Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘con rùa’

Tìm hiểu trang trí biểu tượng trên gốm sứ TQ – 13: con rùa, chim hạc.

Con rùa

Theo sách về các nghi thức, kỳ lân, phượng hoàng, con rùa và rồng là 4 con vật linh. Rùa còn được gọi là huyền vũ – xuan wu (玄武), chiến binh đen; nó nắm quyền điều khiển phương Bắc của vũ trụ và biểu tượng cho mùa đông.

Cùng với chim hạc, cả hai đều là biểu trưng cổ xưa về trường thọ. Theo Ge wu zhi (格物志), sách ghi chép về khoa học, rùa có thể sống tới 1000 năm tuổi. Wang Chong (王充) trong sách Lun heng (论衡 – luận hành)lại nói rằng “ khi con rùa đã sống tới 300 năm tuổi, nó không to hơn một đồng tiền quan và có thể bò đi được trên một chiếc lá sen; khi được 3000 tuổi màu sắc của nó là màu thiên thanh có viền màu xanh lá và lúc đó kích thước của nó chỉ còn một bộ hai phân”. Đáng thích thú là motif vẽ rùa ở giửa trung tâm một lá sen đã được dùng trên gốm sứ dòng Yue trong suốt thời kỳ Ngũ Đại. Một ví dụ cho motif này trên gốm sứ đã được tìm thấy trên tàu đắm Cirebon tại Indonesia. Những motif như vậy cũng được tìm thấy trên gốm sứ Longquan.

tortoise

Chim hạc

Chim hạc được Đạo Lão lấy làm biểu trưng cho sự trường tồn. Nó là bạn đồng hành thường trực của thọ tinh – Thọ lão (shoulou). Thông thường các câu truyện cổ tích hay mô tả thần tiên xuất hiện cởi trên một con hạc. Việc một người bình thường trở thành tiên được khẳng định khi ông ta hóa hình thành chim hạc khi rời khỏi thế giới trần gian này. Theo sách Sưu Tiên Ký – Sou Xian Ji ( 搜仙记), Đinh Lệnh Uy – Ding Ling wei (丁令威), một người học phép tu tiên theo Đạo giáo, sau một nghìn năm khổ tập đã biến hình thành chim hạc để lên tiên cảnh.

Ngay cả cho đến ngày nay, trong xã hội Trung Hoa khi một người chết đi thì gia quyến và bằng hữu thông thường hay gửi phúng điếu với banner có ghi dòng chữ ‘Giá hạc Tây quy’ – Jia he xi gui (驾鹤西归), trở về tây phương trên một con hạc.

Những đồ án trang trí trên gốm sứ thông thường bao gồm chim hạc trong mây, chim hạc cùng với những biểu tượng khác về Thọ chẳng hạn như Thọ lão (ông thọ), cây thong, nai và nấm linh chi.

Cũng có ý nghĩa đậm nét hơn khi thiết kế bao gồm một chim hạc và nai. Đồ án được gọi tên là Lục hợp đồng xuân – liu he tong chun (六合同春). Trong tiếng Hoa nai và hạc phát âm nghe tương tợ như lục hợp (六合), diễn ý khắp mọi phương hướng của vủ trụ. Thiết kế như vậy mang ý nghĩa mùa xuân đến khắp nơi nơi và mọi tạo vật trên trái đất đều sinh sôi nảy nở. Điều này đặc biệt hiển nhiên hơn nếu thiết kế cũng bao gồm cả hình vẽ thảo mộc, hoa lá của mùa xuân.

Một đồ án lý thú khác bao gồm 6 chim hạc bay giữa những đám mây. 6 chim hạc đồng âm với lục hợp (六合), mà có nghĩa là sự bao gồm của 6 phương ( thiên (乾), địa (坤), bắc, nam, đông và tây ) ý nói khắp các phương của vủ trụ. Thiết kế này có tên ‘càn khôn lục hợp’ (乾坤六合). Như vậy , thiết kế này tượng trưng cho toàn bộ vủ trụ.

6cranes

KhanhHoaThuyNga dịch thuật

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số kiến trúc xưa ở Việt Nam

Hình tượng Rồng:
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước.

Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ăn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.

Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống… và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

– Hình tượng con Rùa: Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.

– Hình tượng chim Phượng: Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp.

Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái.

– Hình tượng con Hạc: ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Trong tứ  linh  ” Long, Lân, Qui, Phụng” , con nghê biểu tượng thuần Việt đã thay thế con Lân do vậy tứ  linh thú của người Việt là ” Long, Nghê, Qui, Phụng”. Xem thêm bài về hình tượng con nghê.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »