Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘cổ đồ’

Tản Mạn về Gốm Cổ Hội An

Cổ Vật và Nghệ Thuật

Những năm gần đây, sau cuộc khai quật một chiếc tàu buôn đồ gốm được thực hiện gần Cù Lao Chàm ngoài khơi của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam thuộc miền trung nước Việt Nam bị chìm vào khoảng giữa thế kỷ 15,ngoài một số được bảo tồn và trưng bày tại những bảo tàn viện trong nội địa, người ta bắt đầu thấy nhan nhản những cổ vật được mời mọc, rao bán từ những tiệm buôn bán đồ cổ ở các địa phương như Hà Nội, Hội An, Sài Gòn… hoặc trên những trang mạng internet với danh hiệu là đồ gốm Hội An.  Kết quả của những cuộc nghiên cứu về sau cho thấy những cổ vật này không phải được làm tại Hội An mà được sản xuất tại những lò gốm khác nhau, đa số được thành hình từ những lò ở phạm vi tỉnh Hải Dương mà lúc bấy giờ là một trong những nơi sản xuất đồ gốm rất mạnh mẽ.  Ở một nơi quá thuận lợi cho việc giao dịch với những xứ đàng ngoài.  Hội An, một thị trấn miền duyên hải miền Trung nước Việt vào thế kỷ thứ 15 đã là một thương cảng sầm uất nhất trong thời gian này, là một nơi tiếp nhận và trao đổi những hàng hoá qua các thương thuyền từ khắp nơi trong vùng Châu Á: Trung Hoa, Nhật Bổn đến từ miền Bắc,  cũng như các thương thuyền từ Âu Châu như Anh, Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha dde^’n từ vùng biển miền Nam.

Bối cảnh lịch sử

Vào khoảng đầu thế kỷ thứ 15, nhà Minh bên Trung Quốc thời bấy giờ vì phải một mặt đối đầu với quân Mông Cổ từ phương Bắc, một mặt với nỗi đau còn ray rức về thất bại trong mộng chinh phục phương Nam trước đó bị đánh bại bỡi vua Lê Thái Tổ cộng với nội bộ lũng củng nên đã ra lệnh tuyệt đối cấm giao thương với những nước lân bang và ngoại quốc, nhất là theo hệ thống đường biển.  Thị trường đồ gốm vì lý do đó mà trở nên khan hiếm và không đủ số lượng để cung cấp cho đồ dụng trong nước và để trao đổi hàng hóa giữa các nước ngoại quốc.  Các lò gốm Việt Nam lúc bấy giờ đã lợi dụng cơ hội để tăng gia sản xuất hầu đáp ứng nhu cầu càng ngày càng tăng.  Những cuộc đào xới của giới khảo cỗ ở miền Bắc gần đây cho thấy trong thời gian từ thế kỷ thứ 15 và 16 những lò gốm xuất hiện rãi rác trải dài từ Hải Dương cho đến Hà Nội và đó cũng là thời gian cực thịnh nhất của ngành gốm của người Việt trong lịch sữ cận đại về phương diện số lượng xuất khẩu, phẩm chất và nhất là nghệ thuật.

Trong chuyến hải hành của một thương thuyền từ bến Vân Đồn (gần Hải Phòng) trực chỉ về phương Nam để giao hàng đến các nước vùng Đông Nam Á, sức nặng của những kiện hàng đã vượt qua khả Năng chịu đựng của chiếc tàu cho nên khi vừa qua vùng Cù Lao Chàm thì bị thêm ảnh hưởng sóng to gió lớn của một cơn bão. Chiếc thương thuyền với toàn bộ thuỷ thủ, thương gia và những kiện hàng bị chìm xuống lòng biển sâu mang theo sự bí ẩn của ngành đồ gốm Việt Nam trong khoảng thời gian hơn 5 thế kỷ.  Điều làm cho giới khảo cổ phấn khởi về khám phá ra chiếc tàu chìm là trong lòng tàu sau hơn 500 năm dưới lòng đại dương nay lại đươc khơi ra đã trả lời phần nào những nỗi suy tư mà họ đã có từ bao lâu naỵ  Trong số những cổ vật gốm được vớt lên vào năm 1997 gồm có những bình, dĩa, chén, tô, lọ mực, hoặc những chum rượu có tượng hình được gợi ý từ những dạng của thú vật (chim, két, gà, vịt..) hoặc hoa quả (bầu, bí..) với nhiều tranh ảnh dân gian và những hoa văn đầy Việt tính được bao bộc dưới lớp men qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.


Hình 1: Những Cổ Vật Hội An / Butterfields Auction, 2000

Cổ Vật và Nghệ Thuật Hội Họa

Nhưng quan trọng nhất lại là phẩm chất của nhiều cổ vật sau khi được hoàn chỉnh với những phương tiện tối tân của công ty trúng thầu Saga (Mã Lai) liên hợp với công ty Visal của nhà nước Việt Nam cho việc khai quật đã được phục hồi đến mức gần như tuyệt hão.  Căn cứ theo hợp đồng thì nhà nước cộng sản giữ lại một phần những cổ vật được đánh giá cao cấp nhất để dùng vào việc trưng bày tại các cơ quan văn hoá (tủ kính của mấy ông lớn cũng có thể được gọi là cơ quan văn hoá?) và những bảo tàng viện rải rác trong nước.  Phần còn lại, công ty Saga được quyền xữ dụng vào việc thương mại rao bán trong giới tư nhân qua những cuộc đấu gía tại nhiều nơi trên thế giới.  Trong số gần 150,000 cổ vật được kiểm tra, ngoài một số bị hao mòn bởi sự phô trương quá lâu dưới độ sâu của nươc mặn, có một số gần như ở trạng thái nguyên vẹn như lúc mới đươc tạo hình. Sự khám phá chiếc tàu này đã làm đảo lộn sự suy nghĩ về nghệ thuật đồ gốm trải qua nhiều thế hệ và là một nguồn hào hứng vô tận của các nhà khảo cổ chuyên môn cũng như các nhà sưu tập đồ gốm từ mọi nơi trên thế giới.


Hình 2:  Con chim sẽ / Hội An (giữa t.k.15)  private collection


Hinh 3: Long Phụng / (Nhà Minh, t.k.15) private collection

(ảnh minh họa bị thất lạc)

Trong số những cổ vật được đem ra ánh sáng, đa số là đồ gốm loại men lam, men trắng, men nâu và một số ít là loại không men như đồ sành để làm những vật gia dụng hằng  ngày như lu, tô, chén, dĩa.  Nhưng điểm son của những kiện hàng này là những đồ dùng cao cấp về hình dạng, cách tráng men và hội họa mà tính đặc thù của chúng đã xác đinh rõ ràng vị trí độc lập về cách phát họa, ý tưởng và trình bày của những nghệ nhận Việt thời bấy giờ; cho thấy sự vượt thoát khỏi khuôn khổ, nề nếp mà đã từng bao nhiêu năm có nhiều quan niệm cho rằng trong thời gian này các sản phẫm của nước Việt chúng ta đều thuần túy chịu ảnh hưởng bỡi ông láng giềng to xác từ phương Bắc.  Hình 2 và 3 đưa ra thí dụ điển hình về sự khác biệt rõ rệt giữa nghệ thuật của người Việt và Hán tộc về khía cạnh hội họa trên những tác phẩm được sản xuất ở một thời điểm rất gần nhau. Qua nét bút lông của một nghệ nhân Việt, con chim sẻ bay lượn trên cánh đồng cỏ (hinh 2). Những nét vẽ đượm tính dân gian đơn sơ, mộc mạc nhưng lại biểu lộ được sự bay bướm đầy năng động chấm phá của từng nét cọ. Những đường nét đó đã tạo nên một sự rung động nơi người thưởng lãm cũng giống như sự rung động khi đối diện với những đường nét từ các hoạ sĩ thời danh như Bé Ký, Nguyễn thị Hợp.. ở thời điểm sau hơn 5 thế kỹ. Trong đó người ta không thấy sự gò bó, khuôn khổ, đồng đều, cầu kỳ, khách sáo, vương giả như được phát họa trên cái lọ được sản xuất từ phương Bắc (hình 3). Đối với giới thưởng ngoạn, thưởng thức nghệ thuật đồ gốm của Tàu thì mát con mắt; nhìn nét vẽ trên gốm của người Việt thì lại thấy mát con tim.


Hình 4: Những Con Nghê trên Cổ Vật / Butterfields Auction, 2000

Hình ảnh con nghê, một linh vật nhân gian thuần túy của người Việt được xữ dụng một cách quen thuộc trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc qua những triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần… ở đây được trình bày một cách trang trọng trên những dĩa gốm trắng men lam (hinh 4). Những chi tiết cho thấy sự sáng tạo của người họa sĩ với nguồn cảm hứng vô tận. Mỗi cỗ vật được vuốt ve, chăm sóc với một kiểu cách khác nhau. Người họa sĩ đã xữ dụng thiên khiếu của mình vào mỗi tác phẩm với một đam mê, hòa nhập tâm hồn của mình vào những đường nét lã lướt nhưng không quên chấm phá vài nét trào phúng cho đời thêm vui.  Ở một thời mà khái niệm về năng động (motion), ấn tượng (impression), trừu tượng (abstract), không gian 3 chiều với định nghĩa về chiều sâu được thễ hiện qua bóng nổi (shades and shadows) chưa có một thế đứng rõ rệt trong nghệ thuật cỗ điển trên thế giới mà tại một nơi nào đó ở vùng đất Việt nhỏ bé, những nghệ nhân bằng một cách khiêm nhường đã biết gạt bỏ những lề lối, truyền thống mà đưa ra những mô thức mà người đời mấy trăm năm sau phải suy gẫm và thán phục.

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

 

Read Full Post »

Chơi “đồ xưa” và “đồ cổ” “cổ đồ”

malcolm_magruder

MỘT BỘ SƯU TẬP

(KTNN) Chơi đồ xưa (ngoạn cổ) là một thú chơi của những người sưu tập (collectionneur) tìm chơi những thứ đồ hiện còn lưu giữ lại từ xa xưa như đồ đồng, đồ ngọc, gốm sứ, bàn ghế, tủ xưa, sách xưa, tranh thư pháp, tem thư…

Người chơi đương nhiên là người sưu tập, có học thức, học vị hay thiếu học, giàu hoặc nghèo, miễn là chịu sưu tầm, gom góp, giữ gìn quí trọng đồ xưa cũ. Thú chơi rất đa dạng, “bá bụng bá bao tử”, người chơi đồ đồng cổ, người chơi cổ ngọc, sách xưa (sách tây, quốc ngữ, Hán Nôm), gốm sứ (đất nung, gốm độc sắc (Tống) – men ngọc (thanh từ), Quân, Ca, Nhữ, Bạch Định – gốm chu sa (Nghi Hưng), gốm cây Mai, Lái Thiêu, Biên Hoà, Chu Đậu, Bát Tràng… và sứ thì sứ Minh, sứ Thanh, ngũ thái (màu), men hoa lam (sứ trắng vẽ men “cô ban” (cobalt) còn gọi là xanh trắng, T.Q. gọi là thanh hoa từ).

Cũng từ màu lam “cô ban” này mà giới chơi đồ xưa V.N. gần đây do đọc thấy cái từ “men lam Huế” của bác Vương Hồng Sển dịch chữ “bleu de Huế” của ông Tây nào đó mà dấy động sóng gió làm dòng nước sông Hương cố đô Huế từ màu lam “Hồi” ra xanh lam “Huế”, suýt nữa thành lam (chàm) “An Nam”? Rồi đến cái từ “sứ” (từ khí) tên gọi loại đồ vật mà có người lại giải thích cho người ta hiểu “sứ” (về vật) là từ chữ đi sứ (thuộc về sự) mà ra, như vậy món đồ (khi chưa có sự đi sứ) bằng chất liệu kaolin trắng tốt không phải là đồ do “đi sứ” mang về thì gọi là gì? Trở lại cái từ “men lam Huế” nói đi, rồi nói lại là đồ “ngự dụng”, “quan dụng” Lê, Nguyễn, cuối cùng thì đồ “ký kiểu”, “đặc chế”… Đến hai từ cuối cùng này chúng ta nên hiểu thế nào cho đúng? Theo chúng tôi, “ký” (      ) ghi chép, “kiểu” là từ Nôm biến từ từ “cảo” (      ): thảo ra, bản cảo bản “kiểu”, chép theo bản kiểu, đến từ “đặc chế” (thấy viết “đặc” với chữ “c” thành món đồ “chế” tạo “đặc” biệt): như vậy từ “đặc chế” không được đúng nghĩa lắm, mà “đặt” nên viết với chữ “t” tức đặt làm (chế), Trung Quốc gọi là “Đính hoá từ” (sứ đặt hàng).

janice_paull2 Trên đây mới chỉ là một số thú chơi và loại đồ cổ chơi trong đa dạng thú chơi cổ ngoạn. Giờ chúng ta trở lại cùng tìm hiểu hai từ “đồ cổ” và “cổ đồ”. Đồ cổ hay đồ xưa, Trung Quốc xưa gọi là “cốt đổng”, sách Cốt Đổng Thập Tham Thuyết của Đổng Kỳ Xương đời Minh viết: “Các công nghệ phẩm có từ nhiều đời trước linh tinh không phân biệt chủng loại còn tồn tại đến ngày nay đều gọi là đồ “cốt đổng” (“cốt” là xương dù cho thịt da tiêu hoại (hư mất) hết chỉ còn lại xương, “đổng” có nghĩa là “minh hiểu” tức hiểu rõ cái tinh hoa do người xưa tạo tác còn lưu lại). Lại có ý kiến cho rằng từ “cốt đổng” là chuyển âm của từ “cổ đồng”, nhưng “cốt đổng” đâu phải đều là đồ “đồng cổ” (cổ đồng).

Tóm lại, từ “cốt đổng” với nghĩa “hiểu rõ những thứ đồ xưa còn sót lại, đáng quí trọng” là chấp nhận được. Từ “cốt đổng” này mãi đến thời mạt Minh, trong văn học thành văn thấy có từ “cổ đổng” thay cho “cốt đổng” (Xét ra từ “cổ đổng” có ý nghĩa bao quát hơn, ít nhiều mất đi ý nghĩa “đồ linh tạp ngày xưa còn giữ lại” của từ “cốt”, và nó vẫn được thông dụng đến nay với nội dung ý nghĩa mới: “cổ đổng” là khí vật quí hiếm của các thời đại xa xưa để lại, “cổ đồ” là từ rút ngắn của từ “bác cổ đồ” hay “cổ đồ bác cổ”, là một loại “tranh” vẽ truyền thống của Trung Quốc. Nội dung chuyên vẽ (mô tả) lại một số cổ vật chủ yếu như: đồ đồng, ngọc, gốm sứ, đá chạm… và có điểm xuyết thêm bên cổ vật các loại hoa, cỏ, củ, quả, bố cục hài hoà đem lại hiệu quả thẩm mỹ sống động cho bức vẽ. Loại “cổ đồ” này có từ đời Tống, vua Tống Huy Tông Triệu Kiết (C.N.1101) từng chiếu lệnh Viện Hàn lâm đồ hoạ vẽ lại hết tất cả cổ vật bảo tàng trong nội cung thành 30 quyển gọi là “Tuyên Hoà bác cổ đồ” nên từ “cổ đồ bác cổ” có từ đó. Sau này chúng ta thấy trên một số khí vật tiểu thủ công nghiệp người ta theo đề tài (cổ đồ) này vẽ hình những cổ vật trang trí trên các mỹ thuật phẩm như đồ sứ, đồ gỗ, đồ đồng, sơn mài… Những mỹ thuật phẩm này đều gọi là “bác cổ thức” hay “cổ đồ”, và cũng từ đề tài “bác cổ thức” có nghệ nhân còn đưa bộ “bát bửu” (tám bửu bối) của Phật gia vào trang trí, gọi là đồ “cổ đồ bát bửu” (tám món báu gồm có: 1) Pháp loa (Óc), 2) Bàn trường hoặc triền (dây vải dài đan thắt quanh co thành “hồi văn” hình thoi để kết tua tụi), 3) Bửu cái (nắp đậy), 4) Pháp luân (bánh xe), 5) Song ngư (đôi cá), 6) Liên hoa (hoa sen), 7) Bửu bình (bình báu), 8) Bửu tán (dù lọng).

Áp dụng đề tài “Cổ đồ bác cổ” trang sức trên khí vật, mỹ thuật, nhất là trên đồ sứ vào thời Càn Long rất thịnh hành. Họ thiêu chế những tấm tranh sứ (từ bản) khảm vào cửa tủ kệ cất chứa đồ cổ của vua quan thời đó gọi là tủ kệ “đa bửu các” (hay “cách”), hoặc trên những tấm bình phong (án gió), giường sạp, ghế tựa… Ngày nay thảng hoặc chúng ta còn có thể thấy lại loại đồ cổ trang trí loại hình “cổ đồ bác cổ” này, thậm chí còn thấy có những món đồ sứ men hoa lam ký hiệu “bác cổ”, xem ra người xưa khá ưa chuộng lối trang trí đề tài “cổ đồ bác cổ”.

Tóm lại, “cổ đồ” là những “đồ hình vẽ, các khí vật cổ (lư đồng cổ, đỉnh cổ, bình cổ, ngọc như ý cổ,…) như trên chúng tôi đã viết theo những gì mình đọc thấy qua sách vở, cũng chỉ mong quí bạn đọc ngày nay cùng chúng tôi nhận định đúng nghĩa những từ ngữ Hán Việt mà mình gặp phải. Như có chú nhỏ hỏi tôi: “Trong giới chơi đồ cổ phải chăng có thể chia thành hai “trường phái” chính: trường phái “cổ đồ” và trường phái “sưu tập”? Chú nhỏ nói tiếp: trường phái “sưu tập” thì biết rồi, người chơi đồ xưa nào mà không đi tìm kiếm góp nhặt, nói sưu tập chỉ là nói chữ thôi. Nhưng còn trường phái “cổ đồ” thì phải hiểu thế nào, “cổ đồ” có phải là đồ cổ chăng?”. Có điều chắc là trường phái “cổ đồ” không phải là phái chuyên sưu tập “cổ đồ” (bác cổ)!

Vẫn biết thói chơi nào mà không gặp chuyện bất như ý, mong sao bài viết thiển cận này đến với quí bạn đọc như lời thì thầm, cùng cười khì xí xoá hết mọi nỗi bất bình bởi mấy từ ngữ bất ý

Hơi đồ xưa (ngoạn cổ) là một thú chơi của những người sưu tập (collectionneur) tìm chơi những thứ đồ hiện còn lưu giữ lại từ xa xưa như đồ đồng, đồ ngọc, gốm sứ, bàn ghế, tủ xưa, sách xưa, tranh thư pháp, tem thư… Người chơi đương nhiên là người sưu tập, có học thức, học vị hay thiếu học, giàu hoặc nghèo, miễn là chịu sưu tầm, gom góp, giữ gìn quí trọng đồ xưa cũ. Thú chơi rất đa dạng, “bá bụng bá bao tử”, người chơi đồ đồng cổ, người chơi cổ ngọc, sách xưa (sách tây, quốc ngữ, Hán Nôm), gốm sứ (đất nung, gốm độc sắc (Tống) – men ngọc (thanh từ), Quân, Ca, Nhữ, Bạch Định – gốm chu sa (Nghi Hưng), gốm cây Mai, Lái Thiêu, Biên Hoà, Chu Đậu, Bát Tràng… và sứ thì sứ Minh, sứ Thanh, ngũ thái (màu), men hoa lam (sứ trắng vẽ men “cô ban” (cobalt) còn gọi là xanh trắng, T.Q. gọi là thanh hoa từ).

Cũng từ màu lam “cô ban” này mà giới chơi đồ xưa V.N. gần đây do đọc thấy cái từ “men lam Huế” của bác Vương Hồng Sển dịch chữ “bleu de Huế” của ông Tây nào đó mà dấy động sóng gió làm dòng nước sông Hương cố đô Huế từ màu lam “Hồi” ra xanh lam “Huế”, suýt nữa thành lam (chàm) “An Nam”? Rồi đến cái từ “sứ” (từ khí) tên gọi loại đồ vật mà có người lại giải thích cho người ta hiểu “sứ” (về vật) là từ chữ đi sứ (thuộc về sự) mà ra, như vậy món đồ (khi chưa có sự đi sứ) bằng chất liệu kaolin trắng tốt không phải là đồ do “đi sứ” mang về thì gọi là gì? Trở lại cái từ “men lam Huế” nói đi, rồi nói lại là đồ “ngự dụng”, “quan dụng” Lê, Nguyễn, cuối cùng thì đồ “ký kiểu”, “đặc chế”… Đến hai từ cuối cùng này chúng ta nên hiểu thế nào cho đúng? Theo chúng tôi, “ký” (      ) ghi chép, “kiểu” là từ Nôm biến từ từ “cảo” (      ): thảo ra, bản cảo bản “kiểu”, chép theo bản kiểu, đến từ “đặc chế” (thấy viết “đặc” với chữ “c” thành món đồ “chế” tạo “đặc” biệt): như vậy từ “đặc chế” không được đúng nghĩa lắm, mà “đặt” nên viết với chữ “t” tức đặt làm (chế), Trung Quốc gọi là “Đính hoá từ” (sứ đặt hàng).

Trên đây mới chỉ là một số thú chơi và loại đồ cổ chơi trong đa dạng thú chơi cổ ngoạn. Giờ chúng ta trở lại cùng tìm hiểu hai từ “đồ cổ” và “cổ đồ”. Đồ cổ hay đồ xưa, Trung Quốc xưa gọi là “cốt đổng”, sách Cốt Đổng Thập Tham Thuyết của Đổng Kỳ Xương đời Minh viết: “Các công nghệ phẩm có từ nhiều đời trước linh tinh không phân biệt chủng loại còn tồn tại đến ngày nay đều gọi là đồ “cốt đổng” (“cốt” là xương dù cho thịt da tiêu hoại (hư mất) hết chỉ còn lại xương, “đổng” có nghĩa là “minh hiểu” tức hiểu rõ cái tinh hoa do người xưa tạo tác còn lưu lại). Lại có ý kiến cho rằng từ “cốt đổng” là chuyển âm của từ “cổ đồng”, nhưng “cốt đổng” đâu phải đều là đồ “đồng cổ” (cổ đồng).

Tóm lại, từ “cốt đổng” với nghĩa “hiểu rõ những thứ đồ xưa còn sót lại, đáng quí trọng” là chấp nhận được. Từ “cốt đổng” này mãi đến thời mạt Minh, trong văn học thành văn thấy có từ “cổ đổng” thay cho “cốt đổng” (Xét ra từ “cổ đổng” có ý nghĩa bao quát hơn, ít nhiều mất đi ý nghĩa “đồ linh tạp ngày xưa còn giữ lại” của từ “cốt”, và nó vẫn được thông dụng đến nay với nội dung ý nghĩa mới: “cổ đổng” là khí vật quí hiếm của các thời đại xa xưa để lại, “cổ đồ” là từ rút ngắn của từ “bác cổ đồ” hay “cổ đồ bác cổ”, là một loại “tranh” vẽ truyền thống của Trung Quốc. Nội dung chuyên vẽ (mô tả) lại một số cổ vật chủ yếu như: đồ đồng, ngọc, gốm sứ, đá chạm… và có điểm xuyết thêm bên cổ vật các loại hoa, cỏ, củ, quả, bố cục hài hoà đem lại hiệu quả thẩm mỹ sống động cho bức vẽ. Loại “cổ đồ” này có từ đời Tống, vua Tống Huy Tông Triệu Kiết (C.N.1101) từng chiếu lệnh Viện Hàn lâm đồ hoạ vẽ lại hết tất cả cổ vật bảo tàng trong nội cung thành 30 quyển gọi là “Tuyên Hoà bác cổ đồ” nên từ “cổ đồ bác cổ” có từ đó. Sau này chúng ta thấy trên một số khí vật tiểu thủ công nghiệp người ta theo đề tài (cổ đồ) này vẽ hình những cổ vật trang trí trên các mỹ thuật phẩm như đồ sứ, đồ gỗ, đồ đồng, sơn mài… Những mỹ thuật phẩm này đều gọi là “bác cổ thức” hay “cổ đồ”, và cũng từ đề tài “bác cổ thức” có nghệ nhân còn đưa bộ “bát bửu” (tám bửu bối) của Phật gia vào trang trí, gọi là đồ “cổ đồ bát bửu” (tám món báu gồm có: 1) Pháp loa (Óc), 2) Bàn trường hoặc triền (dây vải dài đan thắt quanh co thành “hồi văn” hình thoi để kết tua tụi), 3) Bửu cái (nắp đậy), 4) Pháp luân (bánh xe), 5) Song ngư (đôi cá), 6) Liên hoa (hoa sen), 7) Bửu bình (bình báu),  Bửu tán (dù lọng).

Áp dụng đề tài “Cổ đồ bác cổ” trang sức trên khí vật, mỹ thuật, nhất là trên đồ sứ vào thời Càn Long rất thịnh hành. Họ thiêu chế những tấm tranh sứ (từ bản) khảm vào cửa tủ kệ cất chứa đồ cổ của vua quan thời đó gọi là tủ kệ “đa bửu các” (hay “cách”), hoặc trên những tấm bình phong (án gió), giường sạp, ghế tựa… Ngày nay thảng hoặc chúng ta còn có thể thấy lại loại đồ cổ trang trí loại hình “cổ đồ bác cổ” này, thậm chí còn thấy có những món đồ sứ men hoa lam ký hiệu “bác cổ”, xem ra người xưa khá ưa chuộng lối trang trí đề tài “cổ đồ bác cổ”.

Tóm lại, “cổ đồ” là những “đồ hình vẽ, các khí vật cổ (lư đồng cổ, đỉnh cổ, bình cổ, ngọc như ý cổ,…) như trên chúng tôi đã viết theo những gì mình đọc thấy qua sách vở, cũng chỉ mong quí bạn đọc ngày nay cùng chúng tôi nhận định đúng nghĩa những từ ngữ Hán Việt mà mình gặp phải. Như có chú nhỏ hỏi tôi: “Trong giới chơi đồ cổ phải chăng có thể chia thành hai “trường phái” chính: trường phái “cổ đồ” và trường phái “sưu tập”? Chú nhỏ nói tiếp: trường phái “sưu tập” thì biết rồi, người chơi đồ xưa nào mà không đi tìm kiếm góp nhặt, nói sưu tập chỉ là nói chữ thôi. Nhưng còn trường phái “cổ đồ” thì phải hiểu thế nào, “cổ đồ” có phải là đồ cổ chăng?”. Có điều chắc là trường phái “cổ đồ” không phải là phái chuyên sưu tập “cổ đồ” (bác cổ)!

Vẫn biết thói chơi nào mà không gặp chuyện bất như ý, mong sao bài viết thiển cận này đến với quí bạn đọc như lời thì thầm, cùng cười khì xí xoá hết mọi nỗi bất bình bởi mấy từ ngữ bất ý

(Theo Kiến Thức Ngày Nay 572)

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »