Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘chơi đồ cổ’

Thứ Hai, 13/04/2009, 14:03 (GMT+7)

Hoang tàn nhà cổ cụ Vương!

Chúng tôi tìm đến Vân đường phủ của cụ Vương tại số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh- TPHCM vào những ngày đầu tháng 4, sau gần 13 năm cụ Vương Hồng Sển tạ thế. Ông đã để lại ngôi nhà cổ hơn 100 tuổi cùng những cổ vật có giá trị với di chúc hiến tặng cho Nhà nước để xây dựng nhà lưu niệm Vương Hồng Sển.

Sân vườn có 7 gốc mai đã bị bứng, dãy sáo trước nhà bị vẹt ra để làm lối đi, nơi chứa hàng hóa..., quang cảnh nhà cổ cụ Vương quá tiêu điều - Ảnh: T.HIỆP

Sân vườn có 7 gốc mai đã bị bứng, dãy sáo trước nhà bị vẹt ra để làm lối đi, nơi chứa hàng hóa..., quang cảnh nhà cổ cụ Vương quá tiêu điều - Ảnh: T.HIỆP

Cảnh vật tiêu điều

Quyết định số 140/2003/QĐ-UB của UBND TPHCM ghi rõ: “Xếp hạng di tích cấp TP đối với: Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ dân dụng truyền thống của ông Vương Hồng Sển, số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, P.14, Q.Bình Thạnh- TPHCM. Nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng khai thác trong những khu vực di tích đã khoanh vùng bảo vệ”.

Khó khăn lắm chúng tôi mới thuyết phục những người tạm trú ở đây mở cổng cho vào bên trong để tham quan ngôi nhà. Khung cảnh tiêu điều vắng vẻ khiến những ai đã từng một lần đến nhà cụ Vương đều không khỏi chạnh lòng. Vườn cây nhà cụ Vương được xem là độc nhất vô nhị tại TPHCM với nhiều gốc mai quý (loại mai bảy cánh nở suốt bốn mùa) đã được cụ Vương trồng từ khi có ngôi nhà này – nay đã không còn. Sân trước ngôi nhà đã trở thành kho chứa đồ; lều bạt của những người vô gia cư mọc lên.

Xót xa nhất là ngôi nhà đang xuống cấp nghiêm trọng. Cột, kèo, đòn tay nhiều nơi bị mối đục thủng. Cây đòn dông của gian nhà chính đã mục nát từ lâu. Mái ngói hư hỏng nặng nên những khi mưa lớn nền nhà ngập nước. Những cánh cửa được chạm khắc tinh vi đã bị cong vênh, mỗi lần mở đóng rất khó khăn. Dải hành lang trở nên chật hẹp, mái ngói hành lang bị  xiêu vẹo, lối đi ngổn ngang gạch ngói. Hàng hiên trước của ngôi nhà bị biến thành kho chứa đồ, những tấm song bằng gỗ đã bị đập gãy để làm lối ra vào.

Nội thất gian nhà chính ngổn ngang sách

Nội thất gian nhà chính ngổn ngang sách

Bên trong nhà mùi ẩm mốc xông lên nồng nặc; những cuốn sách bị rơi vãi khắp nơi. Buồn nhất là bàn thờ của cụ Vương và bà Năm Sa Đéc – vợ của cụ – một nghệ sĩ tiên phong của sân khấu cải lương- nhạc tài tử Nam Bộ, nằm ở gian chính, nguội lạnh khói hương. Ngôi nhà đã hoàn toàn xuống cấp và sớm muộn sẽ sụp đổ vì không ai chăm sóc đã gần 13 năm nay.

Mái ngói bị thủng, nên mỗi khi trời mưa gian nhà bị ngập nước

Một di sản vô giá đang thoi thóp

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu: “Ngôi nhà của cụ Vương Hồng Sển là dạng nhà cổ xưa có niên hạn hơn 100 năm. Qua nghiên cứu, tôi được biết ở Thủ Dầu Một – Bình Dương hiện nay vẫn còn một số ngôi nhà cổ tương tự được giữ gìn cẩn thận, được nâng cấp, sửa chữa mỗi năm”.

Khác với những ngôi nhà cổ khác, ngôi nhà này còn có những giá trị phi vật thể khác. Đó là cụ Vương Hồng Sển và những di sản quý giá khác của cụ đã để lại cho đời.

Nhà nghiên cứu cổ vật Trần Đình Sơn, người được cụ Vương Hồng Sển nhận là học trò, sát cánh bên cụ hơn 50 năm, đã cho biết: “Sau năm 1975, nhiều nhà sưu tập khác có dính dáng đến việc mua bán cổ vật đã không giữ được nguyên vẹn bộ sưu tập của mình, nhưng cụ Vương đã giữ gìn được vì cụ là một nhân sĩ có uy tín và cho đến năm cụ 90 tuổi, cụ vẫn hết lòng say mê nghiên cứu cổ vật, xem đó là đời sống thiêng liêng của cụ”.

Mái ngói bị thủng, nên mỗi khi trời mưa gian nhà bị ngập nước

Mái ngói bị thủng, nên mỗi khi trời mưa gian nhà bị ngập nước

Căn nhà cổ cùng những giá trị của nó đủ sức hấp dẫn bất kỳ ai khi đến TPHCM, nhất là đối với du khách ngoài nước. Thay vì khai thác ngôi nhà cụ Vương để phát huy giá trị của nó, người ta đã lạnh lùng để mặc nó sống thoi thóp như hiện trạng hôm nay.

Nét đẹp tiêu biểu kiến trúc cổ

Sinh thời, cụ Vương đặt tên khu nhà cổ này là Vân đường phủ. Nơi đây hơn 30 năm trước, nhà nghiên cứu mỹ thuật James D.Hollan đã đến viếng và khen Vân đường phủ là một điển hình về thẩm mỹ của nền kiến trúc cổ truyền Việt Nam, với các chi tiết mỹ thuật mang giá trị lịch sử văn hóa.

Khi về nước, Hollan đã viết một bài báo đăng trên tạp chí Arts of Asia, số tháng 3 và 4- 1972, mô tả lại cách bài trí những đồ cổ quý giá tại khu nhà này, từ vị trí đặt để cái độc bình, ấm trà, chén đĩa bằng sứ, hoặc bằng ngà ngọc, được chế tác từ Việt Nam và Trung Quốc, đến các loại bàn ghế, giường tủ, các đĩa cẩn ngọc trai lớn; tất cả đều theo một nghệ thuật sắp xếp tinh tế, sao cho người xem không có cảm giác chủ nhân là người khoe của, giăng đồ xưa ngồn ngộn khắp nơi. (Hồng Hạc)

Theo THANH HIỆP – Người Lao Động

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Advertisements

Read Full Post »

Đây là catalogue 7 trang của TREVOR PHILIP & SONS mô tả các hiện vật cổ gốm sứ trục vớt được từ  con tàu buôn gốm cổ bị đắm vào khoảng 1725 với đầy đủ chú thích về hành trình con tàu, lộ trình thương mại trên biển của TQ vào thời kỳ đó  cũng như các chú thích khác trên hàng hóa thu hoạch được theo lô phân loại…

camau-illustrated-1

Bạn đưa con chỏ chuột lên từ  “CaMaucatalogue” dưới đây để xem bằng Acrobat reader:

Đầu tiên sẻ xuất hiện snapshot mô tả hình ảnh file và wordpress sẻ tự động tải file về máy của bạn. Bạn không cần phải mở file này mà click phải chuột  để xổ ra lựa chọn, rê chuột  vào “open file in new tab”  và click trái, wordpress sẻ mở một tab mới cho bạn xem file.

camaucatalogue

camau-illustrated2

Tàu buôn cổ, đắm chìm ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Cà Mau được Chính phủ chỉ đạo cho tỉnh Cà Mau phối hợp với Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức khai quật trong hai năm 1998-1999. Cổ vật thu được 99.124 món. Tuy nhiên, trước đó cư dân Bình Thuận đã phát hiện tàu và tổ chức khai thác trái phép, tỉnh Bình Thuận thu hồi về được 32.569 hiện vật. Tổng cộng hai tỉnh Cà Mau và Bình Thuận khai thác từ tàu cổ Cà Mau được 131.693 hiện vật.

Chính phủ cho phép hai tỉnh Cà Mau và Bình Thuận chủ động phối hợp với các bộ ngành liên quan tổ chức đàm phán với nhiều đối tác là các công ty đấu giá cổ vật quốc tế (Hà Lan, Anh, Mỹ…) và chính thức ký hợp đồng với Công ty Unicom & Sotheby’s.

Đến tháng 8-2006, cổ vật từ tàu đắm ở Cà Mau đã đến Hà Lan. Cổ vật được bán đấu giá kỳ này chủ yếu là đồ gốm sứ được sản xuất từ Trung Quốc, đời vua Ung Chính (Yongzheng) nhà Thanh (1723-1735).

Số lượng bán đấu giá cũng khá lớn: 76.657 cổ vật (trong đó hiện vật xuất từ kho lưu Cà Mau là 46.517 cổ vật).

Gốm sứ được chế tác từ các lò nổi tiếng thế giới thời bấy giờ như: Cảnh Đức Trấn (tỉnh Giang Tây), Đức Hóa (tỉnh Phúc Kiến), Quảng Châu Tây thôn, Hồ Châu, Tiên Sơn Thạch Loan (tỉnh Quảng Đông)…

Trong đó các quan lò chuyên sản xuất các sản phẩm tinh xảo dùng trong cung đình và xuất khẩu (như Cảnh Đức Trấn và các lò chung quanh…). Nếu phân loại theo chất liệu, màu men sứ hàng chục loại: sứ hoa lam, sứ men trắng, men ngọc, men nhiều màu…

Phân theo chủng loại cũng có hàng chục nhóm như đĩa, chén, tô, bình, tượng, hộp trang điểm… Hoa văn, trang trí mỹ thuật trên men sứ rất phong phú, sắc sảo, từ đề tài hoa- lá, tùng- mai- cúc- trúc, phong cảnh sơn thủy, điển tích điển cố Trung Hoa (Tam Quốc chí, Khương Tử Nha với tiểu đồng, Ngư ông đắc lợi…) thể hiện nét vẽ tài hoa của các nghệ nhân Trung Quốc.

Kiểu dáng cũng rất phong phú độc đáo (bình hình khỉ, tượng lão ông, tượng thiếu nữ…). Vừa là sản phẩm truyền thống Trung Hoa lúc bấy giờ, vừa sản xuất theo đơn đặt hàng của các nước tư bản phương Tây (bình đựng sữa, tranh phong cảnh châu Âu, bình cổ cao – vật dụng ở các nước Ả rập…).

Nhiều cổ vật kiểu dáng rất đặc biệt, hiếm gặp như: lư hương, hộp trang điểm bằng sứ hoa lam, kendi có vòi, bình trà hình khỉ…

Ngay từ khi khai thác các nước phương Tây đặc biệt chú ý các cổ vật, vì tàu Cà Mau có số lượng nhiều, chủng loại phong phú và giá trị hơn cổ vật ở các tàu cổ Cù Lao Chàm, Bình Thuận, Hòn Cau và Kiên Giang (tên các tàu được Viện Bảo tàng lịch sử đặt).

Từ tháng 9 đến tháng 12-2006, Công ty Unicom & Sotheby’s đã tổ chức triển lãm giới thiệu ở Trung Quốc, lãnh thổ Hồng Công và một số trung tâm đô thị, trường đại học lớn ở châu Âu. Sự kiện này đã thu hút giới chuyên môn, nhà sưu tập và nhiều người quan tâm.

Để tiến hành các bước như trên, các cơ quan chức năng của tỉnh Cà Mau, tỉnh Bình Thuận, nhiều bộ ngành Trung ương và Công ty đấu giá cổ vật quốc tế Unicom & Sotheby’s đã có những quy trình làm việc khoa học, chặt chẽ.

Cán bộ chuyên viên Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, cán bộ, nhân viên Bảo tàng Cà Mau đã làm việc bền bỉ từ việc chỉ huy trục vớt, ngâm rửa, xử lý kỹ thuật, phân loại, ghi chép hồ sơ lý lịch tỉ mỉ từng cổ vật, nhập liệu vào máy vi tính hơn 100 ngàn cổ vật.

Các chiến sĩ Công an Cà Mau bảo vệ an toàn kho cổ vật trong suốt 3.000 ngày đêm, kể từ lúc khai quật lấy lên thùng hiện vật đầu tiên ở ngoài biển khơi cho đến khi xuất kho hiện vật, hoàn tất các thủ tục hợp đồng bảo hiểm rủi ro, xuất cảnh…

Trong quá trình ấy không thể không kể đến sự đóng góp của Công ty trục vớt cứu hộ VISAL. Hàng chục kíp thợ lặn có kinh nghiệm nhất đã được huy động, với tổng số gần 1.000 giờ lặn. Ở độ sâu trên dưới 35m, dưới áp lực rất lớn của khối nước biển khổng lồ.

Thợ lặn phải chấp hành nghiêm ngặt: chỉ được phép ở dưới đáy biển lâu nhất không quá 30 phút. Từ đáy biển ngoi lên cũng phải từ từ (kéo dài trên 15 phút), vì nếu lên nhanh, giảm áp đột ngột thì sẽ bị rỉ máu tai, máu mũi, nguy hiểm tính mạng (tại vị trí này, chúng tôi quan sát thấy những con cá vừa câu kéo lên khỏi mặt nước là bị lòi hai mắt và lòi bong bóng ra đằng miệng).

Các tốp thợ phải tiến hành đo đạc khảo sát vẽ sơ đồ, thổi hút bùn cát tích tụ gần 300 năm nay đã lấp kín hết con tàu. Có lần, một thợ lặn bị con cá dài 10m tấn công.

Chỉ huy trên tàu nhìn qua màn hình nhắc nhở: “Bình tĩnh, xoay lưng lại”, thì ra cá dữ sợ màu vàng của bình oxy. Qua màn hình từ đáy biển truyền lên tàu, Trưởng ban khai quật ra lệnh các nhóm thợ cẩn thận bóc tách, lấy từng hiện vật, mảnh vỡ để chuyển lên tàu 1.217 giỏ hiện vật (cả lành và mảnh vỡ).

Đây cũng là lần đầu tiên các cán bộ, kỹ sư, công nhân Việt Nam tự lực hoàn toàn và công việc khai quật được tiến hành an toàn tuyệt đối, kể cả trong những ngày gặp mưa bão, tiết kiệm rất nhiều chi phí so với việc thuê chuyên viên nước ngoài.

Cổ vật từ tàu đắm ở Cà Mau đã có mặt ở Trung tâm bán đấu giá cổ vật quốc tế Sotheby’s Amsterdam Hà Lan và chính thức được bán đấu giá vào hai ngày 30 và 31-1-2007.

Chắc chắn sẽ thu về cho ngân sách Nhà nước một khoản ngoại tệ không nhỏ.

Nhưng đằng sau việc phát hiện và khai thác còn có rất nhiều câu chuyện.

Người phát hiện con tàu là ông Nguyễn Ngọc Hùng và Nguyễn Ngọc Linh chủ hai tàu đánh cá ở thị trấn Lagi, huyện Hàm Tân. Họ đã tổ chức khai thác trái phép nhiều lần, mang về hơn 30 ngàn cổ vật.

Trong đó có một số cho, tặng và bán. Phóng viên báo Tuổi Trẻ đã phát hiện cổ vật mua bán ở đường Lê Công Kiều để lần ra gốc tích con tàu đăng lên mặt báo. Nhưng tàu đã bị khai thác nham nhở làm bể vỡ cổ vật khá nhiều.

Sở dĩ ngư dân Bình Thuận không lấy được nhiều hơn vì khai thác thủ công, không có bình dưỡng khí. Và họ tập trung vào việc lấy chì (đã lấy lên 2,4 tấn) mà họ ngỡ là vàng và kim loại quý.

Sau này, các chủ tàu thú nhận, họ đã bị lỗ tiền xăng dầu và chi phí. Một số ngư dân khác cũng phát hiện và cũng mò lấy được cổ vật đem bán nhưng cũng không đủ tiền thuốc thang do bị ảnh hưởng rất nặng của sức ép dưới đáy biển.

Đó là chưa kể có trường hợp bị tai nạn do tranh giành mò vớt mà cắt đứt dây ống thở (thòng từ trên tàu xuống cho thợ lặn).

Ở Cà Mau, Sở Thủy sản lúc đó đã chỉ đạo khai thác rất thủ công: thuê mướn ngư dân xuống bới móc, đồ vỡ thì bỏ lại, đồ lành bỏ đầy cần xé kéo lên tàu.

Do đếm số lượng giỏ đem lên mà tính tiền, cùng với sự thiếu hiểu biết của những ngư phủ làm công khoán cũng như cán bộ chỉ đạo, tổ chức khai thác cách này đã làm hư hại không ít cổ vật (số mảnh vỡ sau này lấy lên được hơn 671 giỏ lớn).

Việc khai thác của Sở Thủy sản là không đúng chức năng, phản khoa học (đã để xảy ra hai trường hợp bị ngất, bị chảy máu lỗ tai) nên UBND tỉnh Cà Mau đã cho ngưng khai thác (bàn giao hết hiện vật trên cho Bảo tàng tỉnh) và có công văn xin ý kiến Chính phủ.

Ngoài số hiện vật bán đấu giá trên, tỉnh Cà Mau còn được Nhà nước cho phép lưu giữ 2.596 cổ vật để trưng bày phục vụ nhân dân và khách du lịch. Trong đó có hai bộ sưu tập đầy đủ 1.848 món và một bộ sưu tập độc bản (gồm 748 món) không trùng với bất cứ món nào trong tổng số gần 130 ngàn cổ vật trên tàu đắm cổ Cà Mau.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

 

ALBUM HÌNH TOÀN TẬP GỐM SỨ CỔ TQ –

Thời kỳ từ triều đại Hoàng Đế Shunzhi đến đời Hoàng Đế QianLong

Đây là Album hình mô tả theo trình tự thời gian từ thời kỳ đồ đá mới đến hết triều đại nhà Thanh của các hiện vật gốm sứ  cổ Trung Hoa tiêu biểu nhất được trưng bày tại gallery gốm sứ – Viện bảo tàng Thượng Hải từ ngày 23 -24 tháng 8 năm 2008. Đây là bộ sưu tập xuyên suốt nhất của lịch sử nghệ thuật  gốm sứ Trung Hoa mà tác giả từng biết. (Được chụp bởi Gary L. Todd, tiến sĩ, giáo sư Sử Học tại trường đại học Sias International, Xinzheng, Henan, China.)

Các triều đại nhà Thanh:

Shunzhi

1644 – 1661

Kangxi

1662 – 1722

Yongzheng

1723 – 1735

Qianlong

1736 – 1795

Jiaqing

1796 – 1820

Daoguang

1821 – 1850

Xianfeng

1851 – 1861

Tongzhi

1862 – 1874

Guangxu

1875 – 1908

Xuantong

1908 – 1911

Shunzhi

1644 – 1661

Kangxi

1662 – 1722

Yongzheng

1723 – 1735

Qianlong

1736 – 1795

Jiaqing

1796 – 1820

Daoguang

1821 – 1850

Xianfeng

1851 – 1861

Tongzhi

1862 – 1874

Guangxu

1875 – 190

Xuantong

1908 – 1911

 

 

 

 

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

ĐỒ GỐM CỔ TÌM THẤY Ở SÔNG ĐỒNG NAI

Nói đến miền đất Gia Định không thể không chú ý đến vai trò của con sông Đồng Nai, nhất là trong giai đoạn từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Cho đến trước lúc này, Gia Định vẫn là một vùng đất hoang sơ hầu như chưa được khai phá, là nơi cư trú lâu đời của một số tộc người như Mạ, Stiêng, Kơho, Mnông… nhưng dân cư thưa thớt, chủ yếu ở vùng thượng lưu sông Đồng Nai với phương thức canh tác nương rẫy và kỹ thuật sản xuất thô sơ. Cuộc sống ở đây chỉ thực sự sôi động với sự xuất hiện của những nhóm cư dân mới, đó là người Việt từ vùng Thuận – Quảng và sau đó là người Hoa “bài Thanh phục Minh”, đến cư trú và bắt đầu khai thác vùng đất màu mỡ dọc đôi bờ trung và hạ lưu sông Đồng Nai. Phần đông lưu dân di cư một cách tự phát, họ tổ chức thành từng nhóm một vài gia đình hoặc cử những người khỏe mạnh đi trước đến vùng đất mới, tạo dựng cơ sở rồi đón gia đình vào sau. Phương tiện lưu chuyển chính là ghe – thuyền bởi lúc bấy giờ, việc đi lại giữa các phủ miền Trung với vùng Gia Định chủ yếu bằng đường biển. Tất nhiên cũng có những người không đi bằng ghe thuyền, chấp nhận mạo hiểm trèo đèo lội suối đi bằng đường bộ, có khi ở lại một địa phương nào đó một thời gian rồi lại tiếp tục tìm đến vùng đất mới Đồng Nai. Số này có lẽ ít hơn bởi đường đi quá gian nan và mất nhiều thời gian. Tiến trình Nam tiến này ngày càng trở nên mạnh mẽ, qui mô hơn, nhất là sau khi các chúa Nguyễn thiết lập nền hành chính ở đất Gia Định. Câu ca dao: “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định – Đồng Nai thì về” đã cho chúng ta hình dung về con đường đi đến vùng đất mới là từ cửa Cần Giờ ngược sông Đồng Nai đến ngã ba Nhà Bè, từ đó hoặc theo sông Sài Gòn, hoặc theo sông Đồng Nai, các thế hệ lưu dân định cư trên các giồng đất cao ven sông, cù lao giữa sông rồi tiến dần khai phá vùng bán sơn địa. Không chỉ phát triển nông nghiệp, lưu dân còn phát triển các nghề thủ công và thương nghiệp. Chứng tích của cuộc sống sôi động này phần nào đã được phản ánh qua hàng ngàn đồ gốm cổ được người dân tìm thấy ở sông Đồng Nai. Phần lớn những đồ gốm này ngư dân vớt được khi đánh bắt cá, tập trung ở các khúc sông gần Cù Lao Rùa (Bình Dương), Cù Lao Phố (Biên Hòa), ven các cù lao nhỏ thuộc quận 9 thành phố Hồ Chí Minh… Lúc đầu họ chỉ nhặt những chiếc bình, khạp còn nguyên, mang về trồng cây kiểng hay dùng đựng đồ, còn các loại đồ gốm nhỏ thì liệng lại xuống sông hoặc bỏ lăn lóc trong góc vườn nhà. Sau này, khi nhận biết giá trị kinh tế của những cổ vật này thì nó đã trở thành đối tượng “săn tìm” của nhiều ngư dân, họ dùng lưới rà sát đáy sông nên vớt được khá nhiều đồ gốm còn nguyên vẹn và khá phong phú về loại hình. Phần lớn những cổ vật này l¨¤ các chất liệu đất nung, sành, gốm có men nâu, men ngọc… Dựa vào chức năng và loại hình có thể phân ra ba nhóm chính:

Nhóm I: Dụng cụ đun nấu ăn uống

Đồ vật thuộc nhóm này có nhiều kiểu dáng nhất, chất liệu đều là đất nung, gốm có các màu nâu đỏ, xám, xám đen, từ loại mỏng mịn đến thô dày. Gồm các loại hình nồi, ơ, trách, âu liễn, bát, tô, đĩa, cốc, ấm, siêu nấu nước… Đặc biệt có nhiều nồi đất nhưng hình dáng giống kiểu nồi bằng đồng mà trước những năm 1960 ở vùng nông thôn Bắc bộ vẫn còn phổ biến.

Nhóm II: Đồ dùng sinh hoạt

Số lượng nhóm này tuy không nhiều lắm nhưng là đồ khá “cao cấp” vì thường là đồ gốm có phủ men nâu, men ngọc, trắng ngà vẽ men lam. Gồm các loại đèn gốm, bình vôi, ống nhổ, ấm trà, bát nhang, các kiểu bình, lọ, chai, chậu (vịm), bình hình ống, cối… Dễ dàng nhận thấy nhiều đồ dùng là của người Hoa, như loại đèn gốm có men trắng hay xanh ngọc, bầu đèn có 1, 2 hay 3 tim đèn, đèn gốm tráng men là để dùng đựng dầu thực vật không bị thấm. Có nhiều kiểu như đèn có quai treo dùng trên ghe xuồng, đèn có chân đế cao thấp khác nhau, đèn có đĩa hứng tàn… Khác với một loại đèn cổ có từ thời văn hóa Óc Eo ở Nam bộ làm bằng đất nung, rất dày và thô nặng, đốt cháy bằng mỡ động vật hay chất dầu nhựa cây.

Nhóm III: Các loại đồ đựng

Loại này vô cùng đa dạng và kích cỡ lớn. Đồ gốm dùng để chứa đựng chất liệu rất chắc, thường là đồ sành (mà người Nam bộ hay gọi đồ da đá da lu), hầu hết có men nâu đen nhưng do ngâm nước lâu ngày nên bị tróc men. Nhiều đồ vật được trang trí hoa văn đơn giản như sóng nước, đường viền, hay những núm nhỏ hình hoa, hình bướm… Có các kiểu đồ đựng như: bình, vò, hũ, chóe, khạp… Niên đại và nguồn gốc những đồ vật này khá phức tạp. Đây cũng là nhóm có số lượng lớn nhất.
Tác giả đã khảo sát nhiều sưu tập đồ gốm cổ vớt từ sông Đồng Nai hiện đang lưu giữ tại một số bảo tàng và nhiều sưu tập tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương… từ đó nhận biết một vài đặc điểm sau đây.

1. Gốm cổ sông Đồng Nai rất phong phú và đa dạng về loại hình.

Hầu hết các vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của người dân đều được tìm thấy ở đây. Trừ một số ít đã có dấu vết sử dụng (như ám khói đun nấu, bị sứt mẻ) còn lại hầu hết là đồ còn mới, chứng tỏ đây còn là những sản phẩm hàng hóa trên đường lưu chuyển. Nghiên cứu loại hình, kiểu dáng đồ dùng sẽ cho biết nhiều thông tin về cuộc sống, sinh hoạt vật chất và tinh thần của cư dân thời kỳ này.
Đồ gốm cổ sông Đồng Nai đã thể hiện kỹ thuật làm gốm cổ truyền của Đông Nam Á và Nam Trung Quốc qua một số phương pháp sau:

– Nặn tay bằng dải cuộn: dùng một dải đất nhỏ cuộn chồng lên nhau là phương pháp chủ yếu để chế tạo các đồ dùng ở nhóm I (dụng cụ đun nấu ăn uống) và một số loại hình ở nhóm II (đèn 2 đĩa bằng đất nung, ấm nấu nước, 1 số kiểu nắp nồi…). Các loại hũ, ghè, bình (kích thước nhỏ đến lớn) ở nhóm III cũng được chế tạo bằng cách này. Dấu vết dải cuộn còn để lại mặt trong của hiện vật, mặt ngoài được gắn miết khá kỹ và có một lớp áo gốm láng, mịn. Tuy nhiên đồ vật dày nặng vì phụ thuộc vào độ dày của dải đất (còn gọi là con chạch đất).

– Nặn tay bằng khối đất: Đặt một khối đất vừa đủ trên bàn kê và dùng tay nhồi nắn thành hình đồ vật, để lại mặt trong đồ vật dấu hòn kê hoặc ngón tay, bên ngoài cũng được miết khá láng. Phương pháp này làm được những đồ gốm tương đối mỏng, đáy và thân tròn đều.

– Phương pháp in khuôn: sử dụng khuôn tạo hình đồ vật, đất cắt thành từng miếng mỏng theo yêu cầu, áp sát vào mặt trong của khuôn kết hợp với tay ấn: khuôn thường là một phần của sản phẩm (như phần dưới đáy của nồi gốm – phần trên với cổ và miệng được nặn tay rồi gắn chắp vào phần dưới) hoặc khuôn 2 mảnh, dấu ghép khuôn để lại khá rõ ở dọc thân đồ gốm (nồi gốm hình nồi đồng) hoặc ghép ngang thân (siêu nấu nước).

Sau khi dùng hai phương pháp trên để tạo dáng, đồ gốm được đặt lên bàn xoay để chỉnh sửa cho mịn láng, mỏng, tròn đều, để gắn chắp một vài bộ phận khác như núm cầm, quai treo, và trang trí hoa văn… Cách tạo hoa văn cũng rất đơn giản: dùng dụng cụ như răng lược tạo hoa văn sóng nước hay đường vạch kiểu “khuôn nhạc”, một vài đồ vật có hoa văn in sẵn ở khuôn. Những đồ gốm có men xanh trắng hoa văn thường vẽ dưới men, một số đồ gốm hoa văn men màu vẽ trên men nền trắng ngà.
Đặc biệt có một số đồ đựng có lỗ khoan nhỏ ở giữa đáy hoặc bên thân gần sát đáy. Dấu khoan tạo ra trước khi đồ gốm được nung, chưa rõ chức năng những đồ gốm có lỗ khoan này.

2. Nguồn gốc và niên đại:

Nghiên cứu loại hình, kiểu dáng và kỹ thuật chế tạo những đồ gốm này, có thể nhận biết phần lớn những dụng cụ đun nấu ăn uống, sinh hoạt… có nguồn gốc gốm Việt, như nồi đất, nồi kiểu nồi đồng, ấm nấu nước, bình vôi, bát đĩa… gốm Nam Trung Quốc như siêu nấu nước, nồi có tay cầm, đèn gốm, nhiều kiểu hũ, bình; gốm Chăm như nồi, trách, trã, ghè ống, bình vôi có núm cầm…. Hầu hết có niên đại khoảng thế kỷ 17 – 18, số ít có niên đại sớm hơn (thế kỷ 15 – 16) như loại bình vôi men ngọc, muộn hơn như đèn gốm men trắng có quai treo phổ biến vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20.
Kết quả các đợt điền dã của chúng tôi ở khu vực Cù Lao Phố – Đồng Nai cho biết, hầu hết các loại hình đồ gốm trên là sản phẩm của các lò gốm dọc Rạch Lò Gốm trên Cù Lao Phố. Khoảng cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18, nơi đây đã là một cảng thị sầm uất, vừa phát triển hoạt động thương mại, đồng thời vừa là trung tâm các làng nghề thủ công: làm gốm, dệt chiếu, rèn đồ sắt… Kỹ thuật sản xuất gốm ở đây là sự phối hợp và phát triển kỹ thuật làm gốm của người Chăm, người Việt với truyền thống kỹ thuật làm gốm Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Phước Kiến) mà lưu dân người Hoa mang vào từ khoảng nửa sau thế kỷ 17. “Các lò gốm của người Chăm, người Việt, người Hoa ra đời trước năm 1698 (thời điểm thành lập phủ Gia Định) đều tập trung ở quanh một con rạch thuộc xã Hiệp Hòa hiện nay nên có tên là Rạch Lò Gốm. Giai đoạn 1698 – 1776, dinh Trấn Biên được thành lập, gốm sản xuất ở địa phương còn được gọi là gốm Trấn Biên chánh yếu là gốm Cù Lao Phố” (1). Ngoài ra còn có nhiều đồ dùng mà người Việt, người Hoa mang theo từ quê hương vào vùng đất mới trong buổi đầu khai phá. Một số hình bình vôi sành, hũ sành tìm thấy ở đây đã được xác định là sản phẩm khu lò sản xuất đồ sành ở Mỹ Xuyên (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế, khai quật 1993 (2). Đây là di tích lò gốm chuyên sản xuất nhiều loại đồ sành như hũ, ghè, bình vôi. Dựa vào kỹ thuật, những người khai quật cho rằng có nhiều khả năng chủ nhân khu lò gốm sành Mỹ Xuyên là người Việt, những sản phẩm có nhiều loại hình gốm Việt, gốm Chăm, niên đại khoảng thế kỷ 17 – 18. Một phần những sản phẩm ấy đã theo chân những đoàn lưu dân Ngũ Quảng vào đến vùng đất mới Gia Định – Đồng Nai.
Ngoài những cổ vật trên, đáng lưu ý còn có những cổ vật mà nguồn gốc từ xa hơn. Các loại hình đồ đựng như bình con tiện, bình củ tỏi, vò gốm men nâu… là gốm Khmer, niên đại thế kỷ 11 – 12, gốm Thái Lan thế kỷ 14 – 15 có hộp men ngọc nắp hình tháp (stupa), các kiểu hũ cổ thắt có quai nhỏ trên vai… Vào thế kỷ 12 – 13 khi vương triều Angkor hưng thịnh và giai đoạn Thái Lan phát triển vào thế kỷ 14 – 15, gốm Khmer và gốm Thái Lan được xuất cảng rộng rãi đến vùng hạ lưu sông Đồng Nai, lưu vực sông Mêkông, bán đảo Malaixia và đến tận quần đảo Indonexia… (3). Sông Đồng Nai đã là con đường giao thương của nội địa bán đảo Đông Dương với khu vực Đông Nam Á hải đảo.

3. Cổ vật tìm thấy trong lòng sông Đồng Nai không chỉ có đồ gốm (chiếm số lượng nhiều nhất) mà còn có đồ đá (bàn nghiền, chày nghiền, tượng thần, phù điêu, rìu cuốc đá mài…), đồ đồng (rìu, giáo, “qua” đồng – một loại vũ khí cổ của Trung Quốc, nồi đồng)… Số lượng cổ vật có nguồn gốc từ sông Đồng Nai mà một số bảo tàng thu mua được chắc chắn chỉ chiếm một phần nhỏ so với số lượng hiện vật hiện đang còn được lưu giữ trong nhân dân. Tuy vậy, bước đầu nghiên cứu sưu tập hiện vật này đã giúp chúng ta phần nào hình dung được cuộc sống của cư dân cổ nơi đây, nhất là về vai trò quan trọng của sông Đồng Nai trong các giai đoạn lịch sử.

Từ thời tiền sử, đôi bờ Đồng Nai từ Cù Lao Rùa (Bình Dương), Cù Lao Phố (Biên Hòa) xuống đến vùng cận biển Bà Rịa – Vũng Tàu và cửa biển Cần Giờ (TP.HCM) dày đặc các di tích khảo cổ học. Sau thời kỳ của văn hóa Óc Eo (thế kỷ I – thế kỷ 7), lưu vực Đồng Nai (từ Đồng Nai thượng xuống cửa biển) được coi là địa bàn của một “tiểu quốc” trải dọc theo đôi bờ Đồng Nai. Trong tiểu quốc này có trung tâm Tôn giáo là khu di tích Cát Tiên, có trung tâm chính trị là Thành cổ (khu vực Biên Hòa) và một trung tâm kinh tế là Cảng thị Cần Giờ. Mô hình của tiểu quốc này tương tự các tiểu quốc – tiểu vùng – của vương quốc Champa (như tiểu vùng Amavarati Quảng Nam Đà Nẵng: Sông Thu Bồn với Thánh địa Mỹ Sơn, thành cổ Trà Kiệu và cảng thị Đại Chiêm hải khẩu – Hội An). Vì là một tiểu quốc nằm giữa nên khi thì chịu ảnh hưởng của Chân Lạp, khi thì chịu sức ép của Champa song vẫn có sắc thái riêng của mình. Sắc thái ấy thể hiện ở khu di tích Cát Tiên (Đồng Nai Thượng) có niên đại thế kỷ 8 đến thế kỷ 10 (4).Những di tích di vật tìm thấy tại vùng hạ lưu sông Đồng Nai có niên đại thế kỷ 10 đến thế kỷ 14 “mang đặc điểm vùng đệm, ít chịu ảnh hưởng của Angkor cũng như của Champa, truyền thống văn hóa hậu Óc Eo tiếp tục tồn tại”(5). Từ khoảng thế kỷ 14 miền Đông Nam Bộ trở nên hoang vu cho đến thế kỷ 16 – 17 lưu dân người Việt, người Hoa vào khai khẩn, lập nên Cù Lao Phố sầm uất. Thực chất, Cù Lao Phố là cảng sông sâu trong nội địa, là trung tâm của vùng đất mới được khai phá. Do cuộc chiến liên tục giữa Tây Sơn và Nguyễn Anh, từ năm 1776 trở về sau Cù Lao Phố lụi tàn. Đồng thời công cuộc khẩn hoang được mở rộng về miền Tây đã đẩy nhanh sự phát triển của Bến Nghé – Sài Gòn. Cảng Bến Nghé – cũng là cảng sông trong nội địa – với hệ thống kênh rạch chằng chịt ngày càng tỏ rõ vai trò trung tâm thông thương giữa các miền Đồng Nai – Vàm Cỏ – Cửu Long với nhau và với bên ngoài qua cửa biển Cần Giờ. Các cuộc khảo sát, thám sát khảo cổ tại khu vực đường Tôn Đức Thắng, rạch Thị Nghè (cảng Bến Nghé xưa), trên các giồng đất đỏ ven các sông, rạch ở Cần Giờ… đã tìm thấy rất nhiều hiện vật có cùng loại hình, cùng niên đại với đồ gốm gia dụng tìm thấy trong lòng sông Đồng Nai.
Nghiên cứu lịch sử – văn hóa – xã hội vùng đất Nam Bộ, không thể không nhìn nhận vị trí địa – lịch sử và bản chất địa – văn hóa quan trọng của sông Đồng Nai. “Khảo cổ học lòng sông Đồng Nai” đã là yêu cầu được đặt ra trước mắt. Nếu chương trình được thực hiện sẽ mang lại nhiều tư liệu quý giá cho nhiều lãnh vực và những nhận thức sâu rộng mà một vài nhận xét trên đây chỉ là những ý kiến sơ bộ .

_________________________________________________________________

THAM KHẢO

1. Trần Hiếu Thuận: Có một “đời sống văn hóa gốm” ở Biên Hòa. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 5/97.

2. Trần Anh Dũng: Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra và khai quật khu sản xuất đồ sành thôn Mỹ Xuyên, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Tư liệu Thư viện Viện Khảo cổ học – Hà Nội.

3. Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển. Nhà xuất bản Đồng Nai, 1998.

4. Trần Quốc Vượng: Về nền tảng văn hóa Dân gian ở vùng Đông Nam Bộ. Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 1998.

5. Lê Xuân Diệm: Biên Hòa – Đồng Nai trước thời khai phá của cộng đồng người Việt. T/c Văn hóa nghệ thuật, số 11/98.

Tiến Sĩ NGUYỄN THỊ HẬU

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Phố đồ cổ vỉa hè tại Huế

Những năm gần đây, du khách đến Huế không khỏi tò mò và ngạc nhiên khi trên đường Trần Hưng Đạo đoạn dọc bờ sông Hương bày bán la liệt… đồ cổ. 100m vỉa hè bỗng nhiên trở thành địa điểm giới thiệu sản phẩm cổ xưa của đất Cố Đô.

untitled-11

Vắng khách, buồn vì không có người tán chuyện! Ảnh: Phương Trang.

Tại đây, đồ cổ – vốn tưởng chỉ hợp với không gian viện bảo tàng hay tủ kính nhà những tay chơi chuyên nghiệp – được bày bán rất đa dạng và phong phú về chủng loại, từ “thượng vàng” đến “hạ cám”. Từ đồ cổ xịn đến đồ cũ, đồ giả cổ…; từ những vật dụng cá nhân như lược chải đầu, đèn dầu, đèn pin, mũ, ba lô… đến những đồ cổ có giá trị như: đồ gốm thời Chu Đậu, Chăm, Minh, Thanh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn…

Các loại tiền đồng cổ có khắc tên bằng chữ Hán như: Ba loại tiền Tự Đức Thông Bảo; Hàm Nghi Thông Bảo (mặt lưng có hai chữ “Lục Văn”) hay tiền Tự Đức Bảo Sao (mặt  lưng có  bốn chữ “Chuẩn Tứ Thập Văn”)… bày ra trước mắt khiến du khách không khỏi ngạc nhiên về sự đa dạng.

Các mặt hàng cổ được sắp đặt khiêm tốn, có phần lọt thỏm giữa không khí náo nhiệt của thành phố, nhưng lại có sức cuốn hút kỳ lạ với những du khách, tạo nên một nét nhỏ nhưng hấp dẫn của văn hóa Huế.

Đồ bày bán ở đây đa số là do những người dân vạn đò phát hiện và trục vớt ở sông Hương. Nhà nghiên cứu văn hóa Huế Hồ Tấn Phan gọi đó là sự kiện “vô tiền khoáng hậu”, bởi chính những người dân vạn đò chất phác ấy đã đánh thức đồ cổ sau một thời gian dài ngủ quên dưới lòng sông. Vốn là những người chuyên lấy nghề lặn vớt phế liệu làm kế sinh nhai, họ vô tình vớt được những vật quí. Có cái họ bán ngay, có cái trông đẹp thì đem cất làm kỷ niệm đến khi có người hỏi mua giá cao lại bán. Cứ thế, dần dà họ trở thành những người lặn tìm đồ cổ dưới đáy sông chuyên nghiệp.

untitled-21

Tiền cổ cả nắm! Ảnh: Phương Trang.

Trên một đoạn đường ngắn có tới 6 hàng bày bán đồ cổ gần nhau, chủ hàng lại là con cháu những tay chơi đồ cổ có tiếng ở Huế. Họ thu mua đồ cổ từ dân vạn đò, đồ quý hiếm sẽ giữ lại chơi hoặc đem chào bán cho những tay chơi chuyên nghiệp, còn lại thì bán vỉa hè cho phần lớn người mua là dân du lịch…

Người bán dường như ngồi đây không chỉ để bán, bởi họ sẵn sàng bỏ ra cả giờ đồng hồ hầu chuyện một du khách thừa thời gian lẫn sự tò mò về đồ cổ. Khách gật gù, chủ cứ thế thao thao, chẳng giấu giếm gì, cứ như thể được tâm sự về nghề với du khách cũng là niềm vui.

Vãn chuyện, khách mua được thì mua, không chọn được món đồ nào cũng chẳng sao. Anh Thanh – chủ một quầy đồ cổ vỉa hè, đưa một tập card visit khoe với tôi: “Khách cả đấy, nhưng chẳng ai mua! Họ say đồ cổ, không mua mình cũng sướng!”

Có lẽ, du khách tìm đến đồ cổ vỉa hè để tìm về với văn hóa Việt cổ, để mục thị, để chất vấn, để thẩm định, để đối thoại với những giá trị văn hóa tưởng chừng như đã ngủ quên.

Còn khách du lịch nước ngoài tìm đến đồ cổ vỉa hè cũng là cơ hội để các chủ hàng đồ cổ quảng bá văn hóa Việt ra bạn bè quốc tế. Từ những câu chuyện nhỏ thôi, du khách sẽ biết đến Việt Nam, biết đến Huế nhiều hơn.

Chỉ tiếc, đồ cổ bày bán ở vỉa hè Trần Hưng Đạo phần lớn do dân vạn đò trục vớt nên đa phần không được vẹn toàn như xưa. Công cụ trục vớt quá thô sơ dẫn đến tình trạng cổ vật hư hỏng ít nhiều.

Huế đã có những con phố có “tên”: phố “cà phê”, phố “cơm hến”, thậm chí cả phố “nhậu”, nhưng phố đồ cổ thì chưa thấy. Có ý kiến cho rằng, nên chăng đưa những quầy “đồ cổ vỉa hè” tự phát kia về phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu!?

Làm được điều ấy, con đường đẹp nhất Huế sẽ có thêm một nét chấm phá thú vị. Và “nhân đạo” hơn khi mỗi dịp lễ tết, những tay chơi đồ cổ vỉa hè phải nghỉ bán, nghỉ chơi vài ngày vì lý do giữ cảnh quan thành phố!

Read Full Post »

Chợ trời PanJia Juan

pjynew3

Nếu bạn chỉ có cơ hội đi chợ một lần duy nhất tại Bắc Kinh, hãy du hành đến khu bazaar ngoài trời đầy màu sắc nơi bán mọi loại hàng hóa: cổ vật, thủ công, mỹ nghệ phẩm này – chợ PanJia Juan. Tọa lạc tại mạn đông – nam Bắc Kinh, ngay phía đông công viên LongTan. Mặc dầu được mở cửa buôn bán mỗi ngày, chợ vẫn luôn sống động hơn vào những ngày cuối tuần, khi có nhiều cửa hàng mở cửa hơn.

pj176

Gần như toàn bộ những món bạn mong muốn mua đều có thể kiếm thấy tại đây: ngọc, các loại đá Tây Tạng và các sản phẩm thủ công dân tộc khác, sách các loại, tác phẩm mỹ nghệ, đồ lưu niệm thời cộng sản, tiền xưa, dây đeo – chuỗi hạt, các loại tượng, hạt bẹt, lụa, đồ sứ, nhạc cụ, đồ nội thất…không phải tất cả các món cổ vật đều là đồ thật do vậy tốt nhất nếu bạn cần thì nên đi mua tại nơi khác. Tuy nhiên khi bạn thấy thích thú trong việc săn tìm bằng cách trả giá hay chỉ thích thú tìm kiếm một món nào đó mà mình ưng ý thì đây chính là nơi bạn cần đến. Đối với những người quan tâm đặc biệt đến đồ nội thất, hảy thử đi đến khu chợ hàng nội thất cổ ChaoWai kế cận, chỉ tốn năm phút đi bộ về hướng bắc.

pjynew1

Ban sơ chợ chỉ là một chợ trời họp ở vỉa hè , dần dần tụ hội khắp nơi xa gần những người đến bán những thứ họ có thể bán ngày một đông và đến khoảng 1990 thì những con đường hẻm nhỏ phố hutong vào những ngày cuối tuần đông ngịt đến nỗi những người buôn bán phải dạt vào công viên kế cận và bày hàng bán ở giữa những cái cây. Chợ trở nên nổi tiếng và phổ biến nên cuối cùng chính quyền phải hợp pháp hóa bằng cách xây khung chợ và cho thuê chỗ mua bán.

pjy046

Để có thể lựa chọn thoải mái, hãy đi chợ sớm vào những ngày cuối tuần. Vào mùa hè chợ thường bắt đầu họp vào lúc 4 giờ sáng và đừng quên trả giá.

pjy207

pjy189

pjy022

pjy004

pjynew4

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

 


Read Full Post »

Đồ sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa:

Nội phủ thị trung

Đó là một trong số các hiệu đề bằng chữ Hán trên đồ sứ do vua chúa Việt Nam đặt làm từ Trung Quốc dưới thời Lê Trung Hưng (1533 – 1788). Kiểu dáng cùng hình thức trang trí trên dòng đồ này khá phong phú. Nhưng chúng có một điểm chung dễ nhận ra là sự thuần khiết của một gam xanh biến ảo trên nền sứ trắng.

Trong khoảng 200 năm tồn tại của thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh – đặc biệt kể từ khi Bình An Vương Trịnh Tùng nối nghiệp cha là Trịnh Kiểm hoàn thành cuộc Trung Hưng – đánh bại sự tiếm ngôi của nhà Mạc – đưa vua Lê Thế Tông trở lại kinh thành Thăng Long vào năm 1595 và lập “Phủ liêu” điều hành chính sự – việc đặt làm và nhập khẩu đồ sứ Trung Quốc cung ứng cho nhu cầu sử dụng của Phủ Chúa đã diễn ra như một tất yếu và liên tục. Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập tới “Nội Phủ Thị Trung” – một hiệu đề thuộc loại sứ đặt làm phục vụ cho nhu cầu của Phủ Chúa. Có mối bang giao gốm sứ Việt – Trung này ngoài nguyên do thời đó, gốm Đại Việt dù đã nổi tiếng song vẫn sút kém sứ Trung Quốc về độ bóng đẹp cũng như về độ bền chắc; còn bởi lẽ với việc đặt làm đồ sứ, các Chúa Trịnh cũng như vương triều Lê Trung Hưng qua đó khẳng định chủ quyền đất nước với người bạn láng giềng phương Bắc là Trung Quốc. Theo sử sách, nhà Minh niên hiệu Vạn Lịch đã cử sứ sang chúc mừng nhà Lê khi cuộc Trung Hưng vừa thành công.

Ngay sau đó, vào niên hiệu Sùng Trinh, nhà Minh đã công nhận vua Lê Thần Tông(1619 – 1643) là Quốc vương của Đại Việt và Chúa Trịnh Tráng lúc đó – được vua Lê trao quyền điều hành chính sự – là Phó quốc vương.

Định chế “song trùng quyền lực” này tồn tại trong suốt thời kỳ Lê – Trịnh đã cắt nghĩa tính không đồng nhất trong đồ sứ đặt làm trong thời kỳ này. Sự pha trộn giữa chuẩn mực của phong cách sứ Hoàng thất với tính phóng khoáng trong lối vẽ thiên về dân gian đã tạo nên sự tìm hiểu thú vị đối với dòng sứ này trong nhiều năm qua.

Chiếc bát “Nội Phủ Thị Trung” này (trong ảnh số trước) thể hiện rồng và long mã coi rất cổ kính; niên đại được xác định vào khoảng đầu thế kỷ thứ XVIII. Con rồng bốn móng – theo các định chế xưa thì chỉ có vua mới được dùng đồ vẽ rồng năm móng – như đang ẩn hiện trong những đám mây hướng về con long mã trên lưng chở sách và kiếm (còn gọi là Long mã đeo thư) đang đạp mây bước tới ở chiều ngược lại. Trong lòng bát vẽ một chữ “Thọ” lớn theo thể triện tròn. Tính thẩm mỹ cao tạo nên giá trị nghệ thuật của một cổ vật hội đủ ở loại bát “Nội Phủ Thị Trung” này. Hình tượng rồng ở dòng hiệu đề này như chiếc bát chẳng hạn, thể hiện rồng bốn móng; trong khi đó, ở một vài hiện vật khác cùng hiệu đề, con rồng lại chỉ thấy vẽ có ba thậm chí đôi khi chỉ có hai móng. Đây chính là đặc điểm vượt ra ngoài tính chính tắc, niêm luật mà các lò sứ chuyên sản xuất đồ dùng cho Hoàng thất của Trung Quốc không bao giờ mắc phải, trừ khi họ nhận được “thượng dụ” được phép chế tác các sản phẩm như thế.

Tương tự như vậy, cách thể hiện mây, rồng, long mã trên cùng một loại nậm rượu hiệu “Nội Phủ Thị Trung” (trong ảnh) đã cho thấy những nét khác biệt; đôi khi làm thay đổi cả bố cục trang trí. Điều này không bao giờ thấy xuất hiện trên những đồ “ngự dụng” luôn phải tuân theo tính quy phạm nghiêm ngặt. Một đặc điểm dễ nhận thấy là tuy “Nội Phủ Thị Trung” có những điểm khác biệt trong hình thức thể hiện nhưng bố cục chung – cho dù trong hình tròn như đĩa hoặc theo chiều đứng như trên các nậm rượu, ống bút và theo dải như trên các loại bát… – đều có xu hướng kéo dãn các hình thể. Đây là đặc điểm dễ nhận ra trong các bức tiểu họa trên sứ của các nghệ nhân dân gian Trung Quốc suốt thời Minh mạt Thanh sơ vào nửa cuối thế kỷ thứ XVII. Tính thiếu đồng nhất trong bố cục cùng những chi tiết quan trọng thể hiện chung một đề tài cho thấy dòng đồ này muốn khẳng định tính quan dụng, đôi khi là dân dụng nhiều hơn là “ngự dụng” – của nhà vua – thường mang tính đồng nhất, chính tắc cao.

Dẫu vậy, dòng sứ này đến nay đã được giới sưu tập thừa nhận là “thượng phẩm” bởi tính trội về giá trị nghệ thuật cũng như lịch sử của chúng so với các loại sứ “nhập khẩu” do nhu cầu dân dụng cùng thời.  Bằng vào sự thuần nhất của cốt sứ, sắc lam vẽ trên món đồ cùng lớp men phủ cũng như kỹ thuật cắt gọt công phu, các sản phẩm mang hiệu đề này tự khẳng định chúng được một trong số các xưởng Hoàng Thất ở Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây – Trung Quốc chế tạo. Cũng cần nêu thêm rằng, cùng thời với buổi đầu Trung Hưng của triều Lê ở Việt Nam, các phủ đệ nổi tiếng bên Trung Quốc dưới triều Minh như: Trường Phủ, Chu Phủ (niên hiệu Gia Tĩnh), Tấn phủ (niên hiệu Long Khánh), Thẩm Phủ (niên hiệu Vạn Lịch)… và đầu triều Thanh có Cư Phủ (niên hiệu Khang Hy)… đều đặt đồ sứ riêng và  đề hiệu theo tên phủ của họ như: Trường Phủ, Tấn Phủ, Cư Phủ… để dùng.

Như vậy, các chúa Trịnh với việc hoàn thành cuộc Trung hưng, lập ra “Phủ liêu” để điều hành chính sự đã cho đặt làm đồ sứ “Nội Phủ Thị Trung” bên Trung Quốc, một mặt nhằm đáp ứng cho nhu cầu sử dụng nơi phủ Chúa; mặt khác xem ra quan trọng hơn là qua “ngoại giao gốm sứ”, các chúa Trịnh muốn khẳng định mối bang giao chính thống giữa Đại Việt với nước láng giềng lớn ở phương Bắc. Hiển nhiên đường lối đối ngoại này đã góp phần tạo thế hơn hẳn của các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài so với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào thời điểm đó.

Tuy nhiên không rõ nguyên cớ, hiệu đề này vẫn còn được đặt làm cho đến tận cuối triều Nguyễn. Ngày nay “Nội Phủ Thị Trung” giả xuất hiện khá nhiều. Không ít các “sưu tập gia” ở cả trong nước và nước ngoài chỉ qua sách vở đã mua nhầm phải đồ giả hay còn gọi là đồ “phỏng” cổ chủ yếu là bát, đĩa. Do đó khi gặp “Nội Phủ Thị Trung” vẽ rồng năm móng hoặc nhân vật phải hết sức cẩn trọng.

Nhật Nam

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »