Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘cảnh đức trấn’

Gốm sứ Cảnh Đức trấn và ưu Thế của việc sản xuất gốm truyền thống.

Trấn Cảnh Đức nổi tiếng với hơn 1700 năm làm đồ sứ. Vào những năm Bắc Tống Chân Tông Cảnh Đức (1004-1007 trước CN), những sản phẩm sứ của trấn này được Chân Tông yêu thích và tán thưởng, nên trên những đồ sứ này thường đề khoản: Chế tạo vào năm Cảnh Đức, thế là trấn Cảnh Đức cũng từ đó nổi danh khắp thiên hạ…

Bình vẽ đại bàng kiểu dáng và vẽ trang trí do nghệ nhân Cảnh Đức trấn thực hiện.

Bình vẽ đại bàng kiểu dáng và vẽ trang trí do nghệ nhân Cảnh Đức trấn thực hiện.

 

Trấn Cảnh Đức, nơi được mệnh danh là kinh đô đồ sứ, nằm ở phía đông bắc tỉnh Giang Tây, giáp Chiết Giang, An Huy (TQ) là một nơi có lịch sử văn hóa lâu đời. Trấn Cảnh Đức lại nằm ngay trung tâm khu thắng cảnh “ngũ sơn lưỡng hồ”: Hoàng sơn, Lư sơn, Long Hổ sơn, Tam Thanh sơn, Cửu Hoa sơn và hồ Thiên Đảo, hồ Bạc; là một trong những điểm du lịch hàng đầu của Trung Quốc. Nhưng, trấn Cảnh Đức lại nổi tiếng bởi đồ sứ với hơn 1700 năm. Tên trấn liên quan đến đồ sứ: vào những năm Bắc Tống Chân Tông Cảnh Đức (1004-1007 trước CN), do những sản phấm sứ của trấn này được Chân Tông yêu thích và tán thưởng, trên những đồ sứ này thường đề khoản: chế tạo vào năm Cảnh Đức, thế là mọi người đều gọi là trấn Cảnh Đức, trấn Cảnh Đức cũng từ đó nổi danh khắp thiên hạ. Ngàn năm nay, nghệ thuật gốm sứ trấn Cảnh Đức đã trở thành viên ngọc sáng trong kho báu nghệ thuật của Trung Quốc và cả thế giới.

Chất lượng sứ cao cấp , trang trí chăm chút tinh vi từng chi tiết.

Chất lượng sứ cao cấp , trang trí chăm chút tinh vi từng chi tiết.

Nghệ thuật gốm sứ Giang Tây và Cảnh Đức trấn nói riêng :

Thành phố Cảnh Đức Trấn là nôi sinh ra văn hoá gốm sứ và nghề chế tạo đồ gốm sứ của Giang Tây, có từ đời Hán. Đến đời Minh, Cảnh Đức Trấn đã chính thức trở thành “”nơi hội tụ của muôn lò nung trong thiên hạ””.

Ngày xưa, gốm sứ nghệ thuật của trấn Cảnh Đức đều dựa trên những mẫu hoa văn, những bức vẽ của các họa sĩ trong cung hoặc dựa trên những mẫu hoa văn truyền thống trong dân gian, sau đó các thợ vẽ vẽ những hoa văn này lên phôi sứ rồi đem nung thành sứ. Do chất lượng tốt, các thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trấn Cảnh Đức là nơi chuyên sản xuất đồ sứ cho hoàng cung. Đồ sứ do đó rất phát triển, đặc biệt là vào thời Minh, trấn Cảnh Đức đã trở thành trung tâm sản xuất đồ sứ của cả nước, đồ sứ sản xuất ra không những được ưa chuộng trong nước, mà còn vượt cả đại dương, được các nước khác chào đón nhiệt liệt. Con đường gốm sứ trên biển cũng giống như con đường tơ lụa trên đất liền, trở thành cầu nối giao lưu văn hóa Đông Tây.

Khoảng năm 1616-1911 của đời Thanh, nghề chế tạo gốm sứ Cảnh Đức Trấn, cả về mặt tạo hình lẫn kỹ thuật trang trí đều trở nên chuẩn mực điêu luyện, xuất thần nhập hoá “”trộn lẫn giữa xưa và nay, sáng tạo những mẫu mới, trang trí sắp đặt khéo léo, vẽ nhân vật, phong cảnh, hoa, chim đều vô cùng đẹp””. Chính từ  sự hình thành phong cách luyện gốm sứ “”trắng như ngọc, sáng như gương, mỏng manh như giấy, vang như khánh”” mà các đồ này được tặng mỹ danh “”ngọc bội””

Men Crystalline công nghệ mới trên kiểu dáng Hồ Lô cổ xưa ( Minh, Thanh)

Men Crystalline công nghệ mới trên kiểu dáng Hồ Lô cổ xưa ( Minh, Thanh)

Ưu thế  của việc sản xuất gốm truyền thống tại Cảnh Đức Trấn:

Ai đã sang Giang Tây, và tận mắt thấy họ sản xuất gốm đều biết họ thực sự sản xuất gốm truyền thống. Ở Giang Tây, mỗi một gia đình sản xuất một loại sản phẩm đặc trưng, không bắt chước nhau, không sản xuất hàng loạt ồ ạt. Và đặc biệt trong mỗi một gia đình làm nghề họ rất quan tâm đến việc truyền nghề cho con cháu. Nên sản phẩm của gốm của Giang Tây thường giữ được nét truyền thống. Và cũng nhờ thế mà chi phí cho sản xuất thấp.

Đây chính là điểm khác biệt với cách làm của Bát Tràng. Để có được một sản phẩm mới người Bát Tràng thường phải thuê hoạ sĩ vẽ mẫu. Cách làm này không duy trì được tính truyền thống, khó tạo ra được nhiều sản phẩm đặc trưng và chi phí sản xuất cũng cao hơn. Một đôi lo lục bình cao 2,2 m chi phí sản xuất tại Giang Tây khoảng 1 triệu đồng VN, trong khi đó nếu Bát Tràng sản xuất thì riêng tiền thuê hoạ sĩ đã là 1 triệu đồng.

Gốm Bát Tràng từ lâu đã hiện hữu như một đặc trưng của Hà Nội, của VN. Thế nên việc hàng trăm cơ sở sản xuất gốm Bát Tràng đã phải đóng cửa ngừng sản xuất không chỉ đang đe doạ đến sự mất đi của một làng nghề truyền thống của Thủ đô mà nó còn đe doạ mất đi một nét văn hoá đặc trưng của VN, mặt khác đồng nghĩa với điều này còn là sự mất đi một địa điểm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

Các ưu thế khác:

Ngày nay, gốm sứ càng phát triển, chẳng những được sử dụng như những vật dụng hằng ngày, mà còn dùng trong công nghiệp, kiến trúc và các loại gốm sứ đặc dụng. Gốm sứ chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của trấn Cảnh Đức. Bên cạnh đó, nó còn có ưu thế về các mặt như nguyên liệu, sản xuất, tiêu thụ, nghiên cứu khoa học, giáo dục… Hệ thống nghiên cứu gốm sứ ngày càng được hoàn thiện, đã hình thành cơ cấu nghiên cứu 3 tầng: Viện nghiên cứu gốm sứ thuộc tổng cục công nghiệp nhẹ quốc gia, Viện nghiên cứu gốm sứ tỉnh Giang Tây, Viện nghiên cứu gốm sứ trấn Cảnh Đức. Đồng thời thành lập trường cao đẳng duy nhất của Trung Quốc chuyên đào tạo nhân tài về gốm sứ cao cấp – Học viện gốm sứ trấn Cảnh Đức.

KhanhHoaThuyNga

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

NHỮNG MÓN ĐỒ SỨ TÂN KÝ KIỂU

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

1. Tôi đến với đồ sứ ký kiểu từ cuối năm 1988, khi thực hiện luận văn tốt nghiệp đại học về dòng đồ “cha Việt, mẹ Hoa” này. Sau khi ra trường, tôi được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nhận vào làm việc và đến năm 1995 thì được bổ nhiệm làm phó giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, nơi lưu giữ hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu của triều Nguyễn. Dạo ấy dòng đồ này còn khá nhiều trên thị trường cổ vật trong nước nên ít ai nghĩ đến chuyện có đồ sứ ký kiểu giả. Một hôm, có người mang đến bảo tàng mấy món đồ sứ hiệu đề Nội phủ thị trungNội phủ thị hữu, bảo đó là đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và nhờ tôi giám định. Vì chỉ chuyên về dòng đồ sứ do triều Nguyễn ký kiểu, chưa tiếp xúc nhiều với đồ thời Lê – Trịnh nên tôi phải “cầu cứu” các đồng nghiệp ở Sài Gòn và ở Pháp, bằng cách gửi hình ảnh kèm theo khảo tả chi tiết cho họ. Ít lâu sau tôi nhận được câu trả lời từ Sài Gòn: “Đó là đồ mới, do một người buôn bán đồ cổ ở phố Lê Công Kiều đặt làm tại lò Cảnh Đức Trấn bên Trung Quốc theo đúng cách thức ký kiểu thời xưa. Nhiều người không rành tưởng là đồ Lê – Trịnh thật”. Nhận được thông tin, rồi xem xét kỹ các món đồ sứ mà người ta đang nhờ tôi giám định, tôi chỉ có thể nói được hai chữ: “Bái phục”.

Cũng từ đó, tôi chú tâm tìm kiếm thông tin về nhân vật đang đi âm thầm đi “ký kiểu” đồ sứ này. Đến năm 2001, một hôm giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế gọi điện bảo tôi sang phòng ông bàn chút việc. Đến nơi, giám đốc giới thiệu với tôi một vị khách: “Đây là anh Trần Quốc Thái, người chuyên phục chế đồ sứ cổ. Trung tâm muốn hợp tác với anh Thái phục chế đồ sứ để đưa vào trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, thay thế cho những hiện vật gốc, mà vì nhiều lý do nên không thể đưa ra trưng bày được. Anh là người chuyên nghiên cứu đồ sứ nên tôi mời anh sang bàn cách thức hợp tác với anh Thái để làm dự án này”. Tôi phản ứng tức thời: “Theo nguyên tắc, bảo tàng không trưng bày đồ giả, huống chi mình còn hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu chưa mang ra trưng bày vì không có chỗ. Sao lại phải làm đồ giả cổ làm gì?”. Tôi vừa dứt lời thì vị khách lên tiếng: “Tôi đồng ý với anh là trong bảo tàng không nên bày đồ giả. Tuy nhiên, trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế hiện đang trưng bày và thờ tự nhiều món đồ gốm Bát Tràng và đồ sứ rẻ tiền của Trung Quốc đấy thôi. Dự án mà tôi muốn hợp tác với các anh là nhằm tạo ra một dòng đồ sứ, phỏng theo đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, từ kiểu dáng, màu men đến hoa văn, họa tiết, để trưng bày trong các lăng tẩm và cung điện, cả nội thất lẫn ngoại thất, thay thế cho những cổ vật đã bị mất mát, hư hỏng hoặc vì lý do nào đó mà các anh không thể đưa hiện vật gốc ra trưng bày và thờ tự được. Đồng thời loại bỏ hoàn toàn những món đồ gốm rẻ tiền đang làm nhếch nhác cảnh quan di tích”. Nghe đến đây thì tôi chợt thấy mình hơi cạn nghĩ, nên kéo ghế ngồi xuống và bắt đầu bàn phương án hợp tác phỏng chế đồ sứ ký kiểu với vị khách nọ, cũng là bắt đầu mối giao hảo với anh Trần Quốc Thái.

2. Trần Quốc Thái có một cửa hàng đồ cổ ở phố Lê Công Kiều (Quận 1, TP Hồ Chí Minh). Cửa hàng của anh bán đủ thứ: đồ gốm sứ, đồ đồng, đồ đá…; cả đồ ta lẫn đồ Tàu, đồ Tây. Song món chủ lực của anh vẫn là dòng đồ sứ xanh trắng do vua chúa các triều Lê – Trịnh (ở Thăng Long) và triều Nguyễn (ở Huế) đặt làm ở Trung Hoa trong các thế kỷ XVII – XIX. Việc buôn bán trở nên khó khăn do cổ vật ngày càng khó kiếm, trong khi, những món đồ sứ ký kiểu quý hiếm thì cứ theo nhau ra nước ngoài. Tiếc vì không đủ tài lực để giữ lại cho mình những món đồ tâm đắc, Trần Quốc Thái chợt nghĩ ra một chiêu thức: phỏng chế đồ sứ theo đúng phương thức mà các sứ thần triều Lê – Trịnh và triều Nguyễn đã đi ký kiểu ở bên Tàu thuở trước, nhằm giữ lại cho mình những món đồ ưng ý.

Năm 1994, gom được một số tiền, lận theo mấy chiếc dĩa Nội phủ – Khánh xuân và mấy món đồ lam Huế, Trần Quốc Thái ra Móng Cái, rồi sang Đông Hưng, nhờ một người Hoa dắt đi Cảnh Đức Trấn để “ký kiểu” đồ sứ. Đó là một hành trình vô cùng gian nan và tiềm ẩn nhiều bất trắc. Ba tuần lang thang ở Cảnh Đức Trấn, thủ đô gốm sứ của Trung Quốc, Trần Quốc Thái tiếp xúc với hàng chục chủ lò nhưng không ai dám nhận lời phỏng chế đồ sứ theo yêu cầu của anh, chỉ vì một lý do: “Khó quá”. Đúng lúc thất vọng nhất thì Trần Quốc Thái gặp được Sào Hải Thanh, một “ông trùm” về dòng đồ thanh hoa (men trắng vẽ lam) của Cảnh Đức Trấn. Sau khi nghe yêu cầu của Trần Quốc Thái và ngắm nghía những món đồ mẫu mang từ Việt Nam sang, ông Sào cho hay phải mất hai tuần để phỏng chế những chiếc đĩa này và cam đoan sẽ làm giống đến 90%. Vậy là Trần Quốc Thái leo lên Lư Sơn ngắm cảnh suốt hai tuần để đợi kết quả. Hơn chục ngày sau, anh trở về Cảnh Đức Trấn, sung sướng đón nhận những món đồ phỏng chế do Sào nghệ nhân thực hiện.

Chuyến đi “phá băng” của anh đã mở ra cho anh một cơ hội kinh doanh dòng đồ sứ tân ký kiểu. Anh liên tục sang Cảnh Đức Trấn, hợp tác với Sào Hải Thanh phỏng chế  dòng đồ Nội phủ – Khánh xuân thời Lê – Trịnh đưa về bày bán trong cửa hàng của mình. Không chỉ đặt làm như nguyên mẫu, Trần Quốc Thái còn lựa chọn những hoa văn, họa tiết đẹp nhất và đặc trưng nhất của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh, vẽ lên những tấm sứ kích thước lớn, dùng để làm mặt bàn hay lưng ghế tựa. Anh cũng đặt làm nhiều bức tranh sứ, vẽ các motif rồng phụng thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Những tác phẩm phỏng chế của anh được đưa ra trưng bày tại Đại Nội nhân dịp Festival Huế tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000. Và đó chính là cơ duyên đưa anh đến với dự án hợp tác phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn để trưng bày trong các lăng tẩm, cung điện, đền miếu của vương triều Nguyễn ở Huế.

3. Dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn tiến hành trong các năm 2004 – 2006. Tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu hiện vật gốc đang bảo quản trong kho của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế và đang trưng bày, thờ tự trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế, rồi “ra đề bài” cho Trần Quốc Thái tiến hành phục chế. Không yên tâm với những bản vẽ do họa sĩ của bảo tàng sao chép từ hiện vật gốc, Trần Quốc Thái mời nghệ nhân Sào Hải Thanh từ Cảnh Đức Trấn đến Huế, tự tay can họa lại tất cả các hoa văn trang trí và đo đạc kích thước, sao vẽ kiểu dáng, mang về Trung Quốc để thợ gốm tuân thủ phỏng chế. Trần Quốc Thái cũng mời tôi và các chuyên gia của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế sang tận Cảnh Đức Trấn để giám sát quy trình phục chế đồ sứ ký kiểu: từ khâu làm đất, tạo cốt đến khâu trang trí, viết chữ và nung đốt sản phẩm. Đến tháng 5.2006, hơn 700 món đồ sứ tân ký kiểu từ Cảnh Đức Trấn đã về đến Huế và được đưa vào bài trí trong hầu khắp các cung điện, lăng tẩm, đền miếu của triều Nguyễn ở Huế, góp phần đẩy lui không gian hoang phế trong các khu di tích và phục vụ đắc lực cho Festival Huế 2006.

Kết thúc dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, Trần Quốc Thái vẫn tiếp tục gắn bó với niềm đam mê đồ sứ tân ký kiểu của mình. Anh tham khảo những kiểu thức và trang trí của hai dòng đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn, lựa chọn những dáng kiểu đẹp nhất và những họa tiết đặc sắc nhất, đặt cho Sào nghệ nhân chế tác thành những món đồ sứ tân ký kiểu, không thuần Lê – Trịnh, cũng chẳng là đồ Huế, mà tôi vẫn thích gọi là đồ Thái blue.

Anh mua một ngôi nhà cổ từ ngoài Bắc đưa về Sài Gòn dựng lại, rồi trưng bày hàng trăm món đồ Thái blue, vừa để chơi, vừa để kinh doanh. Anh tâm sự: “Nhiều người nói tôi đặt làm đồ giả cổ để kiếm lợi. Nhưng làm đồ giả cổ thì phải làm giống 100% hoa văn, họa tiết và kích thước; sản phẩm làm xong còn phải dùng các thủ pháp làm cho lạc tinh để cho giống với đồ xưa. Nhưng đồ tôi làm thì kết hợp tất cả hoa văn của các đời, từ Lê – Trịnh cho đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… Kích thước thì lớn hơn và kiểu dáng cũng phong phú hơn rất nhiều. Vì thế, không thể nói đó là đồ giả cổ, mà phải gọi là đồ sứ tân ký kiểu mới chính xác”.

Miệng lưỡi thế gian khó ai ngăn cấm. Với riêng tôi, những món đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue là những tác phẩm nghệ thuật thực sự. Ở đó chứa đựng những tinh hoa của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Đó cũng là nơi Trần Quốc Thái gửi gắm niềm đam mê của mình với dòng đồ xanh trắng. Đó cũng là những trang nhật ký bất thành văn ghi lại tân hành trình ký kiểu đồ sứ đầy gian truân của anh, mà tôi đã từng là một chứng nhân.

Trào lưu “chơi nhà cổ” đang thịnh hành khắp cả nước. Nhiều người bỏ tiền phục dựng những khu nhà rường tinh xảo và lộng lẫy ở Sài Gòn, Bình Dương, Hà Nội, Huế… Tuy nhiên, điều làm nên cái hồn của nhà rường xưa chính là những thứ bày biện trong ngôi nhà đó: hoành phi, đối liễn, bàn ghế, sập gụ, cổ vật, gốm sứ… Thị trường cổ vật trong nước ngày một khan hiếm, lấy đâu ra những bình, chóe, hũ, lọ… thời xưa để bài trí trong những ngôi nhà thênh thang ấy. Vì thế, đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue có lẽ là một lựa chọn hợp lý mà chủ nhân các ngôi nhà rường tân tạo này nên nghĩ đến.

Click trên hình để xem phóng lớn.

T.Đ.A.S. (covathue)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

`
 

 

Read Full Post »

Mối liên hệ nào giửa gốm sứ Chu Đậu và sứ men lam cổ Vân Nam

Xin nhấn mạnh nguồn của bài dịch này từ  một website mua bán cổ vật gốm sứ  của Singapore. Cách lập luận của tác giả có dựa trên thiên kiến nào không là tùy độc giả nhận định. Dù sao bài viết vẫn chứa đựng các thông tin nội dung hửu ích về mặt kiến thức gốm sứ Trung Hoa.

Theo sách “ Lịch sử gốm sứ Trung Hoa” , đồ sứ men lam Vân Nam được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1960 tại một lò gốm cổ ở làng Yuxi wayao. Kể từ đó nhiều hàng sứ men lam đặc biệt là nhiều chum vại lớn đã được khai quật từ nhiều địa điểm mộ táng khác nhau. Dựa trên các nghiên cứu khảo cổ hiện có, các lò gốm cổ tọa lạc tại các vùng sau:
•    Vùng phía nam hồ Dian
Lò gốm Yuxi and Jian shui cách nhau 50 km ( sản xuất celadon, celadon với motif trang trí nâu do men có chứa chất sắt và đồ men lam. Hàng hóa men lam bao gồm chóe, bình lọ, đĩnh xông hương, bat và đĩa)
•    Vùng đông bắc hồ Dian
Lò gốm Dali ( Đã có nhiều cuộc khai quật mở rộng hơn nữa được tiến hành trong những năm từ 1993 đến 1995 tại địa điểm lò gốm cổ trong làng Fenyi shizi. Chủ yếu sản xuất celadon và hàng sứ men lam, bao gồm chén đĩa và một số lượng nhỏ chóe/bình/tượng. Một số loại hàng tương tự bằng vật liệu gốm cũng được sản xuất. Các thông tin chi tiết có thể tìm đọc tại các bài viết của Ông Duan JinMing, nhân sự của VBT Dali, quyển số 13 bộ sách Zhongguo Gu Taoci Yanj Jiu.
•    Vùng phía đông hồ Dian – Lu Feng
Điều đáng thú vị là người ta đã tìm thấy nhiều chum, vò lớn men lam tại các địa điểm mộ táng hỏa thiêu trong vùng này.

Vannammap

Đĩa celadon thời Minh, motif hoa văn ám họa

Đĩa celadon thời Minh, motif hoa văn ám họa

Đĩa celadon thời Minh, motif vẽ cá nâu chứa sắt

Đĩa celadon thời Minh, motif vẽ cá nâu chứa sắt

Hầu hết các chuyên gia gốm sứ tại Vân Nam đều đồng quan điểm rằng việc sản xuất đồ sứ (porcelain) bắt đầu sớm nhất là vào cuối thời kỳ nhà Tống.  Celadon được sản xuất sớm nhất, kế tiếp là sứ men lam . Họ cùng có nhận định là đồ sứ men lam Vân Nam đã sử dụng cobalt tại địa phương để làm ra những sản phẩm đầu tiên vào cuối thời nhà Nguyên. Thật ra thuật ngữ “Qing You Qing hua”, tức celadon có motif trang trí men lam, là được dùng để mô tả hàng men lam (blue and white). Về mặt cơ bản, các hàng hóa do Yuxi, Jianshui và Lu Feng sản xuất có chất lượng khá hơn và có cùng đặc điểm chung xét về kỷ thuật thiết kế và sản xuất, hình dáng và men – cốt gốm. Bởi vì Yuxi là địa điểm đầu tiên phát hiện ra hàng men lam Vân Nam nên hầu hết trong nghành gốm sứ đều gọi chúng là “dòng men lam Yuxi”
So với các vùng khác ở Trung Quốc, các thợ gốm Vân Nam sản xuất đồ sứ muộn hơn ít ra là cả ngàn năm. Người ta đồn rằng có hai làn sóng di dân từ vùng trung tâm TQ đến vùng Vân Nam đã mang lại những tiến bộ hơn trong lĩnh vực nông nghiệp và sản xuất ( bao gồm gốm sứ). Vân Nam được bao bọc bởi địa thế đồi núi và đã duy trì là một lảnh thổ tách biệt cho đến khi nó bị chinh phục bởi đạo quân của Kublai Khan. Làn sóng thứ hai diễn ra dưới thời Hoàng Đế Hồng Võ nhà Minh, hơn nửa triệu người di dân tới đây chỉ để canh tác đất đai. Một bằng chứng về khã năng hiện diện những người thợ gốm trong số người di dân là một bảng đá nhỏ được dựng để ca tụng công đức trong việc trùng tu đền Ci en tại Jianshui. Nội dung đề cập đến một nghệ nhân đến từ Cảnh Đức Trấn có họ là “che” đã lập một xưởng gốm tại đây. Điều thú vị đáng ghi nhận là phần nhiều đồ men lam Vân Nam đều thể hiện ảnh hưởng rỏ nét từ  phong  cách thời Hồng Võ nhiều hơn so với thời Nguyên.
Việc sản xuất hàng men lam Vân Nam dừng lại vào cuối thời nhà Minh. Từ giữa triều đại nhà Minh trở về sau, hàng men lam của Cảnh Đức Trấn được sản xuất với số lượng lớn và nhập vào Vân Nam. Vì chúng có chất lượng tốt hơn trong mức giá so sánh, nên chúng đã tác động đến kinh doanh của đối tác địa phương và hệ quả là đã hoàn toàn thay thế đối thủ. Số phận tương tự  cũng rơi xuống hàng men lam của Việt Nam mà trong suốt thế kỷ thứ 15 đã chiếm lỉnh thị trường nước ngoài vùng Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á và Trung Đông. Trong suốt đầu thế kỷ 15, Người Việt Nam đã lợi dụng cơ hội của chính sách cấm hoạt động trên biển của các Hoàng Đế thời kỳ đầu nhà Minh và trở thành lực lượng sản xuất chính lấp vào khoảng trống nguồn cung hàng men lam cho các khách hàng hải ngoại. Mối liên hệ giửa hàng men lam Việt Nam và Vân Nam là một chủ đề còn chưa được giải quyết khác, hiện tại vẫn còn bàn cải. Về mặt phong cách, các motif trang trí tương tự nhau ngay cả việc tương tự với hàng của Cảnh đức trấn khi so sánh. Ngay cả nước áo (đất sét lỏng) màu nâu thông thường nhận thấy ở phần đáy (đế) của hàng Việt Nam đôi khi cũng bắt gặp trên các đồ celadon hoặc men lam của Vân Nam. Các chuyên gia TQ cùng quan điểm cho rằng thợ gốm Việt Nam đã sao chép các trang trí của đồ men lam Vân Nam. Một cuộc thảo luận đã được đặt ra khi so sánh các món đồ men lam xưa nhất tìm thấy. Đồ vật men lam cổ nhất của Việt Nam là một bình “tianqiu” (1450) tại viện bảo tàng Topaki có hình dáng của thời Minh và phong cách trang trí theo kiểu thời Nguyên. Theo nguồn thông tin phía TQ, có ít nhất hai bình được phát hiện tại các địa điểm mộ tang khai quật, cái thứ nhất ghi “ năm thứ 9 đời Xuanguan”  tương đương với năm thứ 12 đời Hồng Võ nhà Minh (1380) và cái thứ hai ghi “ năm thứ 4 đời Xuande” tức 1429. Niên đại đầu tiên gây tranh luận nhiều hơn vì địa điểm chôn cất bị xâm phạm nghiêm trọng. Chiếc bình men lam thứ hai có trang trí motif hoa/sư tử được tìm thấy tại một ngôi mộ gần với ngôi mộ khác có bia mộ đề chữ “ năm thứ 4 đời Xuande”. Vì khu vực mộ này không bị xâm phạm, việc định niên đại được thừa nhận là đáng tin cậy. Từ đây, người ta rút ra kết luận nhũng người thợ gốm Vân Nam đã bắt đầu sản xuất hàng men lam sớm hơn và một cách hợp lý đã ảnh hưởng đến đối tác người Viêt. Các chuyên gia phương tây thông thường nhìn sự việc theo cách khác. Thực tế thì các hàng men lam của Việt Nam ban đầu đã sao chép các motif Nguyên một cách khá trung thành. Một vài món trong số này còn có các thuộc tính ghi niên đại cuối nhà Nguyên. Trong khi đó khi nói tới hàng hóa Vân nam cổ nhất, một vài vò lớn có niên đại cuối Nguyên nhung lại thể hiện các đặt tính của đồ men lam đầu nhà Minh ( ý nói do Việt Nam bắt chướt nên chậm đổi mode !?). Hơn nữa còn có một bằng chứng có khã năng giải thích được từ báo cáo viết bởi John Guy về một mẫu vật có niên đại sớm hơn có đồ họa hoa dây trên mảnh bát vỡ men lam được tìm thấy tại Ryukyus ( Nhật). có lẽ nó đã đến đây sớm nhất là vào khoảng 1363 nhung không thể muộn hơn 1416. Một cái chén tương tự có motif vẽ hoa màu nâu chứa sắt có niên đại 1330 đã được tìm thấy tại Nhật Bản. Di chuyển bằng đường bộ giửa Vân Nam và Việt Nam thực hiện dễ dàng hơn di chuyển đến các vùng khác tại Trung hoa. Bởi người thợ gốm Việt Nam đã dung cobalt của vùng Vân Nam trên nhiều hàng hóa men lam nên nó cũng là chứng cứ rỏ rang cho việc giao thoa này. Do thời điểm bắt đầu thời kỳ sản xuất  hàng men lam của Vân Nam và Việt Nam là rất sát nhau, vấn đề “ ai gây ảnh hưởng cho ai” sẽ hảy còn chưa phân định cho đến khi có một mặt bằng chứng cớ cụ thể hơn.

Vannam - Chudau comparision

So sánh cho thấy hàng Việt Nam có motif trang trí giống thời nhà Nguyên hơn. Tuy nhiên phong cách vẽ lá giống với cách vẽ trong chiếc bát men đỏ đồng thời Hồng Võ nhà Minh hơn. Phong cách vẽ hoa trên hàng Vân Nam tương tự  cách vẽ trong chiếc bát thời Hồng Võ. Phong cách vẽ mây trong các cánh đài sen ở hàng Vân Nam rất độc đáo và chỉ được dùng trên đồ sứ men lam Cảnh Đức Trấn thường xuyên hơn kể từ sau giửa thế kỷ 15.Phong cách vẽ mây tương tự cũng được tìm thấy ở các hàng hóa Việt Nam. Dựa trên viêc so sánh cho thấy rỏ ràng cả hai bình Việt Nam và Vân Nam đều được sản xuất sau thời nhà Nguyên.

Phong cách vẽ hoa và lá rất giống nhau giửa sứ men lam Việt Nam và Vân Nam

Phong cách vẽ hoa và lá rất giống nhau giửa sứ men lam Việt Nam và Vân Nam

Ngay cả nước áo (đất sét lỏng) màu nâu thông thường nhận thấy ở phần đáy (đế) của hàng Việt Nam cũng đôi khi bắt gặp trên các đồ celadon hoặc men lam của Vân Nam

Ngay cả nước áo (đất sét lỏng) màu nâu thông thường nhận thấy ở phần đáy (đế) của hàng Việt Nam cũng đôi khi bắt gặp trên các đồ celadon hoặc men lam của Vân Nam

Motif trang trí trên hàng men lam Vân nam nhất thiết phải được thực hiện bằng những nét cọ thư pháp. Cấu trúc vẽ này là việc mở rộng cáh thức trang trí nhiều lớp tiêu biểu của thời kỳ nhà Nguyên. Các đề án bao gồm hoa, phượng hoàng, cá , sư tử và motif vẽ nhân vật. Vật dụng bao gồm chủ yếu bát chén, các loại đĩa , vò chóe và lư hương. Một vài món men lam còn mang những kỷ thuật trang trí phụ chẳng hạn như motif chạm khắc một phần và/hoặc motif đắp nổi như những món hàng có hình tượng bát tiên.
Vannam1

Số lượng vò, chum lớn khai quật được từ các nơi chon cất là rất nhiều. Chúng được dung chủ yếu để đựng cốt tro. Hỏa thiêu là phong tục thong dụng cho người chết nhưng bị cấm thực hiện trong suốt thời kỳ nhà Minh. Vì vậy vào giửa thời kỳ nhà Minh việc sản xuất các chum vại lớn đã giảm sút đáng kể.
Khi so sánh với hàng Cảnh Đức Trấn, đồ men lam Vân Nam tương đối thô hơn vì căng thẳng nguyên vật liệu sẳn có để sản xuất. Việc sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng địa phương. Mặc dầu các thợ gốm Vân Nam sao chép các đồ án trang trí từ hàng men lam Cảnh Đức Trấn, về mặt phong cách các motif trang trí có tiến hóa và cộng thêm các yếu tố mới. Đồ sứ men lam Vân nam quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử đồ sứ men lam thời kỳ đầu vì nó là vùng duy nhất cùng với Cảnh Đức Trấn sản xuất đồ sứ loại này trong thời kỳ cuối Nguyên/ đầu nhà Minh.

KhanhHoaThuyNga dịch từ  Koh-antique

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Tàu cổ đắm Côn Đảo – Vũng Tàu và hiện vật trục vớt – THE VUNG TAU SHIPWRECK (c. 1690)

vung tau1

“Tàu cổ đắm tại Vũng Tàu” được ngư dân phát hiện gần Côn Đảo, Nam Việt Nam. Sverker Hallstrom nhận được giấy phép trục vớt cổ vật sau khi Xí nghiệp Liên hiệp trục vớt cứu hộ (Visal – the Vietnam Salvage Corporation) đã tiến hành các công tác trục vớt sơ bộ. Flecker đã chỉ đạo phần việc trục vớt chính cho Hallstrom vào năm 1991.

Từ cuối năm 1989, dân buôn bán đồ cổ khu vực đường Đồng Khởi rỉ tai nhau về chuyện một nhóm ngư dân ở Long Hải phát hiện một con tàu cổ bị đắm trên vùng biển Vũng Tàu, Côn Đảo. Không lâu sau, vào khoảng giữa năm 1990, hàng loạt cổ vật như bình, hũ, lọ bằng gốm sứ với hai màu xanh lam, trắng với đủ loại chiều cao, kích cỡ, trong đó có rất nhiều cổ vật bị hàu bám đã xuất hiện trên thị trường cổ vật TP.HCM.

Rồi tung tích của những người dân chài phát hiện chiếc tàu cổ bị đắm đã được xác định: anh Nguyễn Văn Đê và Nguyễn Văn Vàng, đều là ngư dân ngụ tại ấp Hải Hà, thị trấn Long Hải (BR-VT). Khi thị trường đồ cổ ở đường Đồng Khởi, TP.HCM dậy sóng, cũng là lúc Xí nghiệp trục vớt cứu hộ Visal (Bộ Giao thông vận tải) tìm được vị trí tàu cổ bị đắm trên vùng biển Hòn Cau, Côn Đảo.

Phương tiện trục vót : tàu Đại Lãnh cùng 20 thợ lặn Việt Nam

Phương tiện trục vót : tàu Đại Lãnh cùng 20 thợ lặn Việt Nam

Tháng 9-1990, Xí nghiệp Liên hiệp trục vớt cứu hộ (Visal) và Công ty Hallstrom Holdings Oceanic (Thụy Điển) khai quật khảo cổ học dưới nước con tàu cổ bị đắm này. Đây là đợt khai quật khảo cổ học dưới nước đầu tiên ở VN thành công mỹ mãn.

48.000 hiện vật gốm sứ thu được từ con tàu đắm này (trong tổng số 270.000 hiện vật các loại ) chủ yếu là đồ sứ men lam (blue and white) thời Khang Hy (1662-1772) do các xưỡng gốm tại Cảnh Đức Trấn – Giang Tây TQ sản xuất bao gồm các hàng hóa như chóe, bình hũ, lọ, ấn, đĩa, tô, ống cắm bút bằng gốm với kỹ thuật chế tác điêu luyện, tinh xảo, hoa văn trang trí kiểu châu và một bộ sưu tập ấn tượng đồ sứ men trắng. Cũng có nhiều hiện vật là hàng tại các địa phương khác ở Trung Quốc sản xuất, và đa dạng các hiện vật cổ ngoài danh sách gốm sứ từ các bánh răng chuyển lực của con tàu cho đến các vật dụng cá nhân khác. Việc tìm thấy ba loại tiền quan cổ trên tàu trong đó đồng Khang Hy có niên đại sớm nhất và một thanh mực tàu cổ bên hông có khắc trang trí năm âm lịch sản xuất là căn cứ cho các nhà khảo cổ định niên đại tàu đắm là trong khoảng 1690.

Đồ gốm sứ trên con tàu này dự tính sau khi cập cảng trung gian sẽ được chuyển qua một con tàu VOC khác và tiếp tục cuộc hành trình để đến Hòa Lan. Những hàng hóa khác là để cung cấp cho cộng đồng người Hoa tại cảng ấy và chính là thương cảng Batavia.

Cổ vật tàu đắm Côn đảo - Vũng Tàu

Cổ vật tàu đắm Côn đảo - Vũng Tàu

Năm 1992, 28.000 cổ vật lành lặn được Christies chọn đem bán đấu giá tại Hà Lan với giá trị 7,3 triệu USD. Toàn bộ các tiêu bản đầy đủ các cổ vật trục vớt tại địa điểm này được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Vũng Tàu. Phần gốm sứ cổ còn lại phần lớn có độ hư hỏng nhất định được phân chia giửa Hallstrom và Chính quyền Việt Nam.

Trong khi cuộc đấu giá đồ cổ tại Hà Lan đang diễn ra thì rất nhiều ngư dân Vũng Tàu và Côn Đảo tiếp tục khai quật “mót” cổ vật từ tàu cổ Hòn Cau. Điều đáng nói là trong quá trình “mót” cổ vật ở Hòn Cau, một ngư dân ở phường 10, TP Vũng Tàu bị liệt nửa người, sau đó đã chết vì nhũn não.

Trước khi mất, ngư dân này kêu người vợ lại gần và nói: “Ngoài Hòn Cau, ít nhất trên vùng biển Vũng Tàu còn có sáu con tàu bị đắm. Năm ngoái anh đã phát hiện tại Hòn Bà một tàu bị đắm chỉ cách mặt nước vài chục mét. Chừng nào con mình lớn thì bảo nó ra khu vực đó mà vớt đồ cổ…”. Thông tin này sau đó được vợ của ngư dân nọ báo cho em trai và đó cũng là thời điểm người dân Vũng Tàu và giới săn đồ cổ TP.HCM lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm ở Vũng Tàu và Long Hải..

Giữa năm 1993, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp với Visal tiếp tục khai quật con tàu cổ khu vực Hòn Bà. Trong lần khai quật này, 569 hiện vật, chủ yếu là đồ gốm VN ở thế kỷ 19. Các cổ vật đã có tiếng nói riêng: khẳng định được nghề gốm dân dụng truyền thống của cư dân vùng Nam Trung bộ, liên quan chặt chẽ đến nghề làm mắm của cư dân cổ.

Hình ảnh một số cổ vật tiêu biểu trục vớt được từ tàu đắm Vũng Tàu ( Hòn Cau – Côn Đảo):

KhanhHoaThuyNga tóm lược theo The International Journal of Nautical Archaeology (1992)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Bảo tàng di chỉ khảo cổ 1 lò gốm cổ tại cảnh Đức Trấn (hình ảnh)

click trên hình thích xem để phóng lớn:

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC


Read Full Post »

JinDeZhen FanJiaJing chợ mua bán hàng gốm sứ giả cổ lớn nhất thế giới

Đặc tính của đồ sứ (porcelain) Cảnh Đức Trấn có thể mô tả như sau: Trắng như ngọc, mỏng như giấy, tinh khiết như thủy tinh, và gỏ vào thì nghe trong như tiếng khánh (bell). Vậy khi đã du lịch đến Cảnh Đức Trấn – Giang Tây, thành phố của niềm tự hào có đến 800.000 người làm việc liên quan đến ngành gốm sứ, bạn có thể mua những đồ sứ có đặc tính như trên ở đâu:

“Phố đồ sứ” Cảnh Đức Trấn
“Phố đồ sứ” Cảnh Đức Trấn là nơi các thương nhân bán đồ sứ tụ hội. Ngay từ thời Minh, Thanh đã có một đường phố bán đồ sứ nổi tiếng có tên là Ma-shi-xia Long. Ngày nay có hai phố bán đồ sứ là : Lian-she Lu ở phía nam của khu trung tâm thành phố và phố San-he gần khu vực Cidu-Da-Dao.

Chợ gốm sứ giả cổ FanJiaJing
Khác với
chợ Laochang tập trung bán hàng gốm sứ với mức độ trang trí và chất lượng trung bình hoặc thấp, chợ gốm sứ FanJiaJing chuyên biệt hơn trong việc chỉ bán hàng phỏng cổ. Chợ gốm sứ FanJiaJing tọa lạc ở phía đông thành phố. Có một trạm xe lửa ở phía đông của chợ, và công viên thành phố ở về phía tây chợ ( Laochang nói ở trên là chợ gốm sứ lớn nhất thành phố nằm trong công viên này). Chợ gốm sứ giả cổ FanJiaJing bắt đầu hoạt động vào năm 1990. Vì địa điểm thuận lợi và giá phòng Hotel rẽ nên thương nhân tấp nập ra vào khu vực này. Có vào khoảng 400 thương nhân và nghệ nhân bán hàng phỏng cổ và đồ sứ trang trí vẽ tay với giá bình dân tại đây.

Mời các bạn du lịch qua hình ảnh để xem hàng hóa và sinh hoạt tại chợ FanJiaJing chợ mua bán hàng gốm sứ giả cổ với chất lượng tương đối lớn nhất thế giới:

click trên hình để xem ảnh lớn.

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

*MỤC LỤC – ĐƯỜNG DẪN PHỐ CHỢ TRỜI ĐỒ CỔ

 


Read Full Post »

Cảnh Đức Trấn Ngự Diêu Xưởng – Jingdezhen imperial kiln


cdt110

Cảnh Đức Trấn là một thành phố nằm ở phía đông bắc tỉnh Giang Tây. Vùng đất này xưa có tên là Xương Nam Trấn, nơi có nhiều mỏ kaolin hảo hạng và những cánh rừng gỗ sài cung cấp loại củi tốt nhất để đốt lò nung gốm sứ. Vào đời Cảnh Đức (1004 – 1007), vua Thần Tông nhà Tống (960 – 1279) đã chọn Xương Nam Trấn để thiết lập ngự diêu (yuyao), chuyên chế tác các món đồ gốm dành cho nhà vua và hoàng gia triều Tống sử dụng. Tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu ở Xương Nam Trấn đều có khắc bốn chữ Hán Cảnh Đức ngự chế (đồ ngự dụng của triều Cảnh Đức). Từ đó, người ta gọi tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu Xương Nam Trấn là gốm Cảnh Đức. Lâu dần tên Cảnh Đức trở thành của vùng đất này – Cảnh Đức Trấn, thay cho tên gọi Xương Nam Trấn trước đây.

cdt210

Thời Minh (1368 – 1644), Cảnh Đức Trấn cùng với Châu Hiên Trấn (ở Hà Nam); Hán Khẩu Trấn (ở Hồ Bắc); Phúc Sơn Trấn (ở Quảng Đông) được liệt vào tứ trấn lớn nhất Trung Hoa. Tiếp sau triều Tống, các triều Nguyên (1271 – 1368), Minh (1368 – 1644) và Thanh (1644 – 1911) đều đặt ngự diêu xưởng ở Cảnh Đức Trấn, chuyên làm các mặt hàng gốm sứ cao cấp để hoàng gia và triều đình sử dụng. Ngoài ngự diêu chỉ làm gốm sứ cho riêng nhà vua, Cảnh Đức Trấn còn có hệ thống quan diêu (guanyao) và dân diêu (minyao) với hàng ngàn lò gốm sứ trải khắp trấn. Vào thế kỷ XVII, một sứ đoàn nước Pháp đến thăm Cảnh Đức Trấn, chứng kiến hoạt động sản xuất gốm sứ ở đây, đã kinh ngạc ghi vào nhật ký hành trình: “Ban ngày, khói đốt lò bốc lên tận chín tầng mây. Ban đêm, lửa đốt lò thắp sáng cả bầu trời”. cdt35Ngày nay, Cảnh Đức Trấn vẫn tiếp tục giữ vai trò là một trung tâm sản xuất gốm sứ lớn nhất Trung Quốc, nên được xưng tụng là thủ đô gốm sứ của Trung Hoa.

Hiện nay, Cảnh Đức Trấn còn lưu giữ được 133 công trình kiến trúc lịch sử và cảnh quan văn hóa, được Cục văn vật Trung Quốc công nhận là di chỉ quốc gia. Một trong những di chỉ nổi tiếng nhất của Cảnh Đức Trấn là ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Châu Sơn là một quả đồi thấp, tọa lạc ở trung tâm Cảnh Đức Trấn. Vào đời Minh Tuyên Đức (1426 – 1620), nơi đây đã được chọn làm nơi thử nghiệm chế tác những món đồ gốm sứ cao cấp cho Minh triều. Xưởng chế tác này tiếp tục hoạt động và đạt được những thành tựu khả quan dưới các đời Thành Hóa (1465 – 1487), Vạn Lịch (1573 – 1620) của triều Minh. Năm 1639, Minh triều chính thức thiết lập ngự diêu xưởng ở Châu Sơn, chuyên làm đồ gốm cho vua dùng. Triều đình cử một viên quan cao cấp của bộ Công đến Châu Sơn làm quản thủ để điều hành ngự diêu xưởng này. cdt41Cũng trong năm đó, một tòa lầu bằng gỗ cao 4 tầng, tên là Long Châu Các, được dựng trên đỉnh của Châu Sơn và trở thành một biểu tượng lịch sử của Cảnh Đức Trấn, trải từ các triều Minh – Thanh cho đến ngày nay.

Xung quanh Long Châu Các, triều đình cho dựng nhiều nhà xưởng, dùng làm nơi nhào đất, tạo cốt, hong phơi gốm mộc, phun màu… và các lò nung chuyên biệt để nung những món đồ cao cấp. Gốm sứ làm cho nhà vua đòi hỏi phải tuân thủ những chuẩn mực nghiêm ngặt. Chỉ những món đồ hoàn hảo dáng kiểu, họa tiết, màu men… mới được tiến cung. Thông thường, cứ khoảng 100 món đồ gốm do ngự diêu làm ra, người ta mới chọn được 1 món toàn bích để cung tiến nhà vua. cdt51Phần còn lại phải bị đập vỡ và chôn vào lòng đất để bảm đảm bí kíp chế tác. Không ai có quyền tiếm dụng các món đồ này, dù chỉ giữ lại để làm kỷ niệm. Một truyền thuyết này kể rằng: có một vị hoàng đế Trung Hoa yêu cầu ngự diêu xưởng Châu Sơn phải làm một chiếc lọ hình con rồng, và truyền rằng nếu không làm được thì toàn bộ nhân công trong ngự diêu xưởng Châu Sơn đều bị xử trảm. Hàng chục cốt bình hình rồng được đưa vào lò nung nhưng sau khi nung thì đều bị gãy sụp. Sau cùng, một thợ gốm tên là Tong Bin, đã liều mình nhảy vào trong lò nung và nhờ thế mà chiếc bình cuối cùng đã không bị gãy sụp và được dâng lên cho hoàng đế. Kể từ đó, người ta tôn vinh ông thành vị thần tối cao và thường cầu nguyện sự giúp đỡ của ông trước khi đốt lò.

cdt61

Ngày nay, ngự diêu xưởng Châu Sơn là di tích thu hút du khách đến tham quan nhiều nhất Cảnh Đức Trấn, đặc biệt là những người quan tâm đến gốm sứ. Khi tôi đến thăm Châu Sơn vào năm 2005, trong khuôn viên di tích chỉ có tòa Long Châu Các, dùng làm nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ thu được trong các cuộc khai quật ngự diêu xưởng này vào các năm 1984, 1993 và 1999. Cạnh Long Châu Các vẫn còn sót lại một vài phế tích trước đây từng là xưởng hong phơi gốm mộc và xưởng phun men. Dưới chân tòa lầu là những chiếc ‘bao nung’ (vật dùng để đựng các cốt gốm sứ khi nung, tránh bị lửa táp làm hỏng màu men), thu hồi từ các cuộc khai quật trước đây. Những hiện vật gốm sứ trưng bày trong Long Châu Các không có món nào nguyên vẹn. Nguyên do là vì người ta phải đập vỡ chúng trước khi chôn vào lòng đất để bảo toàn bí quyết chế tác. Rất nhiều món đồ trưng bày trong Long Châu Các có niên đại Tuyên Đức, Thành Hóa, Vạn Lịch (thời Minh); Khang Hi, Ung Chính, Càn Long (thời Thanh)… Tất cả đều là hàng “độc”, có giá trị kỹ thuật và giá trị kinh tế rất cao.

cdt71

Ông Sào Hải Thanh, một thợ gốm lão luyện của Cảnh Đức Trấn, người hướng dẫn tôi và các đồng nghiệp Việt Nam đi thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn, cho hay: “Tất cả thợ gốm ở Cảnh Đức Trấn và ở Trung Hoa nói chung đều tìm cách kiếm được những mảnh gốm cổ vỡ nát thu hồi từ các cuộc khai quật ở Châu Sơn. Họ mua các mảnh vỡ này về để nghiên cứu và tìm cách phỏng chế màu sắc, nước men của chúng để làm đồ giả cổ kinh doanh kiếm lợi. cdt81Vì thế, người ta tìm cách đào trộm và mang bán chúng ở các con phố xung quanh Châu Sơn. Tuy nhiên, từ hai năm trở lại đây, chính quyền thành phố nghiêm cấm việc này. Ai đào trộm và bày bán mảnh gốm vỡ, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý hình sự. Năm trước, có một người đến thuê một gian hàng ở con phố dưới chân Châu Sơn để mở tiệm may. Kỳ thực, đó là một tay đào trộm cổ vật. Anh ta đã đào một con đường hầm xuyên vào lòng Châu Sơn, lấy được nhiều cổ vật có giá trị, rồi phục dựng lại, mang bán sang thị trường nước ngoài thu lợi hàng triệu nhân dân tệ. Vụ việc bị phát giác. Chính quyền đã tuyên án tử hình người này”.

cdt92

Đầu tháng Ba năm nay, tôi trở lại thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn và rất bất ngờ khi thấy bên trái ngọn đồi danh giá này xuất hiện một tổ hợp kiến trúc đặc sắc. Hỏi ra mới hay: do diện tích trưng bày gốm sứ trong Long Châu Các khá khiêm tốn và do tòa lầu này đã 370 tuổi, nên chính quyền thành phố Cảnh Đức Trấn vừa cho xây dựng một bảo tàng để trưng bày toàn bộ hiện vật gốm sứ khai quật được ở ngự diêu này từ trước đến nay. Chỉ những hiện vật đặc sắc nhất, độc đáo nhất mới được trưng bày trong Long Châu Các. Trước cửa bảo tàng, người ta dựng 5 pho tượng bằng đồng, tượng trưng cho năm vị quản thủ ngự diêu nổi tiếng nhất của 5 triều: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh. Trong đó, vị thứ 5 chính là viên quản thủ Đường Anh lừng danh dưới triều Càn Long, một nhân vật mà những ai nghiên cứu gốm sứ Trung Hoa không thể không nghe danh. Đồng thời, chính quyền thành phố cũng mở thêm phòng trưng bày, gọi là Ngự Bửu Trai, làm nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn. Sau khi hoàn thiện tổ hợp kiến trúc để bảo tồn và phát huy giá trị của ngự diêu xưởng Châu Sơn, Cục văn vật Trung Quốc dựng bia công nhận nơi này là Toàn quốc trọng điểm văn vật bảo hộ đơn vị (Di tích văn hóa trọng điểm cấp quốc gia).

cdt101

Gần bốn thế kỷ trôi qua, kể từ khi Châu Sơn chính thức trở thành ngự diêu xưởng của Minh triều, tòa Long Châu Các đã trở thành chứng tích và là bảo vật vô giá của kỹ nghệ chế tác gốm sứ ở Cảnh Đức Trấn. Lửa đốt lò vẫn đỏ khắp trấn suốt 400 năm qua; gốm sứ Cảnh Đức Trấn vẫn không ngừng tỏa khắp năm châu bốn bể. Cho nên, dù chỉ còn là di tích, thì ngự diêu xưởng Châu Sơn vẫn xứng đáng với lời ca tụng như câu đối ghi ở trước lối vào Long Châu Các: Ngự khí thanh hoa phỉ vạn quốc. Diêu lô phong hỏa việt thiên niên (Đồ vua danh tiếng lan vạn xứ. Gió lửa lò nung trải ngàn năm).

T.Đ.A.S.

Chú thích ảnh:

Ảnh 01. Long Châu Các tọa lạc trên đỉnh Châu Sơn, nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ khai quật tại ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Ảnh 02. Cổng vào khu trưng bày ngự diêu xưởng, mới được xây dựng năm 2006.

Ảnh 03. Tổ hợp tượng quản thủ ngự diêu xưởng qua các thời kỳ: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh dựng ở trước cửa khu trưng bày ngự diêu xưởng.

Ảnh 04. Ngự Bửu Trai, nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn.

Ảnh 05. Tước uống rượu ba chân và chân đế hình tam sơn, trang trí lưỡng long, đời Minh Vĩnh Lạc, cao 16,8cm, khai quật năm 1999.

Ảnh 06. Kendi, trang trí cúc dây, đời Minh Thành Hoá, cao 32cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 07. Hộp nuôi dế chọi, trang trí rồng mây, đời Minh Tuyên Đức, cao 9,5cm, đkm 13cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 08. Dĩa, trang trí trái lựu và hoa, đời Minh Tuyên Đức, đkm 45cm, khai quật năm 1984.

Ảnh 09. Mai bình, trang trí ám long trên nền men đỏ, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 34cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 10. Mai bình, trang trí tản vân, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 33,6cm, khai quật năm 1993.

Ảnh 11. Nai đựng rượu, trang trí 9 chim phụng, cúc dây và tản vân, đời Thanh Khang Hi, cao 24cm, khai quật năm 1999.

 

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Older Posts »