Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘cổ vật’

Căn cứ Luật di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa;

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Di sản văn hóa;

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định loại di vật, cổ vật không được mang từ Việt Nam ra nước ngoài.

2. Loại di vật, cổ vật quy định tại Thông tư này không áp dụng đối với trường hợp di vật, cổ vật được mang ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc mang di vật, cổ vật từ Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 3. Loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài

1. Cá thể hoặc bộ phận hóa thạch người, động vật, thực vật thuộc thời kỳ Tiền sử Việt Nam;

2. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc thời kỳ Tiền sử và Sơ sử Việt Nam;

3. Tài liệu bằng các chất liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, chủ quyền quốc gia Việt Nam và anh hùng dân tộc, danh nhân có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia Việt Nam;

4. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc các giai đoạn lịch sử Việt Nam trước tháng 9 năm 1945;

5. Bản thảo tác phẩm văn học, bản gốc tác phẩm tạo hình (hội họa, đồ họa, điêu khắc), tác phẩm nhiếp ảnh có giá trị cao về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội được sáng tác từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

6. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và kiểm kê;

7. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học của các dân tộc thiểu số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sản xuất, sáng tạo trước năm 1975;

8. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu liên quan đến các sự kiện quan trọng và sự nghiệp của các Nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu, Nhà hoạt động chính trị, quân sự xuất sắc trong thời kỳ thành lập Đảng, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

9. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có xuất xứ từ nước ngoài (trừ trường hợp tạm nhập khẩu – tái xuất khẩu).

Danh mục cụ thể loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài được ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 4. Điều khoản thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2013.

2. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.

3. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.

 

BỘ TRƯỞNG

(đã ký)

Hoàng Tuấn Anh

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Advertisements

Read Full Post »

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, bên cạnh Thảo cầm viên. Đây là nơi bảo tồn và trưng bày hàng chục ngàn hiện vật quí được sưu tầm trong và ngoài nước Việt Nam

Ngày 18 tháng 2 năm 1927 nhà sưu tập Holbé qua đời , đề lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 bạc Đông dương ( một số tiền lớn lúc bấy giờ ) . Sau khi vận động một số nhà hảo tâm mua bộ sưu tập lớn đương thời là sưu tập Holbé với hàng ngàn hiện vật, hội Nghiên cứu Đông Dương đem tặng toàn bộ hiện vật mà họ sở hữu cho nhà nước thuộc địa và đề nghị chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ thành lập Viện Bảo tàng với điều kiện hội được đóng trụ sở và đặt thư viện trong Bảo tàng.

ngày 24-11-1927, Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse ra nghị định thành lập Musée de la Cochinchine tức Bảo tàng Nam kỳ với trụ sở được chọn như hiện nay là tòa nhà lớn đang chuẩn bị xây vào năm sau đó: Năm 1928 – trong Thảo Cầm viên Sài gòn (ở phía trái cổng vào) do kiến trúc sư Delaval vẽ kiểu, mà trước đây dự kiến làm Musée du Riz (Bảo tàng Lúa gạo), sử dụng chung cổng ra vào với Thảo Cầm Viên.

Về mặt quản lý  , trong nghị định thành lập  , Bảo tàng Nam kỳ có quy chế riêng  trực thuộc trường  Viễn Đông Bác cổ , nhưng hội nghiên cứu Đông Dương lại được đặt trụ sở trong Bảo tàng  . Vì vậy  ngày  8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội  nghiên cứu Đông Dương là Jean Bouchot đồng thời cũng là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ được cử làm Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng  ( tương đương chức Giám Đốc  ) . Sau đó, có lẽ vì muốn cho thấy vai trò của người Pháp trong việc hình thành hệ thống Bảo tàng ở Đông Dương nên ngày 6-8-1928, lại có một nghị định đổi tên Bảo tàng Nam kỳ thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse  tức lấy tên người ký nghị định thành lập Bảo tàng làm tên Bảo tàng –  và ngày 1-1-1929 Bảo tàng chính thức ra mắt công chúng.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse là như sau: “… có mục đích tập trung và gìn giữ tất cả các vật cũ ở Đông dương có tính cách mỹ thuật và khảo chứng, đặc biệt là những vật tìm thấy trong những dịp đào đất hay làm công tác gì trên địa hạt Nam kỳ, kể cả những vật điêu khắc riêng biệt mà sự bảo vệ khó thực hiện được chu đáo ở nơi phát hiện vì tình thế, chất liệu hoăc kích thước của vật đó.”

Trong 18 năm tồn tại dưới chính quyền thực dân Pháp . Bảo Tàng Blanchard de la Brosse   trải qua  2 đời Giám Thủ  :

1.    Jean Bouchot : nhà nghiên cứu, Giám thủ từ năm 1928-1932.
2.    Louis Malleret: nhà khảo cổ học, Giám thủ từ năm 1932-1946.

Năm 1945, sau khi Cách Mạng tháng 8 thành công,  Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo Tàng Viện. nhưng thực ra chính quyền người Việt ở Nam  Kỳ không  nắm quyền quản lý Bảo tàng mà phải theo mô hình  cũ cũng như nhờ đến sự trợ giúp của người Pháp , đã có những người Pháp do trường Viễn Đông Bác Cổ  biệt phái tiếp tục thay nhau làm Giám Thủ Bảo Tàng  :

1/Louis Malleret , tiếp tục được lưu dụng  1946 – 1948

2/Pierre Dupont  , nhà nghiên cứu – 1948 – 1950

3/Bernard Groslier , chuyên gia nghiên cứu văn hóa Champa -1951-1954

Từ năm 1948 Vương Hồng Sển đã vào làm việc tại Bảo tàng, đến năm 1954 khi cử Vương Hồng Sển làm Quyền Giám thủ, chế độ Sài gòn mới thực sự quản lý Bảo tàng, Bảo tàng không còn trực thuộc hội Nghiên cứu Đông Dương cũng như không còn các nhân viên người Pháp nữa.

Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, chính quyền Sài gòn đổi tên Bảo tàng Blanchard de la Brosse thành viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam (Sài Gòn). Dưới chế độ Sài gòn, về mặt quản lý, Bảo tàng cũng có quy chế riêng trực thuộc Viện Khảo cổ của bộ Quốc gia Giáo dục (sau là bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên) chính quyền Sài gòn nhưng căn phòng phía sau đại sảnh bát giác vẫn còn dành cho hội Nghiên cứu Đông Dương làm thư viện hội.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam tại Sài Gòn được quy định rất đơn giản

*Nghiên cứu sưu tầm và trưng bày trong viện những di tích và các  tài liêu cổ  thời  thuộc về mỹ thuật , sử học , cổ học và nhân chủng học gồm chung của nước Việt Nam cũng như các nước lân cận hoặc đồng hóa : Trung Hoa , Nhật Bản , Cao  Ly , Cao Miên , Phù Nam , Lào , Thái Lan , Tây Tạng , Ấn Độ , Cổ Chiêm Thành …

*Tập trung về một chỗ và tàng trữ chung tại Viện  những cổ vật hoặc di tích còn ẩn tàng trên lãnh thổ Việt  Nam …

Từ năm 1956- 1975 Bảo tàng đã được quản lý bởi các quản thủ sau:
1.    1956-1964:Vương Hồng Sển, nhà nghiên cứu
2.    1964-1969: Nguyễn Gia Đức, kiến trúc sư
3.    1969-1975: Nghiêm Thẩm, giáo sư Dân tộc học.

.

Sau ngày 30 tháng 4  năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8  năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.

Bảo tàng  Lịch Sử có chức năng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc qua các hoạt động nghiên cứu , sưu tầm , giám định , kiểm kê , bảo quản , bảo vệ , phục chế , phục hồi , trưng bày , thuyết minh , tuyên truyền , xuất bản , ấn phẩm , maketing … giới thiệu các  tư liệu , hiện vật có liên quan đến lịch sử VN , các nước trong khu vực  nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ VN  , đáp ứng  thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu  , nghiên cứu  cũng như thưởng ngoạn của khách tham quan trong và ngoài nước  về lịch sử và các  sưu tập cổ vật

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng hiện có 2 nội dung :

1/  Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến hết thời Nguyễn (1945) với 10 phòng trưng bày:

* Việt Nam thời Tiền sử

*Thời Hùng Vương

*Thời Đấu tranh giành độc lập dân tộc

*Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý

*Thời Trần

*Văn hoá Champa

*Văn hoá Óc Eo

*Thời Lê

*Thời Tây Sơn

*Thời Nguyễn

2/ Một số sưu tập về lịch sử – văn hoá các nước trong khu vực với 8 phòng và khu trưng bày:

* Tượng Phật một số nước Châu Á:

*Súng thần công thế kỷ 18-19

*Điêu khắc đá Campuchia

*Gốm một số nước Châu Á

*Xác ướp Xóm Cải (TPHCM)

* Sưu tập Vương Hồng Sển

*Văn hoá các thành phần dân tộc phía Nam

*Một phòng trưng bày ngắn hạn luân phiên trưng bày từ 3 đến 9 tháng, giới thiệu những sưu tập cổ vật mới phát hiện.

 

Vị trí và Kiến Trúc

Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn  năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá (do chúa Nguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc  làm nơi dạy dỗ Hoàng Tử Cảnh ).

Công thự do kiến trúc sư người Pháp  Delaval thiết kế theo lối Đông Dương cách tân và được hãng  thầu  Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong  3 năm : 1926 – 1927 – 1928

Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái củaKinh Dịch ) có 2 nóc mái lợp ngói  ống, có gắn vật trang trí hình phụng , hình rồng  cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu tố của kiến trúc cổ Trung Quôc ..

Vào những năm đầu 70 của thế kỷ 20, Bảo tàng được mở rộng diện tích bằng việc xây thêm phần sau dạng chữ U theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa.

Thông tin bạn cần biết :

Tại Bảo tàng Lịch sử, quý khách còn có thể tham quan:

1. Đền thờ Hùng Vương- một công trình xây dựng đầu thế kỷ 20 theo kiến trúc cổ Phương Đông được công nhận “Di tích cấp nhà nước” năm 2012- từ năm 1956 được chọn là nơi thờ kính, tưởng nhớ các vua Hùng và các vị Tổ tiên thành lập nước Văn Lang.

2.  Tra cứu tư liệu tại Thư viện Bảo tàng với trên 12000 đầu sách có niên đại từ thế kỷ 19 đến nay với các loại ngôn ngữ: Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nhật, Thái…(trước đây là thư viện của Hội Nghiên Cứu Đông Dương, thành lập từ cuối thế kỷ 19).

3. Xem trình diễn Múa Rối Nước- một hình thức biểu diễn văn nghệ dân gian của nước Đại Việt xuất hiện từ hơn 1000 năm trước.

4. Mua sách về cổ vật cũng như những vật dụng kỷ niệm và thưởng thức café trong shop Bảo tàng…

*Giá vé người lớn : 2000 đ

*Miễn phí cho trẻ em từ 15 tuổi trở xuống tham quan Bảo tàng trong dịp hè ( 2012 ).

*Giờ mở cửa  : 8g – 17g từ thứ ba đến  chủ nhật .

*Thứ hai hàng tuần nghỉ  .

* Chụp hình – quay phim  giá vé : 22.000 đ .

* ĐT : 08.38298146  – 38290268  .

* Email  : btlsvnhcm@yahoo.com


Khanhhoathuynga tổng hợp .

Nguồn tham khảo : Bảo tàng Lịch Sử VN – TPHCM

Trích dẫn môt số bài viết của TS Phạm Hữu Công ( PGĐ  BTLSVN – TPHCM ) .

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P I

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P II –  CỔ VẬT MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P III –

 

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

Read Full Post »

Một số nhà sưu tầm nhận định tàu cổ ở Bình Châu (Quảng Ngãi) có niên đại thời Minh (Trung Quốc), thế kỷ 15. Tuy nhiên, chuyên gia cho rằng niên đại tàu còn sớm hơn: thời Tống – Nguyên, thế kỷ 14.

TS Phạm Quốc Quân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử cho biết: “Căn cứ vào đồ gốm, sứ; đặc biệt là đồ gốm celadon với những chiếc bát, đĩa, lư hương mang đặc trưng và kiểu dáng, phong cách và kỹ thuật, thì niên đại chiếc tàu này thuộc thế kỷ 14 mới hợp lý”. Kết luận về niên đại này của ông Quân sẽ được công bố tại tiểu ban Khảo cổ học lịch sử, Hội nghị thông báo khảo cổ học toàn quốc hôm nay (27.9).

PGS-TS Nguyễn Đình Chiến, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử cũng cho biết: “Chúng tôi đã so sánh hiện vật từ con tàu này với hiện vật một con tàu thời Nguyên hiện trưng bày tại Bảo tàng Biển quốc gia Hàn Quốc. Sự tương đồng cho thấy hiện vật tàu Bình Châu thuộc thời Nguyên mới đúng”. Cũng theo hai ông, trong số những đồ gốm celadon, có 3 chiếc lư hương nhỏ, dáng hình trụ có 3 chân quỳ, màu ngọc ngả tím, phủ trên toàn bộ khí vật. Loại hình và màu men này khá đặc trưng và mang tính thời đại trong phổ hệ gốm sứ Trung Hoa. “Đây là hiện vật mang phong cách Nguyên rõ nét”, ông Chiến nói.


Ba lư hương mang phong cách Nguyên – Ảnh: PGS-TS Nguyễn Đình Chiến

– Đầu tháng 9.2012, ngư dân phát hiện tại biển thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện một con tàu cổ bị đắm. Họ đã hút cát và đào phá trái phép cổ vật của con tàu.

– Tháng 8.9.2012, công an, biên phòng tỉnh Quảng Ngãi được huy động để bảo vệ vùng cửa biển thôn.

– Bộ VH-TT-DL đã có công văn cho phép tỉnh tổ chức khai quật khẩn cấp.

– Nguồn tin cho biết có 13 đơn vị nộp đơn xin tham gia đấu thầu khai quật con tàu này.

Một hiện vật khác cũng khá phổ biến của gốm sứ thời Tống -Nguyên là một đĩa men trắng, miệng bạc khẩu, giữa lòng in nổi 2 con cá chép ngược chiều nhau. Tuy nhiên, theo chuyên gia, trong phả hệ gốm sứ chính thống của Trung Hoa, chất lượng của chúng cao hơn nhiều. Men trắng ở đây có chất lượng thấp, kỹ thuật tạo tác và nung kém, rất có thể thuộc sản phẩm của lò gốm phía nam Trung Quốc.

Theo ông Chiến, một loạt hiện vật khác cũng có niên đại thế kỷ 14 là một chồng dính kết của 11 cái chậu men nâu da lươn. Lòng phủ kín men, ngoài không có men, đáy phẳng. Ở vết cháy còn có dấu hiệu của những đồng xu. Có điều đáng tiếc là những rỉ, cháy khiến ta không thể đọc được hết chữ trên đó. Tuy nhiên, phỏng đoán từ một số đồng tiền mà ông Chiến được thợ lặn cung cấp cho thấy đó là tiền của thời Bắc Tống như Hoàng Tống thông bảo, Nguyên Phong thông bảo. “Nếu khai quật được các loại tiền này thì đó cũng là căn cứ xác định niên đại cho tàu”, ông Chiến nói. Nhận định này của các ông còn được sự trợ giúp của bộ sưu tập tiền đồng (do một nhà sưu tầm ở TP.Đà Nẵng cung cấp) với khoảng 3 kg, mua được từ con tàu này. Tất cả đều là tiền thời Tống (Hy Nguyên thông bảo, Hoàng Tống thông bảo, Nguyên Phong thông bảo).

Đặc biệt, theo ông Quân, những tiêu bản gốm sứ đã được tiếp xúc vừa qua khá tương đồng với những di vật mà các ông khai quật được trong các ngôi mộ Mường ở Hà Tây và Hòa Bình. Chúng cũng giống với những đồng loại tìm thấy trong lớp văn hóa có niên đại này ở nhiều di chỉ khảo cổ lịch sử Việt Nam. Chúng cũng đã được các nhà gốm sứ Trung Quốc và thế giới từ lâu xếp vào khung niên đại thế kỷ 14.

Ông Quân cho biết cũng tại biển Bình Châu, trước đây, vào năm 1999 đã phát hiện một con tàu đắm khác. Không chỉ có 2 con tàu, biển Bình Châu còn rất nhiều báo dẫn về tàu đắm, chứng tỏ nơi đây là một cửa biển quan trọng của quốc gia Champa và sau này là của Đại Việt. Cửa biển ấy có thể là một hải cảng, một điểm dừng chân của những thương thuyền trên hải trình đến những vùng đất xa xôi.

Trinh Nguyễn (Thanhnien.com.vn)

Bắt đầu thăm dò tàu cổ đắm chứa cổ vật ở Quảng Ngãi
18:30:00 27/09/2012
Sáng 27/9, Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương đã tiến hành khảo sát tàu chứa cổ vật tại vùng biển thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn và chuẩn bị xây dựng phương án thích hợp cho việc khai quật.

Mặc dù thời tiết không được thuận lợi do sóng to, gió lớn nhưng công việc khảo sát thăm dò tàu cổ bị đắm vẫn được triển khai. 4 thợ lặn chuyên nghiệp cùng với các trang thiết bị hiện đại lặn xuống địa khu vực có tàu cổ bị đắm để khảo sát hiện trạng, tọa độ nhằm tìm phương án đưa thiết bị phù hợp xuống thăm dò. Theo xác định ban đầu, khu vực tàu cổ bị đắm bị phủ một lớp cát dày từ 2 – 4m.

Ông Đoàn Sung, cố vấn Cty TNHH Đoàn Ánh Dương cho biết: “Chúng tôi dùng 2 phương tiện lớn đến hút toàn bộ số cát bị phủ lên con tàu đắm. Sau đó dùng bình lặn, máy quay camera dưới nước để xác định chiều ngang, chiều dài, độ sâu rồi kích thước con tàu, số lượng cổ vật”

Sau khi dùng các phương pháp để làm lộ diện nguyên trạng con tàu, các chuyên gia sẽ ghi chép đầy đủ các dữ liệu trên con tàu cổ từ kích thước, hình dáng và lấy mẫu cổ vật để giám định.

Tập trung các phương tiện để chuẩn bị công việc thăm dò tàu cổ bị đắm.

Dùng máy chuyên dụng hút cát bồi lấp tàu cổ

Tiến sĩ khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi, Phó Giám đốc Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi cho hay: “Chúng tôi sẽ lấy mẫu vật ở từng vị trí trên chiếc tàu đó, sau đó sẽ tiến hành giám định sơ bộ và báo cáo để trình UBND tỉnh xem xét”.

Theo quy định của UBND tỉnh Quảng Ngãi, thời gian thăm dò, khảo sát sẽ diễn ra trong 5 ngày. Sau khi hoàn thành quá trình thăm dò, khảo cổ các chuyên gia sẽ tổng hợp các dữ liệu và lập báo cáo lên UBND tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở này xây dựng một phương án khai quật để các cơ quan chức năng xem xét và lựa chọn đơn vị khai quật tàu đắm chứa cổ vật. (theo CANDonline)

 

Read Full Post »

Trong nhiều ngày, từ 10/9-19/9 nhiều báo đài TW và địa phương đã liên tiếp đưa ra những thông tin ban đầu về chiếc tàu cổ. Trong đó có nhiều thông tin chưa chính xác, thậm chí có những báo in và điện tử còn đưa cả những bức ảnh hiện vật gốm sứ vốn có nguồn gốc khai quật từ tàu cổ Cù Lao Chàm. Đây là những thông tin sai lạc khiến cho nhiều người đọc hiểu lầm về nguồn gốc và niên đại con tàu. Để giúp độc giả có thêm những thông tin chính thức, chúng tôi xin đăng tải bài viết của hai chuyên gia: TS. Nguyễn Đình Chiến và TS. Phạm Quốc Quân, Hội đồng Giám định Cổ vật Bộ VH, TT & DL.

Theo tin vnexpress.net ngày 12/9/2012, ngay từ sáng sớm ngày 08/9/2012 hàng trăm ngư dân đã đưa tàu thuyền, ghe thúng về thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi để trục vớt cổ vật từ con tàu chìm dưới đáy biển. Ngay sau khi nhận được thông tin, Công an huyện Bình Sơn và bộ đội biên phòng 288 đã đến hiện trường lập biên bản thu giữ được 2 chiếc bát men ngọc, 2 chiếc chậu men nâu da lươn và 1 đồng tiền cổ có nguồn gốc từ chiếc tàu chìm. Ngày 11/9/2012 UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có báo cáo số 149/BC-UBND gửi Bộ VH, TT và Du lịch đề nghị Bộ cử đoàn công tác về kiểm tra tàu cổ tại vùng biển Bình Châu – Quảng Ngãi Ngày 12/9/2012 Cục Di sản văn hóa đã có quyết định số 47/QĐ-DSVH cử đoàn cán bộ gồm các thành viên: 1. Ths. Nông Quốc Thành, Trưởng Phòng Quản lý di tích; 2. TS. Nguyễn Đình Chiến, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật; 3. TS. Phạm Quốc Quân nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử ViệtNam, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật. Ngày 13/9/2012 Đoàn công tác đã có mặt tại Quảng Ngãi và tham gia đoàn khảo sát do TS. Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc  Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi tổ chức. Một số thông tin ban đầu: 1. Địa điểm tàu đắm thuộc vùng biển Vũng Tàu, thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tọa độ 15o25’N, 108o15’55E, cách bờ khoảng 100m. 2. Hiện vật do ngư dân trục vớt được cơ quan biên phòng và công an thu giữ bao gồm các loại hình: bát, đĩa, lư hương men ngọc; đĩa men trắng xanh; chậu men nâu da lươn nhiều cỡ. – Bát men ngọc màu xanh da táo hay vàng ôliu, có miệng loe thành cao, đáy màu xám hay đỏ gạch. Đường kính miệng: 18,5-19,5 cm; Chiều cao từ 7,5-8cm.

Bát Men Ngọc

Bát Men Ngọc

Đa số bát men ngọc không trang trí, nhưng có trường hợp giữa lòng in hình 2 người đấu vật hay in chìm cành hoa lá.

Đĩa Men Ngọc

Đĩa Men Ngọc

– Đĩa men ngọc dáng chậu, gờ miệng uốn, thành trong in chìm cánh hoa cúc, giữa lòng in chìm cành hoa lá, đáy có dấu khoanh tròn màu đỏ nâu. Đường kính miệng: 34 cm; Chiều cao: 7,5 cm.

LƯ HƯƠNG

LƯ HƯƠNG

– Lư hương men ngọc dáng hình trụ, xung quanh thân chia 3 ngấn nổi, chân đế nhỏ có gắn 3 chân nổi, men phủ phía ngoài, lòng để mộc. Đường kính: 9 cm; Chiều cao: 5cm.

Đĩa men trắng xanh

Đĩa men trắng xanh

Chi tiết lòng bát men ngọc

Chi tiết lòng bát men ngọc

– Đĩa men trắng xanh, chân đế thấp, gờ miệng để mộc trong lòng in nổi 2 hình cá ngược chiều nhau. Đường kính miệng: 14,3 cm; Chiều cao: 3,4 cm.

Chậu men nâu da lươn

Chậu men nâu da lươn

– Chậu men nâu da lươn, dáng hình nón cụt, đế bằng để mộc, men phủ trong lòng, thành ngoài men không đều. Đường kính miệng: 21,5-24 cm; Chiều cao: 5-6,7cm.

Đặc biệt trong số những hiện vật trên có 1 chồng dính gồm 11 chiếc chậu men nâu da lươn, có dấu tích than tro và những đồng tiền cổ bị cháy. Từ chứng cứ này chúng tôi cho rằng đây là dấu hiệu con tàu đã bị cháy trước khi chìm, tương tự như nguyên nhân bị chìm của tàu Hòn Cau và Cà Mau đã khai quật trước đây.

Quan sát tất cả những hiện vật bị vỡ chúng tôi đều thấy rõ những vết mới vỡ, phản ánh hậu quả việc trục vớt tự do của ngư dân. Đây là trường hợp đáng tiếc đã xảy ra tương tự với các con tàu cổ đã biết ở Việt Nam.

Trên cơ sở xem xét các loại hình, hoa văn trang trí, so sánh với các tài liệu đã biết, đặc biệt là con tàu Sinan bị đắm ở biển Nam Triều Tiên chở hàng gốm sứ thời Nguyên, chúng tôi cho rằng niên đại của những hiện vật trong tàu cổ Bình Châu thuộc thế kỉ 14, thời Nguyên (Trung Quốc).

Để thực hiện việc khai quật khẩn cấp tàu cổ Bình Châu, Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi đã có văn bản trình UBND tỉnh xem xét cấp phép và phê duyệt phương án khai quật khẩn cấp. Đồng thời Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi cũng có công văn số 1002/SVHTTDL-VP ngày 12/9/2012 gửi Bảo tàng Lịch sử quốc gia đề nghị cử cán bộ tham gia chủ trì khai quật.

Ngày 14/9/2012 UBND tỉnh Quảng Ngãi có quyết định số 1349/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng xét chọn các tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện thăm dò, khai quật, trục vớt di sản văn hóa dưới nước tại vùng biển thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Hội đồng gồm 9 thành viên do TS. Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở VH, TT và Du lịch làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng đã trao đổi thống nhất 6 tiêu chí đánh giá tổng quát về hồ sơ đăng kí của các tổ chức và cá nhân được ban hành kèm theo quyết định số 1349 của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

Sau cuộc họp xét chọn ngày 19/9/2012 tại Văn phòng Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi, Hội đồng đã lựa chọn Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương – một công ty đã hoạt động trong lĩnh vực này 9 năm (2003-2012), đã được các UBND tỉnh Quảng Nam, Cà Mau, Bình Định, Bình Thuận, Kiên Giang và Bộ VH, TT và Du lịch cấp phép khảo sát khai quật tàu cổ tại nhiều địa phương trong vùng biển Việt Nam để xây dựng Bảo tàng Cổ vật Biển Việt Nam. Hiện nay, Sở VH, TT và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đang chỉ đạo các công việc tiếp theo để tiến hành khảo sát và khai quật tàu cổ Bình Châu theo Quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ học dưới nước do Bộ VH, TT & DL ban hành ngày  30/12/2008.

Hội đồng xét chọn theo quyết định số 1349 của UBND tỉnh Quảng Ngãi

Nguyễn Đình Chiến – Phạm Quốc Quân

Nguồn tin:baotanglichsuquocgia

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

 

 

 

Read Full Post »

Viện Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm Đà Nẵng tọa lạc tại góc đường Bạch Đằng và Trưng Nữ Vương với diện tích là 6.673 m vuông  . Tòa nhà được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Trong quá trình xây dựng và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của chuyên gia khảo cổ Henri Parmentier, của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm .

Được xây dựng trên một gò đất cao , toàn bộ phía ngoài  viện bảo tàng sơn một màu vàng nhìn đơn giản và rất cổ kính ,với một không gian thoáng mát và trong lành ,những hàng cây trồng dọc theo các lối đi , cây cổ thụ làm tăng thêm vẻ cổ kính của bảo tàng , phía ngoài khuôn viện của bảo tàng các mảng đài thờ , tượng đá được xếp đặt rải rác  hài hòa với cảnh vật xung quanh , tạo cho người đến tham quan có một cảm giác ngỡ ngàng và  hứng thú khi tiếp xúc với những tác phẩm điêu khắc mà thoạt nhìn ta thấy có vẻ bí ẩn và xa lạ .

Từ những năm cuối thế kỷ XIX  khi một số người Pháp bắt đầu chú ý đến di tích Chăm thì rất nhiều các tháp Chăm đã ở trong tình trạng hư hỏng và đổ nát  , họ là những người Pháp yêu nghành khảo cổ và những người làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L’ École francais d’ Éxtrême – Orient, viết tắt là EFEO) , họ và   những đồng nghiệp người Việt Nam đã cùng nhau bắt đầu  thu thập , bảo tồn và nghiên cứu tác phẩm điêu khắc Chăm .  Đến  đầu thế kỷ XX một số hiện vật được chuyển đi  Pháp , một số được  chuyển ra Bảo Tàng Hà Nội & Bảo Tàng Sài Gòn , nhưng phần nhiều các tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng . Từ năm 1902 với ý định xây dựng một bảo tàng tại Đà nẵng để lưu giữ và trưng bày những tác phẩm điêu khắc Chăm mà họ thu thập được và sau 17 năm thì tòa nhà đầu tiên của bảo tàng chính thức hoàn thành .

Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng được xây dựng năm 1915 chính thức khánh thành vào năm 1919 là một bảo tàng trưng bày các hiện vật Chăm quy mô và độc đáo nhất Việt Nam  chuyên sưu tập , cất giữ và trưng bày các di vật điêu khắc Chăm được tìm thấy ở các tháp , thành lũy Chăm ,  các vùng tại Đà nẵng , Quảng nam và các tỉnh  lân cận   Các tác phẩm được trưng bày ,  lưu giữ tại bảo tàng điêu khắc Chăm là những tác phẩm tượng , đài thờ , phù điêu và vật trang trí , hầu hết là  các tác phẩm  nguyên bản được làm từ 3 chất liệu chính là Sa Thạch ,đất nung và đồng , phần lớn là sa thạch có niên đại từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau   được phân  theo các gian tương ứng với các khu vực địa lý nơi chúng được phát hiện như Mỹ Sơn ( thế kỷ thứ VII – VIII )  , Đồng Dương  ( thế kỷ thứ  IX ),  Trà Kiệu ( thế kỷ thứ X ) Tháp Mẫm  ( thế kỷ thứ  XII – XIV ) và các hành lang Quảng Trị , Quảng Nam , Quảng Ngãi , Kon Tum , Quảng Bình và Bình Định . Các tác phẩm  tiêu biểu của nền nghệ thuật này có một vẻ đẹp kỳ lạ độc đáo , gần gũi thiêng liêng , tinh tế  , một thế giới thần linh và kỳ bí  .. tất cả đều sống động , chi tiết và một sức hấp dẫn vô cùng mãnh liệt  . Đó là phần còn lại của cà một hệ thống tín ngưỡng , một kho tàng văn hóa phong phú .

Mặc dầu đã qua hai lần mở rộng , lần đầu là đầu năm 1930 – 1936  xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ,  để trưng bày các hiện vật thu thập được 1920 – 1930 Theo ý tưởng của Henri Parmentier,  hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, tạm gọi tên như sau:

*Phòng Mỹ Sơn – Quảng Trị,

*Phòng Trà Kiệu,

*Phòng Đồng Dương,

*Phòng Tháp Mẫm

*các hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum.

Ngoài ra còn có một phòng nhỏ làm kho. Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

Lần thứ hai xây thêm một toà nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn 500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc. Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975. Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm.

Sau hai lần mở rộng Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng. Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa – Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

Hãy đến và hãy ghé tham quan bảo tàng  , đừng bỏ qua nếu bạn có dịp ghé thành phố Đà Nẵng , một điểm đến lý thú và đầy bất ngờ đối với khách du  lịch

Một số thông tin cần biết :

1/ ĐỊA CHỈ :

*Văn Phòng : số 01-  đường Trưng Nữ Vương – Đà Nẵng

*Lối vào tham quan : Số 02 – đường 2 tháng 9 – Đà Nẵng

*Lối ra : Số 02 B  – đương 2 tháng 9 – Đà nẵng

2/ ĐƯỜNG ĐẾN :

* Từ sân bay Đà Nẵng  : đến Bảo tàng khoảng 4 km

*Từ ga xe lửa Đà Nẵng : đến Bảo tàng khoảng 6 km

*Từ Hội An đến Bảo Tàng : Khoảng 30 km

3/ GIỜ MỞ CỬA :

* Từ 7 giờ đến 17 giờ 30 hằng ngày.

4/VÉ VÀO CỬA :

*Người lớn: 30.000 đồng/người

*Học sinh – sinh Viên : 5000 đồng / người  ( xuất trình thẻ  )

*Trẻ em dưới 16 tuổi : miễn phí

5/HƯỚNG DẪN VIÊN :

*Những đoàn khách từ 5 người trở lên có yêu cầu về hướng dẫn viên có thể liên hệ trước tại quầy vé để sắp xếp.

*Thời gian:

từ 8 g –  10 g 30

từ 14 g – 16 g 30.

6/ QUY ĐỊNH :

*Khách đến tham quan phải mua vé.

*Không được mang theo vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào Bảo tàng.

*Phải gửi hành lý ở phòng thường trực, lưu ý không để tiền, vật quý trong hành lý

*Không sờ vào hiện vật .

*Không hút thuốc trong các gian trưng bày. Giữ gìn trật tự vệ sinh.

*Được phép chụp ảnh, quay phim với máy cầm tay. Các chương trình quay phim, chụp ảnh đặc biệt phải được sự đồng ý của Bảo tàng. Không được sử dụng hình ảnh, phim về Bảo tàng ĐKC và về hiện vật của Bảo tàng ĐKC để in, đăng trên bất kỳ phương tiện thông tin nào, kể cả trên các trang web, khi chưa có sự cho phép của Bảo tàng Điêu khắc Chăm.

7/SƠ ĐỒ BẢO TÀNG

8/LƯU NIỆM :

*Cửa hàng lưu niệm tại hành lang của Bảo tàng hoạt động theo giờ mở cửa của Bảo tàng

9/LIÊN HỆ :

• Quầy vé:

– Tel: (511) 3470114

 • Bảo vệ:

– Tel:  (511) 3572414

 • Phòng Tổ chức – Hành chính:

– Tel: (511) 3470116
– Fax: (84 511) 3574801

 • Phòng Hướng dẫn – Tuyên truyền:
– Tel: (511) 357 2935

 • Phòng Sưu tầm – Bảo quản:
– Tel: (511) 3821951

 • Góp ý : ChamMuseum@gmail.com

Một số hình ảnh được chụp tại bảo tàng điêu khắc Chăm

This slideshow requires JavaScript.

Khanhhoathuynga

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

Read Full Post »

I. Con đường gốm sứ qua biển Đông

Trong vòng 20 năm qua, các cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước và tiến hành trục vớt những con tàu đắm trong vùng biển Đông của Việt Nam đã bổ sung nhiều bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của “con đường gốm sứ” qua hải phận nước ta, bao gồm cả vùng Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ xa xưa…

Những công trình khai quật ở châu Á đã làm hiển lộ một số đồ gốm hoa lam có xuất xứ từ Việt Nam như tại Mindanao (Philippines) và một số đã trở thành những món đồ cổ hiếm quý được giới sưu tập tìm mua tại đây. Đơn lẻ tại vùng Tây Á có một đĩa hoa lam với đường kính 44 cm chế tác từ Việt Nam trở nên nổi tiếng trong thế giới của những nhà sưu tập Hồi giáo, là vì đĩa hoa lam này do một nhân vật lừng lẫy trong thế giới Hồi giáo là Shah Abbas làm lễ hiến dâng lên đền thờ Ardebit từ đầu thế kỷ 17. Chúng có thể được chuyển đi bằng con đường gốm sứ của biển Đông và được nhắc đến trong nhiều tài liệu. Tất cả điều đó nói lên sự hiện hữu của huyết mạch giao thương có từ bao đời trên hải phận Việt Nam. Mà trên đường ấy, có một con tàu xấu số đã chìm dưới vùng biển Cù lao Chàm thuộc phố cổ Hội An. Vậy, ai là những người đầu tiên đã phát hiện ra nó?

Không ai khác hơn là những ngư dân vô danh cư ngụ tại cù lao ấy, dù họ đã gây ra sự xáo trộn bề mặt di tích bởi những cào xới, tìm lặn dưới đáy nước. Họ sống những ngày phập phồng vì sự đe dọa của bão biển. Chẳng hạn, vào những thập niên giữa thế kỷ 20, Cù lao Chàm thường rơi vào tình trạng biệt lập với đất liền hàng tuần, có khi kéo dài gần cả tháng trong những ngày biển động cấp 7 cấp 8 trở lên. Những ngày đó, Cù lao Chàm chỉ liên lạc được bằng đường điện thoại. Sau này, tàu cao tốc vận chuyển hành khách từ phố cổ Hội An ra đó cũng đành phải neo đậu tại cửa Đại chứ không vượt sóng đến cù lao trong những cơn bão dữ. Có khi phải dùng đến tàu công suất lớn 350 CV để vượt 15 km đường biển sóng gió để chở gạo, dầu và chất đốt ứng cứu dân trên xã đảo. Đầu thế kỷ 21, chính quyền mở nhiều đợt hỗ trợ miễn phí cho ngư dân nghèo trong những thời điểm thời tiết bất lợi. Nếu thời tiết thuận lợi, ngư dân trên Cù lao Chàm sẽ có được mùa cá trích hằng năm.

Cách đây vào khoảng 20 năm trước, khi mùa lưới cá trích của họ bị thất bát vì biển động kéo dài, lương thực cạn kiệt, một số ngư dân đã rời đảo vào bờ tìm đến bà con thân thuộc để vay mượn chút ít, hoặc làm thuê, gánh mướn kiếm gạo. Một số người đã mang theo những chồng bát dĩa vớt lên từ những chuyến rà lặn dưới đáy nước sâu. Số khác ghé vào nhà bà con cũng là ngư dân sinh sống ở các xã ven biển Hội An để ở tạm và trong cơn túng quẫn họ cũng được những người bà con tốt bụng ấy cấp cho những chồng bát đĩa tương tự đem ra chợ bán. Đó là những chồng bát đĩa mà dưới mắt họ “đã cũ mèm” và có giá bán “rẻ rề”, chỉ 10.000 đồng hoặc 20.000 đồng một chiếc giá lẻ, còn giá bán sỉ thấp hơn nhiều. Có thể nói, trong 5 năm, từ 1990 đến 1995, thậm chí trước đó vài năm nữa, từng chồng bát đĩa lẫn lộn với nhiều cổ vật do ngư dân vớt lên từ vùng biển Cù lao Chàm đã được bày bán la liệt, từ “thượng chùa Cầu đến hạ Âm Bổn” của phố cổ Hội An, mà sau này số cổ vật ấy ước tính lên tới con số ngót hàng vạn.

Điều đó đã được các nhà khảo cổ học, sử học như TS Đặng Văn Thắng đến từ TP.HCM và nhà khảo cổ học Tăng Bá Hoành ở Hà Nội ghi nhận. TS Thắng đến Hội An để tham gia khai quật tàu đắm Cù lao Chàm đợt đầu cho chúng tôi biết: “Khi đi dạo phố với các chuyên gia nước ngoài tham gia đợt khai quật khảo cổ học đầu tiên ở Việt Nam nằm trong vùng Cù lao Chàm, chúng tôi thấy rất nhiều cổ vật bày bán trong các tiệm ở đường Trần Phú”. Ông Tăng Bá Hoành cũng nói rõ đã sưu tầm được một số cổ vật gốm xuất xứ từ tàu đắm Cù lao Chàm được ngư dân đem ra bán trước khi có cuộc khai quật, với sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ và ngành văn hóa nước nhà. Khi đoàn khai quật đến và vùng di tích Cù lao Chàm được khoanh vùng vào năm 1997 thì các cổ vật trong tàu đắm do ngư dân vớt lên đã không còn được bày bán nhiều như trước nữa. Và dĩ nhiên giá của các món cổ vật cũng tăng cao hơn. Cụ thể: “mỗi chiếc đĩa gốm hoa lam khoảng 2 tấc đã lên đến 1 triệu đồng hoặc hơn” – TS Thắng ghi nhận như thế.

Giao Hưởng

thanhnien.com.vn

__________________

240.000 hiện vật

Về phía Nhà nước, các thông báo chính thức sau này cho biết tàu đắm cổ Cù lao Chàm được phát hiện vào khoảng những năm đầu thập niên 1990 của thế kỷ 20, đến năm 1997 thực hiện Quyết định số 653 VH/QĐ ngày 27.3.1997 của Bộ VH-TT, Ban khai quật tàu đắm cổ Cù lao Chàm đã khảo sát và khai quật con tàu cổ này trong 3 năm 1997 – 1999. Kết quả đã vớt được trên 240.000 hiện vật còn nguyên vẹn và hàng vạn mảnh vỡ gốm sứ, hầu hết có xuất xứ từ vùng Chu Đậu (Hải Dương), niên đại khoảng thế kỷ 15 – 16.

 II. Lưu lạc đến phương trời xa

Trong đợt khảo sát và khai quật con tàu cổ đắm tại vùng biển Cù Lao Chàm với hơn 240.000 hiện vật nguyên vẹn, trong đó có một cổ vật độc bản là chiếc nậm rượu hình rồng, một bảo vật quốc gia, nay đã về đâu?

Bình và ấm gốm cổ do Việt Nam xuất khẩu tìm thấy trên tàu đắm ở Cù Lao Chàm – Ảnh: Tư liệu

Nậm rượu giá 200.000 USD

Không ít người phải chạnh lòng, băn khoăn, vì hàng vạn cổ vật trên con tàu đắm ở vùng Cù Lao Chàm đã được đem ra bán đấu giá tại Mỹ. Trong số đó, có các cổ vật được xem là bảo vật quốc gia như thông tin của tác giả Hồ Trung Tú về chiếc nậm rượu hình rồng có “nét vẽ không cầu kỳ trau chuốt, nhìn toàn thể là một sự hài hòa giữa hình khối và nét vẽ.

Những thứ không được vẽ như các bắp cơ cuồn cuộn của con rồng cũng toát lên hình khối mà ta không cảm nhận được rõ ràng nó toát ra từ đâu. Một con rồng thật sống động, oai phong nhưng cũng thật dễ thương và gần gũi. Nó không dữ dằn, đe dọa như những con rồng Trung Quốc.

Được biết, món đồ sứ hình rồng này là độc bản, chỉ có một chiếc trong hơn 240.000 món đồ cổ trong con tàu đắm ở Cù Lao Chàm. Chiếc nậm rượu hình con rồng ấy đã được bán với giá 200.000 USD. Một bảo vật quốc gia đã bị mất!”. Cũng theo Hồ Trung Tú, chiếc đĩa vẽ hình một con vịt xiêm, tức con ngan, cũng bán đấu giá lấy 70.000 USD.

Những cổ vật độc bản, hoặc tiêu biểu tương tự như trên, đều là đồ gốm sứ được sản xuất từ làng nghề Chu Đậu. Làng nghề này nổi danh và cực thịnh từ cuối thế kỷ (TK) 14 đến cuối TK 16, tính ra thời vang bóng của Chu Đậu kéo dài ngót 200 năm.

Ông Đào Phan Long – một nhà sưu tập, đồng thời cũng là một tác giả quan tâm đến sự lưu lạc của các cổ vật Việt Nam, đã đề cập đến một khía cạnh văn hóa của cổ vật trong tài liệu phổ biến trên tạp chí Cổ vật tinh hoa, rằng: “Tôi đọc báo thấy chính phủ một số nước đang phát triển đã thông qua người của mình dự các cuộc đấu giá quốc tế để mua lại các cổ vật quý của nước nhà đã bị mất thời trước.

Ví như Trung Quốc, Hàn Quốc… ta đã thấy họ mua lại các món cổ vật của họ thông qua đấu giá lên đến nhiều triệu đô la Mỹ đấy thôi! Trong các bạn chơi cổ vật, tôi biết có những người đã đi mua được vài món cổ vật gốm sứ mà họ yêu thích ở Thái Lan và Mỹ mang về Việt Nam.

Còn tôi cũng mua được tại Hà Nội một chiếc đĩa gốm Việt TK 15 vẽ nhiều màu thuộc lô đồ vớt ở tàu đắm Cù Lao Chàm – Hội An đã được nước ta cho bán đấu giá sang tận Mỹ trước đây. So với nhiều món cổ vật khác thì chiếc đĩa không quý và độc đáo gì, nhưng tôi thích nó vì phía sau đĩa có con tem và số lô hàng của nhà bán đấu giá chính hiệu Butterfield bên Mỹ.

Người bán cho biết anh ta đã mua của một Việt kiều làm ăn bên Mỹ mang về. Anh Việt kiều Mỹ đó đã mua được nhiều món trong cuộc đấu giá lô cổ vật tàu đắm Cù Lao Chàm”.

Trưng bày ở nước ngoài

Cũng theo nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ học và sưu tầm cổ vật hiện nay, có hàng chục bảo tàng khắp nơi, kể cả châu Âu, châu Mỹ đều để tâm giới thiệu và dành những không gian thích đáng để giới thiệu về những sản phẩm gốm Việt Nam.

Điều đó đã “xóa bỏ một huyền thoại” về sự độc tôn của gốm Trung Quốc trên thị trường đồ cổ quốc tế. Nghĩa là gốm Việt Nam, đặc biệt gốm Chu Đậu trên con tàu đắm Cù Lao Chàm, đang sánh vai và thu hút các nhà sưu tập tìm kiếm những tiêu bản đẹp.

Có thể ghi nhận điều ấy qua các trưng bày gốm Việt Nam tại Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Indonesia hoặc ở Pháp, Anh, Đức, Phần Lan, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ và cả ở một số nước châu Mỹ nữa. Để dẫn chứng, ông Nguyễn Văn Quốc – cán bộ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM nêu trường hợp bà Miriam Lambrecht Greeraerts (là quản thủ bộ sưu tập Ấn Độ và Đông Nam Á thuộc Bảo tàng Hoàng gia Bỉ) trong một buổi báo cáo tại Viện Khảo cổ học đã cho biết tại bảo tàng này có một bộ sưu tập gốm Việt Nam do một người Bỉ tên là Clément Huet đã từng ở Việt Nam từ năm 1912 đến năm 1938, làm việc tại Công ty vải sợi Nam Định, đã sưu tập qua các cuộc khai quật mà ông tham gia.

Trong ghi chép của mình, ông Huet đã cho biết năm 1938 ông đưa về Bỉ 7.927 hiện vật, trong đó có 6.027 đồ gốm. Năm 1952, sau khi Huet qua đời, Bảo tàng Hoàng gia Bỉ mua lại một phần bộ sưu tập này gồm 2.850 hiện vật, phần lớn là gốm Việt Nam từ TK 14 trở về trước, xuất xứ và niên đại được ghi lại tương đối rõ ràng.

Một trường hợp khác cũng được ông Nguyễn Văn Quốc thông tin: “Bảo tàng Cernuchi của Pháp cũng có bộ sưu tập gốm Việt Nam được đưa từ Việt Nam về trong những năm 1930 do học giả Viễn đông Bác cổ là Olob Jansé sưu tập còn để trong kho chưa được đưa ra trưng bày. Khi có dịp đến tham quan Bảo tàng Cernuchi (Paris) vào cuối năm 2000, chúng tôi chỉ được nhìn chúng qua hình ảnh, phần lớn là gốm Việt Nam từ TK1 đến 10”.

Thông tin khoa học trên còn nhấn mạnh ngoài những hiện vật gốm thuộc sở hữu cá nhân trước đây mà nay đã là sở hữu của một số bảo tàng lớn, gốm Việt Nam còn có trong một số sưu tập của cá nhân và họ đã tự tổ chức những cuộc triển lãm cũng như in sách để giới thiệu.

“Đó là trường hợp của ông Wlrich. J.Beck, một thành viên của Hội Gốm cổ Indonesia (1977), tuy là người Thụy Sĩ nhưng ông này đã từng sống và làm việc lâu năm ở Indonesia (từ 1968). Trong thời gian đó, ông đã bỏ ra một số tiền lớn để mua lại 350 hiện vật gốm Việt Nam từ những người buôn đồ cổ ở Singapore, từ cuộc khai quật gốm Việt Nam ở đảo Sulaweisi, đảo Calimantan (Indo) – miền Đông Java. Sưu tập gốm Việt Nam nói trên có niên đại từ TK 15 đến TK 16. Số hiện vật này đã được ông trưng bày tại Thụy Sĩ sau 10 năm (1968 – 1978) sưu tập. Đặc biệt, ông đã xuất bản một quyển sách giới thiệu sưu tập gốm Việt Nam của ông với loại hình đa dạng như: đĩa, hũ có nắp, bình pha mực hình thú, con xúc xắc, mặt nạ, hạt chuỗi… gồm hai loại men chủ yếu là men ngọc và men xanh trắng”.

Sự dày công và kiên trì của ông Wlrich.J.Beck cho thấy gốm Việt Nam đã có một sức hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu và sưu tầm đồ cổ để có được “một chút gì để nhớ” trong các sưu tập cá nhân của họ.

Giao Hưởng

thanhnien.com.vn

III. Từ  các cổ vật quý hiếm

Chuyên viên khảo cổ và thợ lặn làm việc trên vùng biển có tàu cổ đắm ở Cù Lao Chàm (Hội An) – Ảnh: Đ.S

Ngoài những cổ vật được đem đấu giá ở Mỹ như đã đề cập trong các bài trước, một số đã được Bộ Văn hóa – Thông tin trước đây (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch) giao về các bảo tàng trong nước.

Trong số đó, theo thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM thì nơi đây đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (VH-TT) giao lại hơn 4.600 cổ vật gốm Chu Đậu từ con tàu đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm. Số cổ vật trên bao gồm nhiều loại hình như chén, đĩa, ấm, hũ, bình…, đều là những cổ vật mang nhiều giá trị lịch sử – văn hóa và khoa học cần được giới thiệu, nghiên cứu thêm. Trong các hiện vật mà bảo tàng này tiếp nhận có các hiện vật rất quý, gồm:

– 2 lọ cắm bút hình rùa, trong đó một lọ gốm men xanh trắng và một lọ gốm men trắng. Lọ gốm men xanh trắng cao 3 cm, đường kính 5,5 cm, bên trong rỗng nhưng không thông với miệng rùa, đầu rùa ngẩng cao, tứ chi xòe ra trong tư thế đang bơi. Lọ thứ hai là gốm men trắng, đặc điểm giống như lọ men xanh trắng nhưng chỉ nhỏ hơn một chút, cao 2,5 cm, đường kính 5 cm.

– 2 lọ châm nước mài mực hình cóc, đều làm bằng gốm men xanh trắng, có cùng kích thước: cao 4,8 cm, dài 6,5 cm, rộng 4 cm. Về đặc điểm thì hai chiếc lọ này đều như nhau, cụ thể là đều có dạng của một con cóc đang ngồi, đầu ngẩng cao, bụng tròn, 2 chân trước đứng, 2 chân sau ở tư thế ngồi xổm, ở giữa lưng có lỗ tròn đường kính 1 cm là miệng lọ, bên trong rỗng và thông với miệng cóc, đây là vòi, dùng cho việc châm nước mài mực. Có thể vì muốn tạo hình dáng khác cho lạ mắt hay vì niềm tin mà các nghệ nhân đã tạo ra lọ châm nước với hình dáng của một con cóc thân thiện này. Cóc cũng tượng trưng cho mưa thuận gió hòa, cho sự đầm ấm sinh sôi nảy nở.

– Cặp ấm hình gà: kiểu dáng và kích thước hai chiếc ấm này đều giống nhau: có mào gà, đầu ngẩng cao, dáng mập, đuôi cong, trên lưng có một vòi nhỏ, trổ thủng thông với thân, bên trong rỗng, mỏ trổ thủng một lỗ là vòi, toàn thân vẽ lam; đều có chiều cao 11,5 cm, dài 16 cm, rộng 8 cm. Màu sắc của chúng thì khác nhau: một chiếc ấm men xanh trắng, một chiếc ấm men Tam thái (3 màu).

Trên đây nói về số cổ vật liên quan đến đợt khai quật khảo cổ học đối với con tàu đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm được tiến hành trong 3 năm từ 1997 – 1999.

Cuộc tìm kiếm lần thứ 2

Theo tinh thần cuộc họp do Bộ VH-TT (lúc đó) tổ chức bàn về Đề án trục vớt cổ vật tàu đắm Cù Lao Chàm được tổ chức vào ngày 18.7.2003 tại Hà Nội, thì một hợp đồng cụ thể được ký kết với Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương để trục vớt các cổ vật trên cơ sở đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Theo đó, toàn bộ chi phí trục vớt do Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương lo liệu; sau khi kết thúc việc trục vớt, số hiện vật được kiểm kê, phân loại, trừ những hiện vật độc bản được giao ngành VH-TT quản lý, các hiện vật còn lại được chia theo tỷ lệ Bên A (tỉnh Quảng Nam): 40% và Bên B (Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương): 60%. Sau đó, một ban chỉ đạo trục vớt cổ vật gồm: lãnh đạo UBND tỉnh, Sở VH-TT, Sở Tài chính – Vật giá, Công an tỉnh, BCH Bộ đội biên phòng tỉnh và Bảo tàng Quảng Nam đã được thành lập. Kết quả của đợt khai quật đã đem lên bờ thêm hàng chục nghìn cổ vật khác.

Có thể nói, trong số tàu đắm đã được khai quật, con tàu ở Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam) chở hàng gốm sứ Việt Nam (thay vì hàng Trung Quốc như các tàu khác) với số lượng nhiều nhất được tìm thấy từ trước đến nay tại các di tích hàng hải, gồm: gốm hoa lam, gốm nhiều màu và gốm xanh lam độc sắc. Cạnh đồ thô dân dụng là những sản phẩm cao cấp, khiến chuyên viên Bảo tàng Victoria and Albert là John Guy phải thốt lên: “Có quá nhiều, quá nhiều ngạc nhiên. Chỉ trong một con tàu mà chứa cả phạm vi những loại đồ gốm với tính chất khác nhau, hỗn hợp vật liệu khác nhau, để cung cấp cho nhiều giai tầng xã hội khác nhau, thật hết sức phi thường” (theo tờ Viet Mercury tháng 6.2000).

Xứ sở của gốm hoa lam

Cũng cần nói thêm là, theo các nhà nghiên cứu, mãi đến đầu thập niên 1930, thế giới cũng chỉ biết gốm hoa lam sản xuất bởi Trung Quốc. Nhưng từ năm 1934, L.R.Hobson đã phát hiện trên bình gốm của Bảo tàng Topkapi Saray tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) có ghi xuất xứ của bình làm tại Việt Nam thế kỷ 14. Vài thập niên sau, ngày càng có nhiều chứng cứ về sự có mặt của gốm Việt Nam thế kỷ 14 – 17 tại Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ai Cập… Điều đó chứng tỏ không chỉ Trung Quốc mà Việt Nam cũng là xứ sở của gốm hoa lam.

Nghệ nhân Việt Nam đã đưa nhiều thế hệ gốm sứ đi khỏi lũy tre làng, ra cửa biển, một số gặp nạn, bị chìm cùng các thương thuyền và được vớt lên từ vùng vịnh Thái Lan và nam Philippines… Ở trong nước, theo nhà nghiên cứu Bùi Minh Trí, những dấu tích trên đất liền dần dà tìm thấy tại các thương cảng cổ như Phà Hồ (Bắc Ninh), Vân Đồn (Quảng Ninh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hội Thống, Đền Huyện, Kỳ Ninh (Hà Tĩnh), đặc biệt vùng biển Cù Lao Chàm đã “phát hiện một khối lượng khổng lồ hơn 150.000 đồ gốm hoa lam Việt Nam còn nguyên vẹn”. Đây là bằng chứng quan trọng khẳng định về xuất xứ và đời sống viễn du của một dòng gốm riêng biệt.

G.H

Giao Hưởng

thanhnien.com.vn

IV. Một cuộc đấu giá ở Amsterdam

Không chỉ cổ vật ở Cù Lao Chàm, mà Việt Nam đã đưa nhiều cổ vật vớt được trên các con tàu đắm tại một số địa điểm khác ở biển Đông ra nước ngoài bán đấu giá.

Chẳng hạn 17.000 cổ vật trên tàu đắm Bình Thuận được bán đấu giá tại thành phố Melbourne (Úc), 28.000 cổ vật trên tàu đắm Hòn Cau vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu đấu giá tại Hà Lan qua sàn đấu của công ty quốc tế nổi tiếng Christie’s của nước Anh.

 

Bà Võ Thị Hạnh Dung bên một cổ vật đời Minh (Trung Quốc) – Ảnh: Đ.S

Chúng tôi ghi lại dưới đây chi tiết về cuộc bán đấu giá cổ vật tại Amsterdam (Hà Lan). Đó là các cổ vật vớt được trên một con tàu đắm ngoài khơi tỉnh Cà Mau. Theo các nhà nghiên cứu, con tàu trên thuộc loại tàu buồm bằng gỗ, dài khoảng 24m, rộng gần 8m, chìm ở độ sâu 36m. Dựa vào hàng hóa và số di vật trục vớt được có thể đoán định đây là tàu của một công ty nước ngoài ở châu Âu, hoặc tàu của Trung Quốc chở hàng gốm sứ sản xuất từ Cảnh Đức Trấn ở tỉnh Giang Tây, Đức Hóa ở tỉnh Phúc Kiến, Quảng Châu ở tỉnh Quảng Đông đang trên đường vòng qua hải phận Việt Nam đến các nước trên thế giới. Niên đại tàu thuộc thời Ung Chính nhà Thanh (1723-1735).

Ban đầu tàu được hai ngư dân ở La Gi, tỉnh Bình Thuận phát hiện và các thợ lặn lành nghề đã tự ý khai thác 30.000 cổ vật dưới tàu đắm nhưng sau này các cơ quan chức năng thu giữ và thẩm định nguồn gốc số cổ vật ấy, báo cáo lên Thủ tướng. Chính phủ cho phép mở một cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước lần đầu tiên hoàn toàn do cán bộ khảo cổ học và thợ lặn Việt Nam thực hiện, không có sự tham gia của nước ngoài. Cuộc khai quật tiến hành với sự tham gia chỉ đạo của một số bộ hữu quan như Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ GTVT, Bộ Văn hóa – thông tin và UBND tỉnh Cà Mau, giao Liên hiệp xí nghiệp trục vớt cứu hộ – Visal trực tiếp khảo sát và thực hiện thành công. Có đến 76.657 cổ vật vớt được đợt này đã đưa sang Hà Lan để bán đấu giá đầu năm 2007. Đoàn cán bộ Việt Nam gồm 6 người do UBND hai tỉnh Cà Mau và Bình Thuận cử đi, một đoàn khác gồm TS Nguyễn Đình Chiến – đại diện Hội đồng Giám định cổ vật Quốc gia, ông Ngô Hải – Giám đốc Công ty Unicom được mời đi dự phiên đấu giá trên với danh nghĩa là “người môi giới bước đầu” đã có mặt tại Amsterdam. Đáng ghi nhận là sự có mặt một đại diện của Công ty Đoàn Ánh Dương, là người Việt Nam trực tiếp tham gia cuộc đấu giá! Trong dịp tiếp xúc gần đây với người đại diện trên, chúng tôi nghe kể như sau:

Trước buổi đấu giá đầu tiên, theo thông lệ và truyền thống hiếu khách vốn có của hãng đấu giá quốc tế Sotheby’s, một bữa tiệc chiêu đãi đoàn Việt Nam được Sotheby’s tổ chức hết sức thân mật vào chiều 28.1.2007. Trước đó, các chuyên gia Sotheby’s cũng hướng dẫn chúng tôi đến xem phần trưng bày mỹ thuật và sắp xếp bố cục khá ấn tượng của các lô hàng cổ vật trên tàu đắm Cà Mau, giúp người xem nhận ra quy mô cũng như đẳng cấp chuyên nghiệp quốc tế của họ trong việc chuẩn bị đấu giá. Họ cũng phổ biến các tập quảng cáo 1.716 lô cổ vật với giá sàn định sẵn theo từng lô, nhằm tiếp thị rộng rãi với khách quốc tế.

 —————————————————————

“Tàu cổ Cà Mau bị đắm ở thế kỷ 18 trên vùng biển Việt Nam có thể do chở hàng quá nặng và bị cháy không chữa kịp. Điều đó được minh chứng qua hàng đống chảo gang kết lại thành khối lớn và rất nhiều chồng bát, đĩa, chén kết dính với nhau chẳng khác gì những vụ quá lửa trong các lò nung. Các nhà nghiên cứu lý giải rằng con tàu Cà Mau phải bị cháy với thời gian khá lâu thì nhiệt độ trong tàu mới lên cao, tới độ nung chảy kết khối như vậy. Đến nay từ Cù Lao Chàm của tỉnh Quảng Nam đến vùng biển Kiên Giang đã phát hiện và khai quật các con tàu đắm từ nhiều thế kỷ trước chứng tỏ vị trí quan trọng của tuyến đường hàng hải quốc tế qua vùng biển Việt Nam từ xưa…” – TS Trịnh Thị Hòa

—————————————————————-

Người điều khiển phiên gõ búa đấu giá đầu tiên vào 29.1 là ông Henry, Giám đốc điều hành khu vực châu Á của Sotheby’s, cho các lô từ số 1 – 233. Các khách hàng có mặt hôm ấy gồm đủ quốc tịch đến từ Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Bỉ, Hà Lan, Ireland, Ý, Trung Quốc, Nga, Úc, Nhật, Monaco, Nam Phi, Thụy Điển, Thụy Sĩ, với nhiều nhà sưu tập nổi danh trong các phòng bán đấu giá quốc tế hiện nay. Phiên thứ hai mở ngày 30.1 cho lô số 234 – 702. Phiên thứ ba mở ngày 31.1 cho lô số 703 – 1176. Hai phiên sau kéo dài hơn, liên tục từ 10 giờ 30 sáng đến 19 giờ 30 tối mỗi ngày, chỉ nghỉ chưa đầy 30 phút vào bữa trưa. Kết quả toàn bộ số cổ vật trên tàu đắm Cà Mau đưa sang Hà Lan đợt ấy đều bán hết với tổng số tiền thu được là 3.046.716 euro, nếu quy đổi thời điểm ấy sẽ là 3.889.888 USD. Ngay sau đó, Sotheby’s thông báo cuộc đấu giá cổ vật tàu đắm ở vùng biển Đông Việt Nam đã thực sự gây ngạc nhiên trên thế giới vì giá đấu cao và trở thành cơ hội giới thiệu hình ảnh Việt Nam – Cà Mau với khách quốc tế.

Cổ vật được mua vượt qua mức giá ước tính ban đầu của chúng rất nhiều. Chẳng hạn, 69 đĩa chén uống trà có hình “cậu bé cưỡi trâu” bán với giá 49.200 euro, cao gấp 12 lần so với dự kiến. Kế đến lô số 1071 với bộ chén có hình “chiếc lều của người Trung Quốc” bán với giá 31.200 euro, cao gấp 10 lần dự kiến. Lô số 329 gồm 500 chiếc chén và đĩa màu trắng xanh có hình con hươu bán cho nhà sưu tập người Nam Phi với giá 26.500 euro, một nhà đầu tư người Hà Lan đã trả 26.500 euro cho lô 369 – bộ đĩa và chén uống trà, cao hơn dự kiến nhiều. Qua đấu giá tại Hà Lan, một số nhà sưu tập ở hàng chục nước trên thế giới có thêm nhiều cổ vật hiếm quý trong bộ sưu tập phương Đông của họ.

Đặc biệt, lần đầu tiên một doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia đấu giá cổ vật quốc tế để mua và sở hữu hơn 1.000 cổ vật đem về lại Việt Nam, đó là Công ty Đoàn Ánh Dương đã nói trên. Từ hơn 10 năm nay, công ty này đã ký hợp đồng khảo sát và khai thác các tàu cổ đắm trên vùng biển Đông Việt Nam. Số cổ vật trục vớt dưới nước, hoặc sưu tầm trên cạn, cộng với số mua được từ các phiên đấu giá, đến nay đã có ngót hơn 62.000 món do Giám đốc Đoàn Ánh Dương là bà Võ Thị Hạnh Dung sở hữu và bà trở thành người nắm giữ cổ vật trên những con tàu đắm nhiều nhất Việt Nam hiện nay.

Giao Hưởng

 V. Bảo tàng cổ vật biển Việt Nam

Các chuyên gia khảo cổ và cả những nhà sưu tập trong nước mong muốn có một nơi để giữ gìn và giới thiệu với thế giới về những cổ vật này.

Phù hợp với mục đích trên, cách đây không lâu UBND tỉnh Kiên Giang đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết khá đặc biệt để xây dựng khu bảo tàng cổ vật kết hợp du lịch sinh thái rộng đến 49,27 ha trên đảo Phú Quốc (thuộc khu vực mũi Ông Quới, Cửa Cạn).

Cổ vật dưới lòng đại dương Việt Nam được trưng bày tại phố Lê Công Kiều, TP.HCM – Ảnh: Diệp Đức Minh

Khu bảo tàng không chỉ trưng bày những giá trị văn hóa, lịch sử của Kiên Giang và Phú Quốc, mà còn giới thiệu tập trung và đậm nét nhất về các cổ vật trục vớt từ những con tàu đắm trên vùng biển Việt Nam từ trước tới nay. Các thủ tục ban đầu đã tiến hành từ năm 2008 và dự kiến sẽ bắt tay thực hiện trong năm 2012. Đơn vị được UBND tỉnh Kiên Giang giao tổ chức lập quy hoạch trên là Công ty Đoàn Ánh Dương (TP.HCM) – công ty này đã có quá trình dài hơn một thập niên khảo sát hoặc trục vớt cổ vật tàu đắm trên vùng biển Cù Lao Chàm và Cửa Đại (Quảng Nam), Tuy Phong và La Gi (Bình Thuận), Phù Mỹ (Bình Định), Hà Tiên (Kiên Giang)…

Đại diện của Công ty Đoàn Ánh Dương gần đây cho PV Thanh Niên biết họ sẽ đem 62.000 cổ vật tàu đắm hiện đang sở hữu để trưng bày tại Bảo tàng Kiên Giang nói trên… bao gồm các loại chén, đĩa, ấm, bình trà bằng gốm, hoặc tiền đồng, hộp đồng, chậu đồng, đèn đồng, ống nhổ bằng đồng, cùng các nghiên mực bằng đá, dấu triện bằng đá. Cũng có nhiều loại chén sứ, bát sứ hoa lam rất mỏng, các lư hương, các hũ sứ hoa lam khác cùng nhiều mảnh gỗ bị vỡ, bánh lái bằng sắt, các cột buồm cháy dở dang, hoặc các loại khóa bằng đồng, bằng sắt chìm dưới biển nhiều thế kỷ nay, vớt lên từ tàu cổ Cù Lao Chàm (thế kỷ 15), tàu cổ Bình Thuận (thế kỷ 17), tàu cổ Hòn Cau (1690), tàu cổ Cà Mau (1723-1735), tàu cổ Kiên Giang (thế kỷ 15)…

Phần quan trọng của hoạt động bảo tàng này là lập hồ sơ khoa học về cổ vật tàu đắm, cũng như giới thiệu những tài liệu lịch sử văn hóa, những công trình nghiên cứu công phu, những lý giải về con đường hàng hải ngang qua vùng biển Đông nước ta bao gồm cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Chẳng hạn TS Nguyễn Đình Chiến khẳng định về giá trị khai quật các tàu cổ đã “góp phần nghiên cứu mối giao thương quốc tế trên biển Việt Nam” – ông trích dẫn tài liệu lịch sử cho thấy từ năm 1149, thuyền buôn của các nước Lộ Lạc, Xiêm La đến Vân Đồn để mua bán hàng quý, dâng hiến sản vật: “Con đường tơ lụa trên biển giữ vị trí rất quan trọng trong mối quan hệ giao lưu quốc tế (…). Từ năm 1636 Hà Lan được phép của chúa Nguyễn mở thương điếm ở đàng trong tại Faifo (Hội An) do Abraham Duijeker làm giám đốc. Năm 1637 dưới đời vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng, người Hà Lan cũng được mua bán ở Phố Hiến cùng với người Nhật, Trung Quốc, Thái Lan, Anh và Bồ Đào Nha. Cho đến năm 1659, lần đầu tiên những đồ sứ đặt làm ở miền Bắc Việt Nam và Nhật Bản được chở đến thương điếm Batavia của Hà Lan tại Nam Dương (Indonesia)”.

Như thế, không chỉ từ phía Nam (Cù Lao Chàm trở vào tới Cà Mau), mà cần nghiên cứu con đường hàng hải ở phía Bắc Việt Nam nữa. Vì thế trong tương lai, Bảo tàng cổ vật ở Phú Quốc tỉnh Kiên Giang cũng sẽ trưng bày các cổ vật mang dấu ấn về “con đường gốm sứ trên biển” thông qua cửa ngõ của phố Hiến và các hải cảng phía Bắc. Bởi chính từ đó nhiều chiếc bát cổ do Việt Nam xuất khẩu vào thế kỷ 15-16 đã được chở đi khắp nơi, như trong bài viết về “vẻ đẹp Chu Đậu”, tác giả Hồ Trung Tú nhắc đến nhận định của Morimura Kenichi rằng: “Đồ gốm sứ Việt Nam thế kỷ 15-16 đã có ảnh hưởng và mối quan hệ mật thiết với quá trình hình thành các dòng phái trà đạo của Nhật. Hiện nay, vẫn còn rất nhiều chiếc bát cổ từ thời quan hệ giao thương Việt – Nhật qua cửa ngõ Hội An – phố Hiến được lưu giữ tại các ngôi chùa nổi tiếng ở Nhật và chỉ được đem ra sử dụng trong các dịp lễ trà đạo lớn.

Chiếc bát chân cao được dùng trong hầu hết các dòng phái trà đạo và được xem như một kết tinh của nền văn hóa Nhật Bản”… Để chuẩn bị, vào giữa năm 2010, Công ty Đoàn Ánh Dương và bà giám đốc Võ Thị Hạnh Dung đã nhờ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM giám định đợt đầu 1.500 cổ vật, với kết luận: “Đây là các cổ vật Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan được tìm thấy trên các con tàu đắm có niên đại từ thế kỷ 15 – 18”. Tất cả đều đã và đang được trưng bày tại cửa hàng đầu tiên ở Việt Nam chuyên về Cổ vật trong lòng đại dương mở tại phố Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM.

Những động thái tiếp theo đang gấp rút thực hiện để trong vài năm tới sẽ hình thành khu bảo tàng và du lịch sinh thái đặc biệt tại tỉnh Kiên Giang – một địa điểm văn hóa sẽ trưng bày và giữ gìn số lượng cổ vật tàu đắm lớn nhất nước ta.

“Hiện nay có những hiện vật gọi là độc bản, mang nét đặc trưng tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử Việt Nam nhưng lại là sở hữu của các bảo tàng lớn ở nước ngoài, trong khi ở Việt Nam đã không tìm thấy những sản phẩm tương tự. Vì vậy, nên chăng những ngành chức năng trong việc quản lý cổ vật có kế hoạch tìm hiểu và lập danh sách những báu vật quốc gia hiện có mặt ở nước ngoài, để tiến hành trao đổi, thương lượng giữa hai quốc gia nhằm thu hồi những cổ vật quý hiếm, trong đó có đồ gốm (vớt được trên các con tàu đắm). Và theo tôi đó cũng là một trong những biện pháp góp phần bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam”.

Nguyễn Thị Ngọc Huyên (BTLS Việt Nam – TP.HCM)

Giao Hưởng

Nguồn st trên Internet , đăng tải 2/2011

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC


Read Full Post »

Quảng Ngãi: Phát hiện dấu tích lò nung gốm cổ (27/9/2010)

Ông Đặng Ngọc Anh, ngụ thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi vừa phát hiện dấu tích một lò nung gốm cổ trong khi đào đất làm hầm Biogas.

Hiện vật gốm cổ phát hiện tại xã Tịnh Châu, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.

Các hiện vật được tìm thấy gồm: Đồ gia dụng, chum, vò, đồ tùy táng, bình vôi… làm bằng gốm, sành với nhiều hình dáng, hoa văn đẹp. Ngoài ra còn có một số mảnh vỡ của đồ sứ cổ thời nhà Minh.

Theo Tiến sĩ Khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi – cán bộ Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, đây là dấu tích lò nung gốm của người Việt cổ, có niên đại vào khoảng thế kỷ 16; và là một trong những lò nung gốm sớm nhất ở địa phương này.

Nhận định trên dựa vào những hiện vật gốm chưa tráng men, chủ yếu là gốm sành, có nhiều hình dáng, hoa văn khác nhau.

Các hiện vật thể hiện rõ sự giao thoa giữa văn hóa Champa và văn hóa Việt; đồng thời cho thấy kỹ thuật sản xuất của người Chăm (dân bản địa) là nặn tay thủ công, song hành với kỹ thuật dùng bàn xoay của người Việt.

Việc phát hiện dấu tích lò nung gốm cổ này chứng tỏ người Việt cổ từ phương Bắc di chuyển vào phương Nam và định cư ở khu vực thành cổ Châu Sa rất sớm. Qua đó cũng phản ánh sự tồn tại lâu đời của kỹ thuật làm gốm cư dân Chăm-Việt.

Sáng nay 28/9, Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi cho biết, ông sẽ thông tin chi tiết về phát hiện khảo cổ mới mẻ này đến bạn đọc Tamnhin.net trong thời gian sớm nhất.

Theo: Tầm nhìn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Older Posts »