Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘đặc trưng văn hóa của hình tượng hồ lô’

II. Các đặc trưng văn hoá của hình tượng hồ lô

1. Các đặc trưng văn hóa của hình tượng hồ lô

a. Tính biểu trưng

Từ khi chiếc hồ lô tự nhiên thăng hoa, hình tượng hồ lô được dân gian các tộc người Trung Hoa gửi gắm vào đấy nhiều ước vọng ở đời:

– Biểu trưng nữ tính – phồn thực: đặc trưng nổi bật nhất của hình ảnh chiếc hồ lô dân gian.

Về hình dáng, hồ lô được cho là 1) giống với bộ ngực căng tròn của người mẹ đang trong thời kì cho con bú; 2) giống với sinh thực khí nữ (nội âm lẫn ngoại âm); 3) giống với phần thân của người phụ nữ có mang. Ngoài ra, hồ lô nhiều hạt, dễ sinh sôi nên được dùng với ý niệm cầu mong phồn thực.

Tại vùng Đài Giang và Kiếm Hà tỉnh Quý Châu, người Miêu có tục “hồ lô phóng tinh rượu” vào ngày tế bái tổ tiên. Thanh niên lấy hồ lô đựng đầy tinh rượu, sau đó cầm hồ lô phóng tinh rượu về phía các cô gái trẻ. Các cô gái này hân hoan đón nhận tinh rượu như đón nhận biểu trưng “dương tinh” cần thiết cho sự sinh sôi.

– Biểu trưng may mắn: theo phân tích ngữ âm – ngữ nghĩa ở phần tên gọi hồ lô thì hình ảnh hồ lô mang biểu trưng của phúc lộc, thăng tiến. Các tộc người Miêu, Bố Y vùng Quý Châu có tục rước thần hồ lô. Dân gian dùng gỗ đẽo thành mặt nạ hồ lô thần có tay cầm. Phụ nữ tế tự hồ lô thần để cầu hạnh phúc tương lai [www.china.com]. Người La Hô kết hình hồ lô trên cổ áo, hàm ý may mắn v.v…

– Biểu trưng tổ tiên: Người Cơ Nặc 基诺 /Ji Nuo/ và người Di 彝/Yí/ là các trường hợp điển hình. Danh từ riêng Cơ Nặc có nghĩa là “(giống người) chui từ hồ lô ra” [www.nikerchina.com]. Ngoài người Cơ Nặc, người Di Vân Nam cũng coi hồ lô là hóa thân của tổ tiên. Trên bàn thờ hay vách thờ thường có khắc họa hình ảnh hai chiếc hồ lô (mỗi chiếc tượng trưng cho một thế hệ (nội, cha). Mỗi khi gia đình có một vong linh mới thì mời vu sư đến cử hành đại lễ gửi linh hồn vào chiếc hồ lô mới. Cùng lúc đó mang hồ lô chứa linh hồn của thế hệ cao nhất thiêu hủy. Trong phong tục này, tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn lưu giữ rất sinh động. Nếu người mẹ qua đời trước, người Di rước vu sư làm lễ gửi linh hồn vào hồ lô cái. Đến khi người cha qua đời, vu sư lai tiếp tục làm lễ gửi linh hồn cha vào cùng. Nếu cha mất trước, vu sư gửi tạm linh hồn vào một chiếc hồ lô đực nào đó, đến khi người mẹ mất, người ta đổi một chiếc hồ lô khác, gửi linh hồn người mẹ vào trước rồi rước linh hồn người cha vào cùng [Từ Kiệt Thuấn 2001: 96].

– Biểu trương hài hòa âm dương: Hồ lô là loại bầu bí có hoa tự thụ phấn, do vậy nó tự mang trong mình sự hài hòa âm dương (nhụy và nhị). Cũng từ đó, theo dân gian Trung Hoa, Phục Hy – Nữ Oa – hóa thân của hồ lô tượng trưng cho hình ảnh người cha thủy tổ và người mẹ thủy tổ, cả hai hòa hợp sinh ra nhân loại. Trên vách đá hang động có từ thời tiền sử, hình ảnh Phục Hy – Nữ Oa được vẽ thành đầu người thân rắn, hai đuôi quấn vào nhau thể hiện sự khắng khít âm dương. Thần thoại người A Xương kể rằng Thiên Công Địa Mẫu yêu nhau, mang thai chín năm thì sinh được một hạt hồ lô. Về sau, từ trong hồ lô, thủy tổ nhân loại bước ra [Lâm Hà 2001: 139]. Xa hơn nữa, hồ lô còn là biểu trưng của tình yêu.

– Biểu trưng vũ trụ: Trong Đạo giáo, không gian bên trong là thế giới của thần tiên, là vũ trụ độc lập với bên ngoài, có thể biến to, cũng có thể thu nhỏ, thông với bên ngoài bằng một cửa hẹp: miệng hồ lô. Vũ trụ bên trong hồ lô chỉ có hạnh húc, có tiên cảnh, có sự thăng hoa mà không hề có chiến tranh, bất ổn của thế giới nhân sinh. Tác phẩm Thần Tiên Truyện của Cát Hồng (葛洪284-364) là một ví dụ:

Truyện kể rằng Phí Trường Phòng (费长房) làm tiểu quan trông chợ vùng Nhữ Nam (nay Hà Nam). Trong vùng có lão Hồ công đến chợ bán thuốc. Thuốc rất hiệu nghiệm nên ông rất được tin yêu. Ông đựng thuốc trong chiếc hồ lô bên thân. Tối, ông chui vào hồ lô mà ngủ. Phí Trường Phòng rình biết được, bèn tìm cách tiếp cận Hồ công. Ngày nọ, Hồ công dặn Phí Trường Phòng trời tối hãy đến. Đúng hẹn, Hồ công mời Phí Trường Phòng cùng ngao du bên trong hồ lô. Trong hồ lô, Phí Trường Phòng nhìn thấy khắp nơi đều là tiên cảnh, đài các, sơn thủy…

Bên trong hồ lô không chỉ có vũ trụ riêng mà còn có cả chuỗi không gian độc lập với thế giới bên ngoài: “non tiên chỉ bảy ngày, thế giới đã ngàn năm” (山中方七日,世上已千年sơn trung phương thất nhật, thế thượng dĩ thiên niên).

…Phí Trường Phòng chỉ ngao du hồ lô chưa đến một ngày đã trở về. Người nhà của ông không nhận ông, cho rằng ông đã chết từ bấy lâu rồi. Thì ra, thời gian đã trôi qua hơn một năm.

Trong một tích Đạo giáo khác, hai đạo sĩ Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên tiên đài, sống với các tiên nữ chỉ non nửa năm mà khi trở lại hạ giới, thời gian đã hơn 10 đời trôi qua [Trình Tường 2001: 122-123]. Từ điểm này chúng ta hiểu được vì sao các đạo sĩ thường lên non tu tiên ở những nơi “sơn cùng thủy tận”, đặc biệt là các “tiên động” (hang động) mà lối ra vào đều rất hẹp.

– Biểu trưng linh thiêng: một số tộc người vùng Tây Nam như Di, Miêu, Thủy, Cách Lao còn lưu truyền tục lấy hồ lô vẽ thành đầu rồng hay mộc hồ treo ở cửa ra vào với mục đích xua đuổi tà ma [www.china.com]. Khi cúng tế tổ tiên, một số dân tộc thiểu số mang hồ lô treo ở phía trước đàn tế, ngụ ý cấm người lạ vào nhà [Lâm Hà 2001: 145]. Trẻ em đeo chiếc hồ lô nhỏ trước ngực làm bùa và hy vọng đứa bé ấy sẽ có em trai, em gái về sau. Vào ngày tết Đoan ngọ, người dân mang hồ lô ra treo ngược trên đòn giông nhà, đợi đến giữa trưa thì mang xuống vứt đi, ngụ ý hồ lô hút hết độc khí, ám khí, hút hết xui xẻo.

b. Tính đa dụng

Tất cả các biểu trưng trên đây của hình ảnh chiếc hồ lô trong văn hóa đã tạo nên tính đa dụng của nó. Hình ảnh chiếc hồ lô vừa gần gũi, giản dị, phàm tục lại vừa linh thiêng, gợi vào lòng người một ý niệm xa xôi của biểu tượng thần tiên. Chiếc hồ lô xuất thân từ đời sống thường nhật của tầng lớp dân dã, qua bàn tay chế tác, khắc vẽ khéo léo của nghệ nhân đã trở thành những vật thưởng ngoạn của cả tầng lớp quý tộc lẫn bình dân. Hồ lô vừa là một dụng cụ đắc lực trong đời sống thường nhật (bình đựng, dụng cụ gieo trồng, v.v.) vừa là biểu tượng của tâm linh. Hồ lô mang trong mình nhiều ý nghĩa thiết thực nhưng cũng không kém phần triết lý: biểu trưng của linh hồn tổ tiên; của phúc lộc; của nữ tính; của ước vọng phồn thực; của ước vọng viên mãn, sung túc…

c. Tính phổ biến

Với các tính năng đặc thù của mình, hình ảnh chiếc hồ lô đã trở thành biểu tượng văn hóa của hàng loạt các tộc người tại Trung Hoa. Nó không chỉ là sản phẩm văn hóa của riêng tộc người nào, mà là thứ linh vật chung của cả khối cộng đồng. Xét về phân bố không gian, quả hồ lô được trồng rộng khắp cả vùng Nam Dương Tử, vùng Tây Nam Trung Quốc và một số nơi ở Hoa Bắc như Sơn Đông, Cam Túc, Thiểm Tây v.v. [Du Tu Linh 2001]. Với đặc tính dễ trồng, dễ sinh sôi, dễ thu hoạch, hồ lô tư nhiên đã trở nên rất phổ biến trong số các loại cây rau, củ, quả tại các địa phương. Xuất phát từ phạm vi không gian rộng như thế, khi hồ lô trở thành một thứ biểu tượng, nó hiện diện khắp nơi tại các vùng có trồng hồ lô. Xa hơn thế, qua quá trình giao lưu-truyền bá văn hóa, hình ảnh chiếc hồ lô văn hóa đã lan rộng khắp đất nước Trung Hoa.

Tại Đông Nam Á, hình tượng hồ lô sinh sôi cũng xuất hiện rộng rãi trong văn hoá các dân tộc với nhiều hình tượng bầu bí. Công năng và ‎nghĩa văn hóa của chiếc hồ lô cũng phong phú như ở Trung Hoa. Tại Việt Nam, tiêu biểu là vùng văn hóa Tây Nguyên, người dân vẫn dùng bình (bầu/nậm) hồ lô để đựng rượu, thuốc và các vật dụng cần thiết khác. Trong văn hoá người Việt, hình ảnh chiếc hồ lô sinh sôi được thay thế bằng một loại hình tượng gắn với tình đoàn kết các dân tộc anh em: sự tích quả bầu sinh ra các tộc người Việt Nam.

2. Chất phương Nam trong biểu tượng hồ lô

Xét về mặt không gian, hình tượng hồ lô phát sinh đầu tiên ở những vùng trồng trọt hồ lô tự nhiên. Tại Trung Hoa, đó là các vùng đất tương đối ẩm ướt, thuộc các đới khí hậu ôn đới ấm, cận thiệt đới tại lưu vực Dương Tử, Hoa Nam, Hoa Trung, cao nguyên Vân Qu‎ý v.v.. Các khu vực này trong lịch sử là vùng đất cư trú của các cộng đồng cư dân phi Hán như Miêu Man, Bách Bộc và Bách Việt. Cả ba cộng đồng này đều mang nguồn gốc nông nghiệp phương Nam. Điều này cũng dễ dàng lý giải, bởi vì hồ lô (bầu bí) là sản vật phổ biến của nền văn minh gieo trồng Đông Nam Á cổ. Chỉ mãi về sau, khi mà kỹ thuật canh nông của người Trung Hoa đã tiến bộ, người ta đã cho lai giống hồ lô và đem gieo trồng ở một số vùng đồng bằng Hoàng Hà và Trung Nguyên [Triệu Thân 2001: 87]. Ngày nay, các vùng quê Ngũ Lĩnh, Hải Nam vẫn trồng giàn hồ lô trước cửa nhà vừa cung cấp một lượng thực phẩm nhất định vừa thể hiện ước vọng phồn sinh.

Xét về mặt chủ thể, trong số 26 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có tục sùng bái hồ lô được khảo sát thì đa phần là các tộc người thiểu số sống rải rác ở khu vực Ngũ Lĩnh và cao nguyên Vân Qu‎ý. Ngay ở tộc người Hán thì việc sử dụng hồ lô làm biểu tượng văn hóa cũng chỉ phổ biến nhất tại miền Nam. Quá trình cộng cư, hợp chủng và giao thoa văn hóa đã “trao tay” cư dân người Hán truyền thống quý‎ trọng và sùng bái hồ lô.

Xét trên bình diện văn hóa dân gian thì hai lĩnh vực tín ngưỡng – tôn giáo và thần thoại thể hiện nhiều chất phương Nam nhất của hình tượng hồ lô. Trong tín ngưỡng – tôn giáo, thực tế tục sùng bái hồ lô gắn liền với tục sùng bái Phục Hy – Nữ Oa, sùng bái Bàn Hồ thần, sùng bái biểu tượng phồn thực v.v. phổ biến nhất ở vùng văn minh gieo trồng Nam Dương Tử. Đích xác hơn, các tín ngưỡng này thể hiện sâu sắc và gần với thời viễn cổ nhất trong văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số Nam Man, chẳng hạn như người Cơ Nặc ở Vân Nam, người Di ở cao nguyên Vân Quý và lòng chảo Tứ Xuyên, người Lê ở Hải Nam, người Choang ở Quảng Tây v.v.. Với tố chất nông nghiệp, cư dân Nam Trung Hoa vốn có tư duy trừu tượng, tổng hợp ở mức cao đã “biến” chiếc hồ lô thiên nhiên trở thành một thứ linh vật, một biểu tượng tâm linh, văn hóa. Còn trong tôn giáo, chỉ có Đạo giáo và Phật giáo tiếp nhận hình tượng hồ lô một cách tích cực, sâu sắc, đặc biệt là Đạo giáo. Hồ lô gắn liền với thế giới thần tiên, nơi chứa đựng bí quyết trường sinh bất lão, báu vật của các đạo sĩ. Đạo giáo hình thành ở phương Nam nên triết l‎ý – tư tưởng của Đạo giáo thấm đượm tinh thần phương Nam, gần gũi.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »