Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘chơi đồ cổ’

5 dòng “danh sứ” celadon ngự dụng đời nhà Tống

Như  đã đề cập trong bài GỐM SỨ CELADON – CÂU TRUYỆN CỦA MỘT CÁI TÊN gốm celadon xuất hiện lần đầu tiên dưới thời Đông Hán (sau 206 B.C). Cho mải đến triều đai nhà Đường (619 A.D. – 960 A.D.), nghệ thuật chế tạo Celadon mới đạt đến trình độ thuần thục. Tiếp theo sau việc thành lập Nam Kinh ở Hangzhuo trong Triều đại Tống (960 A.D.- 1279 A.D.) thì việc sản xuất đồ gốm men celadon đã đat đến những đỉnh cao mới. Chính trong giai đoạn phát triển này các lò xưởng gốm ở miền Nam và Bắc Trung Quốc đã lần lượt phát minh ra các dòng gốm sứ  Celadon men rạn rất tinh tế và lôi cuốn, trong số đó có 5 dòng gốm men rạn được giới sưu tập mệnh danh là ‘Five Great Song Wares’ hay 5 dòng “danh sứ” men rạn đời nhà Tống: Guan , Ge, Ding, Jun và Ru.

Mổi loại gốm của 5 dòng gốm sứ này đều có những đặt điểm riêng phân biệt được duy chỉ có gốm men rạn Guan và Ge là vẫn có lẫn lộn chưa thống nhất mặc dầu thông thường người ta cho rằng: với dạng đường rạn màu nâu đen đan xen rộng là dòng sứ  Guan và với dạng 2 loại đường rạn nứt đan vào nhau xenjinsi tiexian (gold thread and iron wire) như sợi chỉ màu vàng và chỉ màu nâu đỏ thường liệt vào dòng sứ  Ge.

1. Dòng sứ  Guan ( imperial – ngự dụng): còn được gọi dựa vào sự đồng âm là “Kuan” hoặc “Quan” :

Title:Celadon Vase, one of a pair Date:Sung dynasty Medium:Kuan ware High-fired stoneware with blue-green glaze and induced crackle Dimensions:H.5-5/8 x W.3-1/4 x D.2-3/4 in. Creation Place:Asia, China

Title:Celadon Vase, one of a pair Date:Sung dynasty Medium:Kuan ware High-fired stoneware with blue-green glaze and induced crackle Dimensions:H.5-5/8 x W.3-1/4 x D.2-3/4 in. Creation Place:Asia, China

Các lò gốm sản xuất dòng sứ  Guan được điều hành bởi quan chức triều đình nhà Tống ( thế kỷ 12 – 13) và ở thời gian đầu với sản lượng hạn chế chủ yếu dùng trong triều chính (ngự dụng). Vì hàm lượng chất sắt cao trong đất sét nên cốt gốm Guan thường có màu đen , lớp men phủ dày , trong và có màu xanh xám nhạt. Gốm sứ  Guan sau này được các nhà sưu tập nhóm vào một trong năm ” loại gốm sứ  ngự dụng đúng danh nghĩa”. Cũng giống như loại gốm men Celadon Lung-ch’uan ( Lonquan – men không rạn) , dòng sứ  Guan rất được triều đình Thanh ngưỡng mộ và giao cho các xưỡng gốm Cảnh Đức Trấn tái sản xuất mô phỏng lại .

Title:Dish Date:960-1279 Medium:Kuan ware Stoneware with pale blue glaze and induced crackle Dimensions:1 x 5 1/2 in. (2.54 x 13.97 cm) Creation Place:Asia, China

Title:Dish Date:960-1279 Medium:Kuan ware Stoneware with pale blue glaze and induced crackle Dimensions:1 x 5 1/2 in. (2.54 x 13.97 cm) Creation Place:Asia, China

Chick trên hình để xem phóng lớn các sản phẩm dòng Quan ware:

Guan Type Vase S0005 S0006S0007S0008S0009

Guan Type Vase

2. Dòng gốm Ge

Là loại gốm Celadon có men phủ xám trắng và hoa văn rạn khá chặc, có nguồn gốc từ tỉnh Triết Giang vào thế kỷ 13- 15. Các phiên bản sản phẩm copy xuất hiện ngay sau giai đoạn này và trở thành phổ biến đặt biệt vào đầu thế kỷ 20, lúc này thường kết hợp với hình thức có viền rìa không phủ men hoặc khắc chạm chìm.

Dụng cụ rửa bút , dòng gốm celadon Ge

Dụng cụ rửa bút , dòng gốm celadon Ge

Chick trên hình để xem phóng lớn các sản phẩm dòng Ge ware:

Ge Type Vase

Ge Type Vase

Ge Type Wash Pot

Ge Type Wash Pot

3. Dòng gốm celadon Ru

sản phẩm thuộc dòng gốm ngự dụng đời nhà Tống Celadon Ru được sản xuất tại các ngự diêu xưởng vùng BaoFeng thuộc tỉnh Henan. Các xưởng gốm sản xuất dòng Ru được chỉ dịnh sản xuất gốm sứ dùng trong triều đình Tống để thay thế dòng celadon Ding ở miền bắc TQ đã từng được triều đình ưa chuộng trước kia.

Không giống như  gốm dòng Ding khi nung được đặt lật úp nên có viền không phủ men -sản phẩm thuộc dòng gốm Ru khi nung được đặt trên các con kê nên sản phẩm được phủ men toàn bột. Sản phẩm thuộc dòng gốm sứ này (stoneware) có đặt điểm nhận dạng đặt biệt là các vị trí đặt con kê có màu lửa nung rất đẹp và có hình dạng giống như  “hạt mè” và dạng thức hoa văn đường rạn giống như  ” dấu vết chân cua để lại” và men phủ mang màu xám tro. Có ít hơn 100 hiện vật cổ thực sự được biết còn tồn tại trên toàn thế giới.

Chick trên hình để xem phóng lớn các sản phẩm dòng Ru ware

Ru Type Vase

Ru Type Vase

Ru Type Vase ( Chử viết của Hoàng Đế Càn Long lưu lại trên phần đế )

Ru Type Vase ( Chử viết của Hoàng Đế Càn Long lưu lại trên phần đế )

4. Dòng gốm men Jun

Men gốm dòng Jun là phức hợp men ánh lam thỉnh thoảng có điểm tia đỏ, được phát triển và sản xuất ở tỉnh Henan trong suốt giai đọan Bắc Tống. Được gọi là gốm Jun là do dòng gốm này có nguồn gốc xuất phát từ thành phố Jun Zhou. Diêu xưởng cổ nhất tọa lạc tại nơi bây giờ là thành phố Yuzhou tỉnh Henan.

Dòng gốm này có một lịch sử phát triển và các câu chuyện về sản phẩm copy nủa nó khá dài dòng dự tính sẻ dành cho lần post bài khác

Jun bowl

Jun bowl

Jun Ware with Silver Line Wash Pot

Jun Ware with Silver Line Wash Pot

5. Dòng sứ Ding

Jun Ware with Silver Line Wash Pot

# Medium: Ding ware, porcelain, glaze # Place Made: China # Dates: 960-1127 # Dynasty: Northern Song Dynasty # Collections: Asian Art # Museum Location: This item is on view in Asian Galleries, 2nd Floor # Accession Number: L1996.7 # Credit Line: Lent by Diane Schafer # Image: Overall, L1996.7_transp4556.jpg. Brooklyn Museum photograph # Bowl with Flaring Sides, 960-1127. Ding ware, porcelain, glaze Brooklyn Museum, Lent by Diane Schafer, L1996.7 (Photo: Brooklyn Museum, L1996.7_transp4556.jpg)Catalogue Description: White stoneware, clear glaze, incised

Chiếc tô loe vành tại viện bảo tàng Brooklyn là minh họa rỏ nhất của dòng sứ trắng ngà voi hoặc màu rơm được sản xuất tại các xưởng gốm Ding tại miền bắc TQ từ thế kỷ thứ 10 đến đầu thế kỷ 13. Các điển hình ví dụ khác có các motif trang trí hình hoa vẽ tự do rất yêu kiều – các sản phẩm sứ Ding có chất lượng tốt nhất rất được triều đình Bắc Tống (960-1127) ưa chuộng và đưa vào sử dụng trong cung.

Đĩa sứ Ding - Viện bảo tàng Anh

Đĩa sứ Ding - Viện bảo tàng Anh

Ding ware

Ding ware

 

KhanhHoaThuyNga

(Nội dung và hình ảnh từ các nguồn: Gotheborg, Arstmia.org, Ajantique, sites của Viện bảo tàng Brooklyn và Anh quốc.)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Chợ trời đồ cổ tại Berlin

Image

Bộ đồ ăn tráng lệ!

Chủ nhật và những ngày nghỉ, khi dân nghiền shopping không thể lang thang cả ngày mua sắm vì các cửa hàng đóng cửa im ỉm thì chợ đồ cổ ở Berlin lại bắt đầu họp.

Thế giới đồ cổ ở Berlin

Trong vô số những điểm đến hấp dẫn ở Berlin thì chợ trời có lẽ là điểm dân du lịch ưa khám phá và tiêu tốn nhiều thời gian nhất. Người Đức cũng rất thích đi chợ trời, đặc biệt là những người già. Không phải họ có quá nhiều thời gian rỗi mà vì chợ đồ cổ là nơi nhiều người trong số họ có thể tìm lại chút dư vị của quá khứ qua những món đồ xưa cũ.

Những người trẻ thì gần như chỉ dừng chân ở những điểm bán đồ trang sức, bị hút vào những tấm bưu thiếp cũ hay loay hoay trong hàng ngàn chiếc đĩa than ở một góc khuất trong chợ. Khỏi mất công đi đâu xa cũng có thể mua được những đĩa nhạc xịn của Elvis Presley, Abba, Pink Floyd, Jimi Hendrix, Rolling Stones… phát hành từ ngày xửa ngày xưa.

Chợ trời ở Berlin khá nhiều, hàng chục cái nằm rải rác khắp thành phố. Chợ mở theo phiên, thông thường là vào Chủ nhật, một số họp thêm vào thứ 4 hoặc thứ 7. Cả một khu đất rộng toàn những ki-ốt căng bạt trắng, đông nghẹt người và hàng ngàn món đồ trong tiếng mặc cả ồn ào. Mưa, nắng, không thành vấn đề, các cuộc mua bán vẫn cứ vui như tết. Chỉ cần 50 cent (khoảng 11.000VNĐ) là đã có thể rời chợ với một món hàng.

Đã là chợ trời, chợ đồ cổ thì cái gì cũng có. Từ tem, vỏ bao diêm, bưu thiếp, tranh, sách đến đồ trang sức, bật lửa, huy chương…, từ máy ảnh, đồng hồ đến đĩa than, từ bát đĩa sứ có hàng trăm năm tuổi đến những chiếc giá nến mạ vàng, từ những chiếc tẩu cổ đến kèn saxophone… tất cả đều được bày bán. Ngoại trừ các ki-ốt bán sách, trang sức, quầy nào cũng bày bán cả chục, cả trăm món đồ khác nhau, miễn là cũ, là cổ. Thôi thì đủ loại, từ đồ gốm đến đồ đồng, từ đồ gỗ đến vàng, bạc… muốn gì cũng có, sở thích có kỳ quặc đến mấy cũng được đáp ứng. Với những người tham lam, 7 tiếng đồng hồ của mỗi buổi chợ không đủ để họ xem hết những thứ mình thích dù chân đã mỏi rã rời.

Đi chợ trời, mở bảo tàng!

ImagePhu nhân của một vị cựu Đại sứ Việt Nam tại Đức thừa nhận phần lớn bộ sưu tập đồ gốm sứ và pha lê Đức cũng như châu Âu với hàng ngàn món phần lớn được bà mua từ các chợ đồ cổ họp ngoài trời. Với người phụ nữ ấy đi chợ đồ cổ vừa là thú vui, vừa là đam mê. Bà sưu tập phần nhiều là đồ gốm sứ men trắng và đặc biệt thích sưu tập búp bê bằng sứ. Gần 10 năm ở xứ người bà đã kịp sở hữu bộ sưu tập búp bê và tượng sứ độc nhất lên tới cả trăm con. Búp bê sứ với những đường nét mềm mại tinh xảo dĩ nhiên không chỉ dành cho trẻ con bởi giá của nó có khi lên tới 65euro (khoảng 1,4 triệu đồng). Ngôi biệt thự mang đậm kiến trúc Đức của bà tại Hà Nội giống như một bảo tàng tư nhân về đồ gốm sứ và pha lê độc đáo mà không phải ai cũng có cơ hội ghé thăm.

Tại các chợ trời ở Berlin, đồ gốm sứ được bày bán rất nhiều bên cạnh lượng lớn các món đồ bằng đồng, bạc và gỗ. Đồ gốm sứ chủ yếu là những vật dụng trong gia đình như bát đĩa, ấm chén, bình trà, giá nến… Ngoài những bộ thìa dĩa được làm tinh xảo, đồ gốm sứ là thứ mà các bà nội trợ ghé xem và trả giá nhiều nhất. Người Đức thích đồ gốm, thích màu men trắng và đặc biệt chú ý đến những hoạ tiết.

Họ xem xét thận trọng và cân nhắc rất kỹ trước khi quyết định mua một món đồ mình thực sự thích và thấy quý. Đồ gốm sứ được bày bán nhiều nhưng không phải món nào cũng có người động đến bởi một vẻ ngoài bóng bẩy không phải là yếu tố duy nhất để níu chân họ lâu bên một món đồ dù nó có quý đến đâu.

Với dân sành đồ gốm thì nhìn thấy một chiếc đĩa sứ với những hoạ tiết tinh xảo của Hà Lan ra đời năm 1910 hay chiếc đĩa gốm trắng tinh có từ năm 1832 hoặc chiếc đĩa tráng men xanh niên đại 1845 xuất hiện trên quầy bán đồ cổ đúng là trúng số độc đắc. Tuy nhiên, ấn tượng nhất vẫn là những chiếc đĩa sứ tráng men tuyệt đẹp với những kiểu dáng và hoạ tiết tinh xảo. Đồ gốm có xuất xứ khá đa dạng nhưng phần nhiều vẫn là từ vùng Bavaria nổi tiếng của Đức cũng như các đồ gốm sứ có xuất xứ từ châu Âu. Tuy nhiên gốm sứ của Hà Lan, Anh… cũng được bày bán khá nhiều. Mỗi món đồ có một giá trị riêng. Với người này nó đáng giá cả một gia tài còn với người khác lại không ý nghĩa gì.

Máy ảnh cổ bằng cả gia tài

ImageBên cạnh đồ gốm, máy ảnh và đồng hồ cổ được bày bán nhiều nhất và cũng được dân chơi hỏi thăm nhiều nhất. Máy ảnh chiến trường xuất hiện từ Thế chiến I và Thế chiến II khá phổ biến. Chúng có thể được bán… kèm trong ki-ốt bán bưu thiếp cổ đã hoen màu thời gian hay bày trong tiệm chỉ bán toàn những món đồ xuất hiện trong thời chiến.

Ở đây dân nghiền máy ảnh cổ có thể dễ dàng tìm thấy một chiếc Agfa Synchro Box ’Made in Germany chính hiệu được sản xuất trong những năm 1950 vẫn còn bao da hoặc chiếc Exakta ra đời trước Thế Chiến II vẫn còn mới bên cạnh chiếc Rolleiflex đời đầu, model 2.8F năm 1929. The most popular model is the, cổ bóng lộn nằm hoành tráng trên chiếc giá mỹ miều được ông chủ hô ’’12000euro, không có cái thứ hai đâu’. Đến dân ngoại đạo còn bị chúng hút hồn nói gì đến các tay sưu tập máy ảnh cổ.

Còn đồng hồ thì khỏi phải bàn, từ quả quýt, quả lắc, đeo tay đến treo tường, để bàn…, từ loại vài chục đến vài trăm tuổi, từ đồng hồ vỏ đồng đến vỏ gỗ, từ hình tròn đến những hình thù… không định dạng nổi đều có cả. Có anh bạn người Việt mỗi lần sang Đức đi chợ đồ cổ chỉ thích ngắm và mua đồng hồ, mỗi lần mất ít nhất mấy chục euro mà chưa thấy chán. Hỏi ’Có lần nào mua hớ không?’, trả lời ’Biết thế nào là hớ, là đắt là rẻ vì đồ cổ thì vô cùng. Có cái mua rẻ nhưng với mình thì vô giá. Nếu là dân buôn, mua đồng hồ ở đây về bán đảm bảo lãi to’’.

Rất nhiều dân chơi đồ cổ Việt Nam đã khuân về được vô khối những món đồ quý bổ sung cho bộ sưu tập của mình qua những lần xuất ngoại như vậy. Ít nhất một lần họ vớ được những món đồ vô giá mà có khi nhiều năm sau mới biết mình đã gặp may.

Tuy nhiên, cách chơi của nhiều người VN đôi khi vẫn nghiêng về số lượng hơn, chơi nhiều nhưng không tinh. Khác với lối sưu tập của nhiều người Đức. Với nhiều người, quan trọng là phải tìm được món đồ thật độc, thật giá trị, thật hoàn hảo thay vì ôm về cả rổ. Bà Ute Krembe năm nay đã 71 tuổi là khách hàng thường xuyên của các khu chợ đồ cổ ở Berlin và thứ bà mua nhiều nhất, dĩ nhiên là đồ gốm sứ và bộ thìa bạc. “Tôi thích đi chợ đồ cổ thế này, hơi mệt nhưng vui, nhất là khi mua được bộ thìa đẹp thế này, chỉ có 10 euro thôi. Thường thì tôi không mua nhiều, có khi mấy tháng mới mua được món vừa ý nhưng có được rồi thì lại thích mãi’’.

Duy trì một thú chơi không dễ. Ngoài thời gian, tiền bạc còn cần có đam mê và phong cách nữa!

Image Image

Image

Image Image

Image Image

Image

Image Image

<theo VietnamNet>

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

 


Read Full Post »

Khi nào thì một bản sao mô phỏng trở thành một cổ vật giả mạo?

Jan – Erik Nilsson

Tôi vừa mới nhận một tấm hình của một bản sao đồ sứ thời Vạn Lịch, tôi thấy món hàng đẹp, được làm rất tốt khá thu hút và hoàn toàn không có ý định lừa dối ai. Điều này hoàn toàn tương phản với chiếc đĩa vẽ hình cá dưới đây – 100% là đồ giả với ý đồ xấu.Tôi nhận thấy vấn đề “lúc nào một bản sao trở thành một món hàng giả ?” là đáng đặt ra.
Việc sưu tầm cổ vật thật giống nhiều với trò chơi trí tuệ: Ai gạt ai?

Đĩa cổ giả mạo

Đĩa cổ giả mạo


Đây là một trong những món đồ giả thú vị mà tôi từng gặp.
Chiếc đĩa vừa mới được làm cho trông giống một cái đĩa lõm đế thời Minh mạc ( cuối đời nhà Minh). Bạn có thể thấy là nó khá mới do có vết mạt đen bám vào viền ngoài đế đĩa, ánh hơi xanh hơn của men trên phần lõm của đế đĩa so sánh với màu men ở phần bên ngoài rìa. Và nếu có thể cầm trên tay, bạn có thể nhận thấy vẽ “rực rỡ tân thời” của lớp men này.
Cái đĩa nàyđã được xử lý hóa chất để trông có vẻ là một món đồ vớt được từ tàu đắm. Trang trí đỏ và xanh lá để nhìn giống như dòng đồ “Swatow” đã được thêm vào, và được mài, chà nhám cho mờ đi lớp men để trang trí men trông như mòn theo năm tháng. Vết tích của vật liệu mài có thể nhìn thấy sót lại tại các lổ kim nhỏ trên men, khi xem xét kỹ qua kính lúp 10x.
Một con cá được vẽ thêm vào rồi mới đến bước xử lý lớn – bằng keo dán hay chất dẻo nào đó tạo các đường sọc hơi nâu nham nhở. Tại sao người ta phải trải qua các bước rắc rối này để tạo một chiếc đĩa vẽ hình cá giả?
Một chiếc đĩa Thời Minh mạc ” swatow lõm đáy, men đỏ và xanh lá vẽ hình cá” có giá 50 – 100 USD ngày nay nên được trả giá, một phần vì trước kia chưa từng có hiện tượng này. Tuy nhiên có đáng không khi chỉ sản xuất một cái đĩa? Không chắc lắm, nhưng với 1000 cái loại này với giá 100usd/cái thì bài tính thương mại là hoàn toàn khác.

Thông thường sẽ không có vấn đề gì khi ta gặp một món đồ mà ngay lập tức nhận thấy ” dường như là đúng đời”. Nếu không phải như thế thì việc trả lời ” vậy nó được làm ra khi nào, trong trường hợp này” sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều.
Ngay cả khi được sản xuất tại những thời điểm khác với hình thức món đồ thể hiện, chúng vẫn có thể hấp dẫn và sưu tập được. Những bản sao mô phỏng lúc nào cũng được làm ra, một số cổ vật xuất sắc thời “Minh” được sản xuất vào thời Ung Chính và một số đồ vật đẹp thời “Ung Chính” được làm trong thập niên 1920.
Vậy khi nào thì một bản sao mô phỏng trở thành một cổ vật giả mạo? Có lẽ chúng ta phải tìm hiểu ý đồ khi mua bán.Nếu nó được sản xuất, bán hay trao đổi chỉ với ý định là lừa gạt, tôi nghĩ chúng ta nên cho chúng là đồ giả (fake). Trường hợp giả mạo tồi tệ nhất mà tôi nhận xét là việc sử dung những biện pháp nhân tạo để làm sản phẩm trông già tuổi. Có nhiều sản phẩm phủ men được chà xát, đánh bóng, xử lý bằng acid, cố tình làm bể, nứt để trông được già tuổi, giống như chiếc ” đĩa trang trí cá” tội nghiệp này.
Chúng ta có nên nhìn vào quy mô của việc thương mại này theo một cách khác? Tại Trung Quốc việc làm và bán các bản sao mô phỏng cổ vật ( antique replica) thật sự là một nghành kinh doanh xuất khẩu lớn, vì việc xuất khẩu cổ vật chính hiệu là hoàn toàn nghiêm cấm.
Theo tôi, nghành thương mại “cổ vật” này được tổ chức rất tốt.
Những đồ gốm Đường Tam Thái ( Tang sancai) quan trọng và những cổ vật kỳ quặc khác đã được dùng mánh khóe để vượt qua TL Test ( phương pháp thử phát xạ huỳnh quang nhiệt). Thật ra chỉ là việc sử dụng đúng thiết bị với một vài sự cân chỉnh. Ở đâu đó chắc chắn có người biết phải mất bao nhiêu lần cho một ” tượng ngựa thời Đường” đi qua máy dò an ninh phi trường để ion hóa vừa đủ và trở thành 1250 tuổi khi được test.
Mặt hàng kinh doanh thuộc mọi triều đại và mọi loại chất liệu như đồ gỗ, thủy tinh, sơn mài, đồng, đá, ngọc, cẩm thạch, vải vóc, tranh vẽ, đồ sứ và mọi loại gốm khác. Ngay cả những hàng sứ mỹ nghệ được sản xuất muộn mãi 1920 – 1930 vẫn được làm nhân bản.
Những mảnh rời và có thể nguyên một sản phẩm triều đại Hán được điêu khắc từ những viên gạch thời Hán thật sự nhưng vô giá trị được lật lên từ những công trình làm đường. Chính bản thân tôi đã mua phải một “mảnh rời cổ vật thời Hán” với giá 25 USD tại một hội chợ. Những mảnh này là không thể phân biệt với đồ thật bằng thử TL test vì viên đá thật sự 2000 năm tuổi. Tuy nhiên quan sát kỹ có thể phân biệt được.
Một trò lừa khác là nghiền nát các mảnh vỡ của các cổ vật thật và trộn với keo dán với mục đích sửa chữa. Trò này cũng vượt qua TL test, một lần nữa đồ vật bị làm vỡ rồi được “sửa chữa” thành đồ thật nhưng hư hỏng.
“Đào phá lăng mộ” trộm qua đêm để tạo ấn tượng “giống như đồ vật thật sự” cho những thứ dĩ nhiên đã mới được chôn trước đó là trò lừa ở mức độ tinh vi hơn.Mới đây, nhiều tô gốm sứ lớn gọi là “Jun” được tuồn vào Singapore bởi một nhóm người và khẳng định hoàn toàn là đồ “đào” trộm. ( Trên các diễn đàn cổ vật Việt Nam, khi giới thiệu hàng cho cộng đồng thuật ngữ “đồ đào” vẫn thường xuyên được dùng cũng với ý nghĩa như trên nhằm gây ấn tượng là đồ thật)
Bằng những cách tương tự, những cuộc khảo sát “dò tìm cổ vật tàu đắm” cũng được tổ chức mà ở nơi đó người mua vớ phải những đồ cổ ướt nhẹp sau khi nó được “tuồn” về nhà nhưng khi khám nghiệm kỹ lưỡng hơn thì không được “cổ” như thế. Ngay bây giờ trên bàn tôi cũng có một số món như thế được gửi từ Đông Nam Á.
Theo kinh nghiệm của tôi, một số đồ cổ thật với chất lượng kém thường được chào chung với những món hàng giả mạo nhằm củng cố cho khả năng là đồ thật cho những món còn lại là chiêu chào hàng nhắm vào khách hàng tiềm năng. Xảo thuật này cũng dùng cho nhiều “lô” hàng lớn và nhỏ.

Sau tất cả những điều này việc gì phải làm? Từ bỏ và sưu tập mặt hàng khác? Tôi sẽ trả lời là không dù ngay cả đôi khi tôi thấy thật mệt mỏi với chuyện này.Nền công nghiệp làm hàng giả, tôi muốn nói, là mối đe dọa lớn đối với việc kinh doanh cổ vật hơn là các nhà sưu tầm cổ vật.

KhanhhoaThuynga lược dịch.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Phố đồ cổ vỉa hè tại Huế – 2
Khách đến xem đồ cổ
Huế có những hàng đồ cổ bình dân trên phố. Người ta có thể tìm thấy ở đây nhiều món đồ từ bình dân tới cao cấp.
Đến Huế, nếu tò mò, đành phải gạt “tâm hồn ăn uống” sang một bên, ta ghé lại đoạn vỉa hè ven phố Trần Hưng Đạo ấy xem người ta bày bán thứ gì mà lặt vặt, mà tỉ mỉ nhường kia. Hóa ra bên cạnh mấy món đồ bình, lọ bằng đất nung còn có thật nhiều chén bát, đồ đồng, đồ sứ… Giọng Huế của chàng trai bán hàng khiến ta không thể không dừng xe, tắt máy: “Vô coi đồ cổ đi mấy chú! Toàn đồ nội phủ đó!”…
Đồ cổ bình dân
Những món đồ cổ được bày bán trên vỉa hè
Đoạn vỉa hè râm mát, những món đồ cũ kỹ, nhỏ xinh nằm im lìm làm không khí chung quanh đoạn phố càng như yên tĩnh thêm. Chỉ có hai “cửa hàng” như thế trên phố Trần Hưng Đạo trên vỉa hè của thành phố Huế. Bày bán ngay trên những tấm nilon cách nhau một quãng chừng 500m, hai ông chủ trẻ dường như thèm người để nói chuyện. Vừa nhác thấy bóng người dừng xe, không kể già hay trẻ, là tiến tới thuyết minh liền: “Cách đây hơn 400 năm, tức năm 1601 đó chú, tiên chúa Nguyễn Hoàng đã không nhầm khi quyết định dừng vó ngựa bên bờ Linh Giang. Linh Giang chính là con sông Hương đằng ni kìa…” Thật kỳ lạ, lịch sử của một xứ Đàng Trong mà ngay một người dân bình thường cũng thuộc như thuộc đường chỉ trên lòng bàn tay. Chàng thanh niên khoảng 27, 28 tuổi cười hiền lành: “Giỏi giang chi mô, chú. Con làm nghề này thì phải đọc sách, phải tìm hiểu thôi, con còn có thể kể cho chú lai lịch của từng món đồ ở đây kìa…” Trên nền gạch lát vỉa hè cũ xỉn, trong thấp thoáng bóng nắng chiếu qua vòm lá, những chén, đĩa, bát, lọ, bình, ấm, âu, liễn, nậm, hũ… tỏa ra một thứ sức hút kỳ lạ, sức hấp dẫn của thời gian và những thăng trầm lịch sử. Rồi còn cả bình vôi, điếu bát bằng gốm bịt đồng tinh xảo, những thứ mà thanh niên thời nay có nhìn thấy chưa chắc đã biết gọi tên. Khiêm tốn hơn, ở một góc là “đồ cổ của Tây” bao gồm tẩu thuốc, huân chương, mặt dây chuyền, thìa đĩa, bật lửa…, hầu hết là bằng đồng.
Giá cả tùy từng loại, có mặt dây chuyền hình nữ thần mặt trời giá 40.000 đồng, có những chiếc đĩa lam vẽ hình hoa cúc, chuồn chuồn, chữ Thọ… giá từ 300.000 – 500.000 đồng. Đôi khi, chỉ thỉnh thoảng thôi, anh chủ hàng tìm được một chiếc bình quý của người Chăm, hay bình men ngọc của đời Lý, bán được tới gần chục triệu. “Đồ cổ thiệt chứ không phải là đồ giả mô chú! Món “trẻ” nhất của con ở đây cũng trên trăm tuổi rồi, con không nói giỡn chơi đâu. Giá rẻ bèo vậy là có lý do. Đây là những món đồ lâu đời, nhiều tuổi, nhưng là những vật dụng của người dân thường, những đồ dùng sinh hoạt của người dân trong cuộc sống hàng ngày, hoặc là đồ nội phủ, tức là đồ dùng trong những gia đình quan lại, chứ không phải là đồ Ngự dụng, không phải đồ trong cung cấm. Những đồ dùng của vua chúa, hoàng hậu, hoàng phi đó bày bán trong các cửa hiệu to, giá cả cũng “to” luôn đó chú…”. Bên cạnh chúng tôi,  một cụ già tóc bạc dường như không để tâm lắm đến lời giới thiệu của cậu bán hàng trẻ tuổi. Cụ đang nâng trong tay một chiếc điếu bát có viền bằng đồng chạm, soi lên trong nắng. Trước đôi mắt mờ đục đang nheo lại xa xăm, món đồ dường như lung linh, bí ấn…
Góc phố ngược thời gian
Đợi lúc vắng khách, chàng trai kể: Nhà anh có 10 chiếc ghe, thuê một đội thợ để chuyên đi mò đồ cổ. Ghe thuyền đi khắp nơi, có chiếc ngược lên tận Hải Dương,  Vân Đồn, có chiếc chuyên quanh quẩn ở vùng Cửa Đại… Người thợ lặn đeo kính, tay cầm một mảnh thiếc, lặn xuống thiệt sâu ở những nơi có nước xoáy, hy vọng mảnh thiếc chạm vào được vào một vật gì phát ra tiếng kêu thanh thanh… Bán những món đồ cổ bình dân này, lời lãi không cao, chỉ đủ chi trả cho ghe thuyền và đội thợ. Muốn bán có lời thì phải thuê được cửa hiệu, phải có đường dây chuyên giới thiệu khách ham sưu tầm. Nhiều người rất thích đồ cổ của thường dân, nhưng những nhà sưu tầm lớn, những người lắm tiền thì lại chỉ tìm mua đồ ngự dụng thôi. Với lại, khách hàng toàn là người am hiểu, hoặc là khách quen, nên anh không dám nói thách… “Nhưng cái nghề này cũng ngộ lắm đó chú. Con đọc nhiều sách, đọc cả tạp chí Cổ vật tinh hoa, riết rồi hình như… thông minh ra,” chàng trai cười và ngượng nghịu gãi đầu. “Có nhiều lúc, kiếm được chiếc bình hay lọ hoa quý mà bị bể, bị khuyết một miếng, con ngứa chân ngứa tay đem sửa lại. Con mài đi cho bớt sứt sẹo, hay mang đi bịt đồng, hoặc nhờ thợ gốm vá lại… Tưởng vậy thì ngon ăn hơn, ai dè khách mua lại chê. Họ thích những món đồ còn nguyên vết thời gian, còn chân thật kia. Chỉ “giả” một chút là cũng không ai thích đâu, chú ạ…”.
Lục lại chút kiến thức lịch sử còn sót lại trong đầu, chúng tôi nhớ rằng gốm sứ Đại Việt nổi tiếng với ba dòng gốm men chính, là: gốm men ngọc thời Lý, gốm men mầu ngà hoa nâu thời Trần và gốm men trắng hoa lam thời Lê. Tại góc vỉa hè dường như bị thế gian lãng quên này, những đại biểu bình dân của một thời quá khứ xa xưa ấy vẫn hiện diện. Có những chiếc đĩa trang trí hoa dây, hoa mẫu đơn hay hoa sen nét vẽ rất giản dị mà tinh xảo, lòng đĩa hơi rạn vết chân chim. Những chiếc bình của người Chàm, không hiểu ngày xa xưa nó có công dụng chính là gì mà kích thước nhỏ xíu xiu, bằng đất nung mầu còn nâu tươi như mới. Các kiểu bật lửa, tẩu thuốc theo những chuyến tàu viễn dương đầu tiên đến Việt Nam, giờ vẫn còn lấp lánh ánh kim loại, trông như bằng vàng. Những món đồ cũ kỹ, mờ xỉn, sứt sẹo, những chiếc bát mà hàng trăm năm trước có một người dân bình thường nào đó đã dùng sao thấy chúng đáng quý, đáng trân trọng đến thế.

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Đồ sứ men lam TQ thời Khang Hy

Trung Quốc được xem là cái nôi của ngành mỹ nghệ gốm sứ thế giới. Ngành này phát triển liên tục qua các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh rồi đạt đến đỉnh cao vào thời Thanh (1644-1911).

Đặc biệt, đồ sứ men xanh trắng (Thanh Bạch Từ Khí) triều Thanh Khang Hy (1662-1722) được giới sưu tầm thưởng ngoạn cổ vật trên thế giới công nhận là tốt đẹp nhất. Tại Việt Nam do điều kiện địa lý gần gũi, tương quan văn hóa mật thiết nên từ xưa qua con đường ngoại giao, thương mại, một số lớn gốm sứ Trung Quốc đã tồn tại khá nhiều, trong đó loại đồ sứ xanh trắng Khang Hy rất được quý chuộng. Để giúp cho giới sưu tập có cơ sở giám định về đồ sứ Khang Hy, chúng tôi xin cung cấp một số tiêu chí sau.

Khang Hy là vị vua giỏi nhất của triều Thanh, trị vì suốt 60 năm. Chính ông đã thống nhất đất nước, thiết lập một chính quyền vững mạnh, ổn định xã hội để phát triển kinh tế. Nhờ sự đặc biệt quan tâm của chính nhà vua nên ngành mỹ nghệ gốm sứ truyền thống Trung Quốc sau thời gian bị ngưng trệ lúc giao thời Minh-Thanh đã bật dậy mạnh mẽ. Cảnh Đức Trấn trở thành trung tâm sản xuất đồ gốm sứ lớn nhất thế giới. Chúng ta có thể chia ra ba thời kỳ:

Đầu Triều Khang Hy (1662-1682)

kangxi-1

Đầu thời Khang Hy

Đầu thời Khang Hy

Lúc đầu các lò quan  ở Cảnh Đức Trấn chỉ chuyên chế tạo, cung cấp cho triều đình vật dụng cúng tế. Hình dáng, hoa văn, thai cốt vẫn còn theo phong cách thời cuối Minh, men xanh nổi dày có chấm đen, màu sắc tối xám không được tươi đẹp. Cốt đất có nhiều tạp chất nên sau khi nung dưới đáy sản phẩm lộ ra màu đỏ gạch, có dính cát nhỏ. Thai thể dày nặng thô vụng, kiểu cách đơn giản. Đầu thời Khang Hy triều đình có lệnh cấm ghi niên hiệu vào đồ sứ dân dụng.

Giữa Triều Khang Hy (1683-1705)

kangxi-2

Giửa thời Khang Hy

Giửa thời Khang Hy

Bước vào thời thịnh vượng nhất của mỹ nghệ đồ sứ. Từ hình thức trang trí kiểu cách tạo hình, men màu đều phong phú mới lạ. Họa sĩ áp dụng họa pháp “tuyển nhiễm” bằng cách dùng bút lông thấm đẫm men màu xanh cobalt tô nhiều lần cho đậm hoa văn trên thai cốt trắng, sau đó phủ men trong. Đồ sứ xanh trắng chỉ nung một lần là thành phẩm vì oxide cobalt chịu được nhiệt độ rất cao (1.3500C).

Đặc biệt đồ sứ cao cấp do các lò quan chế tạo dùng loại men màu của tỉnh Vân Nam gọi là “Châu Minh Liệu” nên sau khi nung đồ sứ có hoa văn màu xanh tươi đẹp sáng bóng như ngọc, không có chấm đen (Hắc Thung Nhãn). Các màu xanh đậm nhạt nổi bật được gọi là “năm màu hoa văn xanh” (Thanh Hoa Ngũ Thái).

Nhìn chung đặc điểm của đồ sứ giữa thời Khang Hy là:

– Thai thổ: đất làm cốt được tinh luyện rất sạch không lẫn tạp chất, không có thiếc nên đáy không lộ màu đỏ như đồ sứ thời Minh.

– Thai thể: nhờ kỹ thuật cao nên rất mỏng, cứng chắc tinh xảo.

– Màu men xanh cobalt: có thể làm đậm nhạt trở thành nhiều màu rất tươi đẹp. Nên họa sĩ thể hiện được âm dương sáng tối dễ dàng, vẽ nhân vật có thần thái linh động tự nhiên, cảnh sắc núi sông bao la trùng điệp, hùng vĩ.

– Men bọc ngoài: trong suốt làm nổi bật hoa văn màu xanh trang trí dưới men nhưng không làm chói mắt như đồ sứ mới.

– Các sản phẩm lớn như lu, chóe, bình hoa, ống tranh, ống bút… thời này thường vẽ cảnh rồi viết kèm các bài danh văn như: Tiền Xích Bích Phú, Hậu Xích Bích Phú, Xuất Sư Biểu, Tứ Cảnh Độc Lạc, Thánh Chúa Đắc Hiền Thần Tụng… Cuối bài văn thường có khuôn dấu vuông bằng men xanh hoặc đỏ ghi “Hy triều phụ cổ, Hy triều bát cổ…”. Ngoài ra còn có loại hoa văn chìm rất đặc biệt.

– Về hiệu đề: ghi “Đại Thanh Khang Hy niên chế” hoặc phỏng theo “Đại Minh Tuyên Đức niên chế”, “Đại Minh Thành Hóa niên chế” viết theo kiểu chữ khải thành hai hoặc ba hàng (cũng có khi chỉ ghi bốn chữ thành hai hàng Khang Hy niên chế, Thành Hóa niên chế…), đồ dân dụng thì vẽ nhiều loại ký hiệu như một hoặc hai vòng tròn, khung vuông hoặc để men trắng.

Cuối thời Khang Hy (1705-1722)

kangxi-3

Cuối thời Khang Hy

Cuối thời Khang Hy

Nhờ triều đại thịnh trị kéo dài, đời sống xã hội liên tục phát triển mọi mặt khiến nhu cầu đồ sứ tăng lên rất nhiều. Kết quả thúc đẩy công nghệ chế tạo càng ngày càng tinh xảo. Đồ sứ xanh trắng cuối thời Khang Hy đạt đến đỉnh cao mỹ thuật, được đánh giá quý đẹp như ngọc thạch.

Hiệu đề dưới đáy sản phẩm (khoản thức, niên hiệu) của đồ sứ thời cuối Khang Hy rất đa dạng. Đồ ngự dụng, niên hiệu được ghi bằng lối chữ triện rất hiếm gặp. Đồ sứ cao cấp thường ghi tên các tòa nhà, hiên, trai: Càn dịch trai, Trung Hòa Đường, Ứng Đức Hiên, Nhã Ngoạn, Thanh Ngoạn…

Đồ sứ dân dụng thì vẽ các biểu tượng như: Hoa Mộc Diệp, Nấm Linh Chi, Cuốn Thư, Đỉnh Quý, Lá Lật… Đặc biệt thời này đồ án trang trí đề tài phong cảnh nhân vật nhỏ dần ảnh hưởng theo họa pháp của Triệu Bỉnh Trinh vẽ “Canh Chức Đồ (những đề tài mô tả việc cày ruộng, dệt vải)”.

Sản phẩm sứ xanh trắng từ giữa đến cuối thời Khang Hy được xuất khẩu đến thị trường các nước trong khu vực, tận vùng Tây Á, châu Âu.

Rất tiếc sau 300 năm với bao nhiêu biến động khắp nơi trên thế giới, đồ sứ Khang Hy cũng bị mai một dần. Do đó giới sưu tầm cổ vật thường ao ước làm chủ một vài món sứ Khang Hy tuyệt phẩm, nguyên lành để được xếp vào hàng sành điệu trong làng chơi cổ ngoạn.

Kangxi 1662-1722.  Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Kangxi 1662-1722. Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.

Kangxi 1662-1722.  Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.

Kangxi 1662-1722. Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.

non-imperial mark, leaf

non-imperial mark, leaf

Qing, kangxi - lingqi fungus mark (linh chi)

Qing, kangxi - lingqi fungus mark (linh chi)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Gốm Cây Mai của Sài Gòn xưa

Cuối thế kỷ trước, sách Gốm Cây Mai, Sài Gòn xưa(*) đã được xuất bản. Sau đó năm 1997, Bảo tàng lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khai quật khu lò gốm cổ Hưng Lợi (tục gọi lò Cây Keo, ở phường 16, quận 8): đưa ra ánh sáng những phát hiện thêm về làng gốm đầu tiên ở đất Sài Gòn này. Nay dựa trên những gì mới tìm thấy được, xin nói thêm đôi điều về Gốm Cây Mai, về xóm Lò Gốm.

Xóm Lò Gốm là địa danh được ghi bằng văn tự lần đầu tiên trên bản đồ Gia Định – Sài gòn do Trần Văn Học vẽ vào năm 1815. Sau đó không lâu, địa danh này được kể đến trong bài Phú Cổ Gia Định phong cảnh vịnh:

Cắc cớ chợ Lò Rèn, chạc chạc nghe nhà Ban đánh búa;

Lạ lùng xóm Lò Gốm: chơn vò vò Bàn cổ xây trời.

Như vậy, Xóm Lò Gốm hình thành muộn nhất là cuối thế kỷ 18. Nói cách khác, cùng với các làng nghề khác (như xóm Chậu, xóm Chỉ, xóm Bột, xóm Dầu/ Phụng du lý, chợ Lò Rèn, chợ Đũi… ), xóm Lò Gốm đã ra đời cuối thế kỷ 18 và thịnh đạt sau khi chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh kết thúc, khoảng sau 1790 trở về sau – đặc biệt những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. gốm Cây Mai là sản phẩm do cộng đồng thợ gốm di dân người Hoa tạo tác. Do đó, sự hình thành của xóm Lò Gốm ở xứ Đề Ngạn (Sài Gòn xưa) gắn bó nhân quả với việc tụ cư ở đây của các nhóm người Hoa lưu tán vì chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh từ Cù Lao Phố (Biên Hòa), Mỹ Tho (Tiền Giang) và thậm chí cả từ Hà Tiên hồi những năm 70, 80 của thế kỷ 18, dữ kiện lịch sử tụ cư này cũng khớp với nhận định nêu trên.

Sách Monographie de province de Biên Hòa (Ménard, 1901) cho biết: “theo thỏa thuận với người Hoa ở Chợ Lớn (hiểu là Đề Ngạn – Sài Gòn xưa) những người làm gốm ở Biên Hòa không được sản xuất loại sản phẩm Cây Mai”. Điều này chỉ ra: 1, Thợ gốm Cây Mai đã có một số người chuyển lên Biên Hòa lập nghiệp (theo kết quả điều tra trong năm 2003 thì gốm Cây Mai không chỉ dời về Biên Hòa, Lái Thiêu mà có một xóm gốm trung chuyển ở vùng TườngThọ, Thủ Đức – nay vẫn còn dấu vết); và 2, Họ đã có tổ chức “phường hội” để định ra những thỏa thuận trong công việc làm ăn.

Mới đây, trong cuộc điều tra tổng thể về các cơ sở tín ngưỡng ở các quận huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi phát hiện “trụ sở” của các lò gốm Cây Mai, gọi là “Đào lư Hội quán”, ở đình Phú Hòa (phường 12, quận 6, TP. Hồ Chí Minh). Tấm biển này ghi được làm năm Giáp Thân (1884 hoặc 1944?), chữ viết do “Bổn hội Mạch Chiếu Minh Thư”. Phát hiện này là bằng cớ chỉ ra tính chất phường hội của giới chủ lò và thợ gốm Cây Mai xưa và đồng thời góp phần xác định “trung tâm” của xóm Lò Gốm. Cũng cần lưu ý: hiện đình có thờ ba pho tượng vốn của chùa Giải Bịnh gần đình, gồm tượng Chơn Võ, Huê Quang và Nam Triều Đại Đế, là những đối tượng thờ tự của cộng đồng thợ gốm Phước Kiến ở Bình Dương (Tân Khánh, Lái Thiêu, Bà Lụa, Chòm Sao…). Điều này chỉ ra rằng chùa Giải Bịnh là trụ sở của Đào Lư Hội quán. Mặt khác cũng chỉ ra gốc gác của gốm Cây Mai và mối liên hệ của xóm Lò Gốm với các làng gốm ở Bình Dương – đặc biệt là làng gốm Lái Thiêu.

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Từ “trung tâm” này chúng tôi tiến hành khảo sát lại một vòng rộng có bán kính từ 2 đến 3, 4 cây số để tìm lại các di vật gốm Cây Mai, chủ yếu là xem xét các tượng thờ ở các đình, chùa miếu trong vùng. Kết quả là có một loạt tượng thô phác đáng chú ý:

Ba tượng gốm đất nung sơn màu: 1, Chơn võ; 2, Huê Quang; và 3, Nam Triều Đại đế của chùa Giải Bịnh, gần bên đình Phú Hòa (nay tượng được thờ trong đình).

Bộ tượng đất nung Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi ở miếu thờ thuộc đình Phú Đinh (quận 8).

Các tượng gốm sơn màu Quan Công, Thiên Hậu Nguyên Nhung, Kim Huê phu nhân và các tượng Cô, Cậu… ở chùa Từ Quang (191 Ba Tơ, quận 8).

DFGIEP042415
Tượng Lưu Bị

Bộ ba tượng gốm đất nung Quan Công Châu Thương – Quan bình ở chùa Thiên Phước (1581), Phạm Thế Hiển, quận 8.

Nói chung, các bộ tượng tại các địa điểm trên đều biểu hiện sự “non kém” về kỹ thuật dựng hình cũng như trình độ mỹ thuật so với tượng gốm men màu Cây Mai phổ biến mà chúng ta đã thấy. Trái lại, nó khá gần với loại tượng thờ nặn bằng đất sét (có trộn các chất phụ gia như vôi, giấy, sợi bông vải v.v… gọi chung là nê tố) mà di tích hiện tồn mà tiêu biểu là Quan Công ở chùa Phước Long nằm trong vùng này (288 Hậu Giang, phường 9, quận 6).

DFGIEP042415
Tượng Quan Công
Đất sét sơn màu (Nêtố)
Chùa Phước Long

Việc dựng hình đặc trưng của loại tượng gốm đất nung này là các pho tượng ngồi ở trong Từ Quan, có lẽ là tượng Minh Vương: phần tượng gốm phải nhờ chiếc ghế/ ngai gỗ mới ngồi được. Nếu không có ghế gỗ thì đài bệ gốm vẫn còn đậm dấu ấn của kết cấu gỗ dạng bậc cấp (tượng Thiên Hậu Nguyên Nhung và Kim Hoa phu nhân). Nói chung, kỹ thuật dựng hình phản ánh dấu ấn của kỹ thuật đắp tượng nê tố.

Về trang trí trên trang phục chúng ta cũng thấy rõ việc áp dụng hai kỹ thuật trang trí thuộc kỹ pháp nê tố: 1, Dùng các lát đất in khuôn các mảng rời (mũ, giáp, mây, rồng… trên long bào) để gắn vào cốt tượng; và 2 là, dùng kỹ thuật “bắt bông” (hiểu là cách trang trí giống như bắt bông kem trong nghề làm bánh) . Ở đây, nghệ nhân gốm dùng giấy quấn thành ống hình nón, đoạn đổ đất nguyên liệu vào đó và bóp mạnh để tạo thành sợi mà tạo nên các hoa văn. Kỹ thuật in khuôn áp dụng cho các đồ án phức tạp, còn kỹ thuật “bắt bông” áp dụng cho các đồ án trang trí đơn giản, bố cục thưa thoáng. Kỹ thuật này về sau được áp dụng trang trí tượng gỗ, tượng làm bằng giấy bồi gọi là kỹ thuật “sơn xe” (nguyên liệu chính gồm dầu chai, bột thạch cao).

DFGIEP042415
Tượng Thiên Hậu Nguyên Quân
(Đài bệ và lỗ khoét ở lưng để yểm tiền đồng còn dấu ấn tượng gỗ)
DFGIEP042415
Tượng Minh Vương ở chùa Từ Quang.
Tượng đặt ngồi trên ghế gỗ.

Những gì trình bày trên đây, chúng tôi muốn lưu ý rằng sản phẩm gốm mỹ thuật của xóm Lò Gốm (gọi chung là Gốm Cây Mai) có giai đoạn khởi phát với loại tượng gốm đất nung còn đậm dấu ấn của loại tượng nê tố và ít nhiều còn “hoài niệm” về tượng gỗ. Theo đó, việc hình thành làng nghề xóm Lò Gốm là một quá trình tiệm tiến hơn là sự chuyển giao ngành “công nghệ miếu vũ” có tính chất tốc hỷ, sản xuất các tượng thần, Phật và quần thể tiểu tượng men màu xinh đẹp. Ở đây, cũng cần lưu ý là loại tượng đất nung sơn màu cây mai đến nửa đầu thế kỷ 20, có một dòng phái sinh ở vùng Hoá An (Biên Hòa): tạo nên một tập thành tượng gốm đất nung sơn màu/ thếp vàng đặc sắc vừa có thừa kế truyền thống cây mai vừa có nhiều đổi thay về kỹ pháp dựng hình và trang trí (**). Việc phân biệt như vậy là cần thiết trong việc tìm hiểu về tượng gốm đất nung hiện còn tại các cơ sở ở Nam Bộ.

Huỳnh Ngọc Trảng

(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc: Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa, NXB Trẻ, Tp.HCM, 1994.
(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc và các tác giả: Tượng Gốm Đồng Nai – Gia Định, NXB Đồng Nai, 1997.


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Bleu de Hue, pháp lam Huế ở Châu Âu

Bình dâng rượu bằng pháp lam Huế nhưng được ghi là pháp lam Trung Quốc. Sưu tập của Bảo tàng DTM Muenchen

Bình dâng rượu bằng pháp lam Huế nhưng được ghi là pháp lam Trung Quốc. Sưu tập của Bảo tàng DTM Muenchen

Hơn 3 tháng trời “sục sạo” trong hàng chục bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở 3 nước Đức, Bỉ và Pháp, tôi đã “mục kích” hàng trăm món đồ cổ quý hiếm của Việt Nam, trong đó có rất nhiều cổ vật đến từ xứ Huế của tôi. Bài viết này giới thiệu những cổ vật có gốc gác từ cố đô Huế mà tôi đã “phát hiện” trong hành trình Theo dấu cổ vật Việt Nam vừa qua.

Bình rượu bằng pháp lam Huế. Sưu tập của Phillipe Truong

Bình rượu bằng pháp lam Huế. Sưu tập của Phillipe Truong

Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều nhà sưu tập châu Âu đã sưu tầm và đưa về chính quốc nhiều món cổ vật Việt Nam, trong đó có cổ vật Huế. Tiếp theo, những người lính viễn chinh quân đội Pháp, và sau đó là quân đội Hoa Kỳ, cũng đã “nhặt nhạnh” nhiều cổ vật mang về nước để làm vật kỷ niệm một thời chinh chiến ở Việt Nam. Sau năm 1954 và đặc biệt là sau năm 1975, nhiều người Việt Nam, khi ra định cư ở nước ngoài, đã mang theo nhiều cổ vật gia bảo để làm “của” nơi xứ người. Thế rồi, vì một lý do nào đó, họ (hoặc thân nhân của họ) lại mang những món gia bảo ấy rao bán trong các cuộc đấu giá đồ cổ ở Paris, London, Frankfurt, Berlin… như sưu tập Cổ Trung Ngươn (bán năm 1988), sưu tập Bảo Đại (bán năm 1994), sưu tập Bảo Long (bán năm 1995), sưu tập Hồ Đình (bán năm 1996), sưu tập Nam Phương (bán năm 1996), sưu tập Hà Thúc Cần (bán năm 1996)…

Những bảo tàng và sưu tập tư nhân ở châu Âu đã sở đắc nhiều cổ vật Việt Nam từ những phiên bán đấu giá này, và dĩ nhiên, cả từ nguồn cổ vật xuất khẩu trái phép từ Việt Nam, được bày bán công khai trong các cửa hàng bán đồ cổ ở nước ngoài.   Xứ Huế có hai nhóm cổ vật nổi danh khắp hoàn cầu là đồ sứ ký kiểu (còn gọi là bleus de Huế) và pháp lam Huế. Vì thế nhiều bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở nước ngoài đã tìm mọi cách để có được những cổ vật thuộc hai nhóm ấy. Về đồ sứ ký kiểu (ĐSKK), hầu như các bảo tàng mà tôi có dịp viếng thăm ở Đức, Bỉ, Pháp đều sở hữu nhiều món ĐSKK quý giá. Đáng chú ý là các sưu tập ĐSKK thuộc: Bảo tàng Linden Stuttgart (Đức), Bảo tàng Lịch sử và Nghệ thuật Hoàng gia (Bỉ), Bảo tàng Hoàng gia Mariemont (Bỉ), Bảo tàng Guimet (Pháp), Bảo tàng Mỹ thuật Rennes (Pháp)… Những bảo tàng này đã cử người theo sát các phiên bán đấu giá cổ vật Việt Nam ở Pháp, Đức, Anh trong những năm 1980 và đã mua được những món bleus de Hue tuyệt đẹp. Trong kho của Bảo tàng Linden Stuttgart đang cất giữ những chiếc bát sứ và đĩa sứ vẽ rồng hoàn hảo niên hiệu Thiệu Trị và Tự Đức. Bảo tàng Lịch sử và Nghệ thuật Hoàng gia (Bỉ) thì sở hữu những chiếc tô và tìm sứ ký kiểu thuộc các triều vua Minh Mạng và Thiệu Trị mà họ mua được từ cuộc bán đấu giá của cựu hoàng tử Bảo Long, trong khi, Bảo tàng Hoàng gia Mariemont lại sở đắc nhiều món cổ vật quý, đặc biệt là chiếc ống nhổ trang trí long phụng, hiệu đề Nội phủ thị trung, thuộc dòng ĐSKK thời Lê – Trịnh (cũng được giới cổ ngoạn xếp vào dòng bleus de Hue), một trong bốn chiếc tương tự được biết đến trên toàn thế giới. Riêng sưu tập ĐSKK của Bảo tàng Guimet (Pháp), gồm toàn những đồ ngự dụng thuộc các triều từ Minh Mạng đến Khải Định, thì vẫn đang được bảo quản trong kho, chưa bao giờ được đưa ra trưng bày. Tuy nhiên, người có sưu tập ĐSKK quý giá nhất là TS. Jochen May ở Neustadt (Đức). Ông bắt đầu sưu tầm đồ gốm Việt Nam từ hơn 20 năm nay và đã sưu tầm được hơn 300 món, trong đó có khoảng 150 món ĐSKK cực kỳ quý hiếm. Khi đến thăm sưu tập ĐSKK của ông, tôi vô cùng kinh ngạc vì ông có nhiều ĐSKK quý giá và phong phú như thế. Riêng nhóm ĐSKK thời Lê – Trịnh, ông sưu tầm đủ các hiệu đề: từ Nội phủ thị trung-hữu-nam-bắc-đông-đoài đến Khánh xuân và Khánh xuân thị tả. Đối với nhóm ĐSKK thời Nguyễn, TS. Jochen May cũng sưu tầm đủ các niên hiệu, từ Gia Long đến Khải Định. Jochen May cho hay ông đã tham dự hầu hết các cuộc bán đấu giá đồ gốm sứ Việt Nam tổ chức ở Paris, London và New York, đặc biệt là những phiên rao bán các ĐSKK của cựu hoàng Bảo Đại và của cựu hoàng tử Bảo Long. Nhờ vậy mà ông đã mua được những món đồ toàn bích, chất lượng cao để hợp thành một sưu tập ĐSKK hoàn hảo và ấn tượng.

Về cổ vật pháp lam, đáng chú ý là những món pháp lam Huế ở Bảo tàng Dân tộc học Berlin. Trước nay, các nhà nghiên cứu châu Âu gần như không có thông tin về nghề làm pháp lam ở Huế dưới thời Nguyễn. Vì thế, khi sưu tầm được những cổ vật pháp lam Huế, họ thường xếp chúng vào sưu tập pháp lam Trung Hoa. Trong kho của Bảo tàng Dân tộc học Berlin có 3 món pháp lam Huế để lẫn trong sưu tập pháp lam do lò Quảng Đông (Trung Quốc) chế tác. Khi tôi nói với TS. Siegmar Nahser, phó giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Berlin, rằng những món pháp lam này do Pháp lam tượng cục ở Huế chế tác vào thời Thiệu Trị, thì ông ấy rất ngạc nhiên và cho biết thêm: “Những cổ vật này đến từ Bảo tàng Nghệ thuật Đông Á của Đông Đức trước đây. Sau ngày nước Đức thống nhất, các bảo tàng ở Đông Berlin và Tây Berlin sáp nhập với nhau, nên có nhiều hiện vật chưa được thống kê và kiểm định trở lại. Chúng tôi cứ nghĩ những cổ vật này là pháp lam Trung Hoa nên để chung trong sưu tập Trung Hoa. Cám ơn anh đã giúp chúng tôi hiểu rõ xuất xứ của những cổ vật này”.

DMCKXE025822

DMCKXE025822

DMCKXE025822Các bộ uống trà bằng pháp lam Huế. Sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes

Sưu tập pháp lam Huế thú vị nhất mà tôi “tìm được” trong chuyến khảo cứu này thuộc về Bảo tàng Mỹ thuật Rennes (Pháp). Khi được TS. Françoise Coulon, quản thủ bảo tàng, hướng dẫn tôi đi thăm hệ thống kho cổ vật của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes, tình cờ tôi nhìn thấy mấy món pháp lam để lẫn với mấy món đồ đồng và đồ ngà cũ kỹ trong một góc kệ. Tôi ngỏ ý muốn được xem kỹ những món đồ này thì TS. Françoise Coulon cho biết: “Cách đây hơn 15 năm, bảo tàng chúng tôi nhận được một

nhóm cổ vật do những người lính lê dương quê ở vùng Bretagne, từng tham chiến ở Đông Dương, hiến tặng. Trong đó có những món đồ này. Tôi không nghiên cứu về nghệ thuật châu Á nên không có nhiều thông tin về nhóm hiện vật này. Vì thế, đành tạm xếp chúng vào nhóm hiện vật chờ giám định. Nếu anh có thông tin gì về nhóm hiện vật này, xin vui lòng cung cấp chúng tôi”. Khi những hiện vật này được đưa đến phòng giám định, tôi thật sự mừng rỡ khi nhận ra chúng là những cổ vật pháp lam thuộc hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị. Đó là những quả hộp, chậu kiểng và các bộ đồ uống trà trong hoàng cung Huế trước đây. Trên những món pháp lam này còn dán những chiếc tem nhỏ ghi rõ xuất xứ từ Annam (tức xứ Trung Kỳ, theo cách phân chia thời Pháp thuộc. Hai xứ kia là Tonkin, tức Bắc Kỳ và Cochinchine, tức Nam Kỳ, cũng xuất hiện trên những chiếc tem dán lên một số hiện vật khác).

Hiện tại, Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế đang sở hữu hơn 100 hiện vật pháp lam, nhưng không có bộ đồ uống trà nào, trong khi một bảo tàng xa lạ nơi đất khách quê người này lại sở đắc đến 3 bộ đồ trà bằng pháp lam Huế. Thật là một bất ngờ thú vị. Sau này, khi giới thiệu ảnh những món pháp lam Huế tôi chụp ở Rennes với Philippe Truong, nhà nghiên cứu gốm sứ cổ ở Paris, thì anh cho hay: “Người châu Âu không hề biết rằng Việt Nam từng làm ra những món pháp lam tuyệt hảo. Vì thế, họ cứ nghĩ đó là đồ Tàu. Đôi lúc, tôi cũng mua được từ người Pháp những món pháp lam Huế với giá rất rẻ do họ không hiểu giá trị của chúng”. Rồi anh cho tôi xem những món pháp lam anh mua được ở các phiên chợ trời cuối tuần ở Paris với giá tương đương 3 ổ mì Tây.

DMCKXE025822
Chiếc ống nhổ sứ ký kiểu hiệu đề Nội phủ thị trung ở Bảo tàng Hoàng gia Mariemont
DMCKXE025822
Hộp trầu bằng pháp lam Huế, đời Minh mạng. Sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes
DMCKXE025822

DMCKXE025822

DMCKXE025822

DMCKXE025822Các bộ đồ uống trà bằng pháp lam Huế, đời Minh Mạng. Sưu tập của Philippe Truong

Còn nhiều cổ vật độc đáo và lạ lùng của xứ Huế mà tôi đã tình cờ bắt gặp trong những ngày lang thang ở châu Âu như bộ sanh tiền hình rồng, sơn son thếp vàng, dùng trong dàn nhạc lễ tế Nam Giao, hiện đang trưng bày ở Bảo tàng nhạc cụ Brussels (Bỉ). Hay bức trướng thêu 12 thắng cảnh xứ Huế dựa theo tập thơ ngự chế Thần kinh nhị thập cảnh của vua Thiệu Trị, hiện là vật gia bảo trong tư gia của bà Thái Kim Lan, một giáo sư Việt kiều ở thành phố Muenchen (Đức)…

Đi một ngày đàng, thấy một sàng… cổ vật, vừa vui lại vừa buồn. Vui vì ở nơi xa quê hương, cổ vật Việt Nam được trân trọng như những trân phẩm văn hóa đặc sắc, giúp bạn bè hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật Việt Nam. Buồn vì những di sản văn hóa quý giá của dân tộc sao cứ… lẳng lặng ra đi, lẳng lặng thuộc về người khác, trong khi chúng ta, những chủ nhân thực sự, lại có quá ít cơ hội để giữ lại cho Huế, cho Việt Nam những trân bảo ấy.

T.Đ.A.S

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »