Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘chu đậu’

Mối liên hệ nào giửa gốm sứ Chu Đậu và sứ men lam cổ Vân Nam

Xin nhấn mạnh nguồn của bài dịch này từ  một website mua bán cổ vật gốm sứ  của Singapore. Cách lập luận của tác giả có dựa trên thiên kiến nào không là tùy độc giả nhận định. Dù sao bài viết vẫn chứa đựng các thông tin nội dung hửu ích về mặt kiến thức gốm sứ Trung Hoa.

Theo sách “ Lịch sử gốm sứ Trung Hoa” , đồ sứ men lam Vân Nam được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1960 tại một lò gốm cổ ở làng Yuxi wayao. Kể từ đó nhiều hàng sứ men lam đặc biệt là nhiều chum vại lớn đã được khai quật từ nhiều địa điểm mộ táng khác nhau. Dựa trên các nghiên cứu khảo cổ hiện có, các lò gốm cổ tọa lạc tại các vùng sau:
•    Vùng phía nam hồ Dian
Lò gốm Yuxi and Jian shui cách nhau 50 km ( sản xuất celadon, celadon với motif trang trí nâu do men có chứa chất sắt và đồ men lam. Hàng hóa men lam bao gồm chóe, bình lọ, đĩnh xông hương, bat và đĩa)
•    Vùng đông bắc hồ Dian
Lò gốm Dali ( Đã có nhiều cuộc khai quật mở rộng hơn nữa được tiến hành trong những năm từ 1993 đến 1995 tại địa điểm lò gốm cổ trong làng Fenyi shizi. Chủ yếu sản xuất celadon và hàng sứ men lam, bao gồm chén đĩa và một số lượng nhỏ chóe/bình/tượng. Một số loại hàng tương tự bằng vật liệu gốm cũng được sản xuất. Các thông tin chi tiết có thể tìm đọc tại các bài viết của Ông Duan JinMing, nhân sự của VBT Dali, quyển số 13 bộ sách Zhongguo Gu Taoci Yanj Jiu.
•    Vùng phía đông hồ Dian – Lu Feng
Điều đáng thú vị là người ta đã tìm thấy nhiều chum, vò lớn men lam tại các địa điểm mộ táng hỏa thiêu trong vùng này.

Vannammap

Đĩa celadon thời Minh, motif hoa văn ám họa

Đĩa celadon thời Minh, motif hoa văn ám họa

Đĩa celadon thời Minh, motif vẽ cá nâu chứa sắt

Đĩa celadon thời Minh, motif vẽ cá nâu chứa sắt

Hầu hết các chuyên gia gốm sứ tại Vân Nam đều đồng quan điểm rằng việc sản xuất đồ sứ (porcelain) bắt đầu sớm nhất là vào cuối thời kỳ nhà Tống.  Celadon được sản xuất sớm nhất, kế tiếp là sứ men lam . Họ cùng có nhận định là đồ sứ men lam Vân Nam đã sử dụng cobalt tại địa phương để làm ra những sản phẩm đầu tiên vào cuối thời nhà Nguyên. Thật ra thuật ngữ “Qing You Qing hua”, tức celadon có motif trang trí men lam, là được dùng để mô tả hàng men lam (blue and white). Về mặt cơ bản, các hàng hóa do Yuxi, Jianshui và Lu Feng sản xuất có chất lượng khá hơn và có cùng đặc điểm chung xét về kỷ thuật thiết kế và sản xuất, hình dáng và men – cốt gốm. Bởi vì Yuxi là địa điểm đầu tiên phát hiện ra hàng men lam Vân Nam nên hầu hết trong nghành gốm sứ đều gọi chúng là “dòng men lam Yuxi”
So với các vùng khác ở Trung Quốc, các thợ gốm Vân Nam sản xuất đồ sứ muộn hơn ít ra là cả ngàn năm. Người ta đồn rằng có hai làn sóng di dân từ vùng trung tâm TQ đến vùng Vân Nam đã mang lại những tiến bộ hơn trong lĩnh vực nông nghiệp và sản xuất ( bao gồm gốm sứ). Vân Nam được bao bọc bởi địa thế đồi núi và đã duy trì là một lảnh thổ tách biệt cho đến khi nó bị chinh phục bởi đạo quân của Kublai Khan. Làn sóng thứ hai diễn ra dưới thời Hoàng Đế Hồng Võ nhà Minh, hơn nửa triệu người di dân tới đây chỉ để canh tác đất đai. Một bằng chứng về khã năng hiện diện những người thợ gốm trong số người di dân là một bảng đá nhỏ được dựng để ca tụng công đức trong việc trùng tu đền Ci en tại Jianshui. Nội dung đề cập đến một nghệ nhân đến từ Cảnh Đức Trấn có họ là “che” đã lập một xưởng gốm tại đây. Điều thú vị đáng ghi nhận là phần nhiều đồ men lam Vân Nam đều thể hiện ảnh hưởng rỏ nét từ  phong  cách thời Hồng Võ nhiều hơn so với thời Nguyên.
Việc sản xuất hàng men lam Vân Nam dừng lại vào cuối thời nhà Minh. Từ giữa triều đại nhà Minh trở về sau, hàng men lam của Cảnh Đức Trấn được sản xuất với số lượng lớn và nhập vào Vân Nam. Vì chúng có chất lượng tốt hơn trong mức giá so sánh, nên chúng đã tác động đến kinh doanh của đối tác địa phương và hệ quả là đã hoàn toàn thay thế đối thủ. Số phận tương tự  cũng rơi xuống hàng men lam của Việt Nam mà trong suốt thế kỷ thứ 15 đã chiếm lỉnh thị trường nước ngoài vùng Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á và Trung Đông. Trong suốt đầu thế kỷ 15, Người Việt Nam đã lợi dụng cơ hội của chính sách cấm hoạt động trên biển của các Hoàng Đế thời kỳ đầu nhà Minh và trở thành lực lượng sản xuất chính lấp vào khoảng trống nguồn cung hàng men lam cho các khách hàng hải ngoại. Mối liên hệ giửa hàng men lam Việt Nam và Vân Nam là một chủ đề còn chưa được giải quyết khác, hiện tại vẫn còn bàn cải. Về mặt phong cách, các motif trang trí tương tự nhau ngay cả việc tương tự với hàng của Cảnh đức trấn khi so sánh. Ngay cả nước áo (đất sét lỏng) màu nâu thông thường nhận thấy ở phần đáy (đế) của hàng Việt Nam đôi khi cũng bắt gặp trên các đồ celadon hoặc men lam của Vân Nam. Các chuyên gia TQ cùng quan điểm cho rằng thợ gốm Việt Nam đã sao chép các trang trí của đồ men lam Vân Nam. Một cuộc thảo luận đã được đặt ra khi so sánh các món đồ men lam xưa nhất tìm thấy. Đồ vật men lam cổ nhất của Việt Nam là một bình “tianqiu” (1450) tại viện bảo tàng Topaki có hình dáng của thời Minh và phong cách trang trí theo kiểu thời Nguyên. Theo nguồn thông tin phía TQ, có ít nhất hai bình được phát hiện tại các địa điểm mộ tang khai quật, cái thứ nhất ghi “ năm thứ 9 đời Xuanguan”  tương đương với năm thứ 12 đời Hồng Võ nhà Minh (1380) và cái thứ hai ghi “ năm thứ 4 đời Xuande” tức 1429. Niên đại đầu tiên gây tranh luận nhiều hơn vì địa điểm chôn cất bị xâm phạm nghiêm trọng. Chiếc bình men lam thứ hai có trang trí motif hoa/sư tử được tìm thấy tại một ngôi mộ gần với ngôi mộ khác có bia mộ đề chữ “ năm thứ 4 đời Xuande”. Vì khu vực mộ này không bị xâm phạm, việc định niên đại được thừa nhận là đáng tin cậy. Từ đây, người ta rút ra kết luận nhũng người thợ gốm Vân Nam đã bắt đầu sản xuất hàng men lam sớm hơn và một cách hợp lý đã ảnh hưởng đến đối tác người Viêt. Các chuyên gia phương tây thông thường nhìn sự việc theo cách khác. Thực tế thì các hàng men lam của Việt Nam ban đầu đã sao chép các motif Nguyên một cách khá trung thành. Một vài món trong số này còn có các thuộc tính ghi niên đại cuối nhà Nguyên. Trong khi đó khi nói tới hàng hóa Vân nam cổ nhất, một vài vò lớn có niên đại cuối Nguyên nhung lại thể hiện các đặt tính của đồ men lam đầu nhà Minh ( ý nói do Việt Nam bắt chướt nên chậm đổi mode !?). Hơn nữa còn có một bằng chứng có khã năng giải thích được từ báo cáo viết bởi John Guy về một mẫu vật có niên đại sớm hơn có đồ họa hoa dây trên mảnh bát vỡ men lam được tìm thấy tại Ryukyus ( Nhật). có lẽ nó đã đến đây sớm nhất là vào khoảng 1363 nhung không thể muộn hơn 1416. Một cái chén tương tự có motif vẽ hoa màu nâu chứa sắt có niên đại 1330 đã được tìm thấy tại Nhật Bản. Di chuyển bằng đường bộ giửa Vân Nam và Việt Nam thực hiện dễ dàng hơn di chuyển đến các vùng khác tại Trung hoa. Bởi người thợ gốm Việt Nam đã dung cobalt của vùng Vân Nam trên nhiều hàng hóa men lam nên nó cũng là chứng cứ rỏ rang cho việc giao thoa này. Do thời điểm bắt đầu thời kỳ sản xuất  hàng men lam của Vân Nam và Việt Nam là rất sát nhau, vấn đề “ ai gây ảnh hưởng cho ai” sẽ hảy còn chưa phân định cho đến khi có một mặt bằng chứng cớ cụ thể hơn.

Vannam - Chudau comparision

So sánh cho thấy hàng Việt Nam có motif trang trí giống thời nhà Nguyên hơn. Tuy nhiên phong cách vẽ lá giống với cách vẽ trong chiếc bát men đỏ đồng thời Hồng Võ nhà Minh hơn. Phong cách vẽ hoa trên hàng Vân Nam tương tự  cách vẽ trong chiếc bát thời Hồng Võ. Phong cách vẽ mây trong các cánh đài sen ở hàng Vân Nam rất độc đáo và chỉ được dùng trên đồ sứ men lam Cảnh Đức Trấn thường xuyên hơn kể từ sau giửa thế kỷ 15.Phong cách vẽ mây tương tự cũng được tìm thấy ở các hàng hóa Việt Nam. Dựa trên viêc so sánh cho thấy rỏ ràng cả hai bình Việt Nam và Vân Nam đều được sản xuất sau thời nhà Nguyên.

Phong cách vẽ hoa và lá rất giống nhau giửa sứ men lam Việt Nam và Vân Nam

Phong cách vẽ hoa và lá rất giống nhau giửa sứ men lam Việt Nam và Vân Nam

Ngay cả nước áo (đất sét lỏng) màu nâu thông thường nhận thấy ở phần đáy (đế) của hàng Việt Nam cũng đôi khi bắt gặp trên các đồ celadon hoặc men lam của Vân Nam

Ngay cả nước áo (đất sét lỏng) màu nâu thông thường nhận thấy ở phần đáy (đế) của hàng Việt Nam cũng đôi khi bắt gặp trên các đồ celadon hoặc men lam của Vân Nam

Motif trang trí trên hàng men lam Vân nam nhất thiết phải được thực hiện bằng những nét cọ thư pháp. Cấu trúc vẽ này là việc mở rộng cáh thức trang trí nhiều lớp tiêu biểu của thời kỳ nhà Nguyên. Các đề án bao gồm hoa, phượng hoàng, cá , sư tử và motif vẽ nhân vật. Vật dụng bao gồm chủ yếu bát chén, các loại đĩa , vò chóe và lư hương. Một vài món men lam còn mang những kỷ thuật trang trí phụ chẳng hạn như motif chạm khắc một phần và/hoặc motif đắp nổi như những món hàng có hình tượng bát tiên.
Vannam1

Số lượng vò, chum lớn khai quật được từ các nơi chon cất là rất nhiều. Chúng được dung chủ yếu để đựng cốt tro. Hỏa thiêu là phong tục thong dụng cho người chết nhưng bị cấm thực hiện trong suốt thời kỳ nhà Minh. Vì vậy vào giửa thời kỳ nhà Minh việc sản xuất các chum vại lớn đã giảm sút đáng kể.
Khi so sánh với hàng Cảnh Đức Trấn, đồ men lam Vân Nam tương đối thô hơn vì căng thẳng nguyên vật liệu sẳn có để sản xuất. Việc sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng địa phương. Mặc dầu các thợ gốm Vân Nam sao chép các đồ án trang trí từ hàng men lam Cảnh Đức Trấn, về mặt phong cách các motif trang trí có tiến hóa và cộng thêm các yếu tố mới. Đồ sứ men lam Vân nam quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử đồ sứ men lam thời kỳ đầu vì nó là vùng duy nhất cùng với Cảnh Đức Trấn sản xuất đồ sứ loại này trong thời kỳ cuối Nguyên/ đầu nhà Minh.

KhanhHoaThuyNga dịch từ  Koh-antique

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Gốm Chu Đậu sau 400 năm thất truyền

Bấy lâu nay người ta chỉ biết đến gốm Bát Tràng, Quảng Ninh, Thổ Hà… kể cả những nhà nghiên cứu và giảng dạy về gốm sứ. Bởi lẽ họ chưa thấy có một trung tâm gốm nào thời Lê, nên khi thấy sản phẩm gốm hoa lam, gốm tam thái (3 màu – thực là 5 màu) thì nghĩ ngay là của Bát Tràng.

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Sự thật không phải. Bởi đến nay, Bát Tràng vẫn chưa đưa ra được sưu tập gốm hoa lam thế kỷ 14 – 15. Trong khi đó gốm hoa lam, gốm tam thái là mặt mạnh của Chu Đậu từ thế kỷ 14, cực thịnh ở thế kỷ 15 – 16, bị lụi tàn đi ở thế kỷ 17. Điều này do nhiều nguyên nhân: Nội chiến Lê Mạc kéo dài từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 rất khốc liệt. Nhà Mạc thất thủ phải lên ngàn. Nơi đây là vùng chiêm trũng của huyện Nam Sách. Mãi những năm cuối thập niên 20 thế kỷ trước Nam Sách mới có đê. Có nghĩa trước đó nước sông vào ra tự nhiên, tránh sao khỏi hư hại đến lò nung, sản xuất gặp nhiều khó khăn. Giặc Minh xâm lược nước ta, bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi. Một số khác tìm đường đi làm ăn ở Nhật, Nam, Bắc Triều Tiên. Nghệ nhân Vương Quốc Doanh đem thợ đến Bát Tràng, góp một phần làm cho gốm sứ Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay.

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

gốm chu đậu-1a

Chu Đậu là một vùng quê yên ả nằm bên tả ngạn sông Thái Bình thuộc trấn Thương Triệt, huyện Thanh Lâm, Nam Sách châu, nay là làng Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Theo các cụ già của làng kể lại thì xưa kia Chu Đậu là vùng Trần triều Hải khấu (cảng nhà Trần). Chữ Hán Chu là thuyền, Đậu là bến (bến thuyền đỗ). Nơi đây, thuyền bề ra vào tấp nập. Từ Chu Đậu, xuôi sông Thái Bình đến Nấu Khê, sang sông Kinh Thày ra cảng Vân Đồn – một cảng giao lưu với các nước của người Việt xưa. Cũng từ Chu Đậu xuôi sông Thái Bình sang sông Luộc đến Phố Hiến về Thăng Long – cũng là một thương cảng lớn từ thế kỷ XVII.

Từ lâu, người dân đồng bằng Bắc Bộ chỉ biết đến các làng gốm truyền thống Bát Tràng (Hà Nội), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Thổ Hà, Phù Lãng (Hà Bắc)… còn gốm Chu Đậu, căn cứ vào những di vật có ghi rõ niên hiệu thì đã hơn 400 năm thất truyền. Đến khi ông Makoto Anabuki nguyên Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội, năm 1980 trong chuyến công tác tại Istambul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, khi đến thăm bảo tàng Topkapi Saray đã nhìn thấy chiếc bình hoa lam quý giá có ghi dòng chữ Hán: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị hý bút” (nghĩa là: Năm Thái Hoà thứ tám (đời vua Lê Thánh Tông 1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách, vẽ chơi). Ông Makoto Anabuki đã viết thư cho Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng là ông Ngô Duy Đông, nhờ các khảo cổ học chỉ cho chiếc bình gốm đó có xuất sứ từ làng gốm nào.

Sau một thời gian điền dã, khảo sát những dấu vết từ làng gốm cổ, từ năm 1986 đến 1997, các nhà khảo cổ học tỉnh Hải Dương đã xác định được phạm vi di tích sản xuất gốm rộng 4 vạn mét vuông tập trung nhất tại khu vực giáp đê sông Thái Bình thuộc địa bàn xã Thái Tân và Minh Tân huyện Nam Sách. Sau 7 lần khai quật, kết quả thu được thật bất ngờ đối với giới chuyên môn, còn đối với người dân địa phương thì họ đã khám phá được quá khứ lẫy lừng của tổ tiên mình: Hơn 100 đáy lò dưới lòng đất, hơn một vạn hiện vật chủ yếu là bát, đĩa, hộp, lọ, bình… Biện pháp bắn cacbon đã xác định được những sản phẩm này có niên đại cách đây khoảng 500 đến 600 năm.

Theo các nhà nghiên cứu thì Chu Đậu xưa là một trung tâm gốm cao cấp, xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV, cực thịnh vào thế kỷ XV – XVI và tàn lụi vào thế kỷ XVII do nhiều nguyên nhân. Nội chiến giữa nhà Lê và nhà Mạc, vùng Nam Sách trong đó có làng gốm Chu Đậu đã bị tàn phá, các nghệ nhân làng gốm phải phiêu bạt đến vùng khác và lập nên các làng nghề gốm mới. Giặc Minh xâm lược nước ta đã bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi, một số khác di cư sang Nhật, Triều Tiên hoặc đi tìm đường làm ăn ở các làng gốm trong nước như nghệ nhân Vương Quốc Doanh đã dẫn cả một đoàn thợ lên làng gốm Bát Tràng, góp phần làm cho gốm Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay… Một nguyên nhân nữa là trấn Thương Triệt xưa là vùng chiêm trũng gần sông, dễ bị ngập lụt, khó tránh khỏi ảnh hưởng đến việc sản xuất gốm.

Cũng theo các nhà nghiên cứu, gốm Chu Đậu là sự kế thừa của gốm Vạn yên (Kiếp Bạc) thế kỷ XIII, gốm Lý – Trần về lớp men ngọc và tạo khắc hoa văn chìm nổi, kiểu dáng thanh thoát. Bởi vậy gốm Chu Đậu thời đó đã đạt được 4 tiêu chuẩn: Mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông. Một điều nữa là gốm Chu Đậu đã thể hiện được tâm hồn Việt qua hoa văn trang trí gắn với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân vùng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, cô gái lái đò, người đội nón, mặc áo tứ thân, kết tóc đuôi sam, những mái nhà tranh ven sông, hoa sen dây, hoa cúc quấn, cỏ cây chim cá… Giữa các sản phẩm thường có chữ Phúc, Chính, Sĩ, Hoa, Trung, Kim, Ngọc, Tàm, Quỳ, Trù…, có thể là tên hiệu của các chủ lò. Phương pháp chế tạo cũng đạt trình độ cao, đó là chuốt, tạo dáng trên bàn xoay, ngắt sản phẩm thành nhiều công đoạn rồi lắp ghép lại và gia công. Xương gốm phần lớn có màu xám nhạt, cứng rắn, có loại trắng đục, trắng trong. Phương pháp trang trí rất đa dạng, phóng khoáng, trữ tình, hài hòa, tinh xảo như vẽ, khắc, họa, đắp… sản phẩm được phủ và vẽ chất liệu men trắng hoa lam, men ngọc, men màu tam thái hoặc rạn đục…

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Người có công lớn với nghề gốm cổ truyền Chu Đậu là nghệ nhân Đặng Mậu Nghiệp tự là Huyền Thông, quê ở Hùng Thắng châu Nam Sách. Cũng tại bảo tàng Topkapi Saray ở thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) còn lưu giữ chiếc lư hương gốm mầu xanh xám của ông làm từ năm Hưng Trị thứ 2 (1589), một trong hai cổ vật gốm quý giá nhất của Chu Đậu. Người làng Chu Đâu xưa đã tôn ông là ông tổ nghề gốm Chu Đậu.

Đầu năm 1994, tại vùng biển Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam, ngư dân Duy Xuyên và Hội An đã phát hiện và lặn vớt được rất nhiều hiện vật gốm. Các nhà khảo cổ học Hội An, qua giám định khoa học, đã bất ngờ thấy rằng toàn bộ hiện vật gốm này đều có nguồn gốc từ làng gốm Chu Đậu, được sản xuất vào khảng thế kỷ XIV – XVI. Hơn 340 nghìn hiện vật gốm, trong đó khoảng trên 250 nghìn hiện vật còn lành, chứng tỏ từ xa xưa, gốm Chu Đậu đã được xuất cảng rộng rãi với số lượng lớn bằng con đường hàng hải. Như vậy Chu Đậu xưa là nơi hoạt động, sản xuất đồ gốm dân dụng và mỹ thuật phồn thình của cư dân Việt.

Đến nay, những sản phẩm gốm Chu Đậu đã được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên thế giới. Từ Ai Cập đến Trung Cận Đông và toàn bộ các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Nhật Bản là nước có sản phẩm gốm Chu Đậu nhiều nhất. Đến nay đã có 46 bảo tàng của các nước trên thế giới có trưng bày các hiện vật gốm Chu Đậu.

Giá trị của gốm Chu Đậu, sau khi được tìm thấy ở Cù Lao Chàm, đã làm sửng sốt trong giới học giả và mọi người. Tờ Việt Mercury số ra tháng 6/2000 đã đăng lời bà Dessa Goddard – Giám đốc ngành nghệ thuật Á Châu của nhà bán đấu giá Butterfields tại San Francisco: “Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta từng nghĩ là đã hoàn toàn biến mất”.

Người dân ở làng gốm Chu Đậu hầu như không ai hiểu, thậm chí nhiều người còn không hay biết ở làng có nghề gốm truyền thống nổi tiếng mà chỉ biết đến nghề dệt chiếu truyền thống có từ đầu thế kỷ XIX nếu không có cổ vật gốm Chu Đậu tại bảo tàng Topkapi Saray, thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ), hoặc hiện vật được trục vớt ở vùng biển Cù Lao Chàm và hiện vật khai quật được tại chính quê hương của họ. Sống trên mảnh đất đã sản sinh ra dòng gốm quý giá nhưng chẳng có người dân Chu Đậu nào ngày nay còn biết đến nghề này. Họ chỉ quẩn quanh với đồng ruộng và nghề dệt chiếu nên cuộc sống rất khó khăn.

Một sự kiện mang tính lịch sử đối với làng gốm cổ truyền Chu Đậu. Năm 2000, ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty Sản xuất, Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Hà Nội (HAPRO), người quê Nam Sách đã về Chu Đậu để thực hiện một dự án đầu tư sản xuất mặt hàng gốm xuất khẩu theo phương pháp phục chế gốm cổ và tạo mẫu sản phẩm mới theo phong cách gốm cổ Chu Đậu, nhằm khôi phục thương hiệu nổi tiếng của quê hương mình.


Nguồn ảnh minh họa gốm Chu Đậu sản xuất ngày nay: VânChi’s page, click trên hình để xem bigger size

Được sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân địa phương, tháng 10-2001, Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã ra đời và bắt đầu đi vào hoạt động với tổng số vốn đầu tư giai đoạn một là 24 tỷ đồng. Cơ sở rộng 33.250m2 được xây dựng bên dòng sông cổ chảy qua làng. Ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty cho biết: Giai đoạn đầu của xí nghiệp là mở cuộc săn lùng, sưu tầm những mẫu gốm cổ độc đáo, chiêu hiền đãi sĩ nhằm tập hợp những chuyên gia, nghệ nhân tài danh nhất trong các làng gốm cổ truyền đến xí nghiệp, cộng tác nghiên cứu để tìm ra từng loại gam màu của gốm cổ. Hơn 20 nghệ nhân từ Hà Nội, Bình Dương, Biên Hòa, Hải Dương… đã hợp tác với xí nghiệp, vừa nghiên cứu những nét đặc sắc của gốm cổ Chu Đậu, vừa thiết kế những mẫu sản phẩm mới để chuẩn bị đưa vào sản xuất. Gần 200 thanh niên, chủ yếu là người của làng Chu Đậu được tuyển chọn và đào tạo, truyền dạy kỹ thuật cơ bản và bí quyết trong từng công đoạn chế tác, nhằm tạo họ thành những tay thợ đầu đàn trong các lò gốm gia đình trong tương lai. Tiến tới, xí nghiệp mời các nghệ nhân đến dạy nghề cho con em địa phương trong những vùng lân cận.

Bắt đầu từ tháng 5 – 2003 Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã xuất khẩu lô hàng đầu tiên với 8490 sản phẩm trị giá 20.000USD sang thị trường Tây Ban Nha. Thế là sau gần 400 năm, Chu Đậu lại có hàng xuất sang Tây Ban Nha, nơi nhập chuyến hàng cuối cùng của Chu Đậu vào thế kỷ XVII.

Theo ông Nguyễn Văn Lưu giám đốc xí nghiệp thì: “Từ đó đến nay, xí nghiệp đã xuất khẩu nhiều lô hàng đến nhiều nước trên thế giới và sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng trong nước, gốm Chu Đậu đã thực sự hồi sinh và được đón nhận. Hơn 200 cán bộ và công nhân của xí nghiệp luôn có việc làm, thu nhập bình quân hàng tháng đạt 800 nghìn đồng mỗi người”.

Để giới thiệu sản phẩm gốm Chu Đậu của xí nghiệp với khách hàng trong nước, nước ngoài và với khách du lịch, mới đây xí nghiệp đã khánh thành nhà trưng bày và giới thiệu sản phẩm rộng trên 1000m2. Đồng thời với việc phát triển thương mại, UBND tỉnh Hải Dương cũng đầu tư để thôn Chu Đậu có cơ hội phát triển du lịch làng nghề. Đường từ thành phố về làng và đường nội bộ trong làng được nâng cấp. Đền thờ ông tổ nghề gốm Chu Đậu là Đặng Mậu Nghiệp được tu sửa khang trang. Các di tích lò gốm cổ được gìn giữ, nhà trưng bày gốm Chu Đậu, nơi lưu giữ nhiều hiện vật gốm cổ cũng được sửa sang đón khách. Cuộc sống của một làng nghề truyền thống đã từng bước cải thiện.

Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã làm thức dậy một làng nghề có một giấc ngủ dài 400 năm. Sản phẩm của xí nghiệp bắt đầu có tiếng trong nước và một số nước trên thế giới. Tuy nhiên đến làng Chu Đậu, cái không khí của một làng nghề truyền thống không có, bởi duy nhất chỉ có một Xí nghiệp gốm Chu Đậu nằm đơn độc ngoài bìa làng, trông giống như một liên doanh sản xuất công nghiệp.

Nhận thấy tầm quan trọng của việc khôi phục và phát triển một làng nghề gốm danh tiếng. Bộ Công nghiệp đồng ý và giao cho Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh cùng Sở Công nghiệp Hải Dương phối hợp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học nhằm khôi phục và phát triển làng gốm cổ Chu Đậu.

Như vậy, dự án khôi phục, phát triển sản xuất và du lịch làng nghề gốm cổ Chu Đậu sẽ làm sống lại một làng nghề sau nhiều năm bị thất truyền. Bộ mặt vùng quê thuần nông bên sông Thái Bình sẽ được thay đổi toàn diện. Hàng ngàn lao động sẽ có việc làm, đời sống của bà con làng nghề sẽ được cải thiện. Không khí làng nghề sẽ trở lại, thương hiệu gốm Chu Đậu Việt Nam sẽ hồi sinh, phát triển sau hơn 400 năm bị quên lãng.

Theo Hội Dân Tộc Học Việt Nam (VAE)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hoa văn trên gốm tàu cổ Cù Lao Chàm


Đĩa sứ men trắng vẽ lam. Ảnh: Xuân Hoàng

Gốm trên tàu cổ Cù Lao Chàm phong phú, với số lượng thống kê từ khai quật khoa học là 240.000 tiêu bản, đó là chưa kể suốt từ năm 1994 (1) đến năm 1997, ngư dân đã vớt được từ những cuộc lặn ngụp, cào quét với số lượng không thể thống kê và gần chục xe tải cỡ lớn những mảnh vỡ, hiện đang được bảo quản, lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Quảng Nam.

Gần đây, bộ đội biên phòng, công an tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định còn bắt được nhiều vụ buôn bán trái phép đồ gốm Cù Lao Chàm, khiến cho số lượng khó tin, đó là hàng hoá chỉ của một con tàu. Điều này còn được minh chứng qua lời kể của ông Nigel Kerr, chuyên gia lặn và là trưởng ban khảo sát của Công ty Saga Horizon  (Malaysia) khi phát hiện ở khu vực nhỏ hẹp, với toạ độ 16000 – 16008 vĩ tuyến và 108027’ – 108032’ kinh tuyến có tới hai ụ đất, giống với ụ đất đã vùi chiếc tàu cổ Cù Lao Chàm. Phải chăng, biển Cù Lao Chàm có nhiều tàu đắm và ít nhất có hai chiếc tàu chở gốm Việt Nam. Nhiều tàu đắm ở đây đã được sáng tỏ qua sưu tập gốm mà chúng tôi được xem của Bảo tàng Quảng Nam, do bộ đội biên phòng tỉnh thu giữ, cùng những thông tin thấy được từ phòng trưng bày gốm thương mại ở Hội An(2). Hai con tàu cùng đắm một lúc rất có thể xảy ra, khi chính sử Trung Quốc có ghi những đoàn tàu buôn của Trịnh Hoà đương thời, đi tới 62 chiếc**. Nguy hiểm và tai biến dọc đường cho những con tày xấu số rất dễ xảy ra. Nói như thế, để có  phần thanh minh cho bài viết này, nếu có nhận xét gì chưa bao quát thì âu cũng là sự tiếp nhận tư liệu, mới chỉ một con tàu đã khai quật, kết thúc năm 2000.Cũng phải nói ngay rằng, tư liệu được sử dụng ở bài viết về hoa văn gốm trong con tàu Cù Lao Chàm này, chỉ dừng lại ở gốm hàng hoá của Việt Nam, trong khi, cùng với chúng còn có gốm Trung Quốc, Thái Lan, mà theo tôi, đó là những vật dụng của thủy thủ đoàn, sẽ không là đối tượng khảo sát. Thiết tưởng như thế là chưa đủ, nhưng cũng không quá bận tâm, khi phần lớn chúng là gốm độc sắc, chỉ có một hai tiêu bản gốm men trắng vẽ lam thời Minh.

Khoanh đối tượng tư liệu khảo sát là như thế, song bài viết này cũng không có tham vọng thống kê được toàn bộ hoa văn trang trí gốm trong tàu, bởi chúng phong phú đến mức, cả Tống Trung Tín và tôi, trong báo cáo của mình, đã từng nhận xét: “hoa văn trên sưu tập gốm Cù Lao Chàm là phong phú nhất, đa dạng nhất, với nhiều đề tài mới lạ và vô cùng đẹp mắt”(3).

Nói như thế, xin được một dịp khác, với độc giả, quay lại đề tài này kỹ lưỡng và chu đáo hơn. Ở đây, tôi chỉ dám lướt nhìn các loại đề tài, theo đó, phân tích bút pháp trang trí, may chăng có đôi điều đóng góp vào cách nhận nhìn gốm Việt Nam thời Lê Sơ mà bao lâu nay, chưa mấy ai đề cập.

I- Điểm đôi nét về hoa văn trên gốm Cù Lao Chàm.

Gốm hàng hoá trên tàu cổ Cù Lao Chàm được đa số thống nhất là sản phẩm của các lò gốm thuộc các trung tâm gốm Hải Dương. Nói một cách cụ thể, đó là gốm của lò Chu Đậu, Mỹ Xá, Thăng Long.

Cho đến nay, còn có hai loại ý kiến về niên đại đồ gốm trên tàu. Học giả người Anh, Joh Guy, cho niên đại sưu tập này là nửa cuối thế kỷ XV(4). Tống Trung Tín, Vaxiliep, tôi và một số nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, chúng có niên đại vào nửa đầu của thế kỷ ấy(5). Lý do thì có nhiều, kể cả từ hai phía, nhưng, bài viết này, chỉ gợi mở, để độc giả cùng suy nghĩ và cũng là sự bắc nối cho những nhận định dưới đây về hoa văn trang trí, nên niên đại tàu chỉ là một tiêu chí tham khảo mà thôi.

Gốm tàu cổ Cù Lao Chàm không chỉ có hoa lam, dù gốm hoa lam là chủ yếu, bên cạnh đó còn có gốm độc sắc (men lam xám, men trắng, men nâu, men caladon) và gốm men nhiều màu. Kể cả men nhiều màu cũng như men độc sắc, đều có hoa văn trang trí, tuy kỹ thuật có khác nhau. Chi tiết của từng loại hoa văn được thể hiện trên từng loại men sẽ không được đề cập cụ thể, cho dù, có sự khác biệt đáng quan tâm. Dẫu vậy, ở đây, tôi xin được bàn nhiều tới hoa văn trên gốm men nhiều màu và gốm men trắng vẽ lam.
Có thể nói khái quát rằng, hoa văn trên hai loại gốm này của tàu cổ Cù Lao Chàm bao gồm hai kỹ thuật, vẽ lam dưới men trắng, nung nặng lửa và vẽ màu trên men trắng, nung nhẹ lửa. Đề tài thể hiện trên hai loại gốm này khá đa dạng, có thể tóm tắt như sau:
– Đề tài con người được coi là khá hiếm hoi trong phổ hệ gốm Việt Nam nói chung, gốm men trắng vẽ lam thời Lê nói riêng, thì với sưu tập này, lại khá phong phú. Có thể khẳng định được rằng, đây là sưu tập giàu có nhất từ trước tới nay về đề tài con người ta được biết. Đó là các vị nam thần, nữ thần, tiên ông, tiên bà, những quý tộc trong lầu son gác tía, các cụ già thả câu, chèo thuyền, các trai tráng quản tượng, những chiến binh, những trẻ em nô đùa, cưỡi trâu thổi sáo…

– Đề tài động vật được thể hiện dưới hai dạng thức, đó là những con vật linh: rồng, lân, rùa, phượng và những con vật có thật trong đời thường như sư tử, voi, hổ, ngựa, trâu, bò, khỉ, hươu, chim đại bàng, vẹt, chích choè, chào mào, sáo, bói cá, vịt, thiên nga, chim sâu, dơi…

– Ở đây, chúng ta cũng còn gặp các loại côn trùng được tả thực rất sinh động: ong, bướm, chuồn chuồn…

– Rồi, cũng ở đây, còn có sự hội tụ của các loài thủy sinh được miêu tả, theo tôi là ấn tượng nhất, qua những nét vẽ cực kỳ phóng khoáng, nhưng chi tiết đến lạ lùng. Rắn, cá chép, cá măng, cá trê, tôm, cua, ếch… đều được đặt trong bối cảnh sinh thái, nên sống động và hấp dẫn.

– Đề tài phong cảnh sơn thuỷ cũng được thể hiện khá đa dạng: nhà cửa, chùa tháp, cung điện, cầu cống, sông nước, mây trời… Rất nhiều trong số đó như những trường cảnh của một cuốn phim: Một người phụ nữ đang tắm, khuất lấp sau một bụi cây, xa xa là một chú nhóc trèo lên cây ngó nhìn trộm và một người đàn ông ngoảnh mặt, đưa quần áo cho người phụ nữ đang tắm với thái độ và cử chỉ quá vụng về. Rồi một “đám cưới trên sông” với một nam, một nữ ngồi trên thuyền. Chiếc ô rộng xoè chở che cho đôi uyên ương quá giang. Còn rất nhiều, rất nhiều những cảnh tương tự mà tôi chỉ đưa ra đôi ba dẫn dụ để làm cơ sở cho những nhận xét ở phần sau.

– Đề tài hoa lá, cây cối chiếm số lượng nhiều hơn cả. Đó là hoa sen, hoa cúc, hoa mẫu đơn, tùng, mai, cúc, trúc và các loại cây cổ thụ, được thể hiện khi thì phóng khoáng kể cả trên bố cục cũng như nét vẽ, khi thì khuôn cứng trong các băng hẹp, khi thì tỉa tót đến chi tiết. Những loại cây hoa lá ấy, không có nhiều sự lạ lẫm trong đồ án, mà rất phổ biến trên gốm vẽ lam Việt Nam.

Điểm đặc biệt đáng lưu ý ở sưu tập gốm Cù Lao Chàm là, chúng ta chỉ thấy hoa văn men lam vẽ dưới men nung nặng lửa được thể hiện sinh động trong đề tài cũng như nét vẽ. Những màu vàng, màu xanh lục, màu đỏ nâu vẽ trên men dường như không tham gia vào bố cục và đề tài như một thành  phần chủ yếu, mà đó chỉ là những đường viền điểm xuyết để tạo nên sự sang trọng, nhưng lại càng làm cho đề tài thêm khuôn cứng vào những đường viền ấy. Đây là một đặc điểm của gốm men nhiều màu Việt Nam, so với Trung Quốc, ít nhất nhìn từ sưu tập gốm Cù Lao Chàm. Đặc biệt, cũng ở sưu tập này, men màu còn có sự tham gia của vàng kim, được vẽ thành những mảng khối, để tạo nên những cánh sen, chủ yếu cũng chỉ là những đường viền trang trí cho hoạ tiết chính yếu là men lam. Cách thể hiện này một mặt làm cho gốm đa sắc Việt có thêm sự cao sang, quyền quý, nhưng một mặt khác, lại làm cho tính phóng khoáng, bay bướm vốn thường thấy trên hoa văn gốm Việt, bị khô cứng vì phong toả từ những đường viền. Đây lại là một đặc điểm phổ biến của trang trí gốm men vẽ vàng kim, bởi một lẽ, vàng là một nguyên liệu quý hiếm, không thể sử dụng như một màu sắc chủ đạo của các loại hoa văn.
Có thể chắc chắn rằng, tôi chưa nhìn thấy men màu nung nặng lửa trong sưu tập gốm Cù Lao Chàm. Đây cũng là một hiện tượng mà gốm men Trung Quốc đồng thời ít thấy. Ở Việt Nam, thời Mạc, và đặc biệt là thời Nguyễn, gốm men nhiều màu nung nặng lửa mới xuất hiện nhiều.

Như vậy, hoa văn trên gốm men nhiều màu tôi đã có đôi dòng phân tích, cũng chỉ là một sự lướt qua, để độc giả có một khái niệm đầy đủ hơn về kỹ thuật thể hiện hoa văn trên sưu tập gốm này và vài lời miêu tả để thấy đôi nét đặc biệt về kỹ thuật cùng sự phổ quát của đồ án không có mấy sự lạ lẫm, để phần viết dưới đây sẽ dành chủ yếu cho sự phân tích phong cách trên gốm men trắng vẽ lam.

II- Phong cách trang trí hoa văn trên gốm Cù Lao Chàm.

Hà Văn Cẩn, trong luận án tiến sĩ của mình, khi nói về gốm Việt Nam trong giai đoạn này, anh có đưa ra một khái niệm mới lạ, thuần Việt, đó là phong cách thoáng và phong cách chặt (6). Sự thoáng và chặt ở đây có lẽ bao hàm cả hoạ tiết và bố cục. Chắc cũng chẳng có gì sai. Thế nhưng, thuật ngữ hội hoạ truyền thống Đông Phương nói chung và trên gốm nói riêng, cũng tương tự khái niệm này, người ta dùng công bút và phóng bút. Dường như với hai thuật ngữ ấy, người ta quan tâm nhiều tới nét vẽ, tới phong cách vẽ. Có thể bố cục của một đồ án hoa văn rất chặt, thậm chí, khuôn cứng là đằng khác, nhưng trong đó, người ta vẫn dùng lối vẽ phóng bút, hoặc ngược lại, đồ án có thoáng rộng, hoạ sĩ vẫn có thể dùng lối công bút để biểu đạt. Nói như thế, tôi vẫn thích và ưa dùng khái niệm truyền thống xưa nay.

Trong sưu tập gốm cổ Cù Lao Chàm thể hiện khá rõ hai phong cách này. Có những đồ án vẽ cảnh người phụ nữ tắm, như tôi đã trích dẫn trên đây, và nhiều đồ án vẽ sơn thuỷ, tùng đình, tam hữu, cá chim, với những nét tỉ mỉ, li ti như sợi tóc được biểu đạt trên những hiện vật rất nhỏ, khuôn trong những hình tròn, ô vuông chữ nhật… Song, cũng là vẽ cảnh, vẽ người, mà hội hoạ truyền thống Trung Quốc ưa dùng lối công bút, thì nhiều hiện vật của gốm Cù Lao Chàm, dùng lối vẽ phóng bút để diễn tả. “Đám cưới trên sông”, đạo sĩ hay chim chích choè, thiên nga…, chỉ bằng đôi ba nét, đã tạo nên một bức tranh sinh động. Tôi ưa nhìn và xúc động trước những tác phẩm ấy hơn. Dường như công bút không thích hợp với người Việt và đó cũng là một nhược điểm bởi kỹ thuật nung, chất liệu men quy định.

Khảo sát men lam trên sưu tập gốm cổ Cù Lao Chàm, tôi thấy có hai loại, một là lam Hồi, có màu xanh như mực Cửu Long, được nghệ nhân sử dụng phổ biến cho lối vẽ công bút, bởi lam Hồi có ưu Việt là không bị nhoè, không bị chảy khi nung ở nhiệt độ cao. Trong khi ấy, một loại men lam xanh đen, mà người Trung Quốc coi đó là nội địa, hay bị nhoè, bị chảy, nên không thích hợp với lối vẽ này, do đó, sử dụng chủ yếu để vẽ phóng bút.

Có thể đây chỉ là nhận xét mang tính phổ biến, nhưng với thợ thủ công Việt, lam Hồi vẫn được sử dụng để phóng bút, mà rất nhiều tác phẩm trong sưu tập Cù Lao Chàm tôi đã thấy. Tuy nhiên, màu lam xanh đen được sử dụng triệt để hơn trong lối vẽ này.

Với hai lối vẽ trên đây, đã có không ít nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước bảo rằng, đó là hai truyền thống riêng biệt giữa gốm Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam ưa phóng bút. Trung Quốc có truyền thống công bút. Và, cũng bởi thế, họ cho rằng, rất nhiều những sản  phẩm gốm Việt Nam xuất khẩu hoặc cung đình, hoàng tộc có lối vẽ công bút, do thợ gốm Trung Quốc làm. Lý do lịch sử được viện dẫn, bởi nhà Minh bế quan toả cảng (“Thốn bản bất hạ hải”), nên rất nhiều thợ từ Trung quốc sang Việt Nam làm thuê hoặc mở lò sản xuất, tạo điều kiện cho ngành nghề thủ công làm gốm của Việt Nam phát triển và hàng hoá gốm chiếm lĩnh thị trường thế giới ở thế kỷ XV – một thế kỷ hoàng kim của gốm sứ Đại Việt. Lý do hiện vật, họ lấy chiếc bình gốm Việt Nam nổi tiếng ở Thổ Nhĩ Kỳ, có niên đại Thái Hoà (1450), có minh văn nói về người phụ nữ họ Bùi vẽ chơi, mà chính bà là thợ gốm Trung Quốc di cư xuống Việt Nam, đến vùng Hải Dương để biểu diễn tài vẽ của mình.

Tương tự ý kiến này, các nhà nghiên cứu gốm Úc Châu, khi đến làm việc ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, có xem chiếc bình gốm mà Nguyễn Đình Chiến và Diệp Đình Hoa (7) cho là của thời Nguyên, còn tôi thì cho là của Việt Nam sản xuất, có niên đại và hoa văn trang trí giống như bình Istambun(8), thì họ đã đồng ý về niên đại và xuất xứ chiếc bình, song cho đó là sản phẩm của thợ gốm Trung Quốc.

Có lẽ trong chúng ta, không mấy ai phủ nhận mối quan hệ, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các trung tâm sản xuất gốm đương thời và trong mối giao lưu ấy, tần số phát sóng của các trung tâm gốm Trung quốc có thể mạnh hơn, khiến cho cả gốm Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan… chịu ảnh hưởng. Nhưng, đó ắt không phải là sản phẩm trực tiếp của người thợ gốm Trung Quốc. Nhìn sưu tập gốm cổ Cù Lao Chàm, lối vẽ rất Việt dường như được thể hiện rất đậm trên từng tiêu bản tôi đã nhận ra, kể cả phong cách lẫn thể tài trang trí.

Trước hết, nói về phong cách, tôi có thể đưa ra hàng loạt ví dụ, để thấy rằng, ngay cả trên những sản phẩm vẽ công bút, nếu được coi là truyền thống vẽ Trung Quốc, thì tính quy chuẩn trong các đồ án hoa văn không cao. Đây lại dường như là một đặc điểm rất nổi trội trên gốm cổ Việt Nam. Cũng có người bảo rằng, sự thiếu quy chuẩn ấy, không thể lấy các sản phẩm lò quan Cảnh Đức Trấn để so sánh, mà gốm Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ gốm Quảng Đông (Trung Quốc) và những sản phẩm ấy là của thợ gốm Quảng Đông vẽ. Tôi chưa có mấy sự so sánh với gốm Quảng Đông đồng thời với sưu tập này, nhưng muộn hơn đó chút ít, cách vẽ của gốm Quảng Đông hoàn toàn khác. Tính bảo lưu và truyền thống sao dễ thay đổi được!

Cũng thuộc về phong cách, tôi thấy gốm sứ Trung Quốc tuân thủ chặt chẽ luật viễn cận (xa gần), bởi thế, mỗi tác phẩm của họ như một bức tranh của một hoạ sĩ. Trên những bức tranh ấy, các nhân vật được thể hiện khá chi tiết, mang tính giải phẫu của hội hoạ hiện đại. Thế nhưng, trên rất nhiều đồ gốm Cù Lao Chàm, cũng là những bức tranh, yếu tố ước lệ dường như vẫn là nét hằng xuyên của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Ở đây, ta còn gặp những tác phẩm không hề tuân thủ luật xa gần, không có không gian ba chiều, khiến cho chúng ta ngờ ngợ đó là những bức tranh dân gian của Đông Hồ, Kinh Bắc. Thật khó có một tư liệu để chứng minh nguồn gốc của những bức tranh dân gian kia là từ đây hoặc sớm hơn thế, nhưng phong cách thể hiện ấy, không thể phủ nhận sự giống nhau giữa chúng. Tuy nhiên, không phải tất cả gốm cổ Cù Lao Chàm được thể hiện như thế, cũng có nhiều bức tranh vẽ theo nguyên tắc của luật viễn cận, song nội dung đề tài lại hoàn toàn mang tính dân gian.

Có thể đưa ra một ví dụ rất điển hình, đã được giới thiệu, đó là cảnh người phụ nữ đang tắm. Đây là một loại đề tài ta chỉ thấy trong nghệ thuật dân gian. Và, trên không ít những mảng điêu khắc gỗ đình làng Việt đương thời, cũng thể hiện nhiều cảnh sinh hoạt dân gian, mà một trong những tác phẩm tiêu biểu là cảnh phụ nữ tắm trong đầm sen, được giới nghệ thuật cho đó như là một sự hoà quyện giữa nghệ thuật tôn giáo với nghệ thuật dân gian, để tạo nên một truyền thống nghệ thuật Việt, khó phân biệt đâu là cung đình, đâu là dân gian, đâu là tôn giáo.

Dân gian thì ở đâu mà chẳng có. Nghệ thuật gốm sứ ngoài cung đình của Trung Quốc cũng rất nhiều. Thế nhưng, những cảnh như thế này trên gốm sứ xuất khẩu, có lẽ chỉ thấy ở Việt Nam.

Dường như trong sưu tập gốm Cù Lao Chàm, mặc dù có rất nhiều tiêu bản vẽ sơn thuỷ, phong cảnh, tùng đài, song không hề thấy một nguyên mẫu nào của tích cổ Trung Hoa, trong khi ấy, ở Trung Quốc đương thời, tích Tam Quốc diễn nghĩa, Thuỷ Hử… là những đề tài thường được khai thác tối đa. Cũng vậy, trên gốm Cù Lao Chàm có “tam hữu”, “tứ quý”, “tứ linh”, nhưng cách diễn tả, bố cục không hề giống chút nào với gốm Trung Hoa cũng thể hiện những đề tài tương tự.

Tôi có thể trích dẫn ra đây rất nhiều tiêu bản để độc giả thấy được những yếu tố đặc trưng gốm Việt bên cạnh những thành tố ảnh hưởng Trung Hoa. Nhưng, những ảnh hưởng ấy không thể biến chúng như là những sản phẩm của người thợ gốm Hoa làm trên đất Việt. Đó chính là mục đích tôi muốn gửi gắm đến người đọc, những người quan tâm, để cùng chiêm nghiệm thêm, nếu như được tiếp xúc với gốm Việt Nam nói chung và gốm Cù Lao Chàm nói riêng.

Tôi không phải là người quá cực đoan để tôn vinh những giá trị văn hoá truyền thống Việt, mà trong đó, di sản gốm được xem như một địa hạt nổi trội. Hãy đặt mình chỉ là một người quan tâm, chứ chưa phải đã là yêu văn hoá Việt, sẽ thấy được giá trị ấy. Bài viết này chỉ là một gợi ý rất nhỏ để định thêm giá trị riêng biệt của gốm cổ Việt, một di sản đã được một số học giả thế giới thừa nhận, đang và sẽ được tôn vinh trong giới sưu tập cổ ngoạn thế giới cũng như trong nước. Đó là điểm đáng tự hào của gốm sứ Việt Nam mà chúng ta cần phát huy cho nghề gốm hôm nay.

TS.Phạm Quốc Quân

______________

Chú thích:
1- Trịnh Cao Tưởng: Báo cáo sơ bộ về tàu thuyền cổ bị đắm chìm trong vùng cửa biển Hội An, Quảng Nam-Đà Nẵng – trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1994.
– Trịnh Cao Tưởng và Seichi Ki-ku-chi: Thêm thông tin về con tàu chở gốm Chu Đậu ở thế kỷ XVI bị đắm ở ngoài khơi của cửa biển Hội An – trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1995.
2- Trong sưu tập gốm này, có rất nhiều hiện vật lạ, mà chúng tôi cho rằng, chúng có niên đại Hán – Đường, thế kỷ I-III và thế kỷ VII-X.
3- Phạm Quốc Quân – Tống Trung Tín: Báo cáo kết quả khai quật khảo cổ học dưới nước tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam) (1997-1999) – Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
4- John Guy: Bài nghiên cứu trong catalogue gốm cổ Hội An bán đấu giá ở Mỹ năm 2000 do Butterfild Auctioneers copr thực hiện. Treasures from the Hội An Hord Vol 1.
5- Phạm Quốc Quân, Tống Trung Tín, đã dẫn.
– Phạm Quốc Quân, trong bài đề dẫn catalogue gốm cổ Hội An bán đấu giá ở Mỹ năm 2000 do Butterfild Auctioneers copr thực hiện. Treasures from the Hội An Hord Vol 1.
6- Hà Văn Cẩn: Các trung tâm sản xuất gốm sứ cổ ở Hải Dương. Luận án tiến sĩ khảo cổ học, năm 2000, tư liệu Viện Khảo cổ học.
7- Nguyễn Đình Chiến – Diệp Đình Hoa: Về chiếc bình gốm hoa lam mới trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1992.
8- Phạm Quốc Quân: Bàn về ảnh hưởng của gốm sứ Trung Hoa đối với gốm Việt Nam. Khảo cổ học, số 4-1992.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đồ cổ… sexy

Từ thuở xa xưa ông bà ta đã biết cách đưa cái hồn nhiên, thuần phác trong đời sống riêng tư, thể hiện trên các vật dụng lễ hội hoặc đồ dùng thường ngày.

Mặt những trống đồng cổ nhất được tìm thấy như Ngọc Lũ, Miếu Môn có khắc nổi các cặp sinh thực khí nam nữ lồng vào nhau trong nghi lễ cầu mong sự sinh sôi nảy nở; trên nắp thạp đồng Đào Thịnh nổi tiếng, có đúc bốn cặp tượng trai gái đang trong tư thế giao duyên; cán dao găm Đông Sơn lại thể hiện một đôi có hai đầu, thân áp vào nhau liền làm một, cùng gắn bó trong một chiếc đai thắt lưng lớn…

Cặp sinh thực khí

Cặp sinh thực khí

Còn dưới đây là chuyện về món đồ cổ độc đáo liên quan đến… sexy.

Chuyện thứ nhất: Khoảng năm 1977, khi khai quật di chỉ tại Đông Sơn, Thanh Hoá người ta đã tìm thấy một pho tượng đồng đen nhỏ cao chừng 10 cm. Pho tượng làm bằng khuôn sáp đẹp lạ thường, khác hẳn những di vật đã tìm được liên quan đến nền văn hoá Đông Sơn. Vả lại, cái cách thể hiện sexy một cách quá ấn tượng của “ai đó” với pho tượng, làm chính hai vị giáo sư chủ trì cuộc khai quật là Diệp Đình Hoa và Chử Văn Tần cũng thấy ngại ngần khi đăng tấm ảnh của nó trên tạp chí Khảo cổ học. Đó là một người nam khoả thân đang tư thế giơ một chân, hai tay ôm vòng cung, cái “sinh thực khí” của anh ta thì được phóng đại rất… dễ sợ (ảnh dưới).

do-co-2
Hình ảnh làm các nhà khảo cổ… đỏ mặt.

Do tóc người này xoăn tít mà có nhà khảo cổ giả thiết pho tượng xuất xứ từ châu Phi bởi một hoàn cảnh nào đó đã “lạc” sang ta. Thế rồi một ngày cuối năm 1987, có ông già người ở chính cái làng đã khai quật 10 năm về trước, mang đến viện Khảo cổ học Hà Nội một pho tượng đồng cũng rất lạ. Đó là một người nữ, kích cỡ nhỏ bé hơn pho kể trên một chút, tay trái vắt lên che mặt e thẹn, tay phải như cố giấu phần hở hang phía dưới.

do-co-1
Người phụ nữ đang e thẹn che mặt…

Thật bất ngờ, khi đưa người nữ vào trong vòng tay của pho tượng người nam tóc xoăn kia, thì hoàn toàn trùng khít, đích thị là một đôi uyên ương đang say sưa tình tứ.

Nhiều năm nay, tiến sĩ Nguyễn Việt, giám đốc trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, đã đưa ảnh và cả khuôn mẫu hai pho tượng này đi giới thiệu, trao đổi với đồng nghiệp ở nhiều bảo tàng, ĐH Mỹ, châu Âu, Australia, Nhật… nhưng vẫn chưa tìm được lời giải đáp thoả đáng, về nguồn gốc của mỗi pho tượng và liệu chúng có mối liên hệ thực sự nào với nhau không.

Chuyện thứ hai. Hoạt cảnh nóng. Năm 2002, công an Quảng Nam thu giữ một số đồ cổ mua lậu từ dân địa phương lặn tìm cổ vật của chiếc thuyền buôn thế kỷ trước bị đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm. Trong số đó có một đĩa gốm Chu Đậu, do vận chuyển đã bị mẻ một góc, song còn nhìn rõ trong lòng đĩa mô tả một cuộc làm tình trong tư thế khá là… hiện đại.

do-co4
Hình ảnh cuộc giao hoan trong tư thế khá… hiện đại.

Chu Đậu là làng gốm thuộc tỉnh Hải Dương, hưng thịnh vào thế kỷ 14 – 16. Chiếc đĩa gốm này được chế tác từ thời nhà Hồ, nhà Mạc, hình vẽ thể hiện sự tự do cá nhân, mạnh bạo trong tình yêu, đó là thời kỳ sau những cải cách tiến bộ của Hồ Quý Ly, đã tác động làm rạn nứt phần nào ý thức hệ phong kiến Nho – Khổng hàng nghìn năm ngự trị.

Về hình sexy trong đĩa, có thể giải thích theo cách là: có một chàng thợ gốm trẻ vô danh của lò gốm Chu Đậu kia, khi đang làm việc chợt nhớ đến cô gái mình yêu, tưởng tượng, nghịch ngợm vẽ những nét khoáng đạt lên cái đĩa ấy, rồi để lẫn vào các đĩa khác đem nung. Và, thứ sản phẩm đơn chiếc đó còn sót lại sau bao cuộc bể dâu, hiện diện đến ngày hôm nay như một minh chứng về đời sống văn hoá phồn thực trong thôn xóm Việt vài trăm năm về trước.

Dù là cảnh “lạ kỳ”, nhưng chiếc đĩa này đã được giới thiệu trang trọng trong cuốn Gốm sứ trên 5 con tàu cổ ở vùng biển Việt Nam.

Chuyện thứ ba Đến cảnh “tắm tiên”?

Nhưng không chỉ có thế. Bức tranh trên chiếc ang cổ (đáy 12,5cm, cao 22,5cm) này cũng vớt được từ tàu đắm Cù Lao Chàm và khiến các nhà nghiên cứu hết sức thú vị. Đó là một hoạt cảnh đặc sắc: một cô gái tóc dài ngồi bên chum nước. Có thể hình dung là cô gái đang ngồi “tắm tiên” (?). Một một đàn ông bưng quần áo đến cho cô thay, không hiểu đó là người chồng hay người hầu?

Lại có một người nữa đứng nấp sau gốc cây, rõ ràng là nhòm trộm, nhưng nhìn kỹ thì giống một cô hầu tinh nghịch hơn là một bậc “tu mi nam tử” nào đó thích rình mò.

Cảnh cô gái tắm bên chum nước.

Cảnh cô gái tắm bên chum nước.

Bức tranh được vẽ trên mặt gốm hoa lam, với những nét vẽ phác qua đơn giản, cho nên rất khó đoán định nội dung: Là một minh họa cho một điển tích cụ thể nào đó (hơi xa xôi quá để liên tưởng tới Truyện Kiều: Buồng the phải buổi thong dong/ Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa/ Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Đầy đầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên) hay chỉ là một bức vẽ chơi? nhận định của chuyên gia nghiêng về khả năng đó là nét vẽ nghịch chơi đầy ngẫu hứng của người họa sỹ vẽ gốm cách đây đã hơn 500 năm.

Dưới đây là một số đồ tôi cho là giả cổ cũng… very “sexy”

do-co5

do-co6

do-co7

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Tản Mạn về Gốm Cổ Hội An

Cổ Vật và Nghệ Thuật

Những năm gần đây, sau cuộc khai quật một chiếc tàu buôn đồ gốm được thực hiện gần Cù Lao Chàm ngoài khơi của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam thuộc miền trung nước Việt Nam bị chìm vào khoảng giữa thế kỷ 15,ngoài một số được bảo tồn và trưng bày tại những bảo tàn viện trong nội địa, người ta bắt đầu thấy nhan nhản những cổ vật được mời mọc, rao bán từ những tiệm buôn bán đồ cổ ở các địa phương như Hà Nội, Hội An, Sài Gòn… hoặc trên những trang mạng internet với danh hiệu là đồ gốm Hội An.  Kết quả của những cuộc nghiên cứu về sau cho thấy những cổ vật này không phải được làm tại Hội An mà được sản xuất tại những lò gốm khác nhau, đa số được thành hình từ những lò ở phạm vi tỉnh Hải Dương mà lúc bấy giờ là một trong những nơi sản xuất đồ gốm rất mạnh mẽ.  Ở một nơi quá thuận lợi cho việc giao dịch với những xứ đàng ngoài.  Hội An, một thị trấn miền duyên hải miền Trung nước Việt vào thế kỷ thứ 15 đã là một thương cảng sầm uất nhất trong thời gian này, là một nơi tiếp nhận và trao đổi những hàng hoá qua các thương thuyền từ khắp nơi trong vùng Châu Á: Trung Hoa, Nhật Bổn đến từ miền Bắc,  cũng như các thương thuyền từ Âu Châu như Anh, Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha dde^’n từ vùng biển miền Nam.

Bối cảnh lịch sử

Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 15, nhà Minh bên Trung Quốc thời bấy giờ vì phải một mặt đối đầu với quân Mông Cổ từ phương Bắc, một mặt với nỗi đau còn ray rức về thất bại trong mộng chinh phục phương Nam trước đó bị đánh bại bỡi vua Lê Thái Tổ cộng với nội bộ lũng củng nên đã ra lệnh tuyệt đối cấm giao thương với những nước lân bang và ngoại quốc, nhất là theo hệ thống đường biển.  Thị trường đồ gốm vì lý do đó mà trở nên khan hiếm và không đủ số lượng để cung cấp cho đồ dụng trong nước và để trao đổi hàng hóa giữa các nước ngoại quốc.  Các lò gốm Việt Nam lúc bấy giờ đã lợi dụng cơ hội để tăng gia sản xuất hầu đáp ứng nhu cầu càng ngày càng tăng.  Những cuộc đào xới của giới khảo cỗ ở miền Bắc gần đây cho thấy trong thời gian từ thế kỷ thứ 15 và 16 những lò gốm xuất hiện rãi rác trải dài từ Hải Dương cho đến Hà Nội và đó cũng là thời gian cực thịnh nhất của ngành gốm của người Việt trong lịch sữ cận đại về phương diện số lượng xuất khẩu, phẩm chất và nhất là nghệ thuật.

Trong chuyến hải hành của một thương thuyền từ bến Vân Đồn (gần Hải Phòng) trực chỉ về phương Nam để giao hàng đến các nước vùng Đông Nam Á, sức nặng của những kiện hàng đã vượt qua khả Năng chịu đựng của chiếc tàu cho nên khi vừa qua vùng Cù Lao Chàm thì bị thêm ảnh hưởng sóng to gió lớn của một cơn bão. Chiếc thương thuyền với toàn bộ thuỷ thủ, thương gia và những kiện hàng bị chìm xuống lòng biển sâu mang theo sự bí ẩn của ngành đồ gốm Việt Nam trong khoảng thời gian hơn 5 thế kỷ.  Điều làm cho giới khảo cổ phấn khởi về khám phá ra chiếc tàu chìm là trong lòng tàu sau hơn 500 năm dưới lòng đại dương nay lại đươc khơi ra đã trả lời phần nào những nỗi suy tư mà họ đã có từ bao lâu naỵ  Trong số những cổ vật gốm được vớt lên vào năm 1997 gồm có những bình, dĩa, chén, tô, lọ mực, hoặc những chum rượu có tượng hình được gợi ý từ những dạng của thú vật (chim, két, gà, vịt..) hoặc hoa quả (bầu, bí..) với nhiều tranh ảnh dân gian và những hoa văn đầy Việt tính được bao bộc dưới lớp men qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.


Hình 1: Những Cổ Vật Hội An / Butterfields Auction, 2000

Cổ Vật và Nghệ Thuật Hội Họa

Nhưng quan trọng nhất lại là phẩm chất của nhiều cổ vật sau khi được hoàn chỉnh với những phương tiện tối tân của công ty trúng thầu Saga (Mã Lai) liên hợp với công ty Visal của nhà nước Việt Nam cho việc khai quật đã được phục hồi đến mức gần như tuyệt hão.  Căn cứ theo hợp đồng thì nhà nước cộng sản giữ lại một phần những cổ vật được đánh giá cao cấp nhất để dùng vào việc trưng bày tại các cơ quan văn hoá (tủ kính của mấy ông lớn cũng có thể được gọi là cơ quan văn hoá?) và những bảo tàng viện rải rác trong nước.  Phần còn lại, công ty Saga được quyền xữ dụng vào việc thương mại rao bán trong giới tư nhân qua những cuộc đấu gía tại nhiều nơi trên thế giới.  Trong số gần 150,000 cổ vật được kiểm tra, ngoài một số bị hao mòn bởi sự phô trương quá lâu dưới độ sâu của nươc mặn, có một số gần như ở trạng thái nguyên vẹn như lúc mới đươc tạo hình. Sự khám phá chiếc tàu này đã làm đảo lộn sự suy nghĩ về nghệ thuật đồ gốm trải qua nhiều thế hệ và là một nguồn hào hứng vô tận của các nhà khảo cổ chuyên môn cũng như các nhà sưu tập đồ gốm từ mọi nơi trên thế giới.


Hình 2:  Con chim sẽ / Hội An (giữa t.k.15)  private collection


Hinh 3: Long Phụng / (Nhà Minh, t.k.15) private collection

(ảnh minh họa bị thất lạc)

Trong số những cổ vật được đem ra ánh sáng, đa số là đồ gốm loại men lam, men trắng, men nâu và một số ít là loại không men như đồ sành để làm những vật gia dụng hằng  ngày như lu, tô, chén, dĩa.  Nhưng điểm son của những kiện hàng này là những đồ dùng cao cấp về hình dạng, cách tráng men và hội họa mà tính đặc thù của chúng đã xác đinh rõ ràng vị trí độc lập về cách phát họa, ý tưởng và trình bày của những nghệ nhận Việt thời bấy giờ; cho thấy sự vượt thoát khỏi khuôn khổ, nề nếp mà đã từng bao nhiêu năm có nhiều quan niệm cho rằng trong thời gian này các sản phẫm của nước Việt chúng ta đều thuần túy chịu ảnh hưởng bỡi ông láng giềng to xác từ phương Bắc.  Hình 2 và 3 đưa ra thí dụ điển hình về sự khác biệt rõ rệt giữa nghệ thuật của người Việt và Hán tộc về khía cạnh hội họa trên những tác phẩm được sản xuất ở một thời điểm rất gần nhau. Qua nét bút lông của một nghệ nhân Việt, con chim sẻ bay lượn trên cánh đồng cỏ (hinh 2). Những nét vẽ đượm tính dân gian đơn sơ, mộc mạc nhưng lại biểu lộ được sự bay bướm đầy năng động chấm phá của từng nét cọ. Những đường nét đó đã tạo nên một sự rung động nơi người thưởng lãm cũng giống như sự rung động khi đối diện với những đường nét từ các hoạ sĩ thời danh như Bé Ký, Nguyễn thị Hợp.. ở thời điểm sau hơn 5 thế kỹ. Trong đó người ta không thấy sự gò bó, khuôn khổ, đồng đều, cầu kỳ, khách sáo, vương giả như được phát họa trên cái lọ được sản xuất từ phương Bắc (hình 3). Đối với giới thưởng ngoạn, thưởng thức nghệ thuật đồ gốm của Tàu thì mát con mắt; nhìn nét vẽ trên gốm của người Việt thì lại thấy mát con tim.


Hình 4: Những Con Nghê trên Cổ Vật / Butterfields Auction, 2000

Hình ảnh con nghê, một linh vật nhân gian thuần túy của người Việt được xữ dụng một cách quen thuộc trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc qua những triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần… ở đây được trình bày một cách trang trọng trên những dĩa gốm trắng men lam (hinh 4). Những chi tiết cho thấy sự sáng tạo của người họa sĩ với nguồn cảm hứng vô tận. Mỗi cỗ vật được vuốt ve, chăm sóc với một kiểu cách khác nhau. Người họa sĩ đã xữ dụng thiên khiếu của mình vào mỗi tác phẩm với một đam mê, hòa nhập tâm hồn của mình vào những đường nét lã lướt nhưng không quên chấm phá vài nét trào phúng cho đời thêm vui.  Ở một thời mà khái niệm về năng động (motion), ấn tượng (impression), trừu tượng (abstract), không gian 3 chiều với định nghĩa về chiều sâu được thễ hiện qua bóng nổi (shades and shadows) chưa có một thế đứng rõ rệt trong nghệ thuật cỗ điển trên thế giới mà tại một nơi nào đó ở vùng đất Việt nhỏ bé, những nghệ nhân bằng một cách khiêm nhường đã biết gạt bỏ những lề lối, truyền thống mà đưa ra những mô thức mà người đời mấy trăm năm sau phải suy gẫm và thán phục.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

 

Read Full Post »

Chu Đậu, đồ gốm cổ truyền Việt Nam

m-4_vitrine_bleu___blanc_l_


Sau nền mỹ thuật đồ gốm rực rỡ thời Lý Trần, từ cuối thế kỷ 14 ở Việt Nam ta thấy phát triển loại men, loại hoa văn vô cùng độc đáo, rất cao cả về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Đó là thời kỳ tột đỉnh của đồ gốm Việt Nam, loại đồ gốm mà ngày nay được biết dưới tên “Đồ Gốm Chu Đậu”.

Đồ gốm Chu Đậu chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy biển suốt mấy trăm năm. Những món còn được lưu giữ ở các viện bảo tàng bên Châu Âu thì đã từng bị xếp lộn vào đồ gốm Trung Hoa.

Gốm Chu Đậu chỉ được biết đến và tìm hiểu từ khi ông Makato Anabuki (thuộc tòa đại sứ Nhật Bản ở Hà Nội) nhìn thấy ở viện bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Turkey) một bình cao cổ men trắng xanh, hoa văn cánh sen và hoa mẫu đơn, với câu “Thái Hoà bát niên. Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút” – nghĩa là: Ở phủ Nam Sách, năm Thái Hòa thứ tám, bà họa sĩ họ Bùi vẽ chơi. Địa danh Nam Sách Châu cho ta biết nơi chế tạo (châu Nam Sách tỉnh Hải Dương), và chữ Thái Hòa bát niên cho ta biết năm chế tạo (1450 năm Thái Hòa thứ tám, đời vua Lê Nhân Tông).

Từ đây những nhà khảo cổ mới hướng về phủ Nam Sách, rồi năm 1983 ở làng Chu Đậu, dưới vườn nhà một nông dân là ông Vang, người ta đào được các di tích lò gốm. Rồi việc tìm kiếm, khai quật bắt đầu, và tìm thấy cả một nền đồ gốm rực rỡ, thịnh vượng kéo dài 3, 4 thế kỷ. Những khai quật này đưa đến trung tâm của nền nghệ thuật này: Phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Ở đây ngoài làng Chu Đậu còn có các lò gốm khác ở làng Vạn Yên, làng Gốm, làng Ngói, làng Phú Điền, làng Phúc Lão, làng Cậy…. Đồ gốm Chu Đậu được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ, đình chùa, từ đường và nhiều nhất là dưới các tầu buôn chìm ngoài khơi Hội An, Đà Nẵng…

Từ đây người ta ít gọi các món đồ này là đồ gốm Chu Đậu.

Gọi là đồ gốm Chu Đậu, bởi vì đây là nơi di tích các lò gốm cổ sản xuất loại đồ gốm này được khám phá ra trước nhất. Những khai quật trong năm 1986, 1987, 1989, 1991, 1992 và 1993, cho thấy đồ gốm Chu Đậu được sản xuất ở rất nhiều nơi gần bờ sông trong tỉnh Hải Dương mà tập trung nhiều nhất ở phủ Nam Sách.

Đồ gốm Chu Đậu hình dáng thanh tao, nước men trong mà mỏng, hoa văn đầy hình ảnh đời sống thôn làng Việt Nam. Đồ gốm Chu Đậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ 14, rực rỡ nhất vào thế kỷ 15, 16 rồi tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, trong khi các lò gốm khác ở Hải Dương còn sản xuất những món đồ không men (nồi đất, chum, vại…) cho đến thế kỷ 18, hay cho mãi đến bây giờ như làng Cậy, làng Lâm Xuyên (chuyên làm nồi đất không men).

Làng Chu Đậu từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu, họ không biết làm đồ gốm nữa và cũng không ngờ rằng ông cha họ đã từng làm những món đồ gốm tinh xảo, tuyệt mỹ. Các lò gốm ngày xưa nay đã nằm sâu dưới ruộng nương, vườn tược. Một địa danh trong làng là “Đống Lò” nhưng chính dân làng vẫn không biết là lò gì.

Bao quanh bởi nhiều con sông lớn, người dân làng Chu Đậu có những phương tiện giao thông tiện lợi. Họ có thể chuyển đồ lên Thăng Long, ra Phố Hiến, Vân Đồn để bán trong nước, để xuất cảng ra nước ngoài. Họ có thể chuyên chở đất sét mịn mua từ Hố Lao (Đông Triều, Quảng Yên) chỉ cách đó 30km một cách nhanh chóng, dễ dàng. Thành công về thương mãi, họ có cơ hội, có phương tiện, có động cơ phát huy nghệ thuật và kỹ thuật rất cao. Những dòng họ tài danh nhất về đồ gốm ở làng Chu Đậu là họ Đặng, họ Vương. họ Bùi, họ Đỗ. Với những kỳ tài như Vợ chồng Đặng Huyền Thông – Nguyễn Thị Đỉnh, Đặng Hữu, Đặng Tính Không…

Đồ gốm Chu Đậu cũng có nhiều thứ như men ngọc (celadon), men nâu, men trắng, men lục. Tuy nhiên tiêu biểu nhất là men trắng trong với hoa văn mầu xanh (men trắng chàm) và men trắng trong với hoa văn ba mầu vàng, đỏ nâu và xanh lục (men tam thái)

Men ngọc, men trắng, men nâu và men nâu đen thường bị lẫn với đồ gốm đời Lý Trần, tuy nhiên, hoa văn trên men Lý nhiều ảnh hưởng Phật Giáo, hoa văn Chu Đậu phản ảnh đời sống nông thôn Việt Nam, hoa văn trên men Lý thường được vẽ bằng cách khắc chìm hay khắc nổi, hoa văn Chu Đậu được vẽ bằng men mầu. Men ngọc thời Chu Đậu cầm thấy nặng tay, chất đất thô hơn và tiếng gõ không thanh như men ngọc của người Tầu. Bình ấm thời Lý thường có vòi hình đầu rồng, hình vòi voi, hình đầu chim… Các bát đĩa đời Lý thường còn xót lại dấu con kê rõ ràng, đồ gốm Chu Đậu khéo hơn dấu con kê không còn nữa. Đáy các chén đĩa thời Lý thường để trơ đất mộc, đáy của đồ gốm Chu Đậu thường được quét một lớp son nâu, mầu đậm, thường khi vẫn còn nguyên dấu bút. Lớp son nâu này không phải là men, mà chỉ là một lớp son pha bằng mầu nâu rất mỏng để bảo vệ đáy chén đĩa.

Men trắng Chàm và men tam thái nổi danh và được ưa chuộng hơn cả. Men trắng chàm chiếm số lượng cao nhất. Các món đồ vớt được ở ngoài khơi Đà Nẵng – Hội An cũng đều là men trắng chàm. Do đó, khi nói về đồ gốm Chu Đậu, người ta chỉ thường biết về loại này mà ít để ý đến các loại men khác. Đồ gốm Chu Đậu men trắng chàm thường thấy bây giờ là những món Chu Đậu chúng tôi coi là thuộc hạng kém hơn về phẩm chất. Những món có phẩm chất cao, tuyệt đẹp đã nằm trong tay các nhà sưu tập chuyên nghiệp ở Au Châu, ở Úc Châu, ở Singapore, ở Hong Kong, ở các viện bảo tàng Au Châu và Ả Rập… Từ đầu thập niên 1980 cho đến cuối thập niên 1990, những nhà sưu tập này đã vào Việt Nam vào mua hết tất cả, với những giá rất rẻ. Loại đồ gốm Chu Đậu hạng nhất này nhiều món đẹp tuyệt vời, bứt xa đồ nhà Minh, và đẹp không kém gì đồ gốm men lam của nhà Thanh bên Tầu.

Tuyệt vời nhất là hoa văn trên men trắng chàm và men tam thái. Hình ảnh thuần túy Việt Nam. Họ vẽ tàu lá chuối, nhánh rong, chim sẻ, chim chích chòe, con tôm, con cá bống, con cóc, con rùa, cọng rau muống, bông hoa cúc, hoa sen. Cũng như các bình ấm Việt Nam đời trước, thảng hoặc lắm ta mới thấy một vài bình, ấm thời Chu Đậu có quai cầm, còn ngoài ra, nơi quai cầm chỉ là một vật trang trí như con rùa, con cá, bông sen… theo đúng truyền thống đồ gốm Việt Nam từ các thời trước.

Về thứ loại, về hình dạng thì đồ gốm Chu Đậu thật phong phú: Bát chân cao, Bát chân thấp, Tô, Đĩa, Chén, Tước, Bình, Ấm, Au, Chậu, Lu, Hũ, Chậu, Bát Hương, Bát Trầm, Chân Đèn, Hộp, Lọ, Bình Vôi, nghiên mực thì lại cũng dùng hình ảnh nông thôn như nghiên mực hình con trâu, con cua, rồi lại còn đồ chơi của trẻ em như các hình tượng con gà, con cóc, con lợn, người cưỡi ngựa… thôi thì đủ cả, từ các món đồ dùng trong nhà người dân, trong đình chùa, trong nhà giới trưởng giả, cho đến đồ xuất cảng… Nhưng xem đồ gốm Chu Đậu mà bỏ qua bình tỳ bà thì thật là uổng. Món này xa lạ với sinh hoạt dân gian Việt Nam. Ngoài các cuộc khai quật ở các lò gốm cũ ở làng Chu Đậu, loại bình này thường được tìm thấy từ các tầu buôn đắm ngoài khơi Hội An – Đà Nẵng. Phải chăng nó chỉ được làm để xuất cảng sang Ả Rập? Người Ả Rập dùng làm gì?

Như tên gọi bình tỳ bà có hình dáng giống cây đàn tỳ bà để dựng đứng. Mình thuôn tròn, cổ nhỏ, miệng loe, thân tròn phình to. Thường có bốn tầng hoa văn, trong lòng miệng bình cũng có h ình vẽ hoa lá. Tầng thứ nhất ở chung quanh cổ bình hoặc vẽ những tầu lá chuối hay hình cây lúa, tầng thứ hai thì khi hình hoa cúc, hoa mẫu đơn, khi thì những chuỗi hình xoắn ốc đứng, tầng thứ ba lớn nhất là hình chim chích choè, chim sẻ hay là những ô vẽ đợt sóng biển bên cạnh những ô vẽ hình hoa lá, tầng dưới cùng là các ô với những vòng tròn hình bầu dục chồng lên nhau.

Tước (hay bôi), tức là ly uống rượu chân cao, thì ngoài những tước men ngọc, mầu xanh trong, còn có những sáng kiến kỳ diệu như tước thần kim quy. Ẩn trong chân tước này là một quả nổi để lộ hình rùa thần kim quy ngồi dưới đáy, khi rượu được rót vào, thì hình thần kim quy từ từ nổi lên theo mực rượu trong lòng tước.

Đĩa Chu Đậu rất đẹp, men trắng trong với hoa văn mầu chàm. Có những đĩa tam thái rất lớn (đường kính đến khoả ng 50cm), nhưng thường thường thì vào khoảng hơn 25cm đường kính. Vành đĩa là một vành rộng 5cm vẽ cành rau, nhánh lá, tâm đĩa vẽ nhiều hình rất đẹp: Hình con công, con vạc, con nghê, cá chép vượt vũ môn, hươu chạy trên đồng cỏ, bên khóm trúc, bờ lúa, đôi chích chòe, đàn vịt bơi trên hồ sen, trận thủy chiến, cành mai, đóa cúc, đóa mẫu đơn… đường kính độ 15cm. Vành ngoài thành đĩa cũng vẽ những hình hoa lá rất chi tiết. Hoa văn mầu xanh chàm, đĩa lớn thì thường là men ba mầu (Tam Thái).

Bát Chu Đậu cũng thường là men trắng chàm, đường kính ở miệng bát từ 14 đến 16cm, cao từ 8 đến 10cm. Nhiều loại hoa văn khác nhau. Khi thì chim sẻ đậu trên cành mai, khi thì đóa cúc, đóa mẫu đơn, khi thì lại là khóm phong lan… trong lòng bát.

Một món đồ kỳ thú, có hình dáng nửa đĩa nửa bát. Đường kính miệng độ 11cm, đường kính đáy độ 7cm, cái thấp thì cao gần 4cm, cái cao vào khoảng hơn 6cm. Những món này không thấy có trong đồ gốm đời Lý Trần, mà cũng không thấy trong đời sống người Việt. Tới chừng thấy người Ả Rập bây giờ dùng một thứ tương tự để uống trà, ta mới hay đây là đồ dùng để chỉ xuất cảng sang vùng đó.

Cũng làm để xuất cảng sang Ả Rập là các hộp phấn và lọ nước hoa. Hộp phấn tròn, lọ nhỏ Vành miệng thường là hoa sen, thân lọ thì là cành hoa, nhành lá rất mỹ thuật. Thảng hoặc ta lạI thấy một loại đĩa nhỏ độ 4, 5cm, có chân, trong lòng không tráng men, nhưng lại có hoa văn rất dầy chạm bằng mũi nhọn làm cho lòng đĩa nhám. Loại này hay bị tưởng lầm là một thứ đế kê các chén nhỏ, nhưng thật ra, đây là đĩa của phụ nữ thời xưa dùng để dồi phấn bôi mặt.

Ngoài ra còn có rất nhiều hồ rượu hoa văn trắng chàm và hoa văn tam thái. Lại có các hồ rượu hình chim vẹt hình con gà, các chén uống trà có quai cầm là chim vẹt. Lư hương và chân đèn thời Chu Đậu lớn và đẹp vô cùng. Có những chân đèn cao 70, 80cm, lư hương cao 35, 40cm. Một số lớn có ký tên người làm và đề rõ năm tháng, như vợ chồng Đặng Huyền Thông – Nguyễn Thị Đỉnh, vợ chồng Đỗ Xuân Vi, Lê Thị Ngọc, vợ chồng Bùi Duệ, Lê Thị Cận, Đặng Hữu, Đặng Tính Không, Bà họ Đỗ ở Phủ Quốc Oai, Bà họ Bùi ở Phủ Nam Sách… Chân đèn gồm hai phần chồng lên nhau, chỗ cắm nến rất lớn, đắp nổi hình rồng bốn móng. chứng tỏ đây là đồ dùng trong chùa. Năm tháng đề trên các món này tỏ rõ một giai đoạn lịch sử. Hải Dương là quê hương giòng họ Mạc. Những món đã làm khi nhà Mạc chưa lên (1527) thì đề niên hiệu vua Lê. Khi nước ta chia hai thành Bắc Triều (nhà Mạc) và Nam Triều (nhà Lê) thì các niên hiệu trên những món đồ gốm này là niên h ệu của nhà Mạc Mậu Hợp (Diên Thành, Đoan Thái, Hưng Trị) chứ không phải là niên hiệu nhà Lê nữa. Chân đèn cũng vẫn là men trắng hoa văn mầu chàm, thường gồm năm tần, dưói cùng là vành hoa sen, có khi đắp nổi hình những bông cúc, rồi đến thân của chân đèn là hai tầng lớn, tầng dưới là những hoa cúc, tầng trên là hình rồng uốn quanh, đắp nổi bằng đất mộc. Đây vẫn là con rồng Việt Nam: mình nhỏ dài, uyển chuyển, vẩy láng, râu dài, mặt hiền chứ không phải con rồng Tầu của đời Nguyễn sau này (mà buồn thay ta vẫn thấy người Việt bây giờ vẽ). Lư hương rất đẹp, nhiều cái hình tròn, nhưng nhiều cái lại hình chữ nhật, rất nhiều hoa văn rất nhiều hình chạm, hình đắp nổi hoa sen, hoa cúc và những biểu tượng Phật Giáo.

Đồ gốm Chu Đậu, những món tuyệt phẩm, những hoa văn dân tộc, những nước men trong mịn, những hình dạng thanh tú. Khởi đi xuốt những ngàn năm lịch sử phát triển dân tộc, qủa tình đến đây đồ gốm Việt Nam trở nên những món hàng được ưa chuộng từ trong nước đến ngoài thị trường quốc tế. Nào xuất cảng sang Nhật Bản, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan cho đ ến những nước Ả Rập xa xôi. Lại cũng được ưa chuộng, lưu giữ trong các nhà qúy tộc Au Châu (Năm 1590, Duke of Florence đã tặng cho Prince-Elector of Saxony một bình Chu Đậu tuyệt đẹp. Bình này hiện nay được chưng trong viện bảo tàng Johannaun ở Thụy Điển). Người Nhật rất hãnh diện về Trà Đạo của họ, nhưng mấy người Việt biết rằng Trà Đạo chỉ mới xuất hiện ở Nhật Bản từ thế kỷ 16. Và các ấm, bát uống trà của Trà Đạo Nhật chính là những món đồ gốm Chu Đậu

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

 

TƯ LIỆU ĐÁNG ĐỌC VỀ GỐM CỔ VIỆT NAM

ĐỒ GỐM CHU ĐẬU

Tựa là về đồ gốm Chu Đậu, nhưng thật ra bài viết bao quát liên quan đến đồ gốm cổ Việt Nam nói chung hiện diện trên các viện Bảo Tàng quốc tế. Dưới đây chỉ là khái quát lại của cả một công trình nghiên cứu về Lịch sử và nhân văn nước Việt Nam ta, tuy nhiên cũng đủ giúp người đọc chỉnh trang lại kiến thức và hướng về chân lý chưa được nhìn nhận đúng đắn về nhiều vấn đề liên quan đến gốm sứ  cồ Việt Nam cũng như về nghề gốm tại Việt Nam.

Bùi Ngọc Tuấn
Về đồ gốm Chu Đậu

Trước hết tôi xin cảm ơn ông Phong Uyên và các độc giả xa gần đã đọc và hưởng ứng loạt bài về đồ gốm cổ Việt Nam. Mỗi bài đúng ra là một chương sách trong 10 chương của quyển Đồ gốm cổ, một nền văn hóa thuần Việt mà chúng tôi đang chuẩn bị xuất bản, ngoài phần bài viết còn rất nhiều hình ảnh đồ gốm Việt Nam từ đời Hán thuộc cho đến đời nhà Nguyễn, mà chúng tôi đã may mắn sưu tập được từ trong nhiều năm qua. Thứ tự các chương sách này cũng khác với thứ tự thời gian xuất hiện trên talawas. Tôi phổ biến các chương sách này trên talawas vì đây là cơ hội để các bài viết này đến được với nhiều người đọc trong và ngoài Việt Nam hơn; dù rằng với khuôn khổ trên talawas thì phần hình ảnh đồ gốm phải lược bỏ rất nhiều.

Có một số vị đã tìm được địa chỉ email của riêng tôi để hỏi mua quyển sách này, tuy nhiên vì công việc ấn loát còn đang trong vòng chuẩn bị nên tôi xin hẹn đến ngày hoàn tất.

Tôi cũng xin lỗi ông Phong Uyên và tất cả các bạn đọc vì đã bê trễ trong việc trả lời. Thật ra thì trong vòng 12 tháng qua, chúng tôi đã dọn nhà 3 lần, đi xa hàng nghìn dặm, nên không những sinh hoạt bị xáo trộn mà sách vở, tài liệu và ngay cả bộ sưu tập đồ gốm cũng phải đóng gói kỹ lưỡng, cất trong kho. Khi cần đến thì không sao tham khảo được. Tuy thế cũng không thể trì hoãn lâu hơn nữa, nên hôm nay viết ít dòng này để đáp lại những chân tình của ông Phong Uyên, các độc giả và ban biên tập talawas. Bởi vì không có gì sung sướng hơn khi bài mình viết ra có người đọc, thưởng thức, hưởng ứng và đối thoại, góp ý như thế này.

Từ hơn ba chục năm qua, tôi không còn là người dân Việt Nam nữa, mà đã tự chọn làm một người gốc Việt. Tuy thế niềm cố quốc vẫn không nguôi, tuy thế vẫn là một người Việt Nam về phương diện văn hóa. Bởi vì cái gì rồi cũng sẽ qua đi, duy có văn hóa dân tộc thì vẫn còn mãi mãi khi vẫn còn người tìm hiểu, đọc và viết về văn hóa, vẫn còn người sống, duy trì, phổ biến và chuyển biến nền văn hóa ấy. Tự biết rằng những điều mình viết về đồ gốm cổ Việt Nam vẫn có nhiều thiếu sót nhưng ngặt một điều là ít người biết đến nền văn hóa phong phú, cá biệt và tuyệt mỹ ấy, số người viết về đề tài này lại càng lẻ tẻ, thưa thớt, nên tôi viết để cố gióng lên một tiếng chuông để những người Việt Nam và những người gốc Việt tìm hiểu và phổ biến nét đẹp riêng của dân tộc, không của một chính thể hay quyền lực nhất thời nào – bởi vì một vài chục năm, một trăm năm nào có nghĩa gì trong dòng lịch sử rất dài của dân Việt. (Người khác nói “bốn nghìn năm văn hiến”, tức là kể từ đời Hùng Vương thứ nhất năm 2789 trước Công nguyên, cho đến nay 2006 sau Công nguyên đã là 4795 năm. Tôi thích kể lịch sử Việt Nam từ thời văn hóa Hòa Bình, từ 10.000 năm nay). Tôi hy vọng rằng sẽ có nhiều người yêu thích đồ gốm Việt Nam, viết và ca ngợi văn hóa Việt Nam để đính chính lại những sai lầm mà trong rất nhiều năm qua, từ tầm nhìn hạn hẹp của một số nhà Nho cũ, từ những kiêu ngạo ngang ngược của người viết sử Tàu, từ những cố chấp, mù quáng của những nhà viết sách người Pháp, tạo ra. Rồi sau đó được chấp nhận do sự hời hợt của nhiều trí thức, nhà báo, nhà giáo Việt Nam.

Tôi không chê văn hóa Trung Hoa, hay chê đồ gốm Trung Hoa. Tôi đã từng viết đồ gốm Trung Hoa cực đẹp. Nhiều người chuộng đồ gốm Trung Hoa chỉ vì nó đẹp, người khác chuộng không những chỉ vì nó đẹp, nhưng lại thêm vì không biết rằng đồ gốm Việt Nam cũng rất đẹp, một cái đẹp rất Việt Nam, rất khác cái đẹp Trung Hoa. Như tôi thường viết, cái đẹp của đồ gốm Trung Hoa là cái đẹp của thơ Lý Bạch, cái đẹp của đồ gốm Việt Nam là thơ Nguyễn Khuyến. Tôi thích đồ gốm Trung Hoa, nhưng tôi yêu đồ gốm Việt Nam. Cũng chẳng khác gì việc tôi thích cái đẹp của nhiều cô gái mình từng gặp trên đời, nhưng tôi yêu cái đẹp của vợ tôi. Người khác nghĩ sao mặc lòng.

Cà kê dài dòng mà vẫn chưa trả lời các câu hỏi của ông Phong Uyên, vậy thì nay xin nói thẳng:

1. Để được rõ thêm, tôi đã gọi điện thoại về Hải Dương để tham khảo với ông Tăng Bá Hoành (nguyên là Giám đốc Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương), người có công lớn nhất trong việc khai quật, lưu trữ, nghiên cứu về đồ gốm Chu Đậu, thì được ông cho biết thêm là từ năm 1980, (khi nhận được thư của ông Makato Anabuki, và xác định được niên đại và nguồn gốc của bình Tokapi Saray) thì những khai quật và tìm hiểu ở Chu Đậu kế đó là do Viện bảo tàng Hải Dương tự làm, chứ chính quyền trung ương ở Hà Nội không góp phần. Vì thế mặc dù nhóm ông Tăng Bá Hoành ở Hải Dương rất muốn sang Istanbul để xem tận mắt chiếc bình Tokapi Saray này – và biết đâu lại chẳng nhận diện được nhiều món đồ Chu Đậu khác đang được lưu giữ tại đó – nhưng họ đã không có đủ ngân khoản để thực hiện. Vì thế mọi liên lạc, tìm hiểu với Tokapi Saray chỉ là qua thư từ. Cho nên, cho đến nay, không có một phái đoàn chính thức nào của Việt Nam đến Tokapi Saray.

Người Việt Nam nổi tiếng về đồ cổ đã đến viện bảo tàng Tokapi Saray là cụ Vương Hồng Sển. Trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 240-241) cụ viết về chuyến viếng thăm Viện bảo tàng Tokapi Saray năm 1963 như sau: “Viện Tokapi chứa đồ céladon đến số muôn số thiên gồm đồ đời Tống, đời Nguyên, đời Minh, luôn cả đồ đời Kiền Long nhà Thanh…”

Trên hơn một trang giấy, cụ Vương không hề nhắc đến trong “số muôn số thiên” ấy có cái bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, mà cũng không nói là viện Tokapi Saray có trưng đồ Việt Nam hay không. Hoặc giả là cụ không nhìn thấy cái bình ấy, hoặïc giả là có thấy mà cho là đồ đời Minh, đời Thanh (Cụ Vương không đọc rành chữ Hán, mà có khi cụ cũng không biết châu Nam Sách là một nơi ở tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam).

Ông Phong Uyên kể rằng đã đến Viện bảo tàng Tokapi Saray hơn mười năm trước đây, thấy mấy trăm món đồ đời Minh và có thấy cái bình đó, nhưng cũng là sau khi ông Makato Anabuki nhận ra rằng bình này làm ở Việt Nam, mà từ đó được ghi chú đúng là “nguyên gốc ở Việt Nam”. Tôi vẫn nghĩ rằng có nhiều đồ Chu Đậu ở nhiều nơi bị ghi chú lầm là đồ Trung Hoa, và tôi thường tự hỏi còn bao nhiêu món Chu Đậu đẹp ở Tokapi Saray, ở những việc bảo tàng và bộ sưu tập tư nhân khác vẫn mang nhãn đồ Tàu?

Ngoài chiếc bình ở Tokapi Saray, nhóm ông Tăng Bá Hoành còn tìm được rất nhiều món đồ làm ở làng Chu Đậu, ở Phủ Nam Sách ghi rõ tên người làm, người đặt làm, những năm tháng của thế kỷ XV, thời Hậu Lê, thời Trịnh-Mạc. (Xin nhắc ông Phong Uyên xem lại các chú thích số 7 đến số 10 dưới chương về đồ Chu Đậu). Mà chẳng gì Chu Đậu, nhiều món đồ Bát Tràng (lư hương, chân đèn…) cũng ghi rõ năm tháng, tên người làm, tên người đặt…). Những chân đèn cao, đẹp, những món đồ Lý-Trần đẹp chẳng những có trong các bộ sưu tập riêng (mà tôi cũng có may mắn dự phần – khi nào có dịp, xin mời ông Phong Uyên ghé thăm) mà còn có rất nhiều ở Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Hải Dương…

Nhân đây cũng xin kể rằng, ông Tăng Bá Hoành đã tìm ra thêm nhiều điều thú vị về bà Bùi Thị Hý, người vẽ và viết hoa văn của chiếc bình tuyệt đẹp đó: Bà Bùi Thị Hý sinh năm 1420 mất năm 1499 ở Nam Sách là người hay chữ, có nét vẽ và nét viết rất đẹp. Bà đã giả trai để đi học và đi thi. Sau khi đậu tam trường thì việc giả trai của bà bà bị khám phá. Bà trở về Chu Đậu, lấy ông Đặng Sỹ, chủ một lò gốm rất lớn ở Chu Đậu. Lò này chuyên làm đồ xuất cảng. Tại đây với tài năng sẵn có, bà Bùi Thị Hý đã vẽ hoa văn cho rất nhiều món trong đó có bình Tokapi. (Những chi tiết này ông Tăng Bá Hoành đã viết trong một bài đăng trên báo Quân đội Nhân dân ở Hà Nội).

Về giá bán, đồ cổ thì vô giá. Ai thuận mua với giá nào là nó có giá đó. Chứ đâu phải như quần áo, bàn ghế thường dùng. Đồ gốm Việt Nam đẹp vốn đã hiếm, lại ít ai (kể cả người Việt) biết đến. Chính vì cái ít ai biết đến ấy, mà mấy anh Tàu anh Nhật cứ mua rồi cất trong nhà thôi, không bán chác gì cả.

Hồi tháng 10 năm 2000 nhà bán đấu giá Butterfields có tổ chức ở San Francisco và Los Angeles cuộc bán đấu giá đồ gốm Chu Đậu vớt được từ một tầu chìm ngoài khơi Cù Lao Chàm, Hội An (họ gọi là “Hoi An Hoard”, kho tàng Hội An). Trong 3 ngày 11, 12, 13 tháng 10 này tổng số tiền bán được là vào khoảng 3 triệu Mỹ kim. Mấy món đồ bán được cao giá nhất là 79.500 – 63.000 – 57.500 – 40.250 và một số món khác từ 28.750 đến 37.375 Mỹ kim và rất nhiều món khác được bán với giá trên mười nghìn Mỹ kim. Những người mua các món này là một nhà sưu tập hiện sống ở Á Châu, viện Bảo Tàng British Museum, Gallery of New South Wales, Seattle Art Museum, Phoenix Art Museum, Asian Art Museum of San Francisco, San Diego Museum of Art… (Trong đó người sưu tập gốc Việt mua khoảng 20% số món đồ – khi có dịp, tôi sẽ xin viết tường tận hơn về cuộc bán đấu giá này). Sau đó trên báo Nhân dân số ra ngày 20 tháng 3 năm 2006, dưới tựa bài “Gốm cổ Chu Đậu – thông điệp của thời gian” tác giả Khôi Nguyên viết rằng: “Một người Mỹ tên là G. Xpin-man đã mua được chiếc bình tỳ bà cao 28,5 cm qua một cuộc đấu giá, với giá kỷ lục 521.000 USD…”. Cuộc bán đấu giá này được tổ chức ở đâu, ngày nào? Không thấy ông Khôi Nguyên nói rõ. Nhưng với giá hơn nửa triệu Mỹ kim thì đồ Chu Đậu được lắm đó chứ?

Ít năm nữa, mấy cái bình này sẽ lại được bán với giá nào? Tôi tin là cứ từ từ, rồi người ta sẽ biết đến, rồi đồ gốm Việt Nam cũng sẽ được các nhà Butterfields, nhà Chrities, nhà Sotheby’s … bán với những giá tiền khổng lồ cho mà xem.

Các nơi bán đấu giá ở gần nhà ông Phong Uyên, bán đồ đời Minh 5 triệu Mỹ kim, đồ Thanh 100.000 Mỹ kim, và đồ Việt dưới 1.000. Nhưng tôi tự hỏi, ví thử cái bình Tokapi Saray được đem ra bán đấu giá thì mấy triệu? Những món đẹp nhất của “Hoi An Hoard” được giữ lại cho viện bảo tàng ở Việt Nam, nếu được bán ra thì thu về bao nhiêu? Tôi nghĩ là nhiều món trong số đó sẽ bán được hàng trăm nghìn. Có thể tiền triệu được chăng?

2. Về đồ gốm Chu Đậu (Nam Sách, Hải Dương) và Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) tôi đã viết rõ trên hai chương về hai loại đồ gốm nay, chỉ xin tóm tắt rằng: Chu Đậu và Bát Tràng hoạt động gần như cùng thời. Sử sách cổ viết về Bát Tràng mà không viết về Chu Đậu, như vậy là vì Bát Tràng làm đồ gốm từ lâu hơn chăng? Gốm Chu Đậu đẹp hơn Bát Tràng. Gốm Chu Đậu thường được xuất cảng, Bát Tràng để dùng trong nước. Cụ Vương Hồng Sển, trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 13), viết theo lời kể của bác sĩ Trần Lê Đôn, rằng Bát Tràng chỉ làm “đồ từ khí”. Điều này không đúng, Bát Tràng cũng làm chén đĩa, vì thế triều đình mới lấy để mang cống triều đình Trung Hoa (Xin xem lại chương tôi viết về Bát Tràng). Sau khi Chu Đậu tàn lụi thì Bát Tràng vẫn tiếp tục và được một số nghệ gia từ Chu Đậu tới cùng làm gia tăng mức độ sản xuất và giá trị của Bát Tràng.

Cụ Vương viết thêm là “theo ông Lê Thành Khôi, lò Bát Tràng do hai người thợ gốc gác ở Thanh Hóa đến đây xây dựng… và dẫn món cổ nhứt để làm vật dẫn chứng, ký niên hiệu Mậu dần (1578)…”. Chắc đây là cái bình có ghi “Diên Thành vạn vạn niên” (năm Diên Thành thứ nhất đời Mạc Mậu Hợp. Dựa vào đó cụ Vương viết rằng “gốm Bát Tràng thuộc vào đời nhà Mạc”. Thật ra Bát Tràng đã làm đồ gốm từ trước đó lâu rồi, năm 1435 Nguyễn Trãi đã viết trong Dư địa chí rằng Bát Tràng đã cung cấp đồ bát chén làm cống phẩm cho triều Minh. Làm bát chén được lựa làm cống phẩm thì đâu phải là tay mới ra nghề. Số người từ Chu Đậu dời đến Bát Tràng chỉ làm tăng thêm lượng và phẩm của gốm Bát Tràng, chứ người ở làng này vẫn làm đồ gốm lâu rồi.

Trong sách Gốm Bát Tràng’ các ông Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc có dẫn chuyện “Hứa Vĩnh Cảo (đời Lý Thái Tổ – đi sứ nhà Bắc Tống về) truyền cho Bát Tràng nước men trắng”. Như vậy tôi nói rằng Bát Tràng đã có nguồn gốc từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long cũng chẳng phải là chuyện xa sự thật. Gốm Chu Đậu thường ghi niên hiệu nhà Mạc, gốm Bát Tràng ghi niên hiệu nhà Lê, nhà Mạc, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn và ngày nay Bát Tràng vẫn còn tiếp tục làm đồ gốm, duy có khác ở chỗ dùng nhiều phương tiện tân kỳ hơn xưa, dùng nhiều hoa văn và dáng kiểu hơn xưa. Nhóm ông Phan Huy Lê cũng tìm được món cổ hơn, một chân đèn ký năm Sùng Khang thứ 7 (1572).

Ngoài chương về đồ gốm Bát Tràng, xin mời xem lại chú thích số 4 dưới chương về đồ Chu Đậu. Chu Đậu ngưng làm đồ gốm từ thế kỷ XVII, nay cũng đã bắt đầu làm lại và làm quy mô hơn xưa bội phần. Nếu có dịp đi Việt Nam chơi, đến thăm cả hai nơi này chắc sẽ rất thú vị.

3. Cụ Vương Hồng Sển nói rằng khi người Mông Cổ chiếm Trung Hoa lập ra nhà Nguyên (đây là lần thứ nhất Trung Hoa bị ngoại bang đô hộ), vì không muốn sống dưới triều đại nhà Nguyên, vì nhớ thương nhà Tống nên một số người Tàu đã sang Thanh Hóa lập lò gốm và làm những món đồ men ngọc mà sau này người ta gọi là đồ Thanh Hoá.

Tôi ngờ rằng cụ đã suy luận như thế là vì cụ nghĩ chỉ có người Trung Hoa mới làm được đồ men ngọc đẹp như vậy. Tôi ngờ rằng vì yêu thích những món đồ Tống, Minh, Thanh mà cụ Vương đã lầm. Tôi tra lại những bộ sử cổ, thì thấy trong An Nam chí lược của Lê Tắc, chỉ kể ra có 3 nhóm nhỏ người nhà Tống sang sống ở Việt Nam, khi người Mông Cổ chiếm Trung Hoa mà thôi. Nhóm 3 người đó (và gia đình, tùy tùng) là Trần Trọng Vy, Tăng Uyên Tử và Khả Văn Kiệt, và con trai 10 tuổi của Tô Lưu Nghĩa là Tô Cảnh Do.

Năm 1279, khi nhị vương nhà Nam Tống bại trận rồi mang tàn quân vượt biển chạy về Quảng Châu thì bị quân Nguyên truy đuổi, đánh bại. Ích Vương (9 tuổi) chết ở Nhai Sơn (Vùng Cửu Long – Hương Cảng bây giờ), Quảng Vương (7 tuổi) tự tử (quan Tham Chính – tên là Tú Phu – ôm Quảng Vương nhảy xuống chỗ cửa sông Châu Giang trầm mình), thì 3 ông quan này chạy sang Việt Nam và được nhà Trần hậu đãi. Được ít lâu thì Trần Trọng Vy qua đời. Khả Văn Kiệt, Tô Cảnh Do và Tăng Uyên Tử sống ở Thăng Long.

Năm năm sau, năm 1284, khi Thoát Hoan, thái tử nhà Nguyên, tước Trấn Nam Vương, mang đại quân sang đánh Việt Nam thì Tô Cảnh Do ra trình diện, tố cáo Khả Văn Kiệt đã giết oan cha mình (Tô Lưu Nghĩa), Thoát Hoan chém Khả Văn Kiệt, và cho Tô Cảnh Do trở về Tàu sống. Tăng Uyên Tử cũng ra quy phục quân Nguyên rồi sau đó không biết sống chết ra sao. Như thế ta thấy cái tinh thần yêu nước của mấy ông này thế nào rồi. Một ông chết già, một ông bị chém, còn ông thứ ba và đứa nhỏ 10 tuổi thì mang tiếng là chạy sang Việt Nam vì nhớ nhà Tống, ghét nhà Nguyên, thế mà Thoát Hoan sang đánh Việt Nam thì lại vội vã ra hàng. Họ đâu có ở Việt Nam cho đến lúc Chu Nguyên Chương đuổi được người Mông Cổ, lập ra nhà Minh.

Như thế ông Tàu nào làm đồ men ngọc ở Thanh Hoá? Hay là họ đợi đến khi An Nam chí lược viết xong (năm 1335) rồi mới qua Việt Nam để sống thêm 35 năm nữa (cho đến năm nhà Minh thay nhà Nguyên, 1368) mà làm đồ men ngọc?

Dưới đây tôi cũng sẽ dẫn tài liệu để chứng tỏ rằng người Việt đã làm đồ men ngọc đẹp dưới đời Lý, khi nhà Tống vẫn còn thịnh trị ở Trung Hoa.

Quả thật, đồ men ngọc Thanh Hóa đẹp không khác gì đồ men ngọc đời Tống. Một số đồ men ngọc Thanh Hóa có dấu vết đồ nhà Tống như hoa văn nổi hình lưỡng long, 2 hay 3 em bé trai chơi trong vườn hoa, nhưng có khi người ta lại Việt hóa đi mà vẽ 2 lực sĩ đấu vật trong vườn hoa… Những yếu tố kỹ thuật và mỹ thuật tương đồng này đưa ông Vương Hồng Sển đến kết luận rằng các món đồ ấy đều do người Tầu sang Thanh Hóa làm. Cụ Vương nói rằng sau năm 1368, người Tầu về xứ nên không ai làm đồ men ngọc ở đó nữa.

Tôi cho rằng trong thời sức khoẻ còn sung mãn, nếu cụ Vương có cơ hội sưu tầm và nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam thì nhận xét của cụ chắc cũng sẽ khác. Cụ Vương vốn là người miền Nam, thời đại và nơi chốn (đất nước phân chia, chiến tranh khốc liệt) đã giới hạn sự tìm hiểu và sưu tập của cụ rất nhiều. Theo những sách cụ viết thì tôi thấy cụ chỉ chú tâm đến đồ Trung Hoa, đời Tống, Minh Thanh, mà chú trọng hơn hết lại là đồ ngọc. Vì thế những điều cụ nói về đồ gốm Việt Nam cũng là sản phẩm tất nhiên của các yếu tố đó.

Thêm nữa, khi Trung Hoa bị ngoại bang đô hộ lần thứ hai (khi người Mãn Châu vào chiếm Trung Hoa lập ra nhà Thanh và phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại), nhóm Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch phải kéo hơn 5.000 người “di tản” sang Việt Nam sinh sống. Họ cũng làm đồ gốm ở Biên Hòa, Lái Thiêu. Nhưng khi nhà Thanh mất ngôi, Tôn Dật Tiên lên làm tổng thống, có thấy người Tàu dẹp tiệm, dời nhà trở về xứ đâu? (Sau năm 1975, chính quyền cộng sản Việt Nam đuổi người Việt gốc Tàu ra khỏi nước thì đó lại là một chuyện khác.)

Trong cuộc khai quật về đồ gốm Chu Đậu, nhóm ông Tăng Bá Hoành ở Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương đã tìm ra nhiều món Chu Đậu men ngọc rất đẹp. Như vậy sau năm 1368 người Việt chắc chắn vẫn làm đồ men ngọc và làm đồ men ngọc đẹp. Ví dụ trong sách Cổ vật Việt Nam do nhà Bộ Văn hóa Thông tin xuất bản ở Hà Nội năm 2003, có một số hình đồ men ngọc trong bộ sưu tập của ông Phan Công Thọ, Hà Nội làm vào thời cuối Trần, đầu Lê (thế kỷ XIV, XV). Còn trước đó? Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Hải Phòng có nhiều món đồ men ngọc tuyệt đẹp làm vào thế kỷ XI, dưới đời Lý, đây là thời nhà Tống còn hưng thịnh bên Tàu, chẳng có lý gì để họ phải qua Thanh Hóa lập nghiệp cả. Tôi vững tin mà kết luận rằng người Việt vẫn làm đồ men ngọc đẹp từ trước đời Lý cho đến sau đời Lê-Mạc.

4. Dấu con kê. Dấu con kê của đồ gốm Việt Nam có rất nhiều loại, chứ không phải chỉ đơn thuần là vài ba cục đất sét nhỏ như ông Phong Uyên nghĩ. Có loại hình vành khăn, hình nón cụt, hình đĩa. Con kê thường có đường kính từ 4 đến 7 cm, cao từ 1 đến 4 cm. Có loại được nặn bằng đất sét hay cao lanh loại xấu, chỉ được dùng một lần, rồi bỏ, có loại làm bằng cao lanh tốt và được dùng đi dùng lại nhiều lần. Loại hình đĩa, theo lời ông Tăng Bá Hoành thì: “có chân được đúc bằng khuôn, lót vải, đúc xong gắn các chân nhỏ”. Ngoài con kê ra còn có đinh gốm (trông giống cái đinh, dài 6 đến 8cm, đường kính 1.2 đến 1.4 cm. Con kê có từ 3 đến 5 mấu. Cái đáng chú ý là kỹ thuật dùng con kê cũng tiến triển nhiều hơn trước. Với đồ Lý Trần, dấu con kê còn rõ ràng trong bát, đĩa, trong khi đó, khi khai quật một số lò gốm Chu Đậu cổ, nhóm ông Tăng Bá Hoành đã tìm được hàng ngàn con kê đủ các loại, vậy mà trong bát, đĩa Chu Đậu dấu con kê không còn lộ ra nữa.

5. Đồ men ngọc của Tàu pha bột đá nên cứng hơn. Điều này kiểm chứng được rất dễ dàng. Tuy nhiên không ứng dụng được cho những người chỉ được xem đồ gốm trong sách hay trong viện bảo tàng, vì phải dùng tay mà sờ, mà cảm, mà gõ lên tiếng kêu: Khi cầm món đồ Tầu, nếu ta búng ngón tay vào thành bát (hay đĩa) tiếng kêu phát ra cao, trong và thanh, ngân dài không ngớt như tiếng chuông, nhưng ở món đồ men ngọc Việt Nam, thì tiếng kêu ngắn và đục. Những món mỏng hay dầy đều thế cả.

6. Không biết là thật sự khi xuất cảng đồ sứ thì các lò gốm Việt Nam có quan tâm lắm về việc bán đi nước nào chăng? Tôi viết là họ đã bán sang các nước Ả Rập Hồi giáo là vì muốn dùng ngôn ngữ thời nay, chứ thật ra mình bán cho các tầu buôn, họ chở sang vùng Persia, Ottoman (Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ). Chính những nhà quý tộc ở vùng này cũng không bận tâm là đã mua đồ gốm Việt Nam. Có khi họ còn yên trí là đã làm chủ các món đồ gốm đẹp của Trung Hoa.

7. Tôi thành thật mời ông Phong Uyên so sánh đồ gốm Trung Hoa đời Minh đời Thanh với vài món Chu Đậu đẹp hiện được giữ ở các viện bảo tàng sau đây (bởi vì nếu trưng ra các món Chu Đậu thuộc bộ sưu tập tư nhân thì khó mà được chủ nhân cho xem):

Bình Tokapi Saray – với câu: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)

1. Bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, hiện ở viện bảo tàng Tokapi Saray (mà ông Phong Uyên đã có dịp xem)

2. Bình của Prince Elector of Saxony do Duke of Florence tặng năm 1590, hiện được giữ ở Johannaun Museum, Dresden, Thụy Điển

3. Bình vẽ hoa mẫu đơn và hoa sen hiện ở Museum of Fine Arts, Bosto

4. Bình vẽ hoa mẫu đơn của Pacific Asia Museum, Pasadena
5. Bình Majorie Lewis Griffing của Honolulu Academy of Arts, Hawaii
6. Bình Betty & John R. Menke của Metropolitan Museum of Art, New York
7. Đĩa rồng, sen của Museum Nasional, Jakarta
8. Đĩa và bình của Museum of Oriental Ceramics, Osaka
9. Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương
10. Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội

Bình do Due of Florence tặng Prince Eletor of Saxony. Hình dưới: Bình Chu Đậu của Museum of Fine Arts, Boston (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
Thôi, chừng đó món đủ để thấy tại sao tôi cho là đồ Chu Đậu đẹp ăn đứt đồ Minh, Thanh rồi, kể thêm nữa cũng thế.

Tới đây tôi cũng xin thêm rằng biết đâu việc các viện bảo tàng, các nhà bán đấu giá ở nơi ông Phong Uyên cư ngụ (nước Pháp) không có đồ men ngọc hay đồ men lam Việt Nam, bởi vì mấy ông Tây đã lầm lẫn mà xếp các món đồ Việt Nam này vào đồ Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh rồi. Nội việc đồ gốm Việt Nam nào cũng bị gọi là đồ “Tanhoa” (Thanh Hoá) thì ta thấy ngay là sự hiểu biết về đồ gốm Việt Nam của mấy ông Tây này ra sao rồi!

8. Trà đạo: Trước hết tôi xin dẫn lại chú thích số 2 trong chương “Chu Đậu…”: “Từ thế kỷ 12, người Nhật bắt đầu uống mạt trà. Tràn tán nhỏ ra như bột, pha vào nước sôi. Mạt trà được nhập cảng từ bên Tầu qua, lúc đầu chỉ được coi là một thứ thuốc (tiên dược) có khả năng giải bệnh hơn là giải khát. Trà được dùng ở triều đình Nhật từ thời nhà Tống bên Tầu, nhưng đến thế kỷ 14, trà mới bắt đầu trở nên phổ thông, nhưng chén bát uống trà còn lộn xộn, hoàn toàn khác nhau, tùy theo ý người uống. Trà xanh được dùng khi “Trà đạo” (Chanoyu) được khởi xướng bởi Murata Juko (1452 – 1502). Sau đó Takkeno-Jo O (1502 – 1555) và rồi sau nữa là Thiền sư Sen Rikyo mới dọn xếp tất cả lại thành Trà đạo trong phong tục, văn hóa Nhật”. Trước tôi, cụ Vương Hồng Sển cũng viết trong Khảo về đồ sứ men lam Huế tập hạ, trang 39) như vậy. Trước đó, ở trang 13 cụ viết: “Gốm Bát Tràng vào thế kỷ XVI, danh tiếng đến lò bên Nhựt Bản nhái tạo và đặt tên riêng là gốm Kot-chi (Giao Chỉ)’”. Nhắc lại để thấy những điều tôi viết sơ lược về Trà đạo của người Nhật cũng chẳng xa gì với ông Phong Uyên đã viết.

Ông Phong Uyên lý luận rằng vì không thấy đồ Chu Đậu trong các viện bảo tàng ở Nhật mà ông đã đi qua, nên chắc đồ Chu Đậu chỉ được dùng trong dân gian thôi. Theo sách tôi đã đọc, xin kể sơ vài món:

* Trong số đồ gia bảo của gia đình Tokugawa (sứ quân Nhật từ 1615 đến 1867) là một bình Chu Đậu của sứ quân Yoshiharu Tokugawa (1737-1786). Bình này đã được chính phủ Nhật chính thức xếp vào loại “Trọng yếu văn hoá tài” (Important Cultural Property). Đây là thứ hạng chỉ dưới bậc “Quốc bảo” (National Treasure – vốn dành riêng cho những bảo vật có nguồn gốc Nhật Bản). Bình này được dùng trong nghi thức Trà đạo của gia đình sứ quân Tokugawa. Dòng họ Tokugawa còn vài báu vật nữa là các bát uống trà Chu Đậu.

* Gia bảo của dòng họ quan khâm sai vùng Nagasaki là Ozawa Shiroemon Mitsunaka có 8 món Chu Đậu, 1 món men trắng đời Lý. 4 trong số 9 món này hiện thuộc Kyoto National Museum.

* Cũng kể thêm là gia đình đại thương gia Konoike ở Osaka – sưu tập nhiều bộ bình, chén dùng trong Trà đạo – cũng có một bình đời Lý, một bình tương tự cũng là của gia bảo của gia đình Kanamori Sowa (1546-1656)…

Đồ gốm Việt Nam vào thời đó được người Nhật gọi là đồ Shimamono (đảo vật) hay Namban (An-Nam) không những chỉ được ưa chuộng bởi những nhà quyền quý, mà còn được người Nhật bắt chước làm theo. (Sở dĩ những món này được gọi là “đảo vật” vì lúc đầu, đồ gốm Việt Nam được tầu buôn từ Phi Luật Tân chở đến bán.)

Bà Louise Allison Court (trong Vietnamese Ceramics, a separate tradition – chương 4, Vietnamese Ceramics in Japanese context) nêu ra các điểm chính là:

1. Số đồ Chu Đậu ở Nhật ít hơn đồ Tàu, và chỉ được giữ trong những bộ Trà đạo gia bảo của giới quyền quý.(Bà Court còn viết thêm thế này: “… they have exerted significant influence on Japanaese connoisseurship and ceramics production in way that only now, with the intensification of interest in archaeology, are coming to be recognized”.

2. Không những chỉ có đồ tráng men mà cả những món đồ gốm không tráng men của Việt Nam cũng được giới Trà đạo yêu thích. Các lò gốm Nhật Bản cũng đã theo các mẫu đó mà làm theo. (“The many replicas and interpretations of unglazed Vietnamese ceramics made by Japanese potters further their attest to their cultural significance”).

3. Những món đồ men trắng chàm với hoa văn đơn giản của Việt Nam đã thúc đẩy những hoạt động của lò gốm Seto và Mino.

Nói rằng người Âu châu (ngay cả người Việt) thích đồ sứ Nhật vì đẹp là rất đúng. Nhưng đó là chuyện sau này, chuyện của thế kỷ XIX, XX. Sau khi họ đã học và phát triển kỹ thuật và mỹ thuật cao. Đây là một đặc tính quý giá của dân Nhật, “không biết sáng chế, chỉ bắt chước, nhưng sẽ làm hay hơn thầy”. (Cũng như người ta thích xe Lexus, Acura, Toyota, Honda… và cho rằng những xe này ăn đứt xe Mỹ. Nhưng đâu ai dám phủ nhận là người Mỹ dạy họ làm xe hơi – chính ông Lee Iacocca lúc còn làm ở hãng Ford Motor, đã phải sang Nhật để thuyết phục Honda nên đi vào kỹ nghệ xe hơi hồi mấy chục năm trước). Tất nhiên là tất cả mọi người đều biết làm đồ gốm từ thời thượng cổ, vì không biết làm thì lấy gì mà ăn uống. Nhưng sự khác biệt là biết làm những món thường thường và làm những món có tâm hồn, những món có nghệ thuật là chuyện khác. Người Nhật trước chỉ mua đồ của người Tàu, người Cao Ly, học nghề đồ gốm từ Cao Ly, gợi hứng từ đồ gốm Việt Nam. Sử chép rằng các phác họa đồ gốm dùng trong Trà đạo được gửi từ Cao Ly (và Việt Nam) qua Nhật để chuẩn duyệt rồi mới mang về lò gốm ở Cao Ly, Việt Nam để làm xuất cảng sang Nhật.

Sử chép rằng vào thế kỷ XVI, (năm 1592-1598) khi xâm chiếm Cao Ly, người Nhật đã bắt 3.000 thợ đồ gốm Cao Ly mang về Nhật. Nghề làm đồ gốm ở Cao Ly sa sút hẳn từ đó.

Cứ công tâm mà so sánh thì trong quyển Blue and White in the East Asia của Viện bảo tàng Osaka, với những hình chụp đồ đời Minh, đồ Nhật, đồ Cao Ly và đồ Chu Đậu, thì sẽ thấy tất cả đều đẹp, nhưng đồ Chu Đậu trội vượt hẳn lên. Nhưng bây giờ đi ra chợ mua chén đĩa đắt tiền thì không ai lại làm đẹp bằng đồ của người Nhật. (Nhưng lại có người – như vợ tôi chẳng hạn – lại chỉ thích chén đĩa men trắng làm ở Hải Dương thôi.)

9. Ông Phong Uyên đi nhiều, xem nhiều và ít thấy đồ gốm Việt Nam được trưng bày trong các viện bảo tàng. Theo ý riêng của tôi, điều này vừa đúng vừa sai. Sai vì rằng trong các viện bảo tàng lớn đều có những món đồ gốm Việt Nam và có đồ Chu Đậu rất đẹp được trưng bày. Tôi chỉ xin kể tên vài viện được nêu trong Vietnamese Ceramics, a separate tradition của John Guy và John Stevensen, như:

1. Metropolitan Museum of Art, New York
2. Museum of Fine Arts, Boston
3. Museum het Princesshof, Leewarden
4. Society of Acient Southeast Asian Ceramics, Nhật Bản
5. Kyoto National Museum, Nhật Bản
6. Machida Municipal Museum, Nhật Bản
7. Birmingham Art Museum, Alabama
8. Museum of East Asian, Bath (Úc)
9. Asian Art Museum of San Francisco
10. British Museum, London
11. Art Gallery of South Australia, Adelaide
12. Denver Museum of Art, Denver, Colorador
13. Seatle Art Museum, Seatle, Washington
14. …

Cứ nhìn vào hình chụp, những món đồ Chu Đậu này và rất nhiều món thuộc những bộ sưu tập tư nhân được in trong sách này, thì người khó tính cũng phải thấy rằng đồ Chu Đậu đẹp chẳng thua gì đồ đời Minh, đời Thanh. Vấn đề là người ta không biết đến mà thôi.
Ông Phong Uyên nói rằng đồ Việt Nam trong các viện bảo tàng ở Âu châu mà ông đã có dịp đến thăm “hiếm hoi” lắm. Điều này cũng đúng và cũng không làm giảm giá trị của đồ Việt. Đồ đẹp Việt Nam còn lại ít lắm, thêm nữa theo tôi thì lại còn nhiều món bị kể là đồ Tầu. Thế thì vào thăm các viện bảo tàng ta không thể nghĩ là sẽ được thấy hàng trăm món ở mỗi nơi. Đồ quý ở chỗ đẹp, chứ đâu phải ở chỗ nhiều. Dù rằng vừa nhiều vừa đẹp như đồ Tàu thì ai chả muốn. Bây giờ vì biết đến từ các món đồ vớt từ tầu chìm và khai quật từ các lò gốm cổ ở Hải Dương người ta sẽ bắt đầu chú ý đến đồ Việt hơn. Mươi, mười lăm năm trước đây, gọi điện thoại đến Butterfields, Christies, Sotheby’s người ta đâu có biết gì về đồ Việt Nam. Nhưng nay đã khác, họ đều có người sẵn sàng trả lời các câu hỏi về đồ gốm Việt.

Điều đáng mừng là hiện nay đã có nhiều người Việt ở trong nước sưu tập đồ gốm Việt Nam. Trong tương lai những người trẻ tuổi sẽ tìm hiểu và sẽ đính chính lại những hiểu biết thiếu sót và nhầm lẫn của người đi trước.

Xin nhắc lại lần nữa rằng cũng như những lầm lẫn trong quá khứ, biết đâu chừng còn nhiều món đồ Việt Nam đang bị các viện bảo tàng này nhầm lẫn mà xếp vào loại đồ Trung Hoa, Nhật Bản…? Ví dụ cái bát Chu Đậu dùng trong Trà đạo giữ ở viện Smithsonian, Washington D.C. trong nhiều năm bị ghi chú lầm là đồ gốm Nhật Bản, do tổ sư Hizen làm ra. Vốn đã coi thường văn hoá Việt Nam, tìm thấy món quá đẹp này từ Nhật Bản, người ta bèn kết luận chỉ có tổ sư Hizen của Nhật mới làm được thôi.

10. Về sách đọc, tôi thích những quyển:

1. Vietnamese Ceramics, a separate tradition – nxb. Art Media Resource xuất bản năm 1997, do John Guy và John Stevenson chủ biên với các bài đóng góp của:
i. John Guy – Curator of Indian and Southeast Asian Collection, Victoria and Albert Museum, London
ii. John Stevenson (Independent researcher; formerly Acting Associate Curator for Chinese Art, Seattle Art Museum)
iii. Louise Allison Cort – Curator of Ceramics, Freer Gallery of Art và Arthur Arthur M. Sackler Gallery, Smithsonian Institute, Washington D.C.
iv. Regina Krahl – Researcher Associate, Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels
v. Peter Lam – Senior Curator, Art Museum, Chinese University of Hong Kong
vi. Morimoto Asako, Research Fellow, Fukuoka City Archaeological Service
vii. Nguyen Đinh Chien – Chief Curator, National Museum of Vietnamese History, Ha Noi
viii. Trian Nguyen – Ittleson Fellow, National gallery of Art, Washington D.C.
ix. Phillip Truong – Independent Reseacher, Paris and Saigon

Quyển này dày hơn 400 trang khổ 8X10”, trong đó hơn 200 trang với rất nhiều hình ảnh rất đẹp, viết bằng tiếng Anh. Nếu ai chỉ muốn mua 1 quyển sách về đồ gốm Việt Nam, tôi khuyên nên mua quyển này.

2. Gốm Chu Đậu – của Tăng Bá Hoành, nxb. Kinh Books ở Hà Nội xuất bản năm 1999 (Đây là bản hiệu đính và có bổ túc thêm nhiều, bản đầu in năm 1993, in xấu và không đầy đủ bằng). Sách dày 160 trang khổ 8X11”, viết bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Nhật, trong đó có khoảng 120 trang hình ảnh và họa đồ, in rất đẹp. Nếu thích đồ gốm Chu Đậu, thì phải có quyển này.

3. Gốm Bát Tràng – nxb. Thế giới ở Hà Nội xuất bản năm 1995, do Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (thêm đóng góp của bà Kerry Nguyễn Long) viết bằng 2 thứ tiếng Việt và Anh, dày hơn 200 trang với hơn 100 trang hình ảnh, in rất đẹp.

4. Gốm hoa lam Việt Nam, Vietnamese Blue and White Ceramics – nxb Social Science Publisher (nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội) xuất bản năm 2001, của Bùi Minh Trí và Nguyễn Long Kerry dày 520 trang khổ 8X11”, với 320 trang hình ảnh, viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh. Đây là quyển sách của 2 tay cự phách trong những chuyên gia về đồ gốm Việt Nam.

5. Blue and White in the East Asia – do Museum of Oriental Ceramics, Osaka xuất bản năm 1997. Quyển sách này rất mỏng, chưa đến 30 trang khổ 8X11”, nhưng gần như toàn hình ảnh đồ men lam 4 nước Trung Hoa, Nhật bản, Cao Ly (Đại Hàn) và Việt Nam. Trong đó có hình 3 món Chu Đậu (của Museum of Oriental Ceramics, Osaka) mà trong dòng chú thích bằng tiếng Anh họ viết lầm đồ gốm Việt Nam thế kỷ XV, nhưng câu chú bằng chữ Hán thì lại ghi là đồ Thanh Hóa (sai).

6. Cổ vật Việt Nam, Vietnamese Antique – do Bộ Văn hoá Thông tin Việt Nam xuất bản năm 2003 ở Hà Nội. Sách dày gần 400 khổ 8X11”. In đẹp, với rất nhiều hình ảnh về đủ mọi thứ đồ cổ Việt (đa số là đồ gốm) thuộc đủ mọi thời kỳ. Một số lớn là bảo vật của Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, nhưng cũng có nhiều món thuộc các bộ sưu tập của tư nhân trong nước. Sách viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh.

7. Vietnamese Ceramics do Southeast Asian Ceramic Society xuất bản năm 1982 ở Singapore.

8. Tạp chí Art of Asia do bà Tuyết Nguyệt xuất bản ở Hương Cảng cũng có nhiều bài về đồ gốm Chu Đậu.

11. Riêng về sử Việt, những điều tôi nói về nguồn gốc và ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Việt Nam trong chương “Bụt chùa nhà…” đã đầy đủ nên không nhắc lại đây nữa. Ngoài ra trong thời gian gần đây nhiều người đã đưa ra các luận cứ mới cho thấy rất rõ người Việt và văn hóa Việt ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa. Ví dụ như mặc dù vẫn cứ nhận là phát minh của Tầu, nhưng sách sử Tầu cũng có nói rõ rằng người chế tạo ra giấy viết là Thái Luân đời nhà Hán, thật ra là người Việt. Chính súng thần công (đại bác) cũng do một người Việt là Hồ Nguyên Trừng (con trai trưởng của Hồ Quý Ly) chế ra (Xin xem Bách Việt tiên hiền chí – Lĩnh Nam di thư, của Âu Đại Nhậm, sử gia đời nhà Minh, mà Gs. Trần Lam Giang đã dịch và xuất bản (Ông Lê Thanh Hoa, có dẫn lại trên một bài viết ở báo Người Việt). Riêng về trống đồng, thì quan niệm của tôi như sau: trống đồng là một sản phẩm thuần tuý Việt Nam. Không có chứng cớ nào trong văn hóa Trung Hoa cho thấy người Tầu làm và dùng trống đồng. Dưới đời nhà Hán, khi Mã Viện thắng được Hai Bà Trưng rồi, bèn cấm làm trống đồng, tịch thu tất cả trống đống, nấu chảy ra để đúc ngựa đồng dâng vua nhà Hán, và đúc trụ đồng. Cũng hệt như thời bây giờ, chắc hẳn trong số tướng tá quan lại Tầu cũng có người giữ chiến lợi phẩm làm của riêng hay bán kiếm lời, rồi truyền lại cho con cháu, rồi chôn trong mộ các nhà quyền quý, đây là những trống đồng mà người ta tìm thấy ở Hoa Nam.

Tóm lại, như đã viết rằng: “Nói như thế không phải là chê đồ gốm Tàu không đẹp, đồ Tàu cực đẹp là đằng khác. Nhưng hai cái cách làm đẹp và hưởng đẹp rất khác nhau. Đồ gốm Tàu đẹp như một cô gái trang điểm lộng lẫy của dạ hội, đồ gốm Việt đẹp như cô gái hàng xóm thơ ngây, tươi mát. Cái đẹp của đồ Tàu là cái đẹp của thơ Lý Bạch: ‘Vân tưởng y thường hoa tưởng dung – Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng’, trong khi cái đẹp của đồ Việt là thơ Nguyễn Khuyến: ‘Sóng biếc theo làn hơi gợn tí – lá vàng trước gió sẽ đưa vèo’. Một bên đẽo gọt tinh xảo, một bên mộc mạc đơn sơ, một bên là cái đẹp của trí tuệ, một bên là cái đẹp của tâm hồn”. Riêng tôi, tôi rất thích đồ gốm Tàu, nhưng tôi lại rất yêu đồ gốm Việt. Ai dám nói rằng cây đàn tranh của người Việt không hay bằng cây đàn tam thập lục của người Tàu, mặc dù nhìn vào ai cũng biết nó thăng hóa từ cây đàn Tàu ra. Riêng tôi vẫn nghĩ rằng tiếng đàn tranh thanh mà nhẹ, tiếng đàn tam thập lục dù rắt réo, nhưng bận rộn, cũng hay nhưng mà tâm như chưa thoát; Dáng cây đàn tam thập lục nặng nề, dáng cây đàn tranh nhẹ nhàng, thanh tú. A ha! Ai dám nói rằng bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hay hơn Đoạn trường tân thanh của cụ Nguyễn Du.

Văn hoá Đại Hàn cũng mang nhiều ảnh hưởng Trung Hoa; văn hoá Nhật Bản ngoài ảnh hưởng Trung Hoa lại còn mang thêm nhiều ảnh hưởng Đại Hàn. Tuy nhiên vì sự thấu hiểu văn hoá của ông cha một cách sâu đậm của họ, nhờ lòng tự hào dân tộc, dân hai nước này đã làm cho thế giới phải nhìn rằng văn hoá của họ là văn hoá đặc thù. Thế nhưng còn Việt Nam? Than ôi chính những người Việt lúc nào cũng coi mình là thua kém, là một thứ văn hoá Trung Hoa nối dài, thì mong gì ai coi trọng. Đồ gốm Việt Nam vốn đã ít về số lượng, lại bị coi là một bản copy kém của Trung Hoa, thì mấy ai sưu tập, thì làm sao được coi trọng? Ôi bao giờ chúng ta mới thức giấc? Bao giờ chúng ta mới công bằng với ông cha mà thẳng thắn tìm hiểu gia tài văn hoá của mình không với mặc cảm tự ti là anh Tàu ảnh hơn mình mọi chuyện.

Tôi viết quyển sách Đồ gốm cổ, một nền văn hoá thuần Việt này, như là cất một bước đầu tiên để mong rằng nhiều người trong và ngoài nước sẽ sưu tầm, sẽ tìm hiểu và sẽ nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về đồ gốm Việt Nam, về văn hóa Việt Nam. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ mãi mãi tự hào rằng văn hóa Việt Nam không phải là một nền văn hóa tràn đầy ảnh hưởng Trung Hoa, mà chính là một nền văn hóa thuần nhất, độc đáo và giá trị, như những câu thơ lục bát thuần Việt của ca dao, của Nguyễn Du…

Một lần nữa, xin cảm tạ các bạn đọc, ông Phong Uyên đã để ý đến những bài viết của tôi. Đồng ý hay không, không phải là điều đáng kể. Điều vui mừng là mục đích khởi xướng lên những tìm hiểu về đồ gốm Việt Nam của mình đang đạt đến.

Tôi đã quá dài lời, vậy xin ngưng thôi. Một lần nữa cám ơn talawas đã cho cơ hội này, cám ơn các bạn đọc đã theo dõi. Hãy đọc, hãy viết, hãy sưu tầm, hãy làm cho thế giới hiểu rõ giá trị của đồ gốm cổ Việt Nam.

30.9.2006 <!– td.attachrow { font: normal 11px Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif; color : #000000; border-color : #000000; } td.attachheader { font: normal 11px Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif; color : #000000; border-color : #000000; background-color: #D1D7DC; } table.attachtable { font: normal 12px Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif; color : #000000; border-color : #000000; border-collapse : collapse; } –>


Các loại con kê (Hình từ Gốm Chu Đậu của Tăng Bá Hoành)
conke.jpg

Đĩa Chu Đậu tam thái (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
dia.jpg

Bình Chu Đậu (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binh.jpg

Bình men rạn đời Lý (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binhmen.jpg

Chân đèn đời Trần cao 70cm (Bộ sưu tập Bùi Ngọc Tuấn)
chanden.jpg
Bình do Due of Florence tặng Prince Eletor of Saxony. Hình dưới: Bình Chu Đậu của Museum of Fine Arts, Boston (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binhboston.jpg

Bình Tokapi Saray – với câu: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
binhtokapi.jpg

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »