Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘chơi đồ cổ’

Bảo tàng gốm sứ mậu dịch Hội An – Địa chỉ: Số 80 Trần Phú, Hội An.

Được xây dựng từ năm 1995, lưu giữ trên 430 hiện vật gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18. Được xây dựng vào năm 1995, bảo tàng lưu giữ trên 430 hiện vật gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18. Hầu hết các hiện vật là gốm sứ mậu dịch có nguồn gốc từ Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam… minh chứng cho vai trò quan trọng của thương cảng Hội An trong mạng lưới mậu dịch gốm sứ trên biển vào các thế kỷ trước, đồng thời cũng cho thấy quan hệ giao lưu văn hoá- kinh tế quốc tế đã từng diễn ra rất mạnh mẽ ở Hội An.

Hình chụp do Khanhhoathuynga thực hiện…

Hội An là một thành phố trực thuộc tỉnh, được thành lập ngày 29 tháng 1 năm 2008 theo Nghị định số 10/2008/NĐ-CP[1] của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội An hiện nay đã được công nhận là đô thị loại III, trực thuộc tỉnh Quảng Nam.

 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Một số hiệu đề trên gốm sứ thời Quang Tự – Thanh Triều

Quang Tự (1871 – 1908), miếu hiệu là Đức Tông (德宗), thụy hiệu là Cảnh Hoàng đế (景皇帝), tên húy là Tái/Tải Điềm (載湉, Zǎitián), là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Hoa. Ông trị vì từ năm 1875 – 1908 với niên hiệu là Quang Tự. Ông kế vị Đồng Trị. Sau khi ông qua đời ở tuổi 38, Tuyên Thống hoàng đế tức Phổ Nghi kế vị ngai vàng. Phổ Nghi là vị Hoàng đế cuối cùng của triều Thanh. Thụy hiệu đầy đủ của Quang Tự sau khi mất là Thống Thiên Xương Vận Đạt Trung Chí Chính Kính Văn Uy Vũ Nhân Hiếu Duệ Chí Đoan Kiến Khoan Khâm Cảnh Hoàng đế (Tóngtiān Chóngyùn Dàzhōng Zhìzhèng Jīngwén Wěiwǔ Rénxiào Ruìzhì Duānjiǎn Kuānqín Jǐng, 同天崇運大中至正經文緯武仁孝睿智端儉寬勤景皇帝). ( wikipedia )

Một số hiệu đề trên gốm sứ thời Quang Tự – Thanh Triều

..

Guangxu reign markGuangxu
Hiệu đề: “Quang Tự niên chế”
Guangxu
Hiệu đề: “Quang Tự niên chế”
Lingzhi fungus markHiệu đề nấm linh chi trên một đĩa sứ thời Quang Tự

Ký hiệu hình nấm này chủ yếu được dùng dưới thời nhà Minh và triều Thanh Khang Hy, nhưng thông thường là màu lam

Hiệu đề nấm linh chi trên một đĩa sứ thời Quang Tự Ký hiệu hình nấm này chủ yếu được dùng dưới thời nhà Minh và triều Thanh Khang Hy, nhưng thông thường là màu lam
Mark on Guangxu period dishKý hiệu hình trên một đĩa sứ thời Quang Tự

Hiệu đề tiêu biểu của thời Khang Hy được dùng lại dưới thời Quang Tự, Cuối thanh nhái lại hiệu đề thời đầu Thanh.

Ký hiệu hình trên một đĩa sứ thời Quang Tự Hiệu đề tiêu biểu của thời Khang Hy được dùng lại dưới thời Quang Tự, Cuối thanh nhái lại hiệu đề thời đầu Thanh.
Guangxu reign mark Mark on a Guangxu porcelain dish xem ở trên
Late Qing dynasty mark Hiệu đề nội phủ trên đồ sứ thời Quang Tự Hiệu đề nội phủ đã được dùng vào thời nhà Nguyên và thời Minh Hồng Võ; tuy nhiên, hiệu đề ở đây là nhái lại vào thời cuối Thanh
Guangxu Nianzhi mark Hiệu đề trên một đồ sứ thời Quang Tự
(Da Qing Guangxu Nianzhi)
Fangge scratch mark Late Qing dynasty.

Nôi dung hiệu đề:  “Chenghua Nianzhi” (Thành Hóa niên chế).

Frequently found on old Fangge porcelain copies made in the late Qing or early republic period.
Thường gặp trên đồ nhái thời cuối Thanh và thời dân quốc ( trước 1949).
Đơi khi Hán tự không thể đọc được
double ring markGuangxu: hai vòng tròn đồng tâm (mark)  (thời Quang Tự)

Guangxu underglaze blue markGuangxu period mark

Mai bình Blue and White thời Quang TựHình tư liệu lấy từ trang China Museum. Motif trang trí của bình này hay được gọi là “ban mai” (?). Mục đích đăng: tư liệu tham khảo và nhận biết.

Khanhhoathuynga

Hình ảnh và tư liệu từ nguồn http://www.chinese-antique-porcelain.com và Gotheborg.com

__________________ khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Vì yêu một người phụ nữ lớn tuổi hơn! Câu truyện về đồ sành sứ cung đình thời Thành Hóa

Vào tháng 04 năm 1999 một chiếc chén gốm triều đại Minh được đấu giá thành công ở mức 3,7 triệu USD. Nó đã phá vỡ mọi kỷ lục về giá cao nhất dành cho một món hàng đồng loại và đó chỉ là một cái chén nhỏ đường kính 8,1 cm và chiều cao 3,1 cm. Nó là chén gì vậy? Nó là một chiếc chén vẽ gà “chicken cup” của triều đại Minh , thời Hoàng Đế Thành Hóa.

Dragon_Meiping

Hoàng Đế Thành Hóa trị vì từ 1464 đến 1487. khi ông ta còn bé, Cung nữ Wan được Hoàng Thái Hậu chỉ định làm vú ( bảo mẫu) để chăm sóc ông. Cung nữ Wan đã chăm sóc ngài không chỉ với tính cách của một người mẹ mà còn là một tình nhân. Vào lúc Hoàng đế Thành Hóa lên ngôi năm ngài 17 tuổi, Wan đã sữ dụng quan hệ tình cảm của mình với Hoàng Đế để tranh đoạt địa vị quyền lực trong cung đình. Cô ta đã thuyết phục được ngài bỏ rơi chính cung hoàng hậu  để thay mình vào ngôi vị ấy. Sau khi Thành Hóa lên ngôi được 02 năm, Wan hạ sinh cho Hoàng Đế một hoàng tử. Hoàng Đế rất yêu đứa con trai này nên lập tức tấn phong Wan lên hàng cao nhất trong các cung tần.Vị hoàng tử này mất sớm khi lên 01 tuổi, nhưng điều này không ảnh hưởng đến Hoàng Đế vì ngài chẳng yêu ai ngoài Wan. Wan thích ăn vận như nam nhân, tin rằng việc này giúp nàng hạ sinh được một đứa con trai khác. Nàng cũng thường tổ chức tế lễ để cầu xin mau mang thai.

Những ghi chép lịch sử kể lại để thể hiện lòng thành Wan thường tổ chức đại lễ khấn vái 20 bàn ăn, thực phẫm chén đĩa cao đầy. vàng và bạc rải khắp sảnh nhằm gia tăng sức thuyết phục cho lời khấn nguyện. Đồng thời Wan cẩn thận để mắt đến những phi tần mà Hoàng Đế hay lai vãn. Nếu có ai trong số phi tần này mang thai, Wan sẽ ra lệnh phá thai. Nhưng mặc dù nỗ lực ngăn càn, một phi tần đã hạ sinh được một Hoàng nam. Vị phi tần này dấu Hoàng Đế và Wan và đã lặng lẽ nuôi dưỡng đứa con suốt 16 năm trong lãnh cung. Cuối cùng Wan mất năm 58 tuổi do đột quỵ và vị Hoàng Đế 40 tuổi sầu thương, trầm cảm và mất sau đó chỉ vài tháng.

Doucai_Jar

Hoàng Đế Thành Hóa si tình Wan đến mức mà người ta đồn rằng mổi ngày trong năm ông đều tặng để vui long nàng một món quà. Rất nhiều trong số những món quà tặng này là những món gốm sứ nhỏ và xinh sắn. Trong số các dòng gốm sứ khác nhau, có một loại được gọi là Đấu Thái ( Doucai), đã được sản xuất rất sớm từ đầu Minh nhưng chất lượng của những món Đấu Thái thời kỳ đầu không thể nào sánh bằng đồ Đấu Thái được sản xuất dưới triều đại Thành Hóa. Một vài món quà được đặt làm tặng Wan chính là những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà. Cũng có đồn đại rằng những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà đã được sử dụng trong các tiệc lễ cưới hỏi. Đồ án vẽ gà gồm một chú gà trống nghẫn đầu, một con gà mái cuối đầu bận rộn tìm sâu , và 03 con gà con. Ở trôn chén có một triện  hiệu đề  chữ Hán công bố chiếc chén được chế tạo dưới thời “ Đại Minh Thành Hóa”. Thư pháp làm triện là theo mẫu chữ viết của chính vị Hoàng Đế trẻ .

Để làm vừa long vị phi tần ưa thích của ông, Thành Hóa đã ra lệnh cho các nghệ nhân sản xuất đa số những món đẹp là đồ Đấu Thái. Để làm được một món đồ cung đình hoàn hảo, phải làm nhiều món  và hủy đi những món thiếu hoàn hảo. Nhiều mảnh vỡ từ những món bị hủy này đã được tìm thấy tại những di chỉ lò gốm. Theo nhiều ghi chép, để chắc chắn làm được một cái chén thật hoàn thiện, 72 người thợ được điều động liên quan đến việc sản xuất này. Việc sản xuất đồ Đấu Thái làm thành hai giai đoạn. Đầu tiên cái chén được vẽ viền cảnh vật bằng men lam cobalt, phủ lên một lớp men trong rồi nung cao độ. Rồi thì tô điểm men màu khác lên trên men và cái chén lại được nung một lần nữa ở một nhiệt độ thấp hơn mà cho phép men màu hòa lẫn vào men nhưng phải không ảnh hưởng đến men ở khu vực không tô men màu. Điều này có nghĩa là giá thành để sản xuất những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà là rất cao.  Vào cuối triều đại Minh, suốt thời Minh Vạn Lịch (1573 – 1620) nhiều nhà sưu tầm và học giả đã bắt đầu tường thuật lại giá thành cực kỳ cao của những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà.  Một học giả đầu thời nhà Thanh tên Chen Jia đề cập đến trong một biên khảo về thẫm định và thưởng ngoạn gốm sứ của mình rằng một cặp những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà trị giá khoảng 100.000 USD. Vào thời điểm  này , một huyện lỵ lớn chỉ thu vào khoảng 5000 USD tiền thuế mổi năm.

Tian_Dragon_Jar

Vào cuối thời Minh, việc làm nhái những chiếc chén Đấu Thái Thành Hóa vẽ gà đã được sản xuất vì giá trị cao của những món nguyên bản.  Nhưng chất lượng của những món làm nhái này chưa thật tốt. Dưới triều đại nhà Thanh của các vị Hoàng Đế Khang Hy, Càn Long, và Ung Chính tất cả đều có làm những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà. Một số mang hiệu đề riêng của triều đại, một số lại mang hiệu đề copy hiệu đề thời Thành Hóa. Ngay cả tại thời điểm này những nhà sưu tầm đã “rên rĩ” về giá mắc của những cái chén Thành Hóa và cả về số lượng lớn “hàng nhái” trôi nổi. Tất cả những bản copy chén Thành Hóa thời Thanh ngày nay đều bán ở giá cao tại các cuộc đầu giá. Năm ngoái một những chiếc chén Đấu Thái vẽ gà hiệu đề Càn Long được bán với giá gần 15.000 USD.

Dragon_Bowl

Gốm sứ thời Thành Hóa có đặc tính và phong cách rất nổi bật sau đây:

  1. Tiếp tục ý niệm truyền thống thời Minh về cái đẹp mềm mại dịu dàng, hầu hết gốm sứ đều nhỏ, tinh xảo và sử dụng màu sắc dịu.
  1. Vì Hoàng Đế Thành Hóa lien tục cố gắng lấy lòng Wan, nên đồ án trang trí đầy màu sắc hầu hết miêu ta những chủ đề mà phụ nữ ưa thích ví dụ các em bé đang chơi đùa, hoa và bướm,…
  1. Tín ngưỡng chính là Phật Giáo thời ấy cũng mang lại những đồ án nhà Phật trang trí cho các đồ vật thiết kế cho việc thờ cúng.

Vào thời Thành Hóa, lượng phẩm men cobalt lam Lajiward nhập khẩu hầu như đã được sử dụng hết. Do đó triều đình bắt đầu cho khai thác các mỏ cobalt Po Tang nội địa để thay thế. Sắc màu cobalt blue dịu, sáng cho cảm nhận có độ trong. Những sản phẩm gốm sứ cuối thời Minh làm nhái đồ thời Thành Hóa được sử dụng màu lam cobalt Huei Ching có ánh sắc hơi tím và không thể sánh bằng với màu lam Po Tang sáng và thanh lịch thời Thành Hóa.

Sưu tập đồ gốm sứ cung đình Thành Hóa khắp thế giới chỉ có tổng cộng trên 600 món, Trong số đó chỉ có ¼ là đồ đấu thái (doucai). The Taiwan National Palace Museum – VBT Cung Đình Quốc Gia Đài Loan có bộ sưu tập hơn 400 món gốm sứ thời Thành Hóa có xuất xứ từ Cố Cung nhà Thanh. Một trong những căn phòng mà Hoàng Đế Càn Long tiêu khiển phần lớn thời gian có những chiếc chén nhỏ Thành Hóa chất lượng cao nhất, tổng cộng 67 món được giử trong một cái rương sơn mài Nhật Bản. Sứ Thành Hóa nằm trong những món ưa thích của Hoàng đế Càn Long.

So sánh sự khác biệt của chén con gà đúng thời Thành Hóa và những chiếc chén làm nhái qua các thời kỳ cuối Minh; Khang Hy-Càn Long, Thời cộng hòa dân quốc được minh họa qua hình dưới đây:

( nhấn trên hình để xem phóng lớn)

Khanhhoathuynga sưu tầm và dịch

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »


Sưu tập gốm Chu Đậu (cuối tk 15/ đầu tk 16) từ tàu đắm cổ Cù Lao Chàm

A selection of late 15th/Early 16th Century vietnamese ceramics from Hoi An Hoard

click trên hình để xem phóng lớn:


Xem file winword có chú thích (phải download về máy) :Sưu tập gốm Chu Đậu cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16

KhanhHoaThuyNga sưu tầm

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Sưu tập gốm Việt mười thế kỷ đầu Công nguyên

Đây là thời kỳ dân tộc Việt Nam chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong suốt gần mười thế kỷ đầu Công nguyên, mở đầu bằng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 sau công nguyên. Trong thời kỳ này các ngành nghề thủ công ngày càng hoàn thiện, trong đó, nghề sản xuất gốm tiếp tục phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng Trung Hoa. Hiện nay, BTLSVN lưu giữ một sưu tập khá phong phú và một số sưu tập gốm thuộc thời kỳ này đang được trưng bày tại hệ thống chính. Đây là một bộ sưu tập có lịch sử sưu tầm khá lâu dài, mà đa số thuộc về công lao các học giả Trường viễn Đông bác cổ, thông qua những cuộc khai quật vào những thập niên đầu thế kỷ 20 và một số được sưu tầm trong những năm gần đây.

gt_thiennienky1

Sưu tập gốm men, tk 1 - 3

Loại hình đồ đất nung như: mô hình nhà, mô hình giếng nước, tháp nhỏ, các loại gạch xây tháp, xây thành cùng nhiều đồ đựng, đồ đun nấu như nồi, vò, bát, chén….

Đồ gốm men gồm: ấm, âu, bát, bình, chậu, chân đèn, chén hai tai, cốc đốt trầm, đĩa, đỉnh, lọ, nồi .v.v..

Những đồ gốm này có nguồn gốc thu được từ các ngôi mộ gạch xếp, mộ quan tài thân cây khoét rỗng hay mộ cũi. Dấu tích của loại hình mộ gạch xếp mang phong cách Hán, đã được biết đến từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, trong khu vực các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam xưa. Tập trung nhất là các địa điểm Mạo Khê (Quảng Ninh), Nghi Vệ (Bắc Ninh), Lạch Trường (Thanh Hoá). Nguồn thứ hai là đồ gốm thu được từ những cuộc khai quật di tích sản xuất ở Tam Thọ (Thanh Hoá), Bái Đinh, Đương Xá (Bắc Ninh)…

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Sưu tập gốm men, tk 6 - 7

Đặc điểm chính của đồ gốm thời kỳ này là ít có hiện vật kích thước lớn, xương gốm dày, lớp men phủ thường không trùm hết, màu men vàng ngà, trắng nhạt hay xám. Các vò, hũ gốm kiểu Hán thường in nổi văn ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S… Một số ấm, âu, hũ có trang trí cánh sen, chim nước, cá, đầu gà, đầu voi. Các loại gạch xếp mộ thường có hình chữ nhật và hình múi bưởi, hoa văn in nổi trên một rìa cạnh gồm: ô trám lồng, hình thoi, hình chữ S. Nhiều loại hình đồ gốm tạo dáng tương tự đồ đồng cùng thời như ấm đầu gà, chén hai tai, liễm hình trụ, bình con tiện, bình có quai…

 

Nguồn ảnh và chú thích: Bảo Tàng Lịch sử Việt Nam

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Catalogue ấm trà Nghi Hưng (Yixing) dành cho giới sưu tập (1)

Những mẫu hàng này do nghệ nhân ( sinh ra để làm ấm trà – có thể gọi đùa như thế ) làm với số lượng nhỏ không phải hàng thương phẩm, giá trị nghệ thuật cao và có thể sử dụng như ” an impressive ornament” trong trang trí nội thất.

Click trên hình chọn để xem ảnh lớn

 

 

1877

1878

1886

1892

1894

KhanhHoaThuyNga


*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Read Full Post »

Các nền văn hóa cổ và đồ cổ của chúng tại Việt Nam

hiện vật văn hóa Óc Eo

hiện vật văn hóa Óc Eo

trong_dong_Dongson

Qua quá trình hình thành và phát triển của mình, đã có nhiều nền văn hóa xưa kia của các dân tộc để lại dấu vết trên đất Việt Nam ngày nay.

Văn hóa Đông Sơn

Văn hóa Đông Sơn (4.000 – 2.000 năm cách ngày nay) là văn hóa thời kim khí của người Việt phát triển ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ VN hiện nay. Tuy nhiên sự phân bố văn hóa này có thể bao trùm cả vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Đây là nền văn hóa cùng thời nhưng khác biệt với văn hóa Thương Chu ở Trung Quốc cũng như văn hóa Vêđa ở Ấn Độ. Cổ vật văn hóa Đông Sơn thường được biết đến là đồ đồng và đồ gốm, trong đó nổi tiếng là những chiếc trống đồng loại I và các loại dao găm đồng.

Tiếp nối văn hóa Đông Sơn, cư dân Việt trong quá trình ngàn năm đấu tranh giành độc lập ở châu thổ Bắc bộ (179 TCN – 938 SCN) đã tiếp nhận những nét tích cực của văn hóa Hán để sáng tạo ra yếu tố văn hóa mới làm cơ sở cho văn hóa Đại Việt sau này. Tiêu biểu như chậu trống, bát đồng; âu, chum, chõ bằng gốm…

Văn hóa Sa Huỳnh

Phát triển sau Văn hóa Đông Sơn ở khu vực miền Trung VN hiện nay, Văn hóa Sa Huỳnh (2.500 – 2.000 năm cách ngày nay) được coi là tiền thân của văn hóa Champa. Văn hóa Sa Huỳnh được khắc họa bằng các loại đồ sắt, đồ đá quý và đồ gốm, đặc biệt là chum gốm thường được dùng làm quan tài tống táng.

Văn hóa Đồng Nai

Văn hóa Đồng Nai là nền văn hóa thời kim khí phát triển ở khu vực Đông Nam bộ VN hiện nay. Văn hóa Đồng Nai nổi tiếng với các loại công cụ đồ đá, vũ khí bằng đồng. Những cổ vật đá khai quật được cũng như tìm thấy dưới lòng sông Đồng Nai như rìu, cuốc, mai, dao…có dạng hình khá đặc biệt so với cổ vật cùng thời ở phía Bắc.

Văn hóa Óc Eo – Hậu Óc Eo

Văn hóa Óc Eo – Hậu Óc Eo (TK1 – TK13) chủ yếu phát triển ở các tỉnhTây Nam bộ và Đông Nam bộ VN ngày nay. Đây là sự kết hợp ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ với các yếu tố nội sinh và có sự giao lưu văn hóa, kinh tế với các trung tâm văn hóa lớn đầu Công nguyên như Ấn Độ, Trung Quốc, La Mã. Văn hóa Óc Eo nổi tiếng với các cổ vật vàng, gỗ, đồng, đá…Trên các cổ vật, ngoài các hoa văn kiểu dáng đặc trưng thường thể hiện các đề tài Bà la môn giáo, Phật giáo…

Văn hóa Champa

Nền văn hóa Champa (TK2 – TK17) phát triển chủ yếu ở khu vực từ Quảng Bình đến Bình Thuận ngày nay. Văn hóa Champa hình thành trên cơ sở phối hợp các yếu tố nội sinh với các ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ. Văn hóa Champa nổi tiếng với các cổ vật điêu khắc bằng đá, đồ kim loại và đồ gốm.

Cổ vật Việt Nam

Thời đại Quân chủ Phong kiến độc lập được mở đầu với triều đại Ngô và chấm dứt với triều đại Nguyễn. Dưới các triều đại này, Văn hóa Việt tùy theo từng triều đại, có khi phát triển tột bực như thời Lý Trần, thời Lê sơ với những cổ vật như đồ đất nung, đồ gốm men ngọc, đồ đồng, đồ sắt… Ngay cả thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng cũng để lại nhiều cổ vật quý như chiếc thăng đong thóc, dụng cụ đo lường lúa gạo đầu tiên của VN. Thời Nguyễn để lại các cổ vật liên quan đến hoàng tộc và triều đình như chiếc hoàng bào cuối TK 19 tương truyền của vua Đồng Khánh, chiếc ấn ngà ”Hoàng đế tôn thân chi bảo” chuyên đóng trên các văn kiện tôn vinh hoàng tộc. Đây là chiếc ấn được vua Đồng Khánh cho chế tạo lại để thay thế chiếc ấn cũ bằng vàng sản xuất thời Minh Mạng nhưng đã bị thất lạc sau cuộc biến loạn năm 1885 tại kinh thành Huế…

Bất chấp sự đào thải khắc nghiệt của thời gian, bất chấp sự tàn khốc của những cuộc chiến tranh giữ nước và cứu nước; các nền văn hóa VN vẫn được lưu giữ lại qua kho tàng cổ vật được bảo lưu, gìn giữ như những chứng tích của quá khứ hào hùng nhưng cũng đầy nét thẩm mỹ đặc thù của các dân tộc Việt Nam.

Cuộc hội tụ của các nền văn hóa Việt Nam

Trong những ngày này, từ tháng 04 đến tháng 9-2005, ngành khảo cổ học và bảo tàng TP HCM đã tổ chức một cuộc trưng bày những “cổ vật tiêu biểu tại TP HCM”. Đến đây, chúng ta mới cảm nhận thật rõ ràng về niềm tự hào, tự tôn dân tộc qua từng hơi thở của thời gian được khắc lên trên từng tượng người, từng chiếc rìu, chuông đồng, tiền cổ, văn bản xưa…

Có thể xem đây là cuộc hội tụ những chứng tích quá khứ trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc với hơn 400 cổ vật Việt Nam từ thời Nguyên thủy đến thời Nguyễn. Tiến sĩ khảo cổ học Phạm Hữu Công, Trưởng phòng Trưng bày và Tuyên truyền của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP HCM, cho biết: ”Tại TP HCM, các bảo tàng và các nhà sưu tập tư nhân hiện lưu giữ nhiều nhất là những chiếc trống đồng loại I tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam, dao găm đồng có chuôi hình phụ nữ, môi đồng…Đồ gốm là những đồ đựng đất nung mang dạng hình chiếc bình miệng loe…Những hiện vật của thành phố từ cuối thế kỷ 18, giữa thế kỷ 10 nổi bật được trưng bày trong giai đoạn này. Nổi bật nhất là con dấu của Tả quân Lê Văn Duyệt, từng là Tổng trấn của Thành Gia Định, tức là Sài Gòn – TP HCM hiện nay. Hiện vật nổi bật thứ nhì là Tượng Phật chùa Hải Tường là chùa do người dân Nam bộ lập nên. Trong quá trình chạy loạn Tây Sơn, vua Minh Mạng đã được sinh ở đây. Sau khi làm vua, ông đã cho làm một tượng Phật cúng ở chùa. Nhưng tiếc thay đến nay chùa đã bị phá hủy rồi.

Đó còn là hai hiện vật nổi tiếng thuộc về vua và người đứng đầu của thành phố thời kỳ bấy giờ. Còn những hiện vật khác là những hiện vật gốm của Gia Định xưa, Sài Gòn xưa, chẳng hạn như chiếc lư nhang bằng gốm nhưng trên đó thể hiện đề tài trúc. Toàn bộ lư nhang ta sẽ thấy từ chiếc nắp lư cho đến con lân là những cành trúc. Đây là một hiện vật có ý nghĩa rất lớn để trên bàn thờ. Cạnh đó chúng ta sẽ thấy một số hiện vật của gốm cây mai, trong đó có hiện vật Kim Cô, hiện vật ông Nhật bà Nguyệt. Những hiện vật này có lẽ ảnh hưởng của người Hoa hơi nhiều.

Một trong những hiện vật đáng chú ý nữa là những giấy tờ của Sài Gòn xưa, những công văn, những chiếu chỉ của vua đã phong cho các quan lại ở đây, trong đó có ông Thành Đức hầu – Trần Văn Thành, ông làm ở một cơ quan giống như mật vụ ngày xưa. Đặc biệt ở đây còn có một tờ giấy buôn bán đất của Sài Gòn xưa, trên đó có ký năm Thái Đức thứ 9, tức niên hiệu của vua Nguyễn Nhạc của triều Tây Sơn, khoảng năm 1896. Đặc biệt là có các cuốn sách của Chợ Lớn in tại đây. Còn có một tờ giấy đăng ký kết hôn của 11 người vào năm 1885. Đó là những hiện vật của Sài Gòn xưa mà nhân dân TP HCM đã thu góp lại trong mấy chục năm qua. Riêng tượng Phật chùa Hải Tường là được đem về trước năm 75, còn những hiện vật khác là được đem về sau năm 75”.

Nếu phân loại theo chất liệu thì có thể thấy rằng cổ vật được lưu giữ ở TP HCM rất phong phú. Ở chất liệu đá đáng chú ý là những tượng Bàlamôn giáo của văn hóa Champa, văn hóa Óc Eo. Các cổ vật đất nung là những vật liệu xây dựng kiến trúc Hoàng thành Thăng Long còn ghi rõ những dòng chữ Hán chân phương. Những chất liệu gốm là đồ đựng của văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo và của thời quân chủ phong kiến độc lập. Trong đó nổi bật là đồ gốm hoa nâu thời Trần, đồ gốm Chu Đậu thế kỷ 15 dùng trong cung đình và xuất khẩu đi các nước.

Đồ đồng có các loại tượng đồng Phật giáo, Bàlamôn giáo nổi tiếng của Champa, những loại đồ dùng ngự chế của triều đại Nguyễn, trong đó có đồ đồng tráng men (Pháp lam) và đồ đồng phỏng thời Thương, Chu do Minh Mạng trực tiếp ra lệnh thực hiện và khắc trên đó những bài văn do ông sáng tác. Đặc biệt là những ấn triện của thời Lê, thời Tây Sơn, thời Nguyễn; trong đó có 5 chiếc ấn thời Tây Sơn mới được công bố.

Cổ vật chất liệu gỗ thì có loại tượng thờ Phật giáo và tượng thờ dân gian mang đậm dáng vẻ VN, đồng thời cũng thể hiện các phong cách địa phương Bắc bộ, Nam bộ. Những đồ thờ cẩn chìm, cẩn nổi tinh tế mà nổi bật là 2 cây thước bằng gỗ cẩn ốc do triều đình ban xuống sử dụng ở các địa phương.

Chất liệu giấy cũng là một điểm nhấn quan trọng trong bộ sưu tập cổ vật tiêu biểu ở TP HCM như các loại sắc chỉ, công văn, giấy tờ, hộ tịch hành chánh của Sài Gòn xưa từ cuối thế kỷ 18, trong đó có các cuốn sách chữ Hán, chữ Nôm.

Bên cạnh đó là các cổ vật có kích thước lớn như trống đồng Đông Sơn, chuông đồng chùa Viên Giác, các đồ đựng của thời Trần, đồ thờ cúng thời Lê – Mạc, áo vua thêu Cửu Long thời Đồng Khánh…

Có thể thấy rằng, các thế hệ VN qua nhiều thời kỳ đã dày công tạo dựng, sáng tạo để VN có một nền văn hóa đa dạng và phong phú không thua bất cứ một nền văn hóa của dân tộc nào khác trên thế giới.

Cổ vật – niềm tự hào của nền văn hóa dân tộc

Tại cuộc trưng bày cổ vật tiêu biểu tại TP HCM lần đầu tiên do Bảo tàng Lịch sử VN TP HCM phối hợp với Bảo tàng TP HCM, Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM và Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ cùng 14 nhà sưu tập tư nhân cùng tổ chức, hơn 400 cổ vật được trưng bày tại đây là sự thu góp của nhân dân TP HCM trong mấy chục năm qua.

Đã có nhiều nhà khoa học nhận xét rằng: Cổ vật của TP HCM có tiềm năng to lớn không thua gì một số địa phương có truyền thống sưu tầm, lưu giữ cổ vật của VN. Thế nhưng, tại cuộc trưng bày này, còn có rất nhiều cổ vật chưa được đem ra giới thiệu với công chúng. Hiện nay, theo một số nhà chuyên môn, nhiều hiện vật quý hiếm còn đang được lưu giữ tại các sưu tập tư nhân. Làm thế nào để các nhà sưu tập tư nhân có điều kiện giới thiệu với các nhà khoa học và công chúng những bộ sưu tập của mình? Họ mong muốn điều gì? Đây còn là một vấn đề khá trăn trở đối với những người trong ngành khảo cổ và với các nhà sưu tập tư nhân.

Chị Nguyễn Thị Tú Anh, một trong gần 60 nhà sưu tập tư nhân tại TP HCM, trăn trở: “Ở TP HCM có những nhà sưu tập tư nhân đã “chơi” cổ vật được 5 – 7 năm, có người cũng đã sưu tập được khoảng 40 – 50 năm nay rồi. Nói chung, lượng đồ sưu tập trong các nhà sưu tập tư nhân rất là nhiều. Bản thân tôi cũng đang rất muốn thành lập Hội sưu tập tư nhân. Với sự giúp đỡ của Sở và của Ủy ban nhân dân thì chắc rằng thời gian rất gần tới đây Hội sẽ ra đời. Mục đích của chúng tôi là để mỗi nhà sưu tập tư nhân có thể giới thiệu những đồ sưu tập của mình để công chúng biết; đồng thời cũng mong muốn sau này sẽ cùng trưng bày với nhau. Mỗi nhà sưu tập có một cách chơi riêng. Có người thì gốm ta, có người thì gốm tàu; có người thì về ấn triện, có người về tiền, có người về giấy…Mong ước của chúng tôi là càng ngày càng có nhiều người chơi cổ vật để giữ gìn cổ vật cho nước nhà”.

Chỉ là một số rất nhỏ trong khối lượng to lớn của kho tàng di sản văn hóa VN đang được trưng bày ở TP HCM trong những ngày tháng 04 – 09.2005 này; nhưng các cổ vật cũng đã cho thấy những nét đặc thù của các nền văn hóa cổ ở VN, đặc biệt có một số cổ vật khi được phát hiện đã bổ chính nhiều điều trong nghiên cứu lịch sử. Đây có thể gọi là một cuộc hội tụ lớn đầu tiên của các nền văn hóa VN mà đại biểu là các cổ vật lịch sử, văn hóa, kinh tế đã từ lâu âm thầm tập kết tại các bảo tàng và sưu tập tư nhân của thành phố.

Đăng lại từ nguồn: Dongtac.net

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Older Posts »