nền văn hóa ấy. Thế nhưng cũng trong suốt bao nhiêu năm qua, nhiều người đã tìm hiểu, đã cố gắng viết lên các nét đặc biệt của văn hóa thuần Việt, các sự thực, đúng sai của lịch sử, của nguồn gốc dân tộc. Nhưng những công trình này không được giới giáo dục và giới truyền thông (hai lực lượng mạnh nhất của sự tìm hiểu, phổ biến văn hóa) chú ý tới.

Ở miền Nam, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc của những thế hệ sinh vào thập niên 1940 cho đến 1960 chỉ dựa trên bộ sách viết cho học sinh trung học của ông bà Tăng Xuân An (tóm lược từ bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim), hay những bộ sách giáo khoa trung học tương tự. Ở bậc đại học, nếu người ta có học về sử Việt, thì cũng không thêm được bao nhiêu. Trong những thời gian tốt, những hiểu biết ấy được truyền dậy từ thế hệ này sang thế hệ kia, trong những thời gian xấu thì còn tệ hại hơn hàng ngàn lần. Ở miền Bắc lại càng tệ hơn nữa, người ta chỉ chú tâm dậy học trò lịch sử đảng cộng sản. Đọc lại bộ sử giá trị của Trần Trọng Kim, ta thấy rõ rằng, những điều cụ đã dè dặt, đã nhấn mạnh là truyền thuyết không đáng tin lắm, thì lại bị dậy thành những những sự thực về dân Việt.

Hai lầm lẫn ghê gớm nhất về giòng giống chúng ta là:

1- Người Việt có nguồn gốc từ một giống người ở Nam Trung Hoa (thuyết Bách Việt)

2. Văn hóa Việt Nam mang nặng ảng hưởng Trung Hoa.

Các sử gia Việt Nam đời trước viết rằng: ‘… Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến Ngũ Lĩnh, lấy con gái Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục… Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng hiệu là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm nhâm tuất (2879 BC) và lấy con gái Đông Đình Quân là Long Nữ, đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai (Đế Lai là con Đế Nghi) tên là Âu Cơ đẻ ra được một bọc nở ra trăm người con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: ‘ Ta là dòng dõi Long Quân, nhà người là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay ta được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải’. Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương…’

Trần Trọng Kim viết thêm rằng: ‘…có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy là một điều nói phỏng, chứ không lấy gì làm đích xác được’. Ở trang kế tiếp, Trần Trọng Kim viết tiếp: ‘…Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là chuyện có thực’.

Quả vậy, đây không phải là một câu chuyện kể lại một sự kiện lịch sử. Mà là một truyền thuyết có tính cách triết lý. Cũng giống như người Nhật Bản khi họ truyền dạy nhau câu chuyện Thái Dương Thần Nữ, họ không thể nào tin một cách khoa học rằng nữ thần mặt trời đã sinh ra dân tộc họ; Ông cha chúng ta khi tạo ra truyền thuyết này, đã không chú trọng vào tích cách xác thực khoa học của nó, mà muốn truyền cho chúng ta một khái niệm triết lý trừu tượng nhằøm khơi động tinh thần dân tộc tự chủ của chúng ta sau này. Khi nhắc lại truyền thuyết này, Trần Trọng Kim tỏ rõ ý nghi ngờ về tính cách xác thực của nó. Nhưng tiếc thay những chi tiết phụ trong truyện đã được người đời nay chú trọng quá đáng mà làm lu mờ ý nghĩa đích thực của truyền thuyết vẻ vang này. Nói như thế không phải là phủ nhận truyền thuyết này, mà ngược lại, chính là để nhấn mạnh ý nghĩa cao sâu của nó, để nhận rõ, để duy trì tinh thần dân tộc Việt Nam, để hãnh diện với nguồn gốc độc lập và cá biệt của nòi Việt.

Về phương diện triết lý, điều chính yếu chúng ta phải ghi nhận từ truyền thuyết ‘Con Rồng, Cháu Tiên’ là:

Dân tộc ta là một dân tộc độc lập. Đế Nghi giữ đất phương bắc, Lạc Long Quân giữ đất phương nam. Văn hóa ta không phải là văn hóa Tầu nối dài.

Chúng ta thuộc về một giòng giống oai hùng, linh thiêng (con cháu của Rồng và Tiên).

Với các nhà nho Việt thủa xưa, những gì liên hệ tới lời nói, hành vi, quê hương của Khổng Tử đều có tính cách cao quý. Họ cho rằng để làm tăng thêm phần cao cả, chính thống, họ phải nói rằng chúng ta bắt nguồn đâu đó từ những thời, từ những người mà Khổng Tử ca ngợi (Tam Hoàng Ngũ Đế). Vì thế Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Minh, Đế Nghi được đưa vào truyền thuyết này.

Ngày nay ta phải thấy rằng truyền thuyết này là một trong nhiều phương cách ông cha ta đã dùng để truyền dậy tính cách cao cả, khác biệt và độc lập của nguồn gốc, của văn hóa Việt Nam, để giữ vững tinh thần dân tộc Việt Nam, và nhờ đó ông cha ta đã thành công, đã giành lại, đã giữ vững quyền tự chủ. ‘Bụt chùa nhà chúng ta đã rất linh thiêng và còn mãi mãi rất linh thiêng’.

Giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ, trong bộ sách ‘Mỹ-thuật Cổ-truyền Việt-nam’, nhấn mạnh rằng ‘thuyết bách Việt không chính xác, vì theo thuyết Bách Việt thì các nước Việt (Đông-Việt, Mân-Việt, Điền-Việt, Nam-Việt…) chỉ có sau khi nước Việt của Câu Tiễn bị nước Sở thôn tính, người Việt chạy xuống phương Nam, lập thành nhiều bộ lạc người Việt, tức là từ thế kỷ thứ 6 về sau’. Ông cha ta đã sinh sống đã phát triển văn hóa ở vùng Bắc Việt từ rất nhiều ngàn năm trước đó rồi.

Về phương diện nhân chủng, người Trung Hoa thuộc giống Mongoloid từ tây bắc châu Á đi xuống. Chúng ta thuộc giống Malayo-Polynesien, nghĩa là thuộc các sắc dân từ các hải đảo phía nam Thái Bình Dương đi lên. Từ nhiều ngàn năm trước thiên chúa giáng sinh. Ông Bình Nguyên Lộc đã dày công nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc qua khoa ngôn ngữ học cũng đã chứng minh rằng tổ tiên chúng ta từ phương nam đi lên, chứ không phải từ phương bắc đi xuống.

Nhìn vào bản đồ, ta thấy nước Tầu thời cổ đại chỉ quanh quẩn ở vùng núi rừng phía tây bắc, mà từ đó đi về lãnh thổ của các Hùng Vương xa vô cùng (15 Bộ của Hùng Vương nằm trọn trong vùng Bắc Việt và Bắc Trung Việt bây giờ).

Sử Tầu cũng chép những điều ngược với truyền thuyết ‘chạy về phương nam’ của người Việt. Trong Thông Chí, Trịnh Tiều viết: ‘Năm Mậu Thân thứ năm đời Đường Nghiêu, sứ giả Việt Thường qua hai lần sứ dịch sang dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến hơn nghìn năm, mình nó dài ba thước, trên lưng có dấu khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang về sau, vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch’.

Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên cũng viết: Năm Tân Mão (1109 BC) đời vua Chu Thành Vương, sứ giả nước Việt Thường sang cống chim bạch trĩ, phải qua ba lần thông ngôn, rồi dùng xe chỉ nam để về nước.

Như vậy đây là hai dân tộc, hai nước biệt lập, cách xa nhau và có rất ít trao đổi văn hóa, chính trị, nhân chủng. Phải qua hai, ba lần thông dịch mới hiểu được nhau, thì làm sao mà văn hóa Tầu ảnh hưởng vào văn hóa ta được. Lại nữa nếu câu chuyện sứ giả Việt Thường dâng cho vua Nghiêu con rùa thần với dấu khoa đẩu trên lưng (mà vua Nghiêu dùng làm căn bản cho lịch pháp) là có thật, thì văn hóa truyền từ phương nam lên phương bắc hay truyền từ phương bắc xuống phương nam?

Chúng ta vẫn chỉ nhớ các bài Việt Sử dậy theo tài liệu thiếu sót trước đây, mà không chú ý gì đến những kết quả nghiên cứu nghiêm chỉnh của các nhà khảo cổ và nhân chủng hiện thời. Trong số này có những người như nhà nhân chủng học Mỹ, Dr. Paul K Benedict sau khi phân tích nguồn gốc nguyên thủy của một số tiếng dùng trong ngôn ngữ của các dân tộc thuộc vùng Đông Nam Á, đã nói rằng những tiếng mà trước đây người ta lầm tưởng là dân Đông Nam Á mượn của tiếng Tầu, thì thật ra người Tầu mượn những tiếng đó từ ngôn ngữ của dân vùng Đông Nam Á. Ông còn nói thêm rằng đã có nhiều trao đổi văn hóa giữa Trung Hoa và vùng Đông Nam Á, trong những trao đổi này, Trung Hoa chịu ảnh hưởng chứ không cho ảnh hưởng vào nền văn hóa ở vùng Đông Nam Á này (‘with Chinese as the recipients rather than the donors’). Dr. Wilhelm G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học trường đại học University of Hawaii, đã viết rằng: ‘…trước đây người ta cho rằng văn hóa truyền từ tây qua đông và từ bắc xuống nam. Trước đây người ta cho rằng văn minh nhân loại bắt nguồn từ vùng Lưỡng Hà Địa (Mesopotamia) và Ai Cập, rồi sau đó là Hy Lạp và La Mã. Văn minh lần hồi truyền qua Ấn Độ và Trung Hoa, Đông Nam Á là vùng thụ nhận sau cùng. Người Âu Châu thấy văn minh Trung Hoa và Ấn Độ đã tiến cao, khi gặp những tương tự về kiến trúc, trong đời sống trưởng giả ở vùng Đông Nam Á, họ lập tức cho rằng vùng này học theo Ấn Độ và Trung Hoa. Vì thế họ còn đặt tên vùng này là Indochina’. Ông Carl Sauer, cũng cho rằng ‘canh nông bắt nguồn trên thế giới trước nhất là ở Đông Nam Á, từ nền văn hóa Hòa Bình’. (Dấu vết của văn hóa Hòa Bình không chỉ giới hạn ở Bắc Việt Nam bây giờ, mà còn ở toàn Việt Nam và chạy dài qua vùng Thái Lan, hiện nay). Năm 1968, ông Donn Bayard tìm thấy ở Non-Nok-Tha một mảnh đồ gốm có dấu hột lúa. Khi dùng carbon-14 để định tuổi, người ta thấy mảnh đồ gốm này cổ hơn năm nghìn năm (vào khoảng 3,500BC). Đây là dấu tích cho thấy lúa gạo ở Đông Nam Á đã có trước Trung Hoa cả một ngàn năm. Khi dùng carbon-14 để định tuổi chất than gỗ trên các dụng cụ bằng đồng ở nơi này, họ thấy các vật bằng đồng này đã được đúc vào khoảng trước 3,000 BC. Ông Whilhelm Solheim đã kết luận rằng kỹ thuật đúc đồng bằng khuôn đôi (double molds) đã có ở Đông Nam Á hơn năm ngàn năm rồi, trước Trung Hoa một ngàn năm. Vì di tích đó cổ như thế, ông kết luận rằng: ‘Kỹ thuật đúc đồng phát xuất từ Đông Nam Á chứ không phải từ vùng Cận-Đông như trước đây lầm tưởng’. Ông Chester Gorman tìm thấy nhiều mảnh thực vật đã hóa than trong đó có vài hột đậu, một củ mã thầy, một quả ớt, vài miếng bầu và dưa leo, bên cạnh những đồ dùng bằng đá của văn hóa Hòa Bình. Nơi đây ông Gorman cũng còn thấy những mảnh xương súc vật đã được cắt thành miếng nhỏ nhưng không có vết cháy, đây là điều chứng tỏ thịt được cắt ra và nấu chín chứ không nướng trên lửa. Thử carbon-14, những vật tích này có tuổi từ 6,000 BC cho tới 9,700 BC. Thêm vào đó, dưới các lớp đất sâu hơn còn có những vật cổ hơn như thế. Cũng tìm thấy ở chỗ khai quật này là các đồ gốm với dấu dây in, với nét vẽ bằng mũi nhọn, những dao đá và dụng cụ đá, tất cả đều thuộc văn hóa Hòa Bình. Ngày nay những vật tích (dụng cụ và dấu rau cỏ canh nông) của văn hóa Hòa Bình vẫn còn tiếp tục được tìm thấy ở đây. Những vật tích với nét đặc biệt của văn hóa Hòa Bình (đồ gốm trang trí bằng dấu giây in và hình vẽ băng mũi nhọn) còn được tìm thấy ở Đài Loan, xa nhất về phương Tây, dấu vết này còn được thấy ở hang Padah-lin phía đông Miến Điện.

Wilhelm Solheim kết luận rằng đồ đá của văn hóa Hòa Bình đã có từ 20,000 BC và canh nông xuất hiện ở vùng này vào khoảng 15,000 BC. Đồ gốm từ trước 10,000 BC. Thuyền độc mộc được chế ra ở Đông Nam Á vào khoảng 4,000 BC tới 5,000 BC đã đưa dân Đông Nam Á đến vùng Đài Loan và Nhật Bản. Rồi vào khoảng hai nghìn năm trước đây, người vùng Đông Nam Á còn di chuyển xa về phương tây, lập nghiệp ở Madagasca và mang nhiều giống cây canh nông vào đông bộ Phi Châu, cũng trong khoảng thời gian này đã có nhiều trao đổi thương mại giữa Việt Nam và vùng Địa Trung Hải.

Những di tích khảo cổ học này, cho thấy ở vùng Bắc Việt bây giờ đã có một nền văn minh cao và khác hẳn văn minh Trung Hoa, từ hơn mười nghìn năm trước. Những người sống ở nơi này vào thời đó chắc chắn không phải là con cháu Đế Minh bởi vì lúc ấy chưa có Đế Minh (theo sử Tầu thì thời Phục Hy vào khoảng 4480 BC – 4365 BC. Thần Nông vào khoảng 3220 BC – 3080 BC)

Nhà sử học Nguyễn Khắc Ngữ đã chia các thời kỳ văn hóa tiền sử Việt Nam như sau:

A. Cựu thạch với các di tích ở Núi Đọ, Sơn Vi, Hoà Bình I, Bắc Sơn đã có cách nay 300,000 năm

B. Trung Thạch: với các di tích cụ thể ở Hòa Bình II, đã có cách nay 10,000 năm

C. Tân Thạch: với các di tích ở Bắc Sơn II, Bàu Tró, Hạ Long đã có cách nay khoảng 5,000 năm

D. Kim Loại: với các di tích ở Phùng Nguyên, Đông Sơn đã có cách nay khoảng 4,000 năm

Ngôn ngữ hai dân tộc Việt, Hoa hoàn toàn khác nhau. Ở bên Tầu, người tỉnh này không thể nói chuyện với người tỉnh khác được, vì tiếng nói mỗi nơi mỗi khác. Tuy nhiên đó chỉ là sự khác biệt về cách phát âm, tiếng Tầu ở nơi nào cũng có chung cấu trúc, cho nên họ vẫn hiểu nhau qua chữ viết (bút đàm). Ví dụ: những bài ca, những chuyện cổ của người Quảng Đông khi viết ra giấy thì người Phúc Kiến vẫn hiểu như thường, đem đọc lên bằng giọng Phúc Kiến, thì dẫu người nghe có không biết chữ vẫn hiểu rõ ràng như nghe những chuyện cổ vùng họ. Họ không cần chuyển dịch gì cả. Nhưng tiếng Việt của chúng ta hoàn toàn khác tiếng Tầu. Để hiểu nhau, nói hay viết, ta và họ phải dùng thông ngôn, phải chuyển dịch. Bởi vì đây là hai ngôn ngữ khác nhau, của hai giống người khác nhau (Cũng như tiếng Anh khác hẳn tiếng Pháp…). Cấu trúc của tiếng Việt ngược hẳn với tiếng Tầu. Họ nói ‘bạch vân’ (tĩnh tự đi trước danh tự) ta nói ‘mây trắng’ (tĩnh tự đi sau danh tự). Ta có mượn nhiều từ ngữ của họ, nhưng lại đem dùng theo cách riêng của ta, mà nhiều khi biến đổi hẳn ý nghĩa của những chữ ấy (Ví dụ như khi dùng chữ ‘tử tế’ ta hàm ý ‘tốt bụng’ nhưng chữ tử tế của tiếng Tầu lại có nghĩa ‘kỹ lưỡng’…) Để ghi chép, người Tầu ở nơi nào cũng dùng chữ Hán được. Nhưng chúng ta không thể làm như thế được, ta đã phải mượn chữ Hán để chế ra chữ Nôm mà dùng, và người Tầu lại hoàn toàn không đọc được, không hiểu được chữ Nôm. (Gần đây số lượng chữ Hán du nhập vào tiếng Việt càng nhiều hơn vì hai yếu tố : 1- Khi soạn bộ ‘Danh từ kỹ thuật’ ông Hoàng Xuân Hãn đã gần như dịch trọn một quyển tự điển kỹ thuật của người Tầu. 2- Chính quyền Việt Nam ở Hà Nội ưa dùng chữ của cơ cấu hành chánh, kinh tế của người Tầu, mà bỏ đi những chữ vốn có từ trước – ví dụ trước nói ‘ghi tên’ , thì nay nói ‘đăng ký’ , trước nói ‘trở ngại kỹ thuật’ thì nay là ‘sự cố kỹ thuật’, trước nói ‘sổ gia đình’ thì nay là ‘sổ hộ khẩu …). Thêm vào đó, những tên người, tên đất mà chúng ta biết về lịch sử Việt thời thượng cổ, cũng không chắc gì là đúng. Thời ấy chúng ta đã có tiếng nói riêng, có văn hóa riêng, thì không có cớ gì chúng ta tự gọi là Lạc Long Quân, là Âu Cơ, là Xích Quỷ, là Văn Lang, là Việt Thường, là Hùng Vương… bởi vì đây là những chữ Hán Việt. Chẳng qua là vì chúng ta không có những quyển sử viết bởi ông cha mình từ thời đó, và cũng đã mất cả chữ viết riêng của mình, nên đành phải dùng những tên người tên đất theo sách vở Trung Hoa, mà người Trung Hoa vì không nói được tiếng ta, không chép được tiếng ta, nên khi thì họ phiên âm, khi thì họ dịch nghĩa những tên ấy và ngày nay ta đành chỉ biết thế mà thôi.

Trong quyển ‘Lịch sử âm nhạc Việt Nam – từ thời Hùng Vương đến thời Lý Nam Đế’, Lê Mạnh Thát đã dẫn ra những sử liệu hùng hồn chứng minh rằng nguồn gốc dân tộc ta vốn từ phương nam tràn lên và văn hóa Việt Nam cổ thời đã ảnh hưởng sâu đậm vào văn hóa Trung Hoa. Lê Mạnh Thát đã dẫn Hậu Hán Thư của Phạm Việp về việc Mã Viện tịch thu trống đồng của Việt Nam để đúc ngựa dâng vua nhà Hán rằng: ‘Viện ưa cưỡi ngựa, nên ở Giao Chỉ được trống đồng Lạc Việt bèn đúc ngựa phép, trở về dâng lên vua…’ . Địa Lý Chí của Tuỳ Thư, chép rằng: ‘Giao Chỉ là một nơi đô hội…(người Giao Chỉ) hết sức cấy cầy, khắc gỗ làm phù thế. Lời đã thề thì đến chết không đổi. Cha con làm nghề khác nhau. Cha nghèo thì sống nhờ những người con. Chúng đều đúc trống đồng lớn…’. Sau này, đến năm 981, Lý Phưởng cũng viết: ‘Đại Chu chính nhạc nói rằng: Trống đồng đúc bằng đồng, trống một mặt để trống, một mặt bịt mà đánh lên. Những thứ của An Nam, Phù Nam, Thiên Trúc đều như vậy cả…’. Lý thú nhất là việc Lê Mạnh Thát giải mã bài Việt Ca ghi lại trong Thuyết Uyển. Lưu Hướng viết bộ sách này vào khoảng năm 16 BC, kể chuyện Trang Tân kể chuyện Ngạc Quân Tử Tích (sống vào thế kỷ 6 BC) nghe người Việt ôm chèo hát bài Việt Ca. Khi nghe, Ngạc Quân Tử Tích nói không hiểu bài ca bằng tiếng Việt nên gọi người Việt tới giải nghĩa. Lưu Hướng chép lại lời phiên âm bài ca giọng Việt và bản dịch bằng tiếng Sở. Từ bản ghi âm giọng Việt, Lê Mạnh Thát đã dùng phương pháp phân tích các từ cổ để ghi lại bài Việt Ca theo giọng nói của chúng ta bây giờ. Ngoài ra Lê Mạnh Thát còn dùng Tiền Hán Thư và Sử Ký của Tư Mã Thiên để chứng minh rằng văn hóa Việt Nam đã thâm nhập vào văn hóa Trung Hoa đầu tiên qua các thuật bói gà, tín ngưỡng nhà cháy và loại hình âm nhạc như Việt Ca… hay sự kiện bộ Việt Luật của Hùng Vương được lưu hành rộng rãi tại nước ta mà sau khi đánh hạ Hai Bà Trưng năm 43 AD, Mã Viện đã phải sửa hơn mười việc cho hợp với luật nhà Hán.

Những chứng liệu ấy cho thấy rõ ràng là văn hóa thuần tuý của người Việt đã rất cao dưới thời Hùng Vương. Lê Mạnh Thát đã thành công trong việc chứng minh bốn nghìn năm văn hiến của lịch sử Việt Nam.

Dân tộc chúng ta, có nguồn gốc xa xưa từ những giống dân ở những hải đảo phía nam biển Thái Bình, chứ không phải từ nam Trung Hoa, phương bắc. Nền văn hóa dân gian Việt Nam khác hẳn văn hóa Trung Hoa. Phần ảnh hưởng chỉ là phần kỹ thuật, không phải là phần ý nghĩa, tâm tình, hay cách biểu hiện. Có những yếu tố văn hóa hoàn toàn ngược với văn hóa Trung Hoa. Ở bất cứ nơi nào trên đất Trung Hoa người ta cũng ‘trọng nam, khinh nữ’, còn ở Việt Nam thì – ngoài giới hạn của những gia đình quan lại, nho học – vai trò của người phụ nữ được tôn trọng, được đề cao, được coi là cột trụ của gia đình, xã hội. Cũng như bất cứ nền văn hóa nào khác của nhân loại, chúng ta thu nhập ảnh hưởng văn hóa từ nhiều nguồn, bên cạnh những ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, ta cũng có những ảnh hưởng Ấn Độ, Tây Phương và văn hóa ta còn mang nhiều dấu vết văn minh Nam Đảo.

Xin trích trang 17 của ‘Mỹ Thuật Cổ Truyền Việt Nam’ của nhà sử học Nguyễn Khắc Ngữ: ‘Trước đây người ta thường lầm lẫn mà cho rằng nguồn-gốc văn-minh Việt-nam bắt nguồn từ Trung-quốc mà ra. Sự-thực, từ đời Thượng-cổ, Việt-nam và Trung-quốc đã có hai sắc thái văn-minh khác-biệt.

Dựa vào các cuộc khảo-cổ ở Việt-nam, Thái-lan, Trung-hoa, Mã-lai, Nam-dương, Phi-luật-tân, người ta đã chứng minh được rằng: Tổ tiên người Đông-Nam-Á đã biết trồng-cây, mài đá làm đồ-dùng, làm đồ-gốm trước người Trung-hoa, Ấn-độ và cả Cận-đông hàng mấy ngàn năm.

Về thuật đúc đồng bằng khuôn đôi, theo một số chuyên-gia, vùng này đã có từ 3,000 năm trước –Kỷ-nguyên Tây-lịch, nghĩa là trước cả người Trung-hoa và có thể trước cả người Cận-đông.

Tất-nhiên, sau này, qua các cuộc đô-hộ kéo dài hàng ngàn năm, ảnh-hưởng của văn-minh Trung-quốc không thể tránh được, nhưng nó không thể xóa-bỏ hẳn nền văn-minh cổ-truyền của Việt-nam, mà nó chỉ đóng-góp thêm cho nền văn-minh Việt-nam càng thêm súc-tích mà thôi’.

Sự tồn tại và phát triển văn hóa Việt Nam, là một công trình vĩ đại của tiền nhân ta, nhất quyết chống trả với cuộc đồng hóa của người Tầu. Ngoài những cuộc đấu tranh võ lực, đã có biết bao nhiêu cuộc chiến âm thầm nhưng quyết liệt giữa hai giòng văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Ta phải nhận rằng văn hóa Việt Nam đã thắng. Chúng ta đã thắng bởi vì âm mưu đồng hóa chủng tộc của người Tầu đã thất bại. Về thể chất ta vẫn giữ nguyên những yếu tố Việt. Về văn hóa, không những ta đã duy trì, đã phát triển được nền văn hóa cá biệt của mình, mà lại còn thu nhập được cái hay cái đẹp của văn hóa Trung Hoa; Hơn thế nữa, nhiều yếu tố văn hóa Việt Nam lại còn ảnh hưởng vào văn hóa Trung Hoa. Biết được điều này nên vua nhà Minh đã ra lệnh cho quan quân của mình phải ‘ tịch thu tất cả những gì có chữ viết mang về Tầu, những gì không mang được như bia đá, kiến trúc… phải đốt cháy, phải đập tan…’ Số lượng sách vở, kiến trúc bị họ đã diệt nhiều vô cùng, tuy nhiên cái mà họ không hủy được là những yếu tố văn hóa Việt Nam trong tinh thần, trong đời sống dân gian của ông cha chúng ta.

Trong cuộc chiến đấu cam go và dài hàng ngàn năm như thế, ông cha ta đã chứng tỏ văn hóa thuần Việt mạnh vô cùng. Nhìn vào sinh hoạt, phong tục dân gian, nhìn vào ngôn ngữ văn hóa Việt Nam dù có những ảnh hưởng Trung Hoa, nhưng nét thuần Việt vẫn là nét chính, bao quát khắp đời sống Việt. Ta vẽ mình, ăn trầu, nhuộm răng… người Tầu, cho dù là Tầu ở Hoa Nam cũng không hề có những tập tục ấy. Tổ chức đình làng là một tổ chức không có trong xã hội Trung Hoa. Nguời Tầu mặc áo cài cúc bên trái, ta cài cúc bên phải…

Hãy nhìn vào đồ gốm cổ truyền Việt Nam, một nhành văn hóa ít được biết đến, ít được nghiên cứu, ta sẽ thấy tính chất thuần Việt sắc bén, phong phú và mạnh vô cùng. Chính Đạo Phật cũng truyền thẳng từ Ấn Độ vào nước ta trước khi truyền sang Tầu. Từ chữ Buddha chúng ta dã chuyển âm thành tên gọi ‘Bụt’ , trước khi các nhà nho theo kinh điển Trung Hoa mà gọi là ‘Phật’. Thiền Uyển Tập Anh, chép rằng: Năm 1016, Quốc Sư Thông Biện khi trả lời Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Lý Nhân Tông) đã dẫn sách Tục Cao Tăng: Sư Đàm Thiên (542-607) trả lời vua Tùy Cao Tổ rằng ‘Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật Pháp lúc mới tới thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu (Giao Chỉ) lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy có Khâu Đà La, Ma La Kỳ Vực, Thương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. Các vị sư Ấn Độ này sống vào thời Sĩ Nhiếp đang làm Thái Thú Giao Châu (187-226) như vậy để có chừng đó ngôi chùa và dịch chừng đó kinh thì đạo Phật đã vững vàng lắm ở đất ta, như thế chắc đã phải truyền vào cả trăm năm trước.

Ngày nay, thế giới đang sôi nổi trong vận động toàn cầu (globalization). Vì thế vấn đề tìm hiểu, phổ biến và duy trì những nền văn hóa cá biệt của nhân loại càng trở nên khẩn thiết. Vì toàn cầu không có nghĩa là mọi người bỏ quên đi các cá biệt để trở nên giống nhau, để suy nghĩ như nhau, để nói một thứ tiếng mà thôi. Càng chung nhau nhiều chừng nào càng phải duy trì những cái riêng hay đẹp nhiều chừng nấy. Toàn cầu để xoá bỏ cương giới hành chánh, kinh tế, để giao lưu văn hóa, không phải để làm cho tất cả mọi người trên thế giới đồng nhất về mọi mặt, vì toàn cầu chính là ‘hòa nhi bất đồng’.

Các nhà giáo dục và truyền thông Việt Nam, trong bao nhiêu năm qua, đã không chịu tìm hiểu rõ ràng, đã nhắm mắt nhai lại những điều học thuộc lòng mà không suy xét, không nghiên cứu, không đọc thêm các tài liệu, các phát hiện mới, mà cứ dậy nhau những hiểu biết sai lầm, nông cạn về các truyền thuyết cổ và những kiến thức sai lầm tạo ra từ người Tầu và người Pháp vào đầu thế kỷ 20 với những dụng ý chính trị.

Khi viết về văn hóa Việt, người Tầu luôn có thái độ rằng Viêït Nam là giống “man”, là một phần của Trung Hoa, cần phải được cai trị, giáo hóa (An Nam). Người Pháp khi viết về văn hóa Việt lại dựa trên sách Tầu, chữ Tầu, nên những điều người Tầu viết lại được người Pháp nhắc lại. Người Việt học sách Tầu, sách Pháp với tinh thần nô lệ sách lại truyền bá các điều sai lầm khắp nơi.

Trong những lỗi lầm của trí thức Việt Nam, lỗi lầm ấy, lỗi tiếp tục duy trì những ý thức hệ vong bản, những sai lầm sử học đã làm thui chột tinh thần dân tộc, đã duy trì tinh thần nô lệ, vọng ngoại là lỗi lầm lớn nhất, tai hại nhất. Tai hại hơn nữa là ngày nay nó còn tiếp tục được truyền dạy cho giới trẻ, còn tiếp tục làm cơ sở cho những tìm hiểu, nhận định về nguồn gốc dân tộc và văn hóa Việt Nam.

Trong buổi bình minh của xã hội toàn cầu, nếu chúng ta không còn ý chí để duy trì và phát triển bản chất dân tộc, thì tương lai nòi Việt sẽ ra sao? Chúng ta sẽ đóng góp gì vào cái xã hội mới này?

‘Bụt chùa nhà chúng ta linh thiêng vô cùng’ , chúng ta phải mau mau sửa chữa lại những hiểu biết thiếu xót và sai lầm về nguồn gốc và về tính cách biệt lập của văn hóa thuần Việt mà gióng chuông ca ngợi mà tự hào về nguồn gốc về nền văn hóa ấy. Ông cha chúng ta đã giành được hoàn toàn quyền tự chủ về chính trị, hành chánh từ suốt thế kỷ thứ 10, vậy thì chúng ta không có cớ gì để trở lại làm nô lệ văn hóa cho người Tầu.

Hãy để cho Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai ngủ yên trong sử Tầu. Lạc Long Quân và Âu Cơ là người phương nam chứ không phải là người phương bắc. Chúng ta chính là ‘Con Rồng Cháu Tiên’ với nguồn gốc với nền văn hóa thuần Việt, phong phú, rực rỡ, nhân bản và khác hẳn người Tầu, khác hẳn văn hóa Trung Hoa.

Viết tới đây, lòng tôi thêm bồi hồi, nhớ lại bài học thuộc lòng “Giờ Quốc Sử” của Đoàn Văn Cừ, mà tôi đã học lúc còn nhỏ, sống với gia đình ở phố Hàng Cau, Nam Định vào đầu thập niên 1950:

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu

Trên non sông làng mạc ruộng đồng quê

Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe

Tiếng thầy giảng khắp trong giờ quốc sử

Thầy tôi bảo các em nên nhớ rõ

Nước chúng ta là một nước vinh quang

Bao anh hùng thủa trước của giang san

Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc

Các em phải đêm ngày chăm chỉ học

Để sau này nối được chí tiền nhân

Ta chắc rằng sau một cuộc xoay vần

Dân nước Việt lại là dân hùng liệt

Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt

Giống anh hùng trên đất nước Việt Nam

Bên những trang lịch sử bốn ngìn năm

Đầy chiến thắng, đầy vinh quang, hạnh phúc

Vâng, văn hóa thuần Việt sẽ chói ngời, và sau một cuộc xoay vần mới, dân nước Việt sẽ lại là dân hùng liệt như thời Lý, thời Trần thủa trước.

Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Giới Thiệu Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam – Phần 2

Đồ Gốm Đời Lý-Trần, Thời Thăng Hoa

Thế kỷ 11 – 14

Sau khi Ngô Quyền dựng lại nền độc lập, nhà Đinh, nhà Tiền Lê bắt đầu mở mang đất nước, nhưng phải đến đời nhà Lý, văn hóa Việt Nam mới phát triển rực rỡ. Đời Lý, đời Trần là giai đoạn thăng hoa của đồ gốm Việt Nam. Khi Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) vào Thăng Long, xây dựng thành trì, cung điện, tôn sùng Phật giáo thì một nhu cầu to lớn về đồ gốm diễn ra. Theo gót dời đô, những nhà làm đồ gốm ở khắp nơi hoặc dọn về gần kinh thành, hoặc tăng mức sản xuất. Dưới thời đó với tinh thần dân tộc mạnh mẽ, với tinh thần Phật Giáo ảnh hưởng tràn ngập xã hội.

Nhu cầu xây dựng cung thành, nhu cầu của giới trưởng giả, của các đình chùa được xây dựng tăng lên bội phần. Từ đó tài năng, kỹ thuật, nghệ thuật của những lò gốm phát triển, đưa đến một cuộc bừng nở rực rỡ của đồ gốm Việt Nam, trong quyết tâm bảo vệ văn hóa dân tộc, họ đã phát triển đồ gốm thành một nghệ thuật tạo hình Việt Nam, riêng biệt, rực rỡ, phong phú cũng như nền văn hóa Hoà Bình, Phùng Nguyên, Bắc Sơn, Đông Sơn trước đó.

Người thợ đồ gốm Việt Nam đã tạo nên rất những dáng kiểu, sắc men và hoa văn rất Việt Nam, thể hiện tinh thần sáng tạo phóng túng và phong phú, không thể thấy trong văn hóa Trung Hoa vốn nhiều khuôn khổ gò bó. Vì thế cho dù họ có học được một vài kỹ thuật nghề nghiệp, nhưng phần nghệ thuật đã gần như không có mấy chút ảnh hưởng của nghệ thuật đồ gốm Trung Hoa.

Trong khung cảnh hứng khởi của nền tự chủ vừa tìm lại được, cùng các nhu cầu xây dựng thành quách, cung điện, đình chùa, ảnh hưởng mạnh của Phật Giáo, Lão Giáo và truyền thống văn minh Việt đã hội nhập trong các tô, chén đĩa, bình Việt Nam. Sự khởi đầu đơn giản, với các món đồ còn ảnh hưởng đồ gốm nhà Tống, bỗng vươn mạnh lên qua bàn tay sáng tạo của người thợ Việt Nam thành một nền văn minh rực rỡ, mà ngày hôm nay, khi nâng niu những món đồ tuyệt đẹp ấy trên tay, chúng ta còn cảm thấy bừng bừng sức sống mãnh liệt của dân Việt, như nhìn thấy cái phóng túng của bàn tay nghệ sĩ trên bàn xoay, hay trên nét vẽ nhanh, thoát như gió thổi, như nước trôi dưới nước men mỏng. Theo Phan Huy Lê, trong bài ‘Thành cổ Thăng Long – Hà Nội, một di sản văn hóa vô giá’ đăng trên báo Nhân Dân số ngày 19-1-2004 thì: Năm 2003, khi hoàng thành Thăng Long đời nhà Lý được khám phá ở khu Ba Đình, Hà Nội, trong nhiều món đồ được khai quật, có khuôn đúc đồ gốm sứ và phế phẩm kết dính thành từng chồng, chứng tỏ có những lò sản xuất gốm sứ cao cấp tại kinh thành Thăng Long. Có những món đồ gốm ghi rõ niên hiệu chế tạo; Như “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (Thời Đinh, Tiền Lê), hay “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên” (1057). Ông viết thêm: ‘…Các di vật này cho thấy trình độ kỹ thuật và nghệ thuật cao của nước Đại Việt…’

Người nghệ sĩ Trung Hoa vẽ đồ gốm một cách cẩn trọng, tỉ mỉ, họ vẽ như người quan sát thiên nhiên một cách khách quan, tuân theo những quy luật nhất định, đường thẳng như kẻ thước, đường cong như cánh cung, bên phải bên trái đối xứng, bên trên bên dưới đều đặn. Đề tài rất tôn nghiêm Long Ly Quy Phụng, họ vẽ như cử hành một nghi lễ.

Trong khi đó người nghệ sĩ Việt Nam vẽ tự nhiên, vẽ thoải mái, vẽ như chơi, như thả diều, như đánh đáo, vẽ tự nhiên như ăn như ngủ; Đề tài là hoa, là lá, là chim, là thú, là côn trùng, là thảo mộc của đồng ruộng, thôn quê kề cận bên mình, như chim sẻ, như tôm, như cua, chuồn chuồn, cóc nhái. Tại sao rồng cứ phải bay với mây không thôi, rồng với hoa càng đẹp, càng thân thiết chứ sao, vậy thì ta cứ bỏ mặc cái luật lệ của anh Tàu, ta vẽ rồng và hoa lá chung nhau cho nó thích. Anh Tàu ảnh không có voi thì kệ ảnh, xứ mình nhiều voi thì mình làm bình vòi voi chơi, mình thích bình con rồng, thì mình làm bình con rồng theo kiểu mình, mình thương con gà cục tác lá chanh, thì mình làm cái ấm con gà cho vui. Ngồi nặn tô thấy mấy con cóc nhẩy quanh nhà, thì ta làm cái ấm hình con cóc, rồi tô cho nó một nước men xanh chơi, chao ơi là thú vị. Họ vẽ đời sống nông thôn của họ lên các món đồ gốm đó. Họ và đề tài của họ là một; Con chim sẻ, con cá bống, con chích chòe sống trong người họ rồi tràn ra nét bút tự nhiên, sống động, không cố gắng.

Ôi! Khi cầm trên tay làm sao mà ta không cảm thấy được cái khoái trá của người nghệ sĩ đầu đời Lý khi họ làm cái bình rượu nhỏ với dạng con tôm càng cưỡi trên lưng con cá chép. Con cháu Khổng Tử nghiêm túc với Kinh Lễ, Kinh Thư, nghe cái chuyện đó cũng hết vía rồi, chứ làm sao mà dám nghĩ đến việc làm cái bình có cái hồn phóng khoáng đó được. Nét bút người nghệ sỹ Việt múa nhẹ, mũi tre cắt vào đất sắc mà nhanh, men chỗ dầy chỗ mỏng thì càng tự nhiên chứ đâu có sao, cái hình bên này nhỏ hơn cái phía bên kia một chút thì lại càng ngộ càng xinh chứ hề chi. (Trong trống đồng tên là ‘Sông Đà’ , khi chạm xong con chim hạc thứ mười sáu, người nghệ sĩ thời Đông Sơn mới thấy mình chỉ chia vòng tròn làm mười bẩy phần, làm sao chạm mười tám chim hạc bây giờ, thôi thì ta giải quyết bằng cách chạm chim hạc số mười bẩy và mười tám sát nhau, mà đứng chứ không bay, cho đủ chỗ. Xin xem hình trống Sông Đà trong ‘Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam’ của Nguyễn Văn Huyên và Hoàng Vinh, do Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội xuất bản năm 1975 – Ông thợ Trung Hoa mà gặp lỗi này thì phải bỏ hết để làm lại từ đầu chứ đâu có dám tự tiện như vậy).

Nói như thế không phải là chê đồ gốm Tàu không đẹp, đồ Tàu cực đẹp là đằng khác. Nhưng hai cái cách làm đẹp và hưởng đẹp rất khác nhau. Đồ gốm Tàu đẹp như một cô gái trang điểm lộng lẫy của dạ hội, đồ gốm Việt đẹp như cô gái hàng xóm thơ ngây, tươi mát. Cái đẹp của đồ Tàu là cái đẹp của thơ Lý Bạch: ‘Vân tưởng y thường hoa tưởng dung – Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng’, trong khi cái đẹp của đồ Việt là thơ Nguyễn Khuyến: ‘Sóng biếc theo làn hơi gợn tí – lá vàng trước gió sẽ đưa vèo’. Một bên đẽo gọt tinh xảo, một bên mộc mạc đơn sơ, một bên là cái đẹp của trí tuệ, một bên là cái đẹp của tâm hồn.

Gọi là đồ đời Lý, nhưng ta gồm cả nơi đây đồ gốm đời Trần. Bởi vì đồ đời Trần tiếp tục cái truyền thống đặc sắc của đồ đời Lý (Cho đến đời Hậu Lê, sự phát triển đặc sắc của đồ gốm Chu Đậu, Bát Tràng mới thực sự trở nên cá biệt, tạo những chiều hướng khác).

Hoa văn đồ gốm đời Lý thường là ám họa, hoa văn vẽ mầu chỉ thấy trên các món Lý Trắng mà cũng chỉ là một mầu men xám. Phải chăng đây cũng là ảnh hưởng Phật giáo trong tinh thần đơn sơ của truyền thống thôn làng? Nền Phật giáo nơi đây là Phật Giáo truyền theo đường phương Tây, phương Nam mà vào chứ chưa phải là nền Phật Giáo truyền từ Trung Hoa xuống như sau này, tương ứng với thời Phật còn thường được gọi là bụt (Budha), cách ký âm Việät Nam, chứ chưa theo cách ký âm Trung Hoa và giọng đọc Hán Việt mà thành chữ Phật.

Đa số đồ đời Lý thường để dấu con kê, đôi khi thấy có vành men cạo. Đây là những kỹ thuật thường dùng cho đồ khỏi dính vào nhau trong lò nung.

Ngoài cách phân loại theo dáng kiểu, người ta thường phân loại đồ gốm Việt ra theo nước men: Đồ men ngọc, đồ Lý trắng, Lý nâu, Lý lục:

1. Đồ men ngọc (celadon): ảnh hưởng Phật Giáo chen kẽ với ảnh hưởng đồ men ngọc đời Tống. Hoa văn với những mô thức Phật Giáo như cánh sen, hoa cúc. Đôi khí có ảnh hưởng đồ gốm nhà Tống nhưng đã Việt hóa (ám họa hình ảnh 2, 3 hay 4 em bé trai chơi trong một vườn hoa, ám họa hình 2 lực sĩ đấu vật…). Ngoài nhưng bát, chén và đĩa men ngọc nhỏ, ta còn thấy có nhiều tước (hay bôi), bình trà, nậm rượu nhỏ. Có những nậm rượu men ngọc chạm nổi hình 2 con cá chép đang bơi. Có những nậm rượu hình quả bầu. Các nậm rượu này nhỏ (cao khoảng 12cm) chắc để dùng trên bàn thờ nhiều hơn là để dùng chứa rượu uống.

Ngoài những đĩa trang trí bằng các ám họa hoa sen, hoa cúc, cũng có những đĩa nhỏ (5cm) chạm nổi hình cá chép đang bơi. Men ngọc mầu xanh rêu với nhiều sắc từ nhạt đến đậm, có khi rất đậm, gần như xanh đen. So với đồ men ngọc đời nhà Tống, đồ men ngọc đời Lý thường dầy hơn, nước men cũng khá dầy, cốt men bằng đất sét trắng pha cát, cầm trên tay thấy nặng, tiếng gõ đục tiếng vang ngắn và nhỏ (Đồ men ngọc đời Tống men mỏng, nhẹ, tiếng vang trong và ngân rất dài vì làm bằng đất pha đá nghiền). Nơi đây rồng Việt Nam bay cùng hoa lá, điều không thể thấy trong đồ gốm hay tranh vẽ Trung Hoa.

So với các món Lý trắng, Lý nâu thì đồ men ngọc (cũng như đồ Lý lục) không còn nhiều, phải chăng vì không được làm nhiều?

2. Đồ Lý trắng: Bát chén Lý trắng cùng các bình ấm rất đẹp, một vẻ đẹp thanh nhã mà cao sang, càng nhìn càng ưa. Bình và ấm vẫn theo truyền thống Việt Nam, quai cầm chỉ có tính cách trang trí, không thực dụng. Nước men rất mịn, mầu trắng tuyền, nhìn mát rượi, thảng hoặc có món men trắng trắng ngà hay men trắng thoáng ẩn sắc xanh dương. Có chén nhỏ mà lòng chén tráng men trắng, nhưng bên ngoài lại tráng men nâu. Bình men trắng thường cao khoảng 16 – 22cm, đôi khi có phác họa một vài cánh hoa mầu xám nhạt.

Chúng tôi sưu tập được một bình Lý trắng (cao 15cm) có quai cầm là hình một con cá bống nhỏ mầu trắng, mắt đen, rất linh động, nắp bình vẽ hoa cúc, thân bình vẽ cành trúc, cành mai mầu xám nhạt. Những bình khác có quai cầm hình xoắn ốc hay hình một con rồng chui từ trong thân bình ra rồi lại chui vào tạo thành quai cầm để lại chui sang mé bên kia cất cao đầu trở nên vòi rót. Rồng đây không phải là con rồng Trung Hoa, mà là một con rắn mình trơn, có kỳ trên lưng, đầu giống như hình linh vật Naga hay Makara của Ấn Độ. Miệng bình thường khá nhỏ, chỉ có thể dùng làm nậm rượu hay bình nước, chứ không thể thành ấm trà.

Có những tô Lý trắng ám họa hình ảnh của văn hóa Ả Rập, hình ảnh trăng lưỡi liềm và các vì sao cùng với 2 đoản đao bắt chéo…Có những bát, trong lòng toàn là biểu tượng Phật Giáo như chữ Vạn, như hình ảnh bát bửu, hay trong lòng chén, lòng đĩa là cả một bông hoa sen, bông hoa cúc đang nở, có lu nhỏ cao 25cm rộng 18cm mà nắp lu là cả một bông sen và miệng lu cũng chạm nổi những cánh sen đang nở…Có tô đường kính 12cm, đáy tô là một bông cúc nở, qu anh lòng tô là những nhành lá và hoa cúc. Bình ấm rất đẹp, nhiều cái hình quả dưa, quả bầu, hình con tôm càng cưỡi trên long con cá chép…

3. Đồ Lý Nâu: ta gọi chung là Lý nâu, nhưng ở đây mầu nâu có rất nhiều sắc. Từ nâu nhạt đến nâu đâm gần như là đen. Ngay trên cùng một món, men nâu cũng pha nhiều sắc. Có những bát, chén men nâu có gờ miệng không nhẵn mà lại gẫy cạnh như hình hoa cúc, trong lòng bát là những ám họa hoa cúc khác, rõ ràng là chén bát dùng trên bàn thờ chứ không phải để dùng trong đời sống hàng ngày. Bát thường có đường kính miệng lớn bằng 3 lần đường kính trôn bát (Như miệng 18, trôn 6cm). Có những thứ bát men nâu da báo, nước men nâu khi uớt được nhỏ lên vài giọt nước đây đó, làm cho men chảy thành những đốm loang lổ như da con báo.

Trong những số lượng sưu tập, bát chén có ám họa biểu tượng nhà Phật như hoa cúc, hoa sen… đồ men nâu có rất nhiều. Có phải đây lại là một ảnh hưởng Phật giáo khác? Bình ấm men nâu rất đặc sắc, có nhiều bình men nhoè (sau khi trắng xong men nâu, ngươì ta tưới lên bình một sắc men nâu đậm hơn, rồi để cho tự chảy loang lổ, hoắc sau khi tráng men xong họ tạt nước lên cho men chảy nhoè).

Nước men trên bát chén men nâu mỏng, nước men trên bình men nâu dầy, bóng sáng mịn, độ dầy mỏng của nước men trên bình cũng không đều, tạo ra nhiều sắc đậm nhạt khác nhau. Có nậm rượu men nâu trang trí hình chân chim (do bút tre vạch lên nên men sau khi tráng). Nhiều bát men nâu có trang trí hình chạm nổi từ khuôn đúc rất đẹp. Cũng như đồ Lý trắng, bình ấm Lý nâu rất đẹp, hình dạng thay đổi từ tròn sang bầu hay hình con nghê…

4. Đồ Lý lục: Mầu men lục nơi đây là mầu men xanh cánh trả, trong biếc. Nước men mỏng, ám họa nổi. Số lượng đồ Lý lục còn lại không nhiều. Tìm được một món Lý lục đẹp rất khó. Bình Lý lục rất đẹp nhưng hiếm thấy, hoa văn nhành rêu, vòi rót hình đầu makara. Bát đĩa, bình ấm Lý lục cũng có nhiều sắc, hoặc xanh biếc, hoặc xanh rêu, hoa văn trên bát đĩa cũng vẫn là biểu tượng hoa cúc, hoa sen của nhà Phật hay hình cá chép theo kiểu song ngư của văn hóa nhà Tống. Đĩa thường thấy với đường kính khoảng từ 14 đến 20cm, chén thường có đường kính từ 10 đến 14cm.

Tóm lại, đồ gốm thời Lý Trần là một giai đoạn rất quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm cổ truyền Việt Nam. Đây chính là giai đoạn thăng hoa của nghệ thuật này. Khởi đi từ những món đồ không tráng men dưới thời Hòa Bình, Bắc Sơn – Đông Sơn, Bắc Thuộc, sang đời Lý đồ gốm Việt Nam phát triển rực rỡ. Số lượng rất nhiều, đủ mọi thứ loại, đủ mọi sắc men, đủ mọi hoa văn với ảnh hưởng Phật giáo đậm đà tạo nên một thời cực thịnh của nền đồ gốm dân tộc để rồi lên đến tuyệt đỉnh với đồ gốm Chu Đậu vào thời Hậu Lê, thời nhà Mạc sau đó.

Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Giới Thiệu Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam – Phần 1

Chúng ta có rất ít tài liệu về đồ gốm cổ truyền Việt Nam, số người sưu tập đã ít, số sách vở viết về đồ gốm, đồ gỗ, đồ đồng Việt chỉ được phổ biến một cách hạn hẹp. Trong số tài liệu ít ỏi đó, phần lớn được viết bằng bởi người ngoại quốc ở Úc, Anh, Nhật… trong mươi, mười lăm năm gần đây. Nhiều người Việt không biết rằng dân tộc mình có một ngành nghệ thuật thuần nhất, phong phú, kéo dài nhiều trăm năm và rất được yêu chuộng bởi các nhà sưu tập trên thế giới. Những món đồ gốm, hình tượng gỗ, trống đồng này rất đặc biệt Việt Nam, rất đẹp và rất hiếm có. Chúng tôi có cái duyên may là yêu thích ngành nghệ thuật tạo hình đặc sắc này của ông cha, nên trong những năm qua đã có dịp tìm hiểu và sưu tập được khá nhiều món, từ tô, đĩa, đến bình, ấm, lư hương, chân đèn.. Càng tìm hiểu chúng tôi càng say mê hơn và nhận rõ hơn cái giá trị tuyệt vời của nghệ thuật tạo hình cổ truyền Việt Nam. Càng tìm hiểu chúng tôi càng bứt rứt vì thấy ít ai biết đến và ít ai sưu tập những món đồ thật sự Việt Nam, vừa đẹp vừa nghệ thuật, vừa giầu kỹ thuật sáng tạo lại vừa chứa đựng cả dòng diễn tiến của văn hoá nhà qua những món đo.à.. hoặc thường dùng hàng ngày, hoặc khi tế lễ, hội hè, từ thôn quê đến kinh đô. Do đó dù sự hiểu biết còn thiếu xót, dù cuộc nghiên cứu chỉ mới ở mức khởi đầu, nhưng cảm thấy không thể chờ đợi lâu hơn được, chúng tôi đành mang cái biết thiếu xót ấy, mang những vật tích gom góp được để trước là mua vui cho bà con, sau là khơi động lên lòng yêu văn hóa dân tộc, rồi từ đó những cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh sẽ được thực hiện bởi các nhà chuyên môn. Ngõ hầu người Việt chúng ta hiểu rõ hơn, yêu nhiều hơn, rồi cùng chung giữ và trân quí các món đồ biểu hiệu cả một dòng tình tự dân tộc. Hy vọng rằng một ngày gần đây đa số chúng ta biết và yêu những nét chạm khắc trên cột đình cổ, những cái trống đồng, những món đồ Chu Đậu, đồ Lý Trắng, Lý Nâu … để càng hiểu và yêu thêm cái tâm tình thuần Việt được thể hiện qua bàn tay người nghệ sĩ Việt nhiều trăm năm trước. Để qua những cái đĩa, cái chén, cái trống đồng, các hình tượng ấy, chúng ta sẽ thấy rõ ông cha ta nhìn đời sống chung quanh mình thế nào.

Giới Thiệu Đồ Gốm Cổ Truyền Việt Nam

Văn hoá của một dân tộc bao gồm bốn khía cạnh: sinh hoạt xã hội (phong tục, tôn giáo) – văn chương (truyền khẩu và thành văn) – nghệ thuật tạo thanh (âm nhạc, ca vũ) – và nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc) . Những biến động lịch sử trong vòng trăm năm qua đã ngăn trở việc tìm hiểu sâu rộng nền văn hóa phong phú và thuần nhất Việt Nam. Trong vòng hai mươi năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu ở Úc, Tân Gia Ba, Nhật Bản, Hương Cảng (như John Guy, John Stevenson, Mimoto Asako, William Willets, Keith Taylor, Barbara Harrisson, bà Kelly Nguyễn Long .., và của một số người Việt trong và ngoài nước (Hà Thúc Cần, Đào Duy Từ, Nguyễn Đình Chiến, Phillip Trương, Tăng Bá Hoành .. ..) đã mạnh mẽ vạch rõ rằng văn hóa Việt dù chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nhưng thật ra lại là một nền văn hoá riêng biệt với những bản sắc khác hẳn Trung Hoa.

Nghệ thuật tạo hình của Việt Nam ít được nghiên cứu; Sách báo khảo cứu về đồ đồng, đồ đá thì còn khá, nhưng về đồ gốm thì không có mấy. Đồ gốm Việt Nam chỉ mới được tìm hiểu nhiều trong vòng mươi, mười lăm năm gần đây. Vì thế số người Việt – trong và ngoài nước – biết và hiểu điều này còn rất ít. Sự hiểu biết này còn chỉ giới hạn trong số những nhà nghiên cứu hay sưu tập chuyên môn mà thôi. Bài viết ngắn này nhằm mục đích giới thiệu một cách rất tổng quát một khía cạnh nhỏ của nghệ thuật tạo hình Việt Nam: Đồ gốm cổ truyền.

Dân tộc, văn hóa Việt khởi nguồn độc lập và song song với văn hóa dân tộc Trung Hoa. Nền văn hóa Hòa Bình (8,000BC), Bắc Sơn (6,000BC), Phùng Nguyên (2,000BC) và Đông Sơn (1,000BC) đã phát triển rực rỡ từ trước khi có những giao tiếp giữa hai dân tộc Việt, Hoa. (Nhiều trống đồng khai quật trong vài năm gần đây chỉ rõ nét đặc biệt, thuần Việt, phác họa lên cả một nền văn minh rực rỡ, với kỹ thuật điêu luyện). Cái nôi của văn hoá, dân tộc Việt quy tụ vào bốn vùng chính: (1) Châu thổ sông Hồng: Hòa Bình – Bắc Sơn – Hải Hưng – Vĩnh Phú – Hà Nội, (2) Duyên hải Bắc Việt: Hạ Long – Vân Đồn – Hải Phòng, (3) Thanh Hoá và (4) Nghệ An – Hà Tĩnh.

Trong bốn môi trường văn hóa ấy, đồ gốm Việt Nam thành hình và phát triển rực rỡ. Mỗi vùng, mỗi thời kỳ có những nét đẹp, tùy theo vật liệu, tùy theo kỹ thuật và nghệ thuật riêng. Chúng tôi tin rằng, trong những năm tới, nhiều cuộc khai quật quan trọng sẽ được thực hiện, nhiều vật tích đặc biệt sẽ được tìm thấy. Những khám phá này sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn về nền văn hoá dân tộc Việt và cũng sẽ làm thay đổi quan niệm, ý kiến và sự hiểu biết phổ thông hiện nay. Chúng tôi ghi lại những thời điểm chính của lịch sử và sự phát triển nghệ thuật đồ gốm Việt Nam trong Bảng Tóm Lược Lịch Sử Đồ Gốm Việt Nam.

Trong những món đồ chúng tôi sưu tập, chỉ có vài món làm từ thời Bắc Thuộc, còn phần lớn là đồ làm từ đời Lý, đời Trần trở về sau (Đồ làm từ thế kỷ 11, 12 tới thế kỷ 15, 16, 17). Chúng tôi cũng sẽ giới thiệu một loại đồ đặc biệt khác là đồ men trắng xanh (Thường được gọi qua tên ‘Đồ men lam Huế – hay phổ thông hơn là đồ ‘Bleue de Hue’ ) do vua quan Việt Nam họa kiểu riêng, đặt làm bên những lò gốm nổi danh bên Tàu. Khi sưu tập, hay tìm hiểu về đồ gốm Việt Nam, người ta vẫn lầm tưởng rằng đáng kể chỉ có đồ men lam Huế (Bắt đầu từ đồ ‘Nội Phủ’ và ‘Khánh Xuân’ của chúa Trịnh Sâm đặt, rồi tới tô, đĩa chữ nhật của các vua triều Nguyễn, hay đồ ‘Mai Hạc’ do Nguyễn Du đặt làm khi đi sứ năm 1813.

Các nhà sưu tập trong nước thì cũng chỉ chú trọng vào loại đồ hoặc của Trung Hoa hoặc men lam Huế này. (Học giả Vương Hồng Sển, với công trình sưu tập, nghiên cứu đồ sộ trong suốt hơn 50 năm, cũng chỉ viết chút ít về vài bình vôi mà ông gọi là đồ gốm Bát Tràng chứ không có các thứ đồ quý Việt Nam nào khác).

Đồ gốm Việt Nam đẹp, đa dạng, phong phú và giá trị hơn cả là đồ thời Lý-Trần, phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ 11-12, kéo dài đến cuối thế kỷ 16; với một số lượng lớn xuất cảng sang các nước Nam Thái Bình Dương, Nhật Bản, Đại Hàn, qua tận vùng Ả Rập từ thế kỷ thứ 7, mạnh mẽ vào thế kỷ 14-16. Một số đồ gốm Việt Nam đã rất được quý chuộng trong nghi lễ của Trà Đạo Nhật Bản từ cuối thế kỷ 15. (Bà Morimoto Asako, khi nghiên cúu các mảnh vỡ khai quật ở Dazaifu và Hakata đã viết rằng, đồ gốm Việt đã đưọc dùng ở Nhật từ giữa thế kỷ 14). Muốn biết thêm về việc xuất cảng này, xin đọc ‘Vietnamese Ceramic – a separate tradition’ của nhóm ông John Stevenson và John Guy, xuất bản năm 1997 ở Chicago và ‘Vietnamese Ceramics’ của Southeast Asian Ceramic Society xuất bản năm 1982 ở Singapore, tạp chí ‘Arts of Asia’ của bà Tuyết Nguyệt xuất bản ở Hương Cảng..vv..)

Đời Lý, với tinh thần dân tộc mạnh mẽ, sau khi chấm dứt được một nghìn năm đô hộ của người Tầu, nhà Lý, cũng với tinh thần Phật Giáo ảnh hưởng mạnh mẽ suốt từ triều đình ra đến đại chúng, nhà Lý, với quyết tâm phát huy nền văn hoá thuần Việt (vẫn trường tồn qua nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa) đã phát triển lên một nghệ thuật tạo hình riêng biệt Việt Nam rực rỡ, phong phú cũng như nền văn hoá Hòa Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn trước đó. Người thợ Việt Nam đã sáng tạo nên những dáng kiểu, sắc men và hoa văn rất Việt Nam, thể hiện một tinh thần sáng tạo rất phóng túng và phong phú. (Nhiều thử nghiệm về sắc men, dáng kiểu, nhiều hoa văn đẹp lạ không thể thấy được ở văn hoá Trung Hoa vốn nhiều khuôn khổ gò bó).

Nghệ thuật tạo hình đặc sắc này của văn hoá Việt có thể tóm tắt qua các điểm chính: (1) Dáng kiểu, (2) Nước men, (3) Hoa văn và (4) Chất đất.

1. Dáng kiểu

a. Tô, chén, đĩa: Tô chén thường có chân khá cao. Nhiều bát nhỏ và đĩa nhỏ có hình con rùa hay cá nổi giữa lòng, khi đổ nước vào ta có cảm giác như nhìn xuống lòng giếng, lòng ao, thấy cá và rùa bơi ở giữa. Đĩa thời Chu Đậu khá lớn (rộng khoảng từ 25 tới 30cm). Đồ ‘men lam Huế’ có kích thước khá gần với các món đồ dùng hiện nay (đĩa Khánh Xuân Long Lân của Trịnh Sâm rộng 26cm, đĩa Mai hạc của Nguyễn Du, rộng khoảng 17cm…)

b. Lư hương, bát hương, chân đèn: Lư hương khá to, cao khoảng 25 – 40cm. Nhiều chân đèn hai hay ba tầng cao khoảng 75 – 85cm. Đây là chân đèn để cắm nến, ngoài ra còn nhiều chân đèn dầu hình chim, hình gà. Nhà Lý vốn sùng đạo Phật, khi dời kinh đô về Thăng Long ngoài nhu cầu xây cất cung điện còn tạo dựng lên rất nhiều chùa chiền (Lý Công Uẩn vốn dựng nước từ dưới mái tam quan). Tiếc thay nhà Minh đã phá hủy gần như hoàn toàn các công trình kiến trúc này; phần còn sót lại bị đốt phá năm 1784, bởi loạn Kiêu Binh dưới đời Trịnh Khải. Kế đó, khi lên ngôi, vua Gia Long lại không muốn Thăng Long lớn hơn kinh thành Huế, nên đã phá đi để xây lại thành mới, nhỏ hơn. Nguyễn Du, người chứng kiến cuộc đổi thay đã than rằng:

thiên niên cự thất thành quan đạo,

nhất phiến tân thành một cố cung

(Thăng Long)

nghĩa là:

nhà cổ phá đi làm đường phố,

thành mới xây trên nền cung xưa.

c. Bình, ấm, âu, hũ, bình vôi: đủ mọi loại, đủ cỡ lớn nhỏ, sản xuất trong nhiều trăm năm. Có nhiều ấm hình chim, hình thú, hay có nhiều ấm mà vòi, quai là hình đầu thú. Có hũ nâu cao đời Lý khắc hình người, hình hoa, có hũ trắng ngà đời Bắc Thuộc vẽ hình voi và người như trên trống đồng Đông Sơn. Một trong loại bình rất Việt Nam là hình một con tôm càng đứng trên lưng con cá chép, ấm hình con cóc, bình hình quả dưa, lọ hình quả cà…

d. Hộp trang sức: Hộp nhỏ thường là hình tròn, để đựng phấn hay dầu trang sức phụ nữ. Những hộp này có lẽ là để xuất cảng sang vùng Ả Rập nhiều hơn là để bán trong nước. Hộp đời Lý thường có mầu trắng, trang trí hình hoa hay hình cánh sen nổi, đường kính độ 5, 6 cm. Hộp Lý nâu nhỏ có những nét trang trí mang ảnh hưởng Chiêm Thành. Hộp làm vào thế kỷ 14, 15, 16 thường mầu trắng ngà, trơn, trên nắp vẽ hoa, cành mầu chàm, hay vẽ hồi văn… Những hộp này nhỏ hơn, đường kính độ 3cm tới 6cm. Một số hộp tìm được trong khi khai quật mộ cổ ở Phi Luật Tân, Nam Dương, một số lớn tìm được trong vài năm gần đây, khi vớt các xác tầu buôn cổ chìm ở Hội An, Đà Nẵng. Có những hộp mầu xám đậm, có hộp hình bí ngô hay hình tròn nhưng chung quanh chia làm nhiều phần (6 hay 8) trang trí tạo nên ấn tượng là hộp thật sự có nhiều cạnh.

e. Gạch trang trí, ngói: Men trắng xanh, tìm thấy ở trên tường nhà thờ Hồi Giáo ở Nam Dương. Mộ cổ ở Phi Luật Tân (cùng các ấm, bình, tô, đĩa Việt Nam). Điểm tức cười là trong khi người Hồi Giáo Nam Dương mua gạch ngói men lam của Việt Nam để xây giáo đường (như xây Mosque ở Demak, Java) thì nhà Nguyễn lại nhập cảng gạch men lam từ nước Anh về xây lăng vua Khải Định.

2. Nước men: Những điểm khác biệt chính giữa nước men của đồ gốm Tàu và đồ gốm Việt là:

Nước men Việt thường rất mỏng, men pha loãng, tráng không đều, trong khi đó, nước men Tàu rất dầy, bóng và đều khắp.

Lò gốm Việt thường có độ nung thấp, nên nhiều vật tích tìm được có những phần đã tróc mất men. Lò gốm Tàu có độ nung rất cao, men bền.

Chân đế và dưới đáy đồ Việt thường được để mộc. Dưới đáy thường được tô một lớp son nâu đậm (điểm không hề thấy trong đồ gốm Trung Hoa).

Nước men rạn tự nhiên, rất đẹp. Màu men thay đổi từ trắng ngà sang vàng hồng, nâu với rất nhiều sắc từ nhạt đến đậm, nâu đen, nâu đỏ, xanh cánh lục biếc, xanh chàm, xanh lam nhạt, xanh lam đậm.

Ngoài ra, đồ gốm Việt Nam còn khác đồ Trung Hoa ở các điểm: (1) trong lòng tô hay đĩa thường sót lại các dấu in của con kê (dùng ngăn đĩa, tô chồng lên nhau khi nung) hay (2) trong lòng đĩa, tô khi men còn ướt, trước khi nung, thường bị cạo đi một vòng hình vành khăn để trơ lại đất mộc, và (3) miệng tô, đĩa cũng thường để mộc, không men. Đây là những cách đơn giản, để tránh cho các món đồ không bị dính chặt vào nhau khi nung. Ngược lại, người thợ Trung Hoa không bao giờ để trơ đất mộc ở chỗ nào, họ rất tỉ mỉ trong việc pha men, tráng men và xếp nung. Họ muốn món đồ được toàn hảo. Kỹ thuật lò và độ nung cũng rất cao tạo nên một nước men dầy bóng và đều khắp. Lò gốm Việt nam thường có độ nóng thấp hơn, chất men pha, tráng một cách phóng túng. Người thợ Việt nam thường chú trọng đến cái vẻ đẹp giản dị, tự nhiên. Họ không bận tâm đến những gò bó, tiểu tiết.

Tước men ngọc đời Lý

Tước men ngọc đời Lý

3. Hoa văn: Hoa văn thường được vẽ bằng sáu kỹ thuật chính:

dùng khuôn mẫu in rập lên đồ mới nặn cho hoa văn in lên (nổi hay chìm) trước khi tráng men và nung (gọi là ám họa).

dùng bút vẽ lên mặt đồ đã khô, trước khi tráng men và nung.

tráng men mầu nhạt rồi dùng dao nhỏ hay mảnh tre cạo bỏ men theo hình định trước, rồi dùng men mầu đậm vẽ trong chỗ đã cạo, nhưng lại để chừa nét viền không men.

ngược lại với cách trên. Tráng men mầu nâu đậm lên toàn bình hay ấm rồi dung mảnh tre cạo theo hình định sẵn, tạo nên hoa văn mầu nhạt, không men trên nền men nâu đậm.

tráng men mầu nhạt lên rồi nhỏ vài giọt men mầu khác lên một hay vài chỗ, để cho giọt men này chảy tự nhiên.

tráng men xong rồi nhỏ những giọt nước lên, hay tạt nuớc vào để nước làm men chảy loang tạo nên những hình tự nhiên.

c – d- e và f là bốn kỹ thuật thuần Việt. Đồ gốm Trung Hoa không bao giờ được trang trí bằng cách này.

Men lam Huế, Đọi (tô) chữ nhật của vua Tự Đức, có bài thơ ‘Một thức nước in trời’

Men lam Huế, Đọi (tô) chữ nhật của vua Tự Đức, có bài thơ ‘Một thức nước in trời’

4. Chất đất: Đồ gốm Việt Nam dưới thời Bắc Thuộc (Nhà Hán) thường làm bằng đất sét, pha cát và vỏ sò hến nghiền nát, sang đời Lý, nhiều món đồ không còn pha cát nữa, chất đất mịn hơn. Đồ Chu Đậu làm bằng kaolin trắng mịn. Đồ men ngọc (Celadon) đời Lý cũng khác đồ men ngọc Tàu ở chỗ chất đất không pha bột đá, đồ dầy hơn, men mỏng, gõ vào tiếng kêu không thanh và không ngân lâu bằng.

Để phân biệt một cách tổng quát, ta có thể tạm xếp đồ gốm Việt Nam làm các loại đồ chính:

1. Đồ thời Hoà Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn:

Không tráng men, nặn bằng tay với hình trang trí tạo nên do dây thừng và khuôn giỏ đan ấn lên, hay do mũi dao, mũi tre khắc những hình trang trí đặc biệt của văn hoá Việt thời này (Hình kỷ hà như thường thấy trên trống đồng gọi là ‘hồi văn’, nhưng đơn giản hơn) Đồ gốm làm bằng đất sét pha cát và vỏ sò hến nghiền nhỏ. Hình dạng thuần Việt hiện rõ ràng (đồ gốm Trung Hoa không làm hình voi hay vẽ hình voi, ngược lại, ấm hình thú, ấm đầu voi, ấm vòi voi rất thường thấy – Viện Bảo Tàng ở Hà Nội, có nhiều vật tích như bình cao, trang trí những hình khắc cong và thẳng làm vào khoảng 2000 BC cho tới những ấm, âu làm từ 300 tới 500 BC. Museum of Fine Art ở Boston có trưng bầy ấm vòi voi của Việt Nam làm trong khoảng thế kỷ thứ 3 BC tới thế kỷ thứ 1 BC)

2. Đồ thời Bắc Thuộc:

Bàn xoay bắt đầu được dùng nhiều, dáng kiểu, hoa văn và nước men có ảnh hưởng đồ nhà Hán pha trộn những nét Việt của văn hoá Đông Sơn. (Có chum, vại to, vẽ hình voi, hình người đóng khố, tay cầm giáo, cầm cung..) làm bằng đất sét pha cát mịn. Để món đồ này bên cạnh đồ nhà Hán của Trung Hoa, ta vẫn nhìn thấy những nét giống và những nét rất khác của hai loại đồ gốm. (Trong suốt thời Bắc Thuộc, người Trung Hoa đã thất bại trong việc hủy diệt văn hóa Việt, và đồng hóa người Việt như họ đã thành công với các dân tộc khác. Ngược lại người Việt đã thành công trong việc thu nhập nhọc hỏi, và áp dụng những nét đẹp, kỹ thuật hay của Trung Hoa). Loại đồ Việt Nam này thường mỏng hơn và thường được nung với độ cao hơn đồ nhà Hán. Đồ nhà Hán thường có men xanh lục, đồ Việt Nam thường mầu trắng, trang trí bằng men giọt xanh.

3. Đồ Lý-Trần:

Dưới đời Lý, kỹ nghệ đồ gốm Việt Nam phát triển rực rỡ, phần lớn do nhu cầu xây dựng thành quách, cung điện, chùa chiền. Kỹ thuật tráng men trong như thủy tinh mà không thấy dầy, rất trang nhã. Cho thấy người thợ hoàn toàn làm chủ nước men của mình do cách biến đổi chất men pha để làm cho nước rạn to hay nhỏ theo ý muốn. Nước rạn thường thay đổi từng phần, từ trên miệng bình xuống phía dưới chân đế. Những món đồ gốm dưới đời Lý-Trần gồm có các loại chính là: Đồ men ngọc (Celadon), đồ Lý trắng, đồ Lý nâu, đồ Lý lục

bát Lý nâu

bát Lý nâu

4. Đồ Chu Đậu:

Trong các thế kỷ 14, 15, 16 xuất hiện một loại đồ (mà có người gọi là ‘đồ trắng chàm’ ) có nước men trắng với hoa văn mầu xanh blue (mầu chàm). Hình dáng và hoa văn đặc biệt Việt Nam, rất đẹp, men mỏng nhưng rất đều. Loại đồ này thường được xuất cảng sang Phi Luật Tân, Nam Dương, Ả Rập… từ thế kỷ 14 đến 16.

Thế kỷ 11 – 16 là thời kỳ mà sức sáng tạo nghệ thuật, sự phát triển kỹ thuật lên đến cao nhất, mà sự thành công về thương mãi cũng lên đến cao nhất của đồ gốm Việt Nam.

5. Đồ gốm Bát Tràng: Bát Tràng sản xuất rất nhiều đồ gốm các loại, dùng trong đời sống hàng ngày, trong việc thờ phụng Phật, Thánh, đình làng… Như chén đĩa, lu, hũ, bình, ấm, bình vôi, điếu bát, chân đèn, lư hương, hình tượng, mâm, đỉnh….

6. Đồ “Men Lam Huế” :

Những đồ men lam thường được sưu tập là đặt làm hay nhập cảng nguyên chiếc từ Trung Hoa vào. Vì đồ này được dùng rất nhiều ở cung đình Huế nên thường được gọi là đồ ‘men lam Huế’ . Chúng tôi lại chia loại này thành hai: (1) Đồ Nội Phủ và đồ Khánh Xuân do Trịnh Sâm đặt bên Tàu. (2) Đồ đời Nguyễn do các vua Gia Long, Thiệu Trị, do sứ bộ Nguyễn Du, sứ bộ Phạm Phú Thứ … họa kiểu đặt làm bên Tàu.

a. Đồ Nội Phủ và Khánh Xuân:

Trịnh Sâm họa kiểu và cho đặt tại lò Cảnh Đức Trấn bên Tàu (đây là lò gốm dành riêng cho việc chế tạo đồ dùng trong cung điện Trung Hoa, thời này do Đường Anh, một tay kỳ tài của đồ gốm Trung Hoa điều khiển) Đồ Nội Phủ và Khánh Xuân được người ta xếp vào loại ‘Men Lam Huế’ vì ngoài những nét tương tự, những đồ này cũng lại được tìm thấy ở Huế, khi bà Từ Dụ cho bán đi mấy chục năm trước đây.

b. Đồ đời Nguyễn: Dưới đời Nguyễn, kỹ nghệ đồ gốm của người Việt suy sụp, thị trường trong nước và quốc tế bị mất vào tay người Tàu, người Nhật, vua quan nhà Nguyễn thì lại mê chuộng văn hóa Trung Hoa, cái gì cũng rập theo nhà Thanh. Triều đình nhà Nguyễn đặt rất nhiều đồ men lam làm bởi lò Cảnh Đức Trấn, bên Tàu.

Nổi tiếng nhiều trong loại đồ này là những món do các vua nhà Nguyễn đặt làm (đồ chữ Nhật) và các bộ chén, đĩa trà vẽ hình cây mai và chim hạc cùng hai câu thơ nôm của Nguyễn Du: ‘nghêu ngao vui thú yên hà – mai là bạn cũ, hạc là người quen’ . Đồ này được đặt làm lần đầu bởi Nguyễn Du khi đi sứ nhà Thanh năm 1813. Ngoài những đồ đặt làm, đời Nguyễn còn nhập cảng nhiều đồ men lam khác của nhà Thanh. Những món này rất được ưa chuộng bởi giới quan lại và các nhà giầu Việt Nam.

Hy vọng rằng những hình ảnh và lời giới thiệu ngắn ngủi sẽ tạo nên những hiểu biết và ý thích khởi đầu, để việc tìm hiểu, duy trì và phổ biến những giá trị đặc biệt rất đáng được ngợi ca, hãnh diện của văn hóa Việt Nam nơi những người trẻ tuổi. Trong suốt giòng lịch sử dân tộc, những chuyển biến chính trị dù xáo động đến thế nào cũng chỉ có giới hạn ngắn. Những ảnh hưởng, chủ thuyết ngoại lai thảy rồi cũng bị gạn lọc, đào thải để chỉ có phần hay đẹp mới được hoà nhập vào dòng văn hóa Việt Nam. Cho nên chúng tôi tin rằng những thay đổi tốt đẹp trong xã hội, văn hóa, dân tộc Việt sẽ từ từ chuyển biến đến. Và trong khung cảnh đó, các cuộc khai quật, nghiên cứu, duy trì và phổ biến của đồ gốm, đồ đồng dân tộc sẽ phát triển mạnh mẽ.

Nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc đã khám phá, nghiên cứu và ca ngợi đồ gốm Việt Nam, (trong những cuộc bán đấu giá của nhà Christie of London, của nhà Sothebys có những món đồ gốm Việt được bán với giá hàng chục nghìn Mỹ Kim).

Thế giới nhìn ra và đánh giá rất cao khía cạnh này của văn hóa Việt, tại sao chúng ta lại lơ là? Tại sao chúng ta không khuyến khích những lò gốm ở Việt Nam hiện nay trở lại học và làm những món đồ giống như đồ Lý-Trần, đồ Chu Đậu đó để dùng hàng ngày? Những đồ này đẹp ăn bứt chén đĩa làm bằng máy, sản xuất hàng loạt của Tàu của Nhật, của Âu Mỹ.

Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »