Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘đền’

MỸ THUẬT THỜI TRẦN

Khi nhà Lý bắt đầu suy yếu , người đứng đầu dòng họ Trần ở đây là Trần Cảnh ( Trần Thái Tông ) nhưng người đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của nhà Trần là trần Thủ Độ . Nhà Lý suy vi , quyền lực rơi hết vào tay Trần Thủ Độ .Sau khi ép Lý Chiêu Hoàng ( 8 tuổi ) nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh ( 7 tuổi ,1218-1227) thì thời đại của nhà Trần chính thức bắt đầu năm 1225 . Trong khoảng 175 năm trị vì , nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần kháng chiến chống quân Nguyên thành công vào các năm 1258 ,1285 và 1288 , nhưng trong những năm sau này ,kể từ thời Vua Dụ Tông thì triều đại nhà Trần đạ suy yếu đi vì nhiều lý do , chủ yếu là do sự mục nát và yếu kém của hệ thống quan lại . Cuối cùng vào năm 1400 , Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần , chấm dứt 175 năm trị vì của dòng họ này .

Nhà Trần thay thế nhà Lý suy tàn trong sự phát triển đi lên của phong kiến Việt Nam . Ba lần chống quân Nguyên – Mông thắng lợi , bảo tồn giang sơn đã tạo nên một hào khí oai hùng cho dân tộc và thấm đẫm trong văn học nghệ thuật , mặt khác chiến tranh nhiều lần tàn phá đất nước , hoạt động nghệ thuật bị hạn chế , cuối cùng chế độ điền trang thái ấp cũng tan vỡ trong cuộc cải cách của Hồ Quý Ly vào cuối thế kỷ 14 .

Mỹ thuật thồi Trần với đường nét phóng khoáng , khỏe khoắn hơn thời Lý . Bố cục có phần thưa thoáng đơn giản . Đề tài phong phú hơn thời Lý , đặc biệt là trên đồ gốm xuất hiện nhiều hình ảnh con thú . Có được điều này là nhờ sự giao lưu văn hóa rộng rãi và tinh thấn thượng võ thời Trần phát triển mạnh qua ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông .

KIẾN TRÚC

KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH :

Lăng Trần Thủ Độ ở Tam Đường ( Thái Bình ) có một số tượng thú

Tượng Hổ ở lăng Trần Thủ Độ ( Thái Bình ) .Trần Thủ Độ là thái sư triều Trấn , ơng là người uy dũng , quyết đoán , người góp phần dựng lên vương triều Trần , người có vai trò quan trọng trong chiến thắng chống quân xâm lược Mông Cổ (1258) .Khu lăng mộ của ông được xây dựng vào năm 1264 tại Thái Bình , ở lăng có tạc một con hổ . Tượng hổ có kích thước gần như thật (dài 1m43), thân hình thon , bộ ngực nở nang , bắp vế căng tròn . Tượng đã lột tả tính cách dũng mãnh của vị chúa sơn lâm ngay cả trong tư thế rát thư thái : nắm xoải chân , chân thu về phía trước , đầu ngẩng cao . Tượng hổ tạo khối đơn giản , dứt khoát , có chọn lọc và được sắp sếp một cách chặt chẽ , vững trãi . Sự trau chuốt nuột nà của hình khối và đường nét với những đường chải mượt của tóc hổ , những đường văn đều đặn trên ức tạo nên những hoa văn trang trí tôn thêm vẻ đẹp của hổ . Thông qua hình tượng con hổ , các nghệ sỹ điêu khăc thời xưa đã nắm bắt và lột tả được tính cách , vẻ đường bệ , lẫm liệt của thái sư Trần Thủ Độ . Bây giờ đến Vũ Thư , Thái Bình . Ta vẫn gặp một con hổ đá nằm im lìm giữa hoa hoang cỏ dại trong di tích hoang tàn lăng Trần Thủ Độ . Đây là một tác phẩm nghệ thuật dẹp trong nền nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam .


ĐỀN AN SINH VÀ LĂNG MỘ NHÀ TRẦN

Đền và lăng mộ nhà Trần thuộc xã An Sinh , huyện Đông Triều , tỉnh Quảng Ninh ,nắm rải rác trong một khu đất rộng có bán kính 20km để thờ “Bát Vị Hoàng Đế “ thời Trần .Đây là một trong những công trình tưởng niệm có giá trị lớn trong lịch sử Việt Nam và đã được bộ văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử . Được trùng tu vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn , quần thể di tích gồm một đền và tám lăng mộ .

Khu đền Sinh thuộc thôn Nghĩa Hưng là nơi thờ chung tám vị vua nhà Trần và lăng mộ của Trần Thái Tông , Trần Thánh Tông và Giản Định Đế . Lăng mộ Trần Anh Tông ở khu trại lốc , lăng Trần Minh Tông ở khu Khe Gạch , lăng Trần Hiến Tông ở khu Ao Bèo , Lăng Trần Dụ Tông ở khu Đống Tròn ,lăng Trần Nghệ Tông ở khu Khe Nghệ .

Ngoài việc xây dựng điện miếu ở mỗi lăng làm nơi thồ cúng , triều đình còn cho xây dựng ở khu đền Sinh nhiều tòa điện miếu lớn để làm nôi tế lễ bái yết và cắt cử các quan về trông coi cẩn thận . toàn bộ khu vực này trở thành thánh địa tôn nghiêm qua các triều Trần , Lê , Nguyễn .

Đền Sinh gồm ba tòa nhà rộng , kết cấu hình chữ tam , tiền đường thờ Triều Trần , bái đường thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo , hậu cung thờ tám vua Trần : Thái Tông , Chánh Tông ,Anh Tông , Minh Tông ,Hiến Tông , Dụ Tông , Nghệ Tông và hoàng đế hậu Trần là Giản Định Đế (Trần ngồi ).

Ở phía sau đền có 3 lăng các vua :Thái Tông , Thánh Tông và Giản Định Đế . rải rác ở suốt dãy núi còn có lăng các vua Anh Tông ( còn gọi là Đồng Thái hoặc Thái Lăng ), lăng vua Minh Tông ( lăng Đồng Mục ) , lăng vua Hiến Tông (Lăng Nghệ Sơn ), lăng vua Dụ Tông , vua Nghệ Tông .

Trải qua thời gian và thăng trầm của Lịch sử , khu vực này bị hư hỏng nặng . ngày nay với ý thức và lòng tự hào dân tộc nên khu đền Sinh và các lăng mộ nhà Trần đang dần được quan tâm khôi phục đúng tầm cỡ của nó để bảo tồn và phát huy một di sản văn hóa quý báu của dân tộc và góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau , tạo thành một khu di tích thu hút du khách bốn phương .


Tượng quan hầu trong lăng vua Trần Hiến Tông ở xã An Sinh huyện Đông Triều , tỉnh Quảng Ninh .Vua Trần Hiến Tông mất năm 1341 , tuy đã 13 năm làm vua , nhưng lúc ấy mới 23 tuổi . Có lẽ vì thế , trong sự thương tiếc của triều đình , đây là lăng mộ vua Trần duy nhất có các tượng “người đá , ngựa đá ,hổ đá , dê đá ,trâu đá “như các tác giả sách Đại Nam Nhất Thống Chí ở cuối thế kỷ XIX còn thấy > Sau nhiều biến thiên lịch sử , cho đến thập niên 70 của thế kỷ XX , khu lăng đã bụ hủy hoại , song vẫn còn hai tượng quan hầu , chó đá và trâu đá .

Rất tiếc cả hai tượng quan hầu đều bị gẫy mất đầu nhưng may tìm được một đầu tượng chắp lên rất khớp ., và như thế có thể nhận ra một tượng quan hầu khá nguyên . tượng cao 130 cm, đứng trên đế chữ nhật cạnh trước 39 cm cạnh bên 30 cm còn nổi trên đất 10cm . Tượng và bệ liền một khối đá dựng thẳng đứng , tất cả khuôn lại trong một trụ gọn gàng như kiểu tượng mồ tây nguyên , không có những chi tiết nhô ngang dễ gãy . Tượng được diễn tả một viên quan hầu cận đứng nghiêm , hai tay ép sát sườn rồi đưa ngang về trước bụng để nâng một vật như chiếc hộp trước ngực , nhưng bàn tay bị che khuất . Đầu tượng đội mũ bó sát thành băng ngang phía trên trán .Thân mặc áo dài quét đất , gấu áo hơi loe ra , phía trước để lộ hai bàn chân đi giầy , ống tay áo rộng thành khối vuông trước bụng , áo không có trang trí mà chỉ có nếp chảy xuôi , bốn cạnh thân nổi rõ . Như vậy toàn thân tượng cũng như các thành phần chính được quy về các khối hình học có góc cạnh rõ ràng , điều đó làm tăng tính khúc triết , khỏe khoắn , dứt khoát . Đầu tượng hơi dài , mặt thon thả ,mắt , nũi , miệng đều rát thực và ở trạng thái đăm chiêu , bình thản .Trong không gian lăng mộ , giữa lũng hoang cạnh sườn núi , tượng quan hầu trang nghiêm và tĩnh lặng đến tuyệt đối , phảng phất một nỗi ưu tư .


Di tích cung điện thời Trần ở làng Tức Mạc : làng Tức Mạc Ở phía bắc ngoại thành Nam Định , cách trung tâm thành phố 3km(1.9 dặm ) .Đây là quê hương của nhà Trần ,nơi sinh ra Trần Hưng Đạo , vị anh hùng dân tộc . Khu di tích rộng tới hang chục hecta , từ đền Thiên Trường , Cổ Trạch thờ các vua Trần và Trần Hưng Đạo đến chùa tháp Phổ Minh . Sử cũ cho biết , vào năm 1239 , nhà vua cho xây hành cung ở làng quê mình để lúc thư nhàn về thăm . Đến năm 1262 , Thượng Hoàng đến chơi hành cung ở Tức Mạc , ban yến tiệc cho dân và thăng làng Tức mạc lên phủ Thiên Trường , dựng tiếp cung Trần Quang để cho các vua đã nhường ngôi( Thái Thượng Hoàng ) về ở .Phía tây cung đình là chùa Phổ Minh , lại dựng một cung riêng cho các vua đương triều mỗi khi về thăm Thái Thượng Hoàng thì về nghỉ tại đó .

700 năm trôi qua , khu cung điện không còn nữa , nay có đền Thiên Trường để thờ 14 vị vua Trần , đền Cổ Trạch thờ Trần Hưng Đạo , và chùa Phổ Minh với cây tháp Phổ Minh nổi tiếng .


MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


Advertisements

Read Full Post »

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời nhà Lý và chịu ảnh hưởng của Phật Giáo rất sâu đậm .cung điện , lâu đài ,thành quách và chùa tháp được xây dựng với quy mô lớn . Thành Thăng Long là một công trình xây dựng lớn trong các triều đại phong kiến .Thành gồm hai vòng dài khoảng 25km .Trong hoàng thành có những cung điện cao đến bốn tầng

Lý Công Uẩn lên ngôi vua , sáng lập vương triều Lý(1009-1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu(21-11-1009) .Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La đổi tên là Thăng Long. Ngay trong mùa thu năm đó , nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua , triều đình và hoàng gia .Trung tâm là điện Càn nguyên , nơi thiết triều của nhà vua, hai bên là điện Tập Hiền và Giảng Võ , phía sau là điện Long An , long Thụy làm nơi vua nghỉ . Đến cuối năm 1010 , 8 điện 3 cung đã hoàn thành .Những năm sau , một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm . Một vòng thành được bao quanh các cung điện cũng xây đắp trong năm đầu , gọi là Long Thành hay Phượng Thành .Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này . Thành đắp bằng đất , phía ngoài có hào , mở 4 cửa : Tường Phù ở phía đông , Quảng Phúc ở phía tây , Đại hưng ở phía nam , Diệu Đức ở phía bắc .Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia . Trong đời Lý , các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm .Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của kinh thành .Phía ngoài cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú , buôn bán , làm ăn của dân chúng gốm các bến chợ , phố phường và thôn trại nông nghiệp . Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại la hay La Thành . Trong những biến loan cuối thời Lý , Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề . sau khi thành lập , nhà Trần phải đắp lại thành , xây lại các cung điện , nhưng vị trí qui mô của Hoàng Thành , thường gọi là Long Phượng Thành không thay đổi .

Thời Lê sơ,Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428 xây dựng lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội . Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) , vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên Và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ. Tập bản đồ thời Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ Hống Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lấn sao chép lại về sau ,nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt sang thời Nguyễn , thành Hà Nội do vua Gia Long xây năm 1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà còn thu nhỏ qui mô so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa . Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm cột cờ, Cửa bắc thời Nguyễn


Kiến trúc thời Lý phục vụ Phật Giáo , rất nhiều Quốc Tự được xây dựng .Phong cách thống soái là hoành tráng , đồ sộ.Chùa một cột ( Chùa Diên Hựu)được xây dựng ở Thăng Long với quy mô lớn hơn ngôi chùa đã có trước đó ở Hoa Lư và với sự cách điệu tuyệt diệu . Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng . Năm 1031 Lý Thái Tông cho xây dựng 950 ngôi chùa .Năm 1056 Lý Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa , năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo Tháp trước chùa Báo Thiên ,cao vài chục trượng (khoảng 50-60 m)và có 30 tầng . Ngoài ra còn có nhiều chùa tháp khác cũng đồ sộ và huy hoàng không kém .

Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên cao khoảng 70m .Chùa Phật Tích- Bắc Ninh , chùa Long Đọi –Hà nam , Chùa Bà Tấm – hà Nội ,chùa Quảng Giáo –Quảng Ninh đều là những chùa lớn .

Kiến trúc chùa tháp thời Lý đều to lớn , cao . Các chùa thường nằm trên đỉnh núi cao .cấu trúc và bố cục chùa tháp đơn giản , chỉ gồm một ngôi chùa chính và một ngọn tháp lớn có đáy vuông .Điều này phản ánh tư tưởng giản dị , phóng khoáng của người thời Lý .Trang trí tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm , với các hình chim thần ( Garuda ), nữ thần đầu người mình chim , có lẽ do việc bắt những tù binh Chăm sau cuộc nam chinh của Lý Thánh Tông. Vì thế ấn tượng của ngọi chùa Lý rất độc đáo : Vùa tôn nghiêm , hùng vĩ , đường bệ bởi không gian và đường sống kiến trúc , vùa phóng khoáng lãng mạn bởi gần thiên nhiên, vừa sinh động , lý thú với các trng trí mang hơi hướng Chăm .

Chùa Một Cột hay chùa Mật ( gọi theo Hán Việt là Nhất Trụ Tháp ) còn có tên khác là Diên Hựu hoặc Liên Hoa Đài ( Đài hoa sen ) , là môt ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội .Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam .

Chùa được khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049 .Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa Hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen . Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý thái Tông (1028-1054)và theo gợi ý của nhà sư Thiền Tuệ .vào năm 1049 vua đã mơ thấy được Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên tòa . Khi tỉnh dậy,nhà vua kể chuyện đó lại cho bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa , dựng cột đá như trong chiêm bao , làm tòa sen của Phật Bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ , vì thế chùa mang tên Diên Hựu .

Đến năm 1105 , vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng . Năm 1108 Nguyên Phi Ỷ lan sai bày tôi đúc một cái chuông rát to ,nặng đến môt vạn hai nghìn cân , đặt tên là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời ).Đây được xem là một trong tứ đại khí- bốn công trình lớn của Việt nam thời đól là : Tháp Báo Thiên ,chuông Qui Điền , vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm . Giác Thế Chung đúc xong nặng quá không treo lên được , để dưới mặt đất thì đánh không kêu .Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ , ruộng này có nhiều rùa , do đó có tên là La Quy Điền chuông (chuông ruộng rùa ).

Đến thế kỷ 15 , giặc Minh xâm lược , chiếm thành Đông Quan ( Hà Nội ).Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân lam Sơn ra đánh ,vây thành rất gấp .quân Minh thiếu thốn vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn sai người đem phá chuông Quy Điền lấy đồng .Quân Minh thua trận , nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa .

Đến thời nhà Trần , chùa đã không phải là ngôi chùa nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi : Năm 1249 :”…mùa xuân , tháng giêng , sửa lại chùa Diên Hưu ,xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ…” chùa đã qua nhiều đợt tu sửa .Đợt tu sửa chữa lớn vào năm Thiên Ứng Chính Bình 18 ( 1249 ) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê ,triều đình nhiều lần cho tu sửa , thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá . Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường , hành lang tả hữu ,gác chuông và cửa tam quan . Năm 1852, bố chính Tôn Thất Giáo xin đúc chuông mới . Năm 1864 , tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu , làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen , chạm trổ thêm công phu tráng lệ . năm 1954 ,trước khi rút khỏi Hà Nội , quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa . Sau ngày tiếp quản thủ đô , Bộ văn hóa đã cho tu sửa chùa một cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn .

Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan , với ba chữ “:Diên Hựu Tự “ , là một ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột , xây khoảng đầu thế kỷ 18 .


 

Chùa Phật Tích ( Phật Tích Tự ) còn gọi là chùa Vạn Phúc ( Vạn Phúc Tự ) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía nam núi Phật Tích ( còn gọi núi Lạn Kha , non tiên ), xã Phật Tích , huyện Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh . Trong chùa có tượng Đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Chùa Phật Tích được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia .

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc . Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý . Ngôi chùa vào thời nhà Lý hiện nay không còn nữa .

Năm 1066 , vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một ngôi tháo cao . sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng . để ghi nhận sự xuát hiện kỳ diệu của bức tượng này , xóm Hỏa Kê ( cạnh chùa ) đổi tên thành thôn Phật Tích .

Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy ( 1686 )ca ngợi vẻ đẹp của cạnh chùa :” Đoái trông danh thắng đất Tiên Du , danh sơn Phật Tích , ứng thế ở Càn Phương( hướng Nam ) có núi Phượng Lĩnh bao bọc , phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh . Phía Hữu Bạch Hổ núi ôm , trên đỉnh nhà khai bàn đá …”

Năm 1071 , vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5m , sai khắc vào đá đặt trên sườn núi . Bà Nguyên Phi Ỷ lan có đóng góp quan trọng trong bưởi đầu xây dựng chùa Phật Tích .

Vào thời nhà Lê , năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông , năm 1686 , chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn , có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc Tự .

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại su đó được gần 300 năm .kháng chiến thực dân Pháp bùng nổ và Chùa bị tàn phá nhiều . Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947 .

Khi hòa bình lập lại (1954)đến nay , Chùa Phật Tích được khôi phục dần . năm 1959 , bộ văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A Di Đà bằng đá quý giá .Tháng 4 năm 1962 , nhà nước công nhận chùa Phật tích là Di tích Lịch Sủ văn hóa .

Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc“ , sân chùa là cả một vườn hoa mẫu Đơn rực rỡ . Bên phải Chùa là miếu thờ Đức Chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này .

Cho tới nay , Chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách , 5 gian bảo thờ Phật , Đức A Di Đà cùng các vị Tam Thế Phật , 8 gian nhà tổ , và 7 gian nhà thồ Thánh Mẫu .

Ngôi Chùa có kiến trúc của thời Lý , thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi .các nền hình chữ nhật dài khoảng 60m rộng khoảng 33m , mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật .


 

 

Chùa Dạm căn cứ vào các thư tịch cổ , Chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông (1072-1127 ) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ hai ( 1086 ).Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình , vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sôngĐuống .Năm 1087 , “Vua ngự đến chùa Lãm Sơn , đến đêm ban yến cho các quan .Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến” công trình làm trong 9 năm mới xong .Vua ban tên Chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ triện .

Năm long phù nguyên hóa thứ 5 (1105) , Vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp đá nữa .Chùa làm xong(1094), vua ban 300mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng mở cửa chùa.

Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn , chính giữa ngọn cao nhất .Núi Rùa làm tiền án , ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có thanh Long ,bên hữu có Bạch Hổ chầu về .Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy . Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghi êm hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh . hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng “rốn nước “ Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng . chiều dài của lớp nền 120m , chiều rộng 70m ( Chùa Phật Tích là 100m và 60m ).Tổng cộng diện tích gần 8000m vuông ,Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50×60 cm) các lớp đá được cấu tạo choãi chân đế ,chếch khoảng 70 độ ,và có độ cao 5-6m .


 

Chùa Long Đọi Sơn còn có tên chữ là Diên Linh Tự do Vua lý Thánh Tông và Vương Phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 .Đến đời Lý Nhân Tông nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121.

Sau ba trăm đứng vững thì đến đầu thế kỷ XV , khi giặc Minh xâm lược nước ta , chùa và tháp bị phá hủy hoàn toàn .Riên bia thì không phá nổi , chúng đả lật đổ xuống bên cạnh núi , ngôi chùa đã trở nên hoang phế hoàn toàn . Mãi đến năm Tự Đức thứ 13 ( 1860 ) nghĩa là 170 năm sau khi giặc Minh tàn phá nhân dân trong vùng mới cho sửa sang lại Thượng Điện , Tiền Điện , gác chuông , nhà tổ …đến năm 1864 , chùa lại tiếp tục sửa hành lang , đúc tượng Di Lặc , đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian , từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật Giáo .Ngôi chùa này được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc . Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều .hai bên Chùa là 18 gian hành lang thờ Thập bát La Hán .


Chùa Bà Tấm ( Dương Xá – Gia Lâm –Hà Nội )

 

Cụm di tích đền – Chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá huyện Gia Lâm , ngoại thành Hà Nội . Di tích nằm ở phía đông và cách khu vực nội thành Hà Nội gần 20km .Từ trung tâm thành phố , qua cầu Chương Dương , theo quốc lộ 5 đi Hải Phòng khoảng 8km thì đến địa phận xã Dương Xá .Di tích nằm bên trái , liền kề đường quốc lộ . Theo sử sách và truyền thuyết dân gian , cụm di tích đền – chùa Bà tấm được xây dựng từ thời Lý , sự ra đời của di tích gắn liền với Nguyên Phi , Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – một nhân vật kiệt xuất của vương triều nhà Lý .Sử cũ cho biết Nguyên Phi Ỷ lan giỏi việc trị nước ( hai lần nhiếp chính ), khiến nhân tâm hòa hợp , đất nước thanh bình , dân gian sùng phật , tôn bà là Phật Bà Quan Âm .

Cụm di tích chùa – đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng(phía bên tả ngạn là chùa Báo Ân thời Trần ,gắn liền với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông ) . Trải qua quá trình tồn tại , mặt bằng di tích có nhiều thay đổi , hiện nay còn có chùa , đền và nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận .

Còn tiếp

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


 

 

Read Full Post »

Kiến trúc xưa ở Cù lao Phố

Cù lao Phố là một cù lao nằm trên sông Đồng Nai, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì đã tự chia ra làm hai nhánh ôm trọn một dải đất sa bồi. Dải đất đó chính là Cù lao Phố, nằm ở phía Đông – Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là xã Hiệp Hòa, với tổng diện tích đất đai là 694,6495ha.

Cù lao Phố còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy có thể đi đến mọi miền.rải qua nhiều thăng trầm lịch sử, Cù Lao Phố, thương cảng sầm uất của Nam Bộ một thời, nay vẫn còn lưu được nhiều nét xưa.

Trước thế kỷ thứ 6, Cù Lao Phố là vùng đất hoang vu thuộc vương quốc Phù Nam. Trong lịch sử mở rộng bờ cõi của cha ông, cuộc nam tiến đã thực sự thành công khi vùng đất Đồng Nai – Gia Định được tiền nhân khai phá.

Sự hình thành và phát triển của dải đất nằm giữa sông Đồng Nai này bắt đầu từ năm 1679, gắn với sự kiện hai trung thần nhà Minh (Trung Quốc) là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch không quy phục triều đình Mãn Thanh, đã dẫn dắt hơn ba nghìn binh lính vượt biển xuôi về Nam trên 50 chiến thuyền. Họ vào cửa Tư Dung (địa phận Thuận Hóa) xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho lánh nạn. Chúa Nguyễn đã thu nạp và cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này chia làm hai cánh, một do hai tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình chỉ huy đã chọn vùng Đồng Nai – Gia Định để khai phá, một do Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến thống lĩnh tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho – Cao Lãnh làm chốn dung thân.

Cầu Ghềnh dẫn vào Cù Lao  Phố.

Trần Thượng Xuyên sau khi định cư đã chiêu mộ thương lái từ Trung Quốc sang mua bán và mở mang thương cảng. Từ đó, vùng Cù Lao Phố trở nên sầm uất, trên chợ, dưới thuyền, bán mua tấp nập. Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển như dệt chiếu, tơ lụa, đúc đồng, làm pháo, đồ gốm, đục đá… Các thương thuyền của người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ thường xuyên vào ra.

Là người có tầm nhìn xa, Trần Thượng Xuyên thấy vùng đất này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp vì thuận lợi giao thông thủy, bộ. Do đó, ông đã huy động sức người sức của để xây dựng thương cảng Nông Nại Đại Phố thành trung tâm thương mại danh tiếng bậc nhất phương Nam thời bấy giờ. Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được chúa Nguyễn truy phong Thượng đẳng thần, thờ ở đình Tân Lân bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Hòa.

Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn, mở mang bờ cõi phương Nam, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là người đầu tiên được nhắc đến. Vào năm 1698, được chúa Nguyễn sai kinh lược phương Nam, viên thống soái này đã chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh. Tại đây, ông  thiết lập bản doanh, tổ chức cơ sở hành chính, ổn định đời sống dân chúng bằng cách thiết lập phủ, huyện, tổng, xã, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn. Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đã giúp chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi. Ông cũng chính là người có sáng kiến khuyến khích dân chúng các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược, hình thành các làng mạc trù phú ở Đồng Nai.

Về sau, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề do cuộc bạo loạn của thương nhân người Phúc Kiến (Trung Quốc) là Lý Văn Quang vào năm 1747 và cuộc giao tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn, đặc biệt là năm 1776. Nhà cửa phố xá bị thiêu trụi, cư dân dần dần lưu tán, chấm dứt thời kỳ hưng thịnh của Cù Lao Phố sau gần 100 năm.

Tinh hoa còn đó

Chùa Ông ở Cù Lao Phố.

Cù Lao Phố hiện còn lưu nhiều dấu tích về thời hưng thịnh với những công trình mang đậm tín ngưỡng như chùa Đại Giác, đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, miếu Quan Đế, chùa Thủ Huồn… Những tinh hoa trong các làng nghề gốm sứ, điêu khắc hay những sự kiện lịch sử trong lao động và bảo vệ lãnh thổ, sự định hình thiết chế xã hội, các di tích văn hóa của vùng đất này… được Trịnh Hoài Đức biên khảo hết sức công phu trong bộ Gia Định Thành thông chí.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Với hệ thống những công trình tín ngưỡng tôn giáo trên mảnh đất ghi đậm dấu ấn lịch sử văn hóa, Cù Lao Phố là điểm du khảo lý thú cho những ai yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật. Đứng bên bờ sông Đồng Nai, du khách có thể nhìn thấy Cù Lao Phố nổi bật giữa dòng sông, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ, tịnh xá…

Chùa Đại Giác

Chùa Đại Giác

Được xem là nơi địa linh nhân kiệt, Cù Lao Phố đang là đối tượng của các nhà nghiên cứu khảo cổ học về những giá trị văn hoá, lịch sử.

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Sự kiện lịch sử:

Sự thịnh vượng của vùng Cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679 -1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:

* Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu, đánh úp dinh Trấn Biên (tiền thân của Biên Hòa sau này), giết chết Nguyễn Cư Cẩn (tước Cẩn Thành Hầu) là người cai quản dinh. Tin cấp báo về Thuận Hóa, chúa Vũ vương (Nguyễn Phúc Khoát) liền sai cai cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đang đóng ở Mô Xoài đem binh vào cứu viện. Tống Phước Đại phá tan đạo quân của Lý Văn Quang, bắt được chúa đảng cùng đồng bọn 57 người. Tuy dẹp được cuộc bạo loạn, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.

* Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở cù lao Phố vì họ đã ủng hộNguyễn Phúc Ánh  . Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Sau khi chợ búa cùng phố xá bị tàn phá nặng nề, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sáp nhập với làng Minh Hương sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay…

Kể từ đó, vùng Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số kiến trúc xưa ở Việt Nam

Hình tượng Rồng:
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước.

Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ăn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.

Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống… và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

– Hình tượng con Rùa: Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.

– Hình tượng chim Phượng: Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp.

Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái.

– Hình tượng con Hạc: ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Trong tứ  linh  ” Long, Lân, Qui, Phụng” , con nghê biểu tượng thuần Việt đã thay thế con Lân do vậy tứ  linh thú của người Việt là ” Long, Nghê, Qui, Phụng”. Xem thêm bài về hình tượng con nghê.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »