Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘chămpa’

Một số tác phẩm Chăm trưng bày ở Viện Bảo tàng Guimet

Vui lòng click trên tựa đề để xem bài này trên Diễn Đàn Sưu Tầm.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Nhấn trên tựa bài để xem:

Dấu ấn tạo hình Chăm trong lòng Đại Việt

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng

Đến thăm Bảo tàng Điêu khắc Chăm – một bảo tàng độc đáo không chỉ của thành phố Đà Nẵng,Việt Nam mà còn của cả thế giới – dẫu giữa ngày mưa hay ngày nắng, buổi sáng hay buổi chiều, du khách vẫn nhận ra một không khí rất riêng mà nơi này, do đặc trưng của mình vẫn luôn giữ được: sự trầm lắng của những hoài niệm.

BT_BTCham_003

Chính thức được xây dựng vào tháng 7 năm 1915, với sự giúp đỡ của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng hiện tại có khoảng gần 2.000 hiện vật lớn nhỏ, trong đó có gần 500 hiện vật đang trưng bày bên trong nhà Bảo tàng (được phân chia thành các phòng trưng bày gồm: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Bình và Bình Định), một số hiện vật trưng bày ngoài sân vườn và hơn 1200 hiện vật hiện đang lưu giữ trong kho. Hầu hết các tác phẩm điêu khắc hiện có tại bảo tàng là những tác phẩm nguyên bản trên 3 chất liệu chính là sa thạch, đất nung và đồng, phần lớn là sa thạch, có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau.

Các tác phẩm nghệ thuật được trưng bày tại đây hầu hết đều có một cuộc đời chìm nổi như chính số phận của nền văn hóa rực rỡ đã sản sinh ra nó. Từ trong đổ nát của thời gian, chiến tranh và cả sự quên lãng của con người, những tác phẩm điêu khắc Champa tuyệt vời đã được nhiều thế hệ dày công mang về đây. Và trong chỉnh thể có tính hệ thống này, các công trình của các nghệ nhân Champa xưa lại có được một đời sống mới.

Đến bảo tàng, ta như thấy lại quá khứ vàng son của một dân tộc mà lòng say mê và khả năng sáng tạo nghệ thuật đều ở một trình độ rất cao. Thế giới thần linh kỳ bí, những câu chuyện bằng hình ảnh, các biểu tượng tôn giáo, đường cong thân thể các vũ nữ, những bầu ngực căng tròn, nụ cười phảng phất nét thời gian… tất cả đều sống động, chi tiết và gợi cảm vô cùng.

BT_BTCham_004

Chịu ảnh hưởng sâu sắc nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của văn minh Ấn Độ nhưng người Champa xưa đã biết nhìn đời sống và tôn giáo theo những cảm quan riêng của mình. Sự khúc xạ đó đã tạo ra cho thế giới nghệ thuật của họ một vẻ đẹp rất riêng, gần gũi nhưng lại thiêng liêng, quen thuộc nhưng lại độc đáo, tinh tế, không lẫn lộn.

Một số hiện vật tại Bảo tàng điêu khắc Chămpa

 

Nguồn : http://danang.gov.vn

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Truyền thuyết về kho tàng Champa ở thành Đồ Bàn

champa-1 (Small)

Thành Đồ Bàn đụơc xây dựng từ thế kỷ X nằm trên xã Nhơn Hậu huyện An nhơn tỉnh Bình Định cách QL 1A 3km về hướng tây , xưa kia đây là kinh đô của nước Chiêm thành từ vua Chế bồng Nga – Chế Mân vv. Nơi đây di sản văn hoá Chiêm thành và Tây sơn còn tồn tại cho đến bây giờ: Thành trì – tượng đá phù điều , tháp cổ và các bảo vật hoàng cung,đặc biệt Công chúa Đại Việt: Huyền Trân năm 1306 đã lên kiệu hoa về làm hoàng hậu Champa .

Năm 1377 đại quân của vua Trần Duệ Tông đã tiến đánh thành Đồ bàn . , Quân Việt đã vây và tiến công chiếm thành , vua Chiêm băng hà truóc khi vỡ thành , vua Chiêm đã cho quan quân chôn dấu kho tàng của triều đình , cùng của cải của người dân . Vì vậy cho đến nay vẫn còn truyền thuyết về các kho tàng của Chiêm thành trên đất Bình Định .

1) Khai quật kho tàng tại tháp Mẫn : vào những năm 194.. thời Bảo Đại còn làm vua , tại thôn vạn thuận ,xã nhơn thành , An Nhơn ,Bình Định , ở trước tháp Mẫm một nông dân khi cày ruộng đã vô tình phát hiện khi lưỡi cày của ông vấp vào 1 con nghê bằng đá , đã báo quan và Pháp đã về đây nghiên cứu khai quật . Tại vị trí này Pháp đã rào lại mứon dân công Việt Nam đào khai quật với diện tích 1 sào . Kết quả : rất nhiều tượng cổ nằm dưới hầm này , một số dân công kể lại có những hòn ngọc to xanh , trắng óng ánh đuọc bó kỹ lại tất cả đuọc chất lên 4 chiếc xe GMC của Pháp chở đi , lúc đó có Bảo Đại về tham quan , bà nội tôi có chạy ra xem mặt vua .Một số tượng lớn hiện nay còn lưu giữ tại bảo tàng Chàm Đà Nẵng và Qui Nhơn – phần còn lại quý giá như vàng bạc đá quý đã đuọc đem về nước Pháp .

Ngôi tháp này bị sụp đổ lâu rồi nên đã tận dụng gạch của tháp này về xây dựng chùa Thập tháp .

2) Truyền thuyết về kho tàng Chiêm : vào nhưng năm 1966 có nhiều nguòi dân Chăm đã về nơi đây mang theo bản đồ để tìm lại kho tàng cha ông để lại – sau ngày giải phóng vẫn còn nhiều người Chăm về tìm kiếm . Vào những năm 1950 bà tôi khi vào Ninh thuận buôn bán ở lại 1 nhà dân Chăm , họ hỏi có biết thành Trà Bàn không , và có nói rằng theo lời kể dòng họ thì có kho tàng còn chôn dấu ở trong thành này . khi chôn dấu họ có tính đến chu kỳ quay của mặt trời so với điểm mốc”đó là vào lúc N giờ ngày YY năm XXXX mặt trời sẽ chiếu vào đỉnh tháp Cánh Tiên trong thành , bóng của đỉnh tháp nằm ở đâu thì nơi đó có chôn kho báu vật của triều đình truóc khi tháo chạy” chỉ có dòng họ mới biết ngày giờ năm tháng đó đuọc . Vì vậy hiện nay vẫn chưa khai quật đuọc.

3) Cuộc khai quật theo bản đồ : vào nhửng năm 1985 : một ông giám đốc công ty CS BĐ( HĐE) không biết do nguồn nào ông đã có 1 bản đồ chôn dấu kho tàng này – ông đã xin được giấy phép khai quât của TW , ông đem cả 1 đoàn quân hùng mạnh – che chắn kỹ càng và tiến hành đào bới gần chân thành . kết quả sau 15 ngày là không có gì .

4) Truyền thuyết dân gian : trong dân chúng còn lưu truyền rằng ” vàng của Chiêm được chế tác thành hình các con vật heo , gà vịt vv. trước khi mất thành họ đã chôn giấu và dùng phép thuật để yểm bùa chú vào”. những người dân trong thành ban đêm thường thấy bầy heo vàng đi ăn hoặc bầy gà mẹ dẫn gà con đi ăn , nhưng không thể nào bắt được . Nhưng do duyên số có những người bắt được heo vàng về từ người nghèo khó trở nên giàu có và có nhiều người như vậy .

champa-2 (Small)

Tháp cánh tiên nơi dùng làm chuẩn để xác định kho tàng chămpa

Những chuyện có thật là hiện nay lâu lâu dân chúng trong thành vẫn vô tình đào bới đuọc những vật có giá trị của thời Chămpa : vàng được chế thành buồng cau – con voi- con gà với tuổi vàng thấp ( 6 so với 9 bây giờ) có cả những cộng xích vàng

champa-3 (Small)

Tacgia Loitranchinh – Yamahamotor.com.vn

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Gốm Gò Sành – gốm Chăm cổ

Từ lâu, Gò Sành hay xóm Sành – tên một xóm nhỏ thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định – đã trở thành điểm tham quan, tìm hiểu của giới nghiên cứu gốm cổ trong nước và quốc tế.

Nằm cạnh quốc lộ nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, vị trí Gò Sành rất thuận lợi cho những ai có dự định đến thăm.

Người dân Phụ Quang kể rằng, trong khi đào đất xây dựng hoặc canh tác, họ thường gặp những vùng đất ken dày các mảnh gốm sứ với nhiều bát, đĩa, cốc còn nguyên vẹn. Tuy không biết chúng đã bị vùi lấp từ bao giờ nhưng họ cho rằng chủ nhân của những cổ vật này là người Chăm.

Vào khoảng những năm 70 thế kỷ trước, gốm Gò Sành đã theo chân giới buôn bán đồ cổ đi đến nhiều vùng, gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam và thế giới. Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ TP HCM đã đến Phụ Quang để tìm hiểu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào tại Gò Sành nhưng họ cũng đưa ra giả thuyết, người Chăm đã làm ra những sản phẩm gốm này.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng

go-sanh

Tượng gốm Gò Sành.

Hơn 10 năm sau, những hiện vật gốm Gò Sành lại được nhắc đến. Dựa vào những hiện vật có nguồn gốc từ Gò Sành của một nhà sưu tầm trong nước, Rosana Brown, một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á, dành một chương trong luận văn tiến sĩ của mình viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định. Cho đến trước năm 2000, đã có bốn cuộc khai quật được tiến hành liên tục tại khu di tích này.

Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có năm nhóm. Ở huyện An Nhơn có Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các đều nằm dọc hai bờ sông Kôn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy.

Những cuộc khai quật khảo cổ tại Gò Sành được thực hiện vào các năm 1991, 1992, 1993. Cuộc khai quật năm 1994 có sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò số 1, số 2 và số 3 là ở Gò Sành.

Lò số 1 có tên là lò Cây Quăng, hiện còn khá nguyên vẹn, từ tường, nền và sản phẩm nung cuối cùng. Nó có dạng hình ống với tổng chiều dài 14 m. Buồng lò hình chữ nhật, mở rộng dần về phía cuối, đo được 1,6 m. Chiều rộng ở phía trước là 2,8 m.

go-sanh2

Gốm Gò Sành có nhiều sản phẩm độc đáo

Ở một bên tường có cửa để vào xếp và dỡ sản phẩm. Một bức tường thẳng cao 0,5 m tách riêng phần buồng lò và bầu đốt. Chỗ tường phía cuối lò cũng xây bằng những bao nung để thoát lửa và khói, được xếp thành hàng ngang với 6 lỗ trống. Hai lớp nền thuộc hai thời kỳ khác nhau, được phân biệt rõ ở phần buồng lò, với lớp nền dày 0,3 m. Tường lò được xây bằng bao nung, nhồi đất sét kín ở bên trong. Đây là kỹ thuật xây rất mới mà các nhà nghiên cứu chưa thấy xuất hiện ở đâu khác trên đất Việt Nam.

Lò số 2 có tên là lò Cây Mận (Cây Roi), nằm ở phía nam của Gò Sành. Về kỹ thuật, nó giống như lò số 1, tường cũng xây bằng những bao nung lèn đất. Cách sắp xếp cột chia lửa trong bầu đốt cũng tương tự.

Lò số 3 nằm dưới lò số 2. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là lò có niên đại xây dựng sớm nhất. Tường không làm bằng bao nung mà hoàn toàn bằng đất. Lò rộng 1,2 m chỗ gần bầu đốt, 1,7 m ở phía sau. Chiều dài thân lò 5,3 m. Ở cuối tường mở bốn lỗ trống thoát khói. Ống khói nhỏ, góc thoát lên trên, lối dẫn lửa vào nằm ở cùng độ sâu với buồng lò, cho phép lửa từ bầu đốt đi lên. Đây là kiểu đốt lửa độc đáo của người Chăm mà trước đây chưa thấy một tư liệu nào nói đến.

go-sanh3

Hiện vật tại hố khai quật Gò Sành

Hiện, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định thu thập và lưu giữ một bộ sưu tập khá phong phú các sản phẩm gốm Gò Sành. Việc xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập có thể giúp hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Sản phẩm sành sứ chủ yếu được sản xuất tại đây bao gồm bát, đĩa, chậu tráng men, ngói không men và vật trang trí kiến trúc. Những chiếc bát đĩa tráng men Celadon và bình hũ tráng men nâu có đặc điểm tương tự với sản phẩm các lò Phúc Kiến (Trung Quốc).

Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn có xương màu xám mực, đỏ nhạt, giai đoạn sớm dùng kỹ thuật con kê, men tráng gần sát đáy; giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.

Gốm Gò Sành sản xuất ra không chỉ để phục vụ tại chỗ mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan thuộc Philipphines có hàng nghìn đồ gốm Gò Sành.

Cho đến nay, chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắn chắn niên đại khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung. Nhưng qua những kết quả khai quật tại Gò Sành và ở nước ngoài, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của làng nghề này nằm trong khoảng thế kỷ 15-16. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng, việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, chậm lắm là đến thế kỷ 16.

Dựa vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, loại hình các sản phẩm được làm ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu kết luận, chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Chămpa cổ.
Theo Địa Chí Bình Định

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »