Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘cổ truyền’

Gốm cổ Trù Sơn – Đô Lương

Ít ai biết rằng, ở Đô Lương (Nghệ An) cũng có một làng gốm cổ. Chỉ khi nói đến những chiếc nồi đất kho cá, nấu cơm thường thấy ở bếp nhà dân các tỉnh miền Trung, nay còn xuất hiện trong các nhà hàng “cơm niêu”, thì nhiều người mới biết đó là sản phẩm của làng Trù.

Làng nghề nồi đất xã Trù Sơn (Đô Lương - Nghệ An), xưa gọi là Kẻ Trù hay làng Trù Ú. Cũng như nhiều làng nghề cổ khác, làng nghề truyền thống độc đáo này đang dần bị mai một

Làng nghề nồi đất xã Trù Sơn (Đô Lương - Nghệ An), xưa gọi là Kẻ Trù hay làng Trù Ú. Cũng như nhiều làng nghề cổ khác, làng nghề truyền thống độc đáo này đang dần bị mai một

Nghề nghèo nuôi kẻ khó

Làng Trù Sơn, còn gọi là làng Nồi, xưa thuộc Trù Ú, cách thị trấn Đô Lương 20km về phía đông nam, là một làng nghèo với nguồn thu chính từ nghề trồng lúa. Người Trù Sơn gọi nghề gốm của mình là nghề “vắt đất làm nồi”, và có lẽ họ chẳng bao giờ nghĩ có ngày mình lại được ra Hà Nội để “trình diễn” cái công việc nhà nông “quê mùa” ấy trước người dân thủ đô, các cháu học sinh và cả du khách nước ngoài.

Anh Trần Doãn Hùng, Trưởng Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Đô Lương (Nghệ An) nói: “Họ rất vui vì đây là lần đầu tiên được ra Hà Nội, “biểu diễn” cách làm nồi cho đông đảo người dân thủ đô xem, lại còn được thăm lăng Bác, được “lên ti vi” nữa”.

Có thể hình dung về niềm vui ấy khi nhìn những người nông dân nhỏ bé, đen đúa với giọng nói mang âm sắc nằng nặng nhưng khuôn mặt rạng rỡ nụ cười, tận tình hướng dẫn các thao tác làm gốm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trung tuần tháng ba vừa qua.

Những chiếc nồi gốm đủ loại to nhỏ được chị Hương, chị Liên, chị Thái -những “nghệ nhân” của làng – loang loáng bày ra trước mắt mọi người. Các thao tác tạo dáng sản phẩm gốm Trù Sơn khá đơn giản nhưng đòi hòi sự nhuần nhuyễn và khéo léo. Có lẽ vì vậy, ở Trù Sơn chỉ có phụ nữ đảm đương công việc này. Chị Thái cho biết, con gái lên mười ở làng đã bắt đầu học làm nghề gốm, khoảng 13, 14 tuổi đã là một người thợ thành thạo.

Khác với Phù Lãng hay Bát Tràng, người thợ gốm Trù Sơn không để cả khối đất lên bàn xoay, mà dùng đất đã nhào nhuyễn vắt theo hình con chạch mà họ gọi là rói để ghép nối từng phần.

Tất cả các công cụ làm gốm cũng chỉ gồm một cái bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng (gọi là khót) để tạo dáng và làm nhẵn. Vật liệu dùng để nung gốm chỉ là lá cây, có khi là rơm rạ.

Nung nồi đất

Nung nồi đất

Vất vả nhất là khâu lấy đất và làm nhuyễn đất, thường do đàn ông đảm nhiệm, bởi họ phải đến tận làng Hội Yên (Nghi Văn, Nghi Lộc) cách Trù Sơn 10km mới có loại đất sét để làm gốm.

Cũng theo một câu chuyện mà người già ở làng thường kể thì nghề làm nồi có nguồn gốc từ Nghi Lộc (có lẽ là nơi người Trù Sơn thường sang lấy đất). Rằng, ngày xưa, có người con gái ở nơi ấy về Trù Sơn làm dâu. Theo luật, nghề chỉ truyền cho con dâu chứ không truyền cho con gái. Nhưng bà mẹ của cô gái khi đến Trù Sơn thăm con, thấy cuộc sống vất vả khó nhọc quá, đành bí mật truyền lại cái nghề này. Nhưng giờ đây ở Nghi Lộc, nghề làm gốm đã bị mai một. Theo khảo sát của các cán bộ Bảo tàng Dân tộc học, hiện nay ở miền Trung chỉ còn Trù Sơn là giữ được nghề làm nồi truyền thống này.

Anh Đoàn Văn Nam, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nghệ An cho biết, theo những tài liệu mà anh có được, thì nghề làm gốm có ở Trù Sơn từ đời Trần, khoảng thế kỷ 13. Còn anh Nguyễn Văn Hứa (55 tuổi, xóm 10, Trù Sơn – một trong những gia đình lâu năm làm gốm, vợ anh là Phạm Thị Liên cũng ra Hà Nội trình diễn kỹ thuật làm gốm lần này) thì nói: khi anh lớn lên, ông nội anh đã nói nghề gốm có từ lâu đời rồi.

Thực ra, không ai biết chính xác cái nghề “vắt đất làm nồi” có ở Trù Sơn từ thời nào, nhưng mọi người đều chắc chắn một điều rằng vì nghèo khó, vất vả mà có nó. Ở một nơi khí hậu khắc nghiệt, bốn bề chỉ có đất, người nông dân đã biết tìm cách tạo ra từ hòn đất những sản phẩm phục vụ cho đời sống sinh hoạt của mình, sau đó mới nghĩ đến chuyện mang đi bán. Mỗi sản phẩm làm ra cũng chỉ bán với giá từ 1 đến 5 nghìn đồng, nhưng từ bao đời nay, họ vẫn sống dựa vào nghề. Bà Lê Thị Thuỷ (Thượng Giáp, Trù Sơn) nói: “Quê tui không có nghề ni thì chết đói”.

Đến nay, cuộc sống của dân nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn vất vả. Và cái nghề của tổ tiên để lại cứ thế mà tồn tại từ đời này qua đời khác, không cần một bí quyết gì thật đặc biệt, cũng chẳng cần vốn liếng gì to tát. Tuy vậy, đó lại là một sản phẩm hết sức đặc trưng của văn hóa nơi đây, của những con người xứ Nghệ nổi tiếng vì khắc khổ và hồn nhiên chất phác.

Vươn tới một “đẳng cấp” cao hơn?

Sản phẩm gốm Trù Sơn chủ yếu là nồi nhưng khá đa dạng. Có khoảng 30 loại nồi, từ nồi to nấu nước, nồi thường nấu cơm, nồi nhỏ kho thịt cá, đến nồi đình gánh nước, ủ giá đỗ, hông xôi, nấu rượu, rồi các loại chảo rang, siêu sắc thuốc… Xưa kia còn có cả nồi to đựng hài cốt lúc cải táng, các loại ống nhổ, áo chai để cất rượu vang, bù đựng nước mát. Ngày nay, các nghệ nhân cũng đã mày mò tạo ra một vài loại sản phẩm mới như giỏ treo phong lan, ống đựng tiền tiết kiệm khá độc đáo…

Gốm Trù Sơn như một cô gái quê chưa hề được trang điểm, không biết làm dáng nhưng lại có những nét duyên ngầm. Đặc điểm khá riêng biệt của dòng gốm này là đơn giản, thô mộc, không men tráng và hoàn toàn không có dấu hiệu của nghệ thuật trang trí. Tuy nhiên, gốm Trù Sơn có những ưu điểm rõ rệt về độ mỏng và nhẹ. Ông Lê Ngọc Hân (Hội Mỹ thuật Việt Nam) cho rằng, với độ mỏng lý tưởng đó cùng độ thấm nước gần như không có và thành phần xương đất tốt, gốm Trù Sơn có đầy đủ tố chất để vươn lên một đẳng cấp cao hơn, tạo nên những sản phẩm gốm nghệ thuật.

Tìm cho gốm Trù Sơn một hướng đi để phát triển đến một đẳng cấp cao hơn chỉ mới là ý tưởng của những nhà chuyên môn. Còn đối với các cán bộ văn hóa- thông tin huyện Đô Lương cũng như tỉnh Nghệ An thì chỉ mong sao gìn giữ được những nét duyên mộc mạc nguyên sơ của nó, mà sản phẩm vẫn bán được đều đều, để người dân yên tâm mà không bỏ nghề.

Anh Hứa cũng cho biết, thời gian gần đây, “thị trường” của gốm Trù Sơn không chỉ từ Thanh Hóa đến Quảng Bình, mà còn đến tận Hải Phòng, Nha Trang, Bình Định. Và năm 1996, đã có một chuyến hàng xuất sang Đan Mạch.

Tuy nhiên, do sự phát triển ồ ạt của đồ nhôm, đồ nhựa, số lượng sản phẩm của Trù Sơn cũng ngày càng hạn chế. Trước đây có khoảng từ 80-90% người theo làm nghề gốm, thì hiện nay chỉ còn khoảng 20-30%. “Bọn trẻ lớn lên chỉ lo đi khỏi làng để làm ăn thôi, giờ chỉ còn người già chẳng biết làm gì nữa thì làm nồi vậy, trước là để kiếm thêm đôi đồng, sau để giữ cái nghề tổ tiên để lại”. Thế nhưng anh Hứa cũng như chị Liên, chị Thái, chị Hương – những người thợ gốm lâu năm ở Trù Sơn, đều tin tưởng rằng, nghề gốm nơi đây sẽ được giữ gìn mãi mãi.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Gốm cổ truyền Khmer – An Giang

Nghề làm gốm thủ công của người Kmer Nam Bộ

Nghề làm gốm thủ công của người Kmer Nam Bộ

Hầu như phần lớn các gia đình dân tộc Khmer ở sóc PhnomPu (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) đều tham gia chế tác gốm. Nghề gốm ở đây có quy mô nhỏ theo hộ gia đình. Nghề làm gốm thường được tiến hành vào thời điểm nông nhàn, thường là vào mùa khô và do phụ nữ đảm nhiệm các công đoạn.

Đất làm gốm thường được khai thác dưới chân núi Nam Quy, cách sóc hơn 1 km. Theo bà con Khmer thì ở Tri Tôn chỉ có đất ở ven núi Nam Quy mới làm được đồ gốm. Đó là một loại đất sét xám, pha nhiều cát mịn, đào những hố sâu xuống 1,5 m thì gặp lớp đất sét làm gốm. Đất khai thác làm gốm sau khi mang về nhà được luyện kỹ trên một tấm gỗ hoặc đá nhằm loại bỏ các hạt sạn và sỏi cũng như làm tơi mịn. Tiếp theo, người ta đem nhồi đất với nước theo một tỷ lệ nhất định để cho quánh và dẻo nhưng không được ướt quá hay khô quá vì như thế sẽ khó tạo hình cho gốm. Công việc tạo hình gốm đòi hỏi sự khéo léo của những người phụ nữ lớn tuổi và có kinh nghiệm. Sản phẩm gốm ở Tri Tôn khá đa dạng như các loại nồi, ấm, choã, bếp, lu, vại… nhưng đặc biệt nhất là cà ràng và ống khói lò nấu đường thốt nốt. Cà ràng Tri Tôn khá nổi tiếng và là một mặt hàng bán chạy. Cà Ràng vốn là tiếng Khmer, tên gọi một loại bếp lò độc đáo vừa bao gồm nơi nấu với 3 ông táo, gắn với một thân đáy chịu lửa hình số 8 dùng đun củi, cời than. Bếp nấu cà ràng khá linh hoạt, có thể để trên sàn nhà bằng tre nứa, ván gỗ; có thể để ngay trên ghe thuyền mà không sợ bị cháy mặt sàn, gọn nhẹ và dễ di chuyển. Để tạo hình cà ràng và các loại sản phẩm, người thợ gốm dùng tay nắm đất sét định hình cơ bản đồ vật. Tiếp đó người thợ dùng một cây gỗ mỏng, bề mặt rộng 3-5 cm (tiếng Khmer gọi là sđâm) kết hợp với một hòn nống hình quả cam có nút cầm, gọi là kaleng, căng sản phẩm từ phía bên trong. Nhờ vừa nóng vừa dập nhẹ từ 2 phía trong, ngoài mà sản phẩm có độ dày đồng đều, cân đối. Sau khi dùng tay ướt vuốt phẳng, người thợ gốm dùng lá nốt chuốt láng mặt ngoài hoặc bẻ miệng sản phẩm theo ý muốn. Một số loại sản phẩm như nồi, ấm, chõa… sau khi tạo dáng sản phẩm, người thợ còn dùng các bàn in hoa văn trang điểm. Điểm đáng chú ý trong kỹ thuật chế tác gốm của người Khmer ở Tri Tôn là không dùng kỹ thuật bàn xoay để tạo hình. Đây cũng là kỹ thuật làm gốm khá nguyên thuỷ còn bảo lưu ở một số ít dân cư các dân tộc ở nước ta. Quá trình định hình và hoàn thiện sản phẩm gốm được tiến hành trên một mặt bàn nhỏ trong vườn. Gốm nung có màu đỏ nhạt hoặc vàng sậm, độ nung thấp. Các thương gia sẽ đi từng nhà gom các sản phẩm gốm chở đi buôn bán các nơi. Đồ gốm của Tri Tôn không chỉ bán ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ mà còn sang tận Campuchia, cạnh tranh với đồ gốm KôngPôngChnăng (là nơi sản xuất gốm nổi tiếng), chất lượng sản phẩm gốm của người Khmer Tri Tôn được nhiều nơi ưa thích.

Hiện nay nghề làm gốm của người Khmer ở Tri Tôn có chiều hướng giảm sút và mai một, nhiều gia đình từ lâu không còn làm gốm, một số hộ làm cầm chừng. Nguyên nhân do giá thành rẻ, không “kinh tế” bằng các nghề khác và luôn bị các thương gia ép giá. Gần đây, một số nhà nghiên cứu nước ngoài như Mỹ, Nhật đã đến Tri Tôn tìm hiểu và nghiên cứu nghề gốm. Vì vậy, nghề gốm của người Khmer ở Tri Tôn cần có sự quan tâm, nghiên cứu và bảo vệ nhằm phục vụ cho mục đích văn hoá, khoa học, du lịch và xuất khẩu.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »